Tải bản đầy đủ

541 Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Đại học Kinh tế quốc dân

Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
MỞ ĐẦU
Ta biết rằng trong phần lớn thế kỷ 20, sức mạnh kinh tế của một quốc
gia dựa trên đầu tư vào tư liệu sản xuất và cải tiến quá trình sản xuất.
Nhưng ngày nay cải tiến kỹ thuật không còn bị giới hạn trong những máy
móc nhập khẩu vốn dĩ có thể mua được dễ dàng trên thị trường, mà còn gắn
với việc tiêu thụ hàng hóa. Những ngành xuất khẩu tăng trưởng mạnh nhất
trên thế giới như sản xuất chất bán dẫn, máy tính, thiết bị truyền thông,
dược phẩm có chi phí sản xuất không đáng kể so với chi phí và thời gian
nghiên cứu để làm ra sản phẩm đó. Việc sản xuất những sản phẩm này trên
thực tế có thể được đặt ở Việt nam, nhưng công nghệ điện tử, sinh - hóa, và
việc nghiên cứu lý thuyết để làm ra những sản phẩm đó, kể cả việc làm gia
tăng giá trị thặng dư, thì được sáng tạo ở các trường đại học của các nước
phát triển. Trường đại học là cỗ máy quan trọng nhất trong cuộc cách mạng
tri thức.
Vì lý do đó mà giáo dục đại học luôn được xã hội quan tâm. Trong
những năm gần đây, đổi mới giáo dục luôn được Đảng, Nhà nước và xã hội
quan tâm. Một trong những nội dung trọng tâm nhất của đổi mới giáo dục
là đưa học chế TC áp dụng vào các trường Đại học, Cao đẳng ở Việt nam.
Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và hướng tới mục tiêu nâng cao
chất lượng đào tạo, nhiều trường ĐH ở Việt nam đã áp dụng học chế TC

trong đó có Trường ĐH KTQD. Việc áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ là
một tiền đề để chất lượng đào tạo của chúng ta bát kịp với nền giáo dục thế
giới. Trong ba năm qua, việc áp dụng học chế tín chỉ đã cho thấy nhiều ưu
điểm nhưng cũng xuất hiện không ít những khó khăn, bất cập đòi hỏi chúng
ta phải giải quyết. Để làm sáng rõ thực trạng áp dụng học chế TC vào việc
đào tạo của Trường ĐH KTQD chúng tôi xin chọn đề tài: "Thực trạng
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo theo học chế TC của Trường
ĐH KTQD "làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình. Hy vọng qua đề tài
này chúng tôi sẽ góp một phần nhỏ bé của mình vào việc làm sáng rõ thực
trạng áp dụng đào tạo TC vào trường ĐH KTQD dưới con mắt một sinh
viên và có một số các giải pháp và kiến nghị nhỏ để Ban giám hiệu nhà
trường và các cơ quan hữu quan có nhiều căn cứ hơn để có các điều chỉnh
và cải biến hợp lý.
Việc nghiên cứu đề tài này được thực hiện theo phương pháp điều tra
xã hội học có chọn mẫu, phương pháp tổng hợp phân tích, phương pháp so
sánh đánh giá và phương pháp nghiên cứư điển hình.
Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về học chế TC và đào tạo ĐH theo học
chế TC.
Chương 2: Thực trạng áp dụng đào tạo theo học chế TC ở trường ĐH
KTQD.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo the học chế TC.
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Chương 1: Khái quát chung về học chế TC và đào tạo DH theo
học chế TC
1.1. Khái quát chung về học chế TC
1.1.1. Khái niệm về tín chỉ
Trong kho tàng các tư liệu nghiên cứu, có khoảng hơn 60 định nghĩa
về tín chỉ. Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi
trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của
sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương
trình học. Một định nghĩa về tín chỉ được các nhà quản lí và các nhà nghiên
cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất có lẽ là của học giả người Mĩ
gốc Trung Quốc James Quann thuộc Đại học Washington. Trong buổi
thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Đại học Khoa học Công
Nghệ Hoa Trung, Vũ Hán mùa hè năm 1995, học giả James Quann trình
bày cách hiểu của ông về tín chỉ như sau:


Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của
một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm; thời gian
lên lớp; thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc
khác đã được quy định ở thời khóa biểu; và thời gian dành cho đọc sách,
nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài...; đối với các môn học
lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một
tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay
phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối
với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần. (Bản dịch của
Bộ giáo dục và Đào tạo).
Từ định nghĩa trên, kết hợp với nghiên cứu những định nghĩa khác
về tín chỉ và thực tế đào tạo của đơn vị, tín chỉ theo cách hiểu của
ĐHQGHN được cụ thể hóa như sau:
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một
môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất
định thông qua các hình thức: học tập trên lớp; học tập trong phòng thí
nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo
viên
1
); và tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề
hoặc chuẩn bị bài v.v. Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của
người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học
tập tiêu chuẩn. (ĐHQGHN 2006)
Trong thực tế ở một số Trương ĐH Việt nam hay cụ thể hơn là ở
Trường chúng ta, theo nhóm nghiên cứu của chúng em TC lại được hiểu gần
giốn như một đơn vị học trình và một môn học được đo bằng nhiều TC. Mỗi
một môn học hoàn thành thì sinh viên coi như đã tích l số TC theo quy định.
1.1.2. Đặc điểm của đào tạo theo hoc chế TC
• Đòi hỏi sinh viên phải tích luỹ kiến thức theo từng học phần
(tín chỉ);
• Kiến thức cấu trúc thành các môđun (học phần);
• Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn
bằng. Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ tích luỹ;
• Chương trình đào tạo mềm dẻo (có học phần bắt buộc và học
phần tự chọn);
• Đánh giá thường xuyên, thang điểm chữ;
• Dạy học lấy sinh viên làm trung tâm;
• Đơn vị học vụ là học kỳ. Mỗi năm có thể chia thành 2 học kỳ
(15 tuần); 3 học kỳ (15 tuần); hoặc 4 học kỳ (10 tuần);
• Ghi danh học đầu mỗi học kỳ, lớp học tổ chức theo mỗi học
phần;
• Có hệ thống cố vấn học tập;
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
• Có thể tuyển sinh theo học kỳ;
• Không thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khoá luận tốt
nghiệp đối với các chương trình đại học hoặc cao đẳng;
• Chỉ có 1 văn bằng chính quy đối với 2 loại hình tập trung và
không tập trung;
1.1.3. Những ưu, nhược điểm của việc đào tạo theo học chế TC.
- Ưu điểm:
+ Có hiệu quả đào tạo cao
Học chế TC cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích luỹ kiến thức
và kỹ năng của SV để dẫn đến văn bằng. Với học chế này, SV được chủ
động thiết kế kế hoạch học tập cho mình, được quyền lựa chọn cho mình
tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng của
mình. Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường đại học trở
nên mềm dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết kế chương
trình liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo
khác nhau.
Học chế TC cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích
luỹ được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích SV từ nhiều
nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học đại học một cách thuận lợi. Về
phương diện này có thể nói học chế TC là một trong những công cụ quan
trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa thành nền đại học mang
tính đại chúng.
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
+ Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao
Với học chế TC, SV có thể chủ động ghi tên học các học phần khác
nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh
vực kiến thức. Nó cho phép SV dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong
tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu.
Với học chế TC, các trường đại học có thể mở thêm ngành học mới
một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao
động và tình hình lựa chọn ngành nghề của sinh viên.
Học chế TC cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ chung,
tạo thuận lợi cho SV khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài
nước.
+ Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo
Với học chế TC, kết quả học tập của SV được tính theo từng học
phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào đó
không cản trở quá trình học tiếp tục, SV không bị buộc phải quay lại học từ
đầu. Chính vì vậy giá thành đào tạo theo học chế TC thấp hơn so với đào
tạo theo niên chế.
Nếu triển khai học chế TC các trường đại học lớn đa lĩnh vực có thể
tổ chức những môn học chung cho SV nhiều trường, nhiều khoa, tránh các
môn học trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra SV có thể học những môn học lựa
chọn ở các khoa khác nhau. Cách tổ chức nói trên cho phép sử dụng được
đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học. Kết
hợp với học chế TC, nếu trường đại học tổ chức thêm những kỳ thi đánh
giá kiến thức và kỹ năng của người học tích luỹ được bên ngoài nhà trường
hoặc bằng con đường tự học để cấp cho họ một TC tương đương, thì sẽ tạo
thêm cơ hội cho họ đạt văn bằng đại học. ở Mỹ trên một nghìn trường đại
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
học chấp nhận cung cấp TC cho những kiến thức và kỹ năng mà người học
đã tích luỹ được ngoài nhà trường.
- Nhược điểm:
+ Cắt vụ kiến thức
Phần lớn các môđun trong học chế TC được quy định tương đối nhỏ,
cỡ 3 hoặc 4 TC, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thức thật sự có
đầu, có đuôi, theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó gây ấn tượng kiến
thức bị cắt vụn.
+ Khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên
Vì các lớp học theo môđun không ổn định, khó xây dựng các tập thể
gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học nên việc tổ chức sinh hoạt đoàn
thể của SV có thể gặp khó khăn. Chính vì nhược điểm này mà có người nói
học chế TC "khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng
đồng".
1.2. Tình hình áp dụng học chế TC vào đào tạo ĐH trên thế giới
Trước hết cần phải khẳng định rằng phương thức đào tạo theo tín chỉ
là sản phẩm trí tuệ của người Mĩ. Nó được hình thành và phát triển để phục
vụ cho các mục đích cụ thể của nền giáo dục nước này. Vào cuối thế kỉ 19,
ở Mĩ số lượng học sinh trung học phổ thông ghi danh vào học đại học ngày
càng tăng, gây áp lực không nhỏ cho quá trình xét tuyển của các trường đại
học.
Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi SV
có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại
học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực
tiễn cuộc sống, vào năm 1872 Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế
hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗi SV có thể lựa
chọn một cách rộng rãi. Có thể xem sự kiện đó là điểm mốc khai sinh học
chế tín chỉ
Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống TC được áp dụng rộng rãi hầu như trong
mọi trường đại học Hoa Kỳ. Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ
thống TC trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình: các
nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan,
Malaisia, Indonesia, ấn Độ, Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda, ... Tại
Trung Quốc từ cuối thập niên 80 đến nay hệ thống TC cũng lần lượt được
áp dụng ở nhiều trường đại học. Vào năm 1999, 29 bộ trưởng đặc trách
giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn
Boglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục đại học Châu Âu (European
Higher Education Area) thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung
quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế TC (European
Credit Transfer System -ECTS) trong toàn hệ thống GDĐH để tạo thuận lợi
cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của SV trong khu vực
châu Âu và trên thế giới.
Có thể nói hiện nay, học chế tín chỉ là một hình thức giáo dục được
nhiều nước áp dụng một cách toàn diện vào nền giáo dục của nước mình.
Đặc biệt là Mỹ - nơi khai sinh ra học chế tín chỉ.
1.3. Chủ trương chính sách của Đảng trong đổi mới Giáo Dục.
Đào tạo theo học chế tín chỉ là 1 trong 7 bước đi quan trọng trong lộ
trình đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020. Theo chủ trương của
Bộ GD-ĐT, ngay trong năm học 2006-2007, các trường phải tập trung triển
khai đào tạo học chế tín chỉ và phải hoàn thành vào năm 2010.
Đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày càng lớn, yêu cầu chất lượng đào tạo
ngày một cao, Đảng và Chính phủ Việt nam luôn coi đổi mới GD là một
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
vấn đề quan trọng. Chủ trương áp dụng học chế TC và đào tạo ĐH và CĐ
của Đảng và Chính phủ thể hiện rất rõ trong các văn bản luật và nghị quyết,
nghị định và chỉ thị của chính phủ và Bộ GD-ĐT:
- Luật Giáo dục sửa đổi (được Quốc hội thông qua 20/5/2005): "Về
chương trình giáo dục: Đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học có
thể được tiến hành theo hình thức tích luỹ tín chỉ hay theo niên chế"
(GD&TĐ ngày 18/6/2005)
- Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về đổi
mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020:
"Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống
tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi
ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước
và ở nước ngoài".
- Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định số 31/2001/QĐ-
BGD&ĐT ngày 30/7/2001 về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và
công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ.
- Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học (ban hành
theo Quyết định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 2/12/2004 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo): Tiêu chuẩn 4, tiêu chí 2: "Thực hiện chế độ công
nhận kết quả học tập của người học (tích luỹ theo học phần); chuyển quy
trình tổ chức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ".
Mức 1: Thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo từng học phần.
Có kế hoạch tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ.
Mức 2: Tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ đi vào ổn định.
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
1.4. Đôi nét về tình hình áp dụng học chế TC vào giáo dục ĐH ở Việt
nam trong những năm vừa qua.
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hiện nay ở
Việt nam đã có hơn 10 trường áp dụng học chế TC vào đào tạo ĐH và CĐ
trong đó điển hình là Trường ĐH Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh,
Trường ĐH Quốc gia Hà nội, ĐHXây Dựng, ĐH Dân lập Phương Đông …
Và Trường ĐH KTQD của chúng ta cũng tiến hành áp dụng hình thức đào
tạo này từ năm học 2006-2007, thí điểm với SV khoá 48.
Việc áp dụng học chế tín chỉ tuy đã đạt được những thành tựu bước
đầu đáng ghi nhận như: Đặt những tiền đề quan trọnh cho việc nâng cao
chất lượng đào tạo, mở rông quy mô đào tạo, tạo cơ hội cho SV phát huy
tính chủ động trong việc chọn môn học và thực hiện quá trình học tập, Giúp
Giáo viên và sinh viên có cơ hội tiếp cận với một nền giáo dục tiên tiến hơn.
Nhưng bên cạnh đó cũng không thể phủ nhận rằng việc áp dụng học chế
tín chỉ và Việt nam cũng bộc lộ rõ nhiều bất cập đáng chú ý. Tiêu biểu như:
+ Mỗi trường một kiểu
+ Nhiều trường cảm thấy hụt hơi và có ý định quay lại với học chế
liên chế vì cơ sở vật chất còn thấp chưa phù hợp.
+ Chấp nhận đào tạo tín chỉ theo kiểu giao thoa.
+ Học tín chỉ nhưng chua quen.
Với thực trạng trên, một câu hỏi được nhiều người đặt ra trên các
phương tiện thông tin đại chúng là liệu mục “ tiêu đến năm 2010, các
trường ĐH cơ bản chuyển sang ĐTTC” có phải là một mục tiêu quá tham
vọng?
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Chương 2: Thực trạng áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ
ở Trường ĐH KTQD
2.1. Sơ lược về lịch sử hình thành phát triển và cơ sở vật chất hiện có
của trường ĐH KTQD
2.1.1. Lịch sử hình thành phát triển
Đại học Kinh tế Quốc dân (tên tiếng anh: National Economics
University, viết tắt là NEU) là trường đại học hàng đầu ở Việt Nam trong
lĩnh vực kinh tế, chuyên đào tạo cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh
doanh bậc đại học và sau ĐH. Ngoài ra, còn làm nhiệm vụ tư vấn các chính
sách vĩ mô cho Nhà nước Việt Nam, chuyển giao và tư vấn công nghệ quản
lý và quản trị đăc biệt là các chuyên ngành kinh tế quốc tế.
Thành lập ngày 25 tháng 11 năm 1956, với tên trường Đại học Kinh
tế Tài chính sau đổi thành Kinh tế Kế hoạch, cuối cùng là Kinh tế Quốc
dân. Trường Kinh tế Tài chính nằm trong hệ thống ĐH nhân dân, trường
đại học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Nước Cộng
Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Chức năng nhiệm vụ: đào tạo cán bộ quản lý kinh tế và quản trị
kinh doanh bậc đại học và sau đại học. Tư vấn về chính sách vĩ mô cho
Đảng và Nhà nước. Tư vấn và trung tâm chuyển giao công nghệ quản lý
kinh tế và quản trị kinh doanh. Trường được Nhà nước Việt Nam coi là
trường đại học số một để đào tạo cán bộ lãnh đạo và quản lý kinh tế của
Việt Nam.
Quy mô:
• Tổng số giáo viên, cán bộ công nhân viên: 1.117, trong
đó có 26 giáo sư, 69 Phó giáo sư, 207 Tiến sỹ, 250 Thạc sỹ; 20
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Giảng viên cao cấp, 230 giảng viên chính, 329 giảng viên. 2
Nhà giáo Nhân dân, 41 Nhà giáo Ưu tú, 382 Đảng viên.
• Hiện có 23 khoa, 45 chuyên ngành, 4 viện và 8 trung
tâm, 13 bộ môn, 9 phòng ban chức năng và 4 đơn vị phục vụ
khác.
Các khoa gồm có:
1. Khoa Bất động sản và kinh tế tài nguyên.
2. Khoa Du lịch và khách sạn.
3. Khoa Đầu tư.
4. Khoa Giáo dục quốc phòng.
5. Khoa Kế hoạch và phát triển.
6. Khoa Kế toán - Kiểm toán.
7. Khoa Khoa học quản lý.
8. Khoa Kinh tế bảo hiểm.
9. Khoa Kinh tế học.
10. Khoa Kinh tế môi trường và đô thị.
11. Khoa Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực.
12. Khoa Lý luận chính trị.
13. Khoa Luật.
14. Khoa Marketing.
15. Khoa Ngân hàng - Tài chính.
16. Khoa Ngoại ngữ kinh tế.
17. Khoa Quản lý đào tạo quốc tế.
18. Khoa Quản trị kinh doanh.
19. Khoa Tại chức.
20. Khoa Thống kê.
21. Khoa Thương mại và kinh tế quốc tế.
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
22. Khoa Tin học kinh tế.
23. Khoa Toán kinh tế.
Các viện
1. Viện dân số và các vấn đề xã hội
2. Viện nghiên cứu kinh tế và phát triển
3. Viện quản trị kinh doanh
4. Viện sau đại học.
Trong quá trình hoạt động công tác cán bộ công nhân viên và sinh
viên nhà trường đã cùng nhau cố gắng và giành được nhiều thành tích vẻ
vang như:
• Huân chương lao đông hạng ba ( năm 1972 )
• Huân chương lao động hạng nhì ( năm 1978 )
• Huân chương lao động hạng nhất ( năm 1983 )
• Huân chương độc lập hạng nhất ( năm 1986 )
• Huân chương độc lập hạng nhất ( năm 1991 )
• Huân chương độc lập hạng nhất ( năm 1996 )
• Danh hiệu Anh hùng lao động ( năm 2000 )
• Huân chương Hồ Chí Minh ( năm 2001 )
Trường ĐH KTQD cũng là nơi đào tạo ra nhiều lãnh đạo cấp cao
nhất cho Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay. Hầu hết các cán bộ lãnh
đạo cao cấp ở các tỉnh và trung ương của Việt Nam đã từng học tập tại
trường.
Nhóm nghiên cứu CFE
Đề tài NCKH SV GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
2.1.2. Cơ sở vật chất hiện có:
Tuy cơ sở vật chất còn thấp so với các nước phát triển trên thế giớ
nhưng hiện trường ĐH KTQD có cơ sở vật chất hàng đầu trong các trường
đại học ở Việt nam. Trường được đánh giá là một trong số ít trường có cơ
sở vật chất ngang tầm với quốc tế.
Hiện nhà Trường đanh tiếp tục đầu tư xây dựng giảng đường trung
tâm gồm 2 toà nhà cao tầng với trang thiết bị ngang tầm hệ thống các
trường ĐH danh tiếng trên thế giới.
2 toà nhà cao tầng
đang XD
Trung tâm thông tin thư
viện
Nh
à xuất bản
Nhà văn hóa,
giảng đường A
Giảng đường B
Giảng đường CDE
Một đội bóng của trường
Sân bóng
Các sinh viên đang
giải lao
Khu nhà giáo vụ 5, 6, 7,
10, 14
viện quản trị kinh doanh Khu KTX
Khu giảng đường
D2 đang XD
Nhóm nghiên cứu CFE

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×