Tải bản đầy đủ

CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ BÁO HÌNH TRONG XU THẾ XÃ HỘI HOÁ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN






LÊ THU HÀ






CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ BÁO HÌNH
TRONG XU THẾ XÃ HỘI HOÁ SẢN XUẤT
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH











LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ














Hà Nội, 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN






LÊ THU HÀ






CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ BÁO HÌNH
TRONG XU THẾ XÃ HỘI HOÁ SẢN XUẤT
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH









Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01


LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ





Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Tuấn Phong






Hà Nội, 2010
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Trang
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
9
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
10
5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu
10
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
11
7. Kết cấu của luận văn
11
CHƢƠNG 1: TIẾP CẬN NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ ĐÀO TẠO
NGHIỆP VỤ TRUYỀN HÌNH TRONG XU THẾ XÃ HỘI HÓA
SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TẠI VIỆT NAM

1.1 Khái niệm cơ bản về xã hội hóa sản xuất chƣơng trình truyền
hình tại Việt Nam
1.1.1 Một số quan niệm về xã hội hóa
12
1.1.2 Xã hội hóa sản xuất các chƣơng trình truyền hình
13
1.2 Những quan điểm về đào tạo nhân lực nghề báo hình tại Việt
Nam
1.2.1 Quan điểm về chất lƣợng trong giáo dục đại học
20
1.2.2 Quan điểm về đào tạo nhân lực làm báo hình tại các trƣờng
Đại học Việt Nam
23
1.3 Xu thế XHHSXCTTH tại VN và vấn đề đổi mới phƣơng pháp
đào tạo nghiệp vụ báo hình tại các trƣờng Đại học
25
CHƢƠNG 2
KHẢO SÁT CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ BÁO HÌNH
TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUA VIỆC THỰC HIỆN CÁC
CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THEO PHƢƠNG THỨC
XHH
2.1 Mục đích và phƣơng pháp tiến hành khảo sát





31
2.2 Khảo sát công tác đào tạo nghiệp vụ báo hình tại các trƣờng
Đại học
2.3 Khảo sát quá trình hợp tác thực hiện chƣơng trình truyền
hình theo phƣơng thức xã hội hóa của các cơ sở đào tạo báo chí.
2.3.1 Đặc điểm của chƣơng trình Thế hệ Tôi – VTV6, Đài THVN
33



44
2.3.2 Năng lực thực hiện chƣơng trình Thế hệ Tôi của các trƣờng
tham gia hợp tác sản xuất
49
CHƢƠNG 3
ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NHẰM ĐỔI MỚI CÔNG TÁC ĐÀO
TẠO NGHIỆP VỤ BÁO HÌNH TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC
TRONG XU THẾ XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH
3.1 Những vấn đề còn tồn tại của công tác đào tạo nghiệp vụ báo
hình tại các trƣờng ĐH





68
3.2 Một số đề xuất, kiến nghị
72
KẾT LUẬN
82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
85
PHỤ LỤC
88

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

BC
Báo chí
ĐH
Đại học
ĐHKHXH&NV
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
ĐHQGHN
Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHQGtpHCM
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
ĐTH
Đài Truyền hình
HV
Học viện
HVBCTT
Học viện Báo chí Truyên truyền
PTTH
Phát thanh truyền hình
THVN
Truyền hình Việt Nam
TW
Trung ương
SXCTTH
Sản xuất chương trình truyền hình
XHH
Xã hội hóa
XHH SXCTTH
Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình
VN
Việt Nam


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Truyền hình là một loại hình quan trọng trong hệ thống các phương tiện
thông tin đại chúng. Với khả năng truyền tải nội dung thông tin bằng hình ảnh, âm
thanh sinh động, truyền hình có sức mạnh thu hút hang triệu công chúng khắp
hành tinh. Tốc độ phát triển của ngành truyền hình thế giới và Việt Nam nói
chung hoà nhịp với dòng chảy mạnh mẽ của truyền thông đại chúng. Ngành
truyền hình càng phát triển thì yêu cầu đặt ra đối với vấn đề nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực làm truyền hình ngày càng cấp thiết. Đây là vấn đề không mới
nhưng luôn quan trọng và cần thiết. Thực tiễn phát triển sinh động của ngành
truyền hình không ngừng hình thành nên những quan điểm mới, những nội dung
mới trong công tác đào tạo nguồn nhân lực.
Nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghiệp vụ Truyền hình tại các
trường Đại học là góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của
ngành truyền hình Việt Nam.
Hằng năm, các cơ sở đào tạo báo chí trên cả nước đã cung cấp một số lượng
lớn đội ngũ nhân lực hoạt động trong lĩnh vực báo chí nói chung và ngành truyền
hình nói riêng. Cử nhân ngành báo chí để làm việc trong lĩnh vực truyền hình cần
phải được đào tạo bài bản về lí luận, tư duy và các kĩ năng chuyên ngành, có khả
năng nhanh chóng thích ứng với thực tiễn nghề nghiệp. Ngành truyền hình của
nước Việt Nam chính thức được xây dựng và phát triển đến nay hơn 40 năm. Đội
ngũ nhân lực làm truyền hình đầu tiên là một bộ phận của Bộ Biên tập Đài Tiếng
nói Việt Nam, được cử sang Cu Ba, Cộng hòa Dân chủ Đức học tập từ cuối những
năm 60 của thế kỉ trước, gấp rút chuẩn bị cho việc thành lập ngành truyền hình
Việt Nam. Ngày 7 tháng 9 năm 1970, buổi phát hình thử nghiệm đầu tiên của Vô
tuyến truyền hình Việt Nam đánh dấu một mốc son trong lịch sử phát triển của
ngành. Ngoài Đài truyền hình Việt Nam, 63 tỉnh thành đều có Đài Phát thanh –

2
Truyền hình. Bên cạnh đó là Đài truyền hình Kĩ thuật số VTC thuộc Bộ Thông tin
và Truyền thông, hàng trăm kênh Truyền hình của các Bộ, ngành, các tổ chức báo
chí truyền thông trên cả nước. Đội ngũ nhân lực làm việc trong lĩnh vực truyền
hình tại Việt Nam lên tới con số hàng ngàn người. Ngành truyền hình luôn là
ngành hấp dẫn đối với người lao động, tuy nhiên để có thể đáp ứng được yêu cầu
thúc đẩy sự phát triển của ngành thì cần thiết phải có hệ thống đào tạo bài bản,
chính quy và hiện đại.
Nâng cao chất lượng đào tạo nghiệp vụ báo hình góp phần hiện thực hóa
mục tiêu “đào tạo gắn với nhu cầu xã hội” của các cơ sở đào tạo nhân lực báo
chí. Cho đến nay, truyền hình Việt Nam đã tiến một bước dài, phát triển với tốc
độ nhanh trong khi công tác đào tạo lại chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của ngành.
Cả nước hiện có 4 trường Đại học có Khoa, Bộ môn đào tạo về Báo chí truyền
thông là hai Khoa Báo chí và Truyền thông thuộc trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Phát thanh – Truyền
hình thuộc Học viện Báo chí và tuyên truyền, Bộ môn Báo chí truyền thông thuộc
trường Đại học Khoa học Huế. Quy mô cũng như năng lực đào tạo về truyền hình
tại 4 cơ sở này lại không đồng đều, hình thức đào tạo cũng không giống nhau.
Ngoài ra còn có các cơ sở đào tạo khác có năng lực đào tạo thấp hơn, ngắn hạn
hơn, thiên về kĩ thuật viên như Cao đẳng Phát thanh – Truyền hình Hà Nam, Cao
Đẳng Truyền hình thuộc Đài Truyền hình Việt Nam. Như vậy, thực chất nước ta
chưa có một trường đào tạo chuyên sâu về Truyền hình bậc đại học.Điều này dẫn
đến một tình trạng là đội ngũ nhân lực làm việc trong ngành vừa thừa lại vừa
thiếu. Một số lượng lớn cử nhân tốt nghiệp ngành báo chí nhưng không thể đáp
ứng yêu cầu không việc trong lĩnh vực truyền hình, thiếu kiến thức chuyên môn
sâu, khả năng hòa nhập môi trường làm việc đầy áp lực, phải chuyển sang lĩnh
vực khác. Trong khi đó, cánh cửa các Đài truyền hình mở rộng tiếp nhận lực
lượng không nhỏ nhân lực từ các ngành học khác như Ngoại ngữ, Ngoại thương,

3
Kinh tế, Luật, Văn hóa… Đội ngũ này chưa được đào tạo qua trường lớp chính
quy về nghiệp vụ báo chí nên các cơ quan truyền hình vẫn phải tiến hành tổ chức
các khóa đào tạo ngắn hạn, để “đào tạo lại” nguồn nhân lực. Chính vì vậy, điều
tiên quyết là cần phải tập trung đầu tư đào tạo được nhân lực đúng chuyên ngành
báo chí truyền hình để ngày càng hạn chế sự lãng phí nguồn chất xám cũng như
kinh tế của đất nước.
Xu thế xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại Việt Nam trong
những năm gần đây đã tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức không nhỏ đối
với công tác đào tạo nghiệp vụ truyền hình tại các trường Đại học.
Từ năm 2007, Truyền hình Việt Nam có chiến lược đẩy mạnh xã hội hóa
sản xuất chương trình truyền hình. Một số kênh như VTV6, VTV1 … đã hợp tác
cùng với các cơ sở đào tạo báo chí như Khoa Báo chí và Truyền thông thuộc Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn hà Nội, Khoa Phát thanh – Truyền hình (Học
viện Báo chí Tuyên truyền), Trường Cao đẳng Truyền hình trong việc sản xuất
chương trình truyền hình theo phương thức xã hội hóa … Ngoài ra, việc các cơ sở
đào tạo báo chí tham gia hợp tác thường xuyên hay định kì cùng với các Đài
Truyền hình,các công ty truyền thông đã không còn là mới.
Thực tế cho thấy, các trường đại học đào tạo cử nhân Báo chí truyền thông
tham gia thực hiện chương trình truyền hình theo phương thức xã hội hóa dựa trên
nguồn lực tự thân của chính mình (kiến thức trong chương trình đào tạo, cơ sở vật
chất hiện có, đội ngũ nhân lực là cán bộ và sinh viên vốn là đối tượng chính của
quá trình đào tạo). Vì vậy, quá trình tiến hành khảo sát, phân tích hoạt động hợp
tác này cũng góp phần vào việc nhìn nhận, đánh giá công tác đào tạo nghiệp vụ
truyền hình tại những cơ sở đào tạo. Những kết quả thu được cũng như những vấn
đề còn tồn tại từ việc hợp tác này cần phải được nhìn nhận một cách khoa học,
tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm. Mục đích của việc làm này là nhằm
nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác đào tạo nghiệp vụ truyền hình tại các

4
trường Đại học, đóng góp cho sự phát triển của ngành truyền hình nói riêng và
nền báo chí cách mạng Việt Nam nói chung.
Tính cạnh tranh ngày càng gay gắt ngay trong hoạt động đào tạo. Uy tín,
vị thế của mỗi đơn vị đào tạo chính là chất lượng của nguồn nhân lực được đào
tạo từ đây, là khả năng đáp ứng yêu cầu công việc đóng góp cho sự phát triển của
xã hội. Cũng như bất kì ngành nghề khác, quá trình đào tạo của các đơn vị đào tạo
nghiệp vụ truyền hình cần đẩy mạnh xu thế đáp ứng nhu cầu xã hội thay vì dừng
lại ở quan điểm cung cấp nhân lực cho ra xã hội bằng những gì mình có. Đổi mới
chương trình, đổi mới phương pháp dạy – học, tăng cường liên kết, hợp tác để đạt
được hiệu quả cao nhất, được xã hội đánh giá cao nhất là mục tiêu của mỗi cơ sở
đào tạo.
Tất cả những yếu tố trên khiến việc đánh giá nhằm nâng cao chất lượng
công tác đào tạo nghiệp vụ báo hình trở thành vấn đề cấp thiết. Đây không phải là
một vấn đề mới nhưng trong bối cảnh toàn cầu hóa hoạt động truyền thông,
Với những lí do trên, chúng tôi thực hiện luận văn với đề tài: “ Công tác
đào tạo nghiệp vụ báo hình trong xu thế xã hội hóa sản xuất chương trình
truyền hình”. Mục tiêu của luận văn không chỉ dừng ở việc hệ thống lại những
quan điểm lý luận về đào tạo đội ngũ nhân lực làm truyền hình trong yêu cầu đào
tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, đặt vấn đề đào tạo trong xu thế xã hội hóa sản xuất
chương trình truyền hình tại Việt Nam mà còn đóng góp những kiến nghị cho hoạt
động thực tiễn.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, ngành Truyền hình xuất hiện muộn hơn nhiều so với thế giới.
Truyền hình được coi là một vũ khí tích cực trong sự nghiệp đấu tranh xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, trở thành thành tố quan trọng của hoạt động báo chí cách
mạng nói chung. Chính vì vậy, đội ngũ người làm truyền hình Việt Nam cũng

5
chính là đội ngũ những người làm cách mạng, đòi hỏi phải “vừa hồng, vừa
chuyên”. Đào tạo truyền hình được tiến hành tại các trường đại học nhằm mục
tiêu: chính quy hóa, chuyên nghiệp hóa đội ngũ người làm báo hình. Từ đó, vấn
đề nghiên cứu về đào tạo báo hình cũng được đặt ra một cách cụ thể và có hệ
thống.
Song song với quá trình đào tạo là công tác nghiên cứu các vấn đề liên quan
đến ngành nghề chuyên môn và chính thực tiễn đào tạo. Hướng nghiên cứu về đào
tạo nguồn nhân lực truyền hình trong một xu thế phát triển của lĩnh vực truyền
hình một mặt góp phần hệ thống hóa lý luận về báo chí truyền hình, đồng thời có
tác động to lớn đến vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành truyền hình
nói riêng và báo chí truyền thông nói chung.
Một đặc điểm dễ nhận thấy của hướng nghiên cứu này là luôn đặt ra những
vấn đề của đào tạo trong sự liên hệ, gắn bó chặt chẽ, bám sát với thực tiễn phát
triển của ngành truyền hình, trả lời cho các câu hỏi khoa học: Hiện nay ngành
truyền hình thế giới và Việt Nam đang phát triển như thế nào? Có những yếu tố
nào đã lạc hậu, những xu hướng nào mới xuất hiện? Năng lực của đội ngũ người
làm báo hình trong bối cảnh mới thể hiện như thế nào? Sứ mệnh của các cơ sở đào
tạo chuyên ngành bậc Đại học tại giai đoạn đó là gì? Những bước đi cụ thể mang
tính chiến lược, khoa học của các cơ sở đào tạo này trong việc trang bị kiến thức,
năng lực chuyên môn cho những nhà báo truyền hình tương lai cần phải được xây
dựng và triển khai như thế nào? Đã có nhiều nghiên cứu về công tác đào tạo,
phát triển nguồn nhân lực báo chí nói chung và truyền hình nói riêng, từ phía các
nhà lãnh đạo, quản lý văn hóa- truyền thông, từ phía các cơ quan báo chí và quan
trọng, quy mô và sâu sắc hơn cả là từ phía chính các cơ sở đào tạo.
Đề tài “Công tác đào tạo nghiệp vụ báo hình trong xu thế xã hội hóa sản
xuất chương trình truyền hình” cũng nằm trong hướng nghiên cứu này. Luận
văn tiến hành khảo sát, tìm hiểu công tác đào tạo nghiệp vụ báo chí truyền hình

6
trong bối cảnh ngành truyền hình Việt Nam xuất hiện một xu thế mới – xã hội
hóa sản xuất các chương trình truyền hình. Đây có thể coi là một hướng đi tất yếu
của ngành truyền hình nói riêng trong định hướng xã hội hóa một số loại hình dịch
vụ công theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Khi xu thế này xuất hiện, đã có
rất nhiều ý kiến, phân tích, nghiên cứu, nhiều hội thảo khoa học được tổ chức bởi
tầm quan trọng của vấn đề.
Có thể hình dung khi phương thức XHH SXCTTH phát triển thì sẽ nảy sinh
ra hai vấn đề: một là lực lượng thực hiện, sản xuất các sản phẩm truyền hình sẽ
phát triển và thứ hai là môi trường sử dụng nguồn nhân lực có chuyên môn báo
hình chất lượng cao ngày càng mở rộng. Cả hai chủ thể nêu trên đều không bó hẹp
trong phạm vi các Đài Truyền hình TW và địa phương. Đó có thể là các cơ quan,
tổ chức ngoài ngành, các công ty quảng cáo – truyền thông, các hãng phim tư
nhân, thậm chí là mỗi công dân đều có thể tham gia hoạt động này. Hai vấn đề này
thực chất quy về “ nguồn nhân lực” và có mối liên hệ trực tiếp với nhiệm vụ đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực chính quy cho ngành truyền hình tại các trường Đại
học. Đào tạo làm sao để sinh viên có thể tiếp cận được với thực tiễn công việc của
ngành một cách chủ động trên cơ sở kiến thức và kĩ năng được Nhà trường trang
bị. Họ có thể làm được điều này ngay trong khi còn trong quá trình học hoặc
khoảng thời gian bắt nhịp với thực tế công việc khi ra trường phải được rút ngắn
nhất có thể. Đã tồn tại từ nhiều năm nay một thực tế là sinh viên báo chí ra trường
đa phần đều bỡ ngỡ trước thực tế công việc; phải chịu áp lực cạnh tranh với đội
ngũ nhân lực tốt nghiệp từ các ngành đào tạo khác; tình trạng phải chuyển nghề,
làm trái ngành là rất lớn. Trong bối cảnh hiện nay, sinh viên được đào tạo nghiệp
vụ truyền hình tại các trường ĐH phải khẳng định được mình trong cuộc cạnh
tranh tìm kiếm việc làm và có được vị trí ổn định, xứng đáng để cống hiến cho sự
phát triển của ngành truyền hình nước nhà.

7
Tìm hiểu về các chương trình truyền hình theo phương thức XHH đã một số
luận văn, khóa luận thực hiện trong thời gian gần đây. Luận văn Thạc sỹ Báo chí
học của học viên Vũ Thị Thu Hà - trường ĐH KHXH&NV với đề tài “Xã hội hoá
TH hiện nay - Khảo sát tại Đài PTTH Hà Tây” (Cán bộ hướng dẫn: TS. Nguyễn
Tuấn Phong). Luận văn đã đi sâu phân tích mô hình xã hội hoá TH ở một đài TH
địa phương.
Khóa luận “Xã hội hóa truyền hình qua sản xuất chương trình “Thế hệ
Tôi” ở VTV6 - Đài Truyền hình Việt Nam (Khảo sát từ tháng 8/2007 đến tháng
4/2008) của Phan Hoài lớp Truyền hình K24 (Học viện BCTT) nghiên cứu xu thế
XHH SXCTTH và chương trình Thế hệ Tôi với tư cách là một sản phẩm của
phương thức này. Khóa luận tập trung phân tích nội dung, hình thức, format
chương trình, đặc trưng của đối tượng thực hiện, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế
của chương trình. Khóa luận cũng đã đưa ra một số nhận định về sự hợp tác giữa
các trường và Đài truyền hình trong phần giải pháp nâng cao chất lượng chương
trình.
Khóa luận“Chương trình chính luận truyền hình dành cho giới trẻ.(Khảo
sát chương trình Thế hệ tôi phát trên VTV6-Đài truyền hình Việt Nam từ tháng
5/2007 đến hết tháng 3/2009) của Trần Thị Mừng lớp Truyền hình K25 (Học viện
BCTT) chọn đối tượng nghiên cứu chương trình Thế hệ tôi – VTV6, dưới góc độ
thể loại báo chí truyền hình, hướng tới đối tượng công chúng cụ thể là giới trẻ.
Công trình này đã phân tích ưu điểm và hạn chế của chương trình và có một số
giải pháp nâng cao chất lượng….
Cũng trong khoảng thời gian này đã có hàng loạt những bài báo dưới góc
độ lý luận chung như “Xã hội hoá truyền hình – xu hướng phát triển của truyền
hình hiện đại” (tác giả Xuân Hoà, đăng trên tạp chí Lý luận chính trị và truyền
thông, năm 2008)… hoặc các ý kiến xung quanh việc các tổ chức, công ty truyền

8
thông, quảng cáo, các hãng phim tư nhân tham gia sản xuất chương trình truyền
hình, theo sát hoạt động tại các Liên hoan truyền hình toàn quốc.
Vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo là chủ đề của nhiều cuộc hội thảo khoa
học, tọa đàm, nhiều đề án … các cấp xây dựng. Báo chí và các diễn đàn xã hội
cũng nhiều lần đề cập tới vấn đề này. Trong khuôn khổ các cuộc Hội thảo Khoa
học về nâng cao chất lượng đào tạo nghề báo nói chung, đào tạo nghiệp vụ truyền
hình cũng được đề cập tới như Hội thảo Khoa học “ Đào tạo báo chí đáp ứng yêu
cầu xã hội” tháng 4/2008 tại Học viện BCTT, Hội thảo khoa học quốc tế “ Báo chí
và Truyền thông đại chúng – đào tạo, bồi dưỡng trong thời kì hội nhập” tháng
6/2008 do Học viện BCTT và tổ chức Friendrich Ebert Stiftung phối hợp tổ chức.
Ngoài ra, dự án MediaPro do Bộ Ngoại giao Anh tài trợ thông qua Đại sứ quán
Anh tại Việt Nam. Dự án do Hội đồng Anh phối hợp với Học viện Báo chí và
Tuyên truyền, hai khoa Báo chí và Truyền thông của Trường đại học quốc gia Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh và Hội nhà báo Việt Nam thực hiện. MediaPro
cũng sẽ tạo cơ hội phát triển chuyên môn thông qua chia sẻ ý tưởng và kinh
nghiệm giữa các chuyên gia báo chí của Vương quốc Anh với các đồng nghiệp
Việt Nam nhằm nâng cấp và cải thiện các chương trình đào tạo đang được sử
dụng tại ba cơ sở đào tạo báo chí lớn của Việt Nam. Chương trình đào tạo được
nâng cấp sẽ trang bị cho sinh viên báo chí một hành trang tri thức và kỹ năng tác
nghiệp tốt để khởi nghiệp thành công.
Khi lựa chọn đề tài, tìm hiểu các công trình nghiên cứu, tài liệu được công
bố trước đó, chúng tôi đã xác định xây dựng luận văn này trên cơ sở kế thừa một
số kết quả đáng ghi nhận từ các công trình nghiên cứu trước đây. Đặc biệt là các
quan điểm, luận điểm khoa học về đào tạo báo chí, đào tạo nghiệp vụ truyền hình
và lý thuyết về XHHSXCTTH, một số nhận xét về chương trình Thế hệ Tôi –
VTV6 và sự hợp tác của các trường ĐH với Đài THVN thực hiện chương trình
này. Trên cơ sở đó, luận văn đã chọn một hướng đi cụ thể, không trùng lặp, chưa

9
từng có công trình khoa học nào nghiên cứu. Luận văn tập trung khảo sát, phân
tích thực trạng công tác đào tạo nghiệp vụ truyền hình tại một số trường ĐH thông
qua việc tiến hành các chương trình truyền hình theo phương thức XHH.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát, phân tích thực trạng công tác
đào tạo nghiệp vụ báo hình tại một số trường ĐH, được thể hiện bằng việc tiến
hành thực hiện một số chương trình truyền hình theo phương thức XHH.
Những mục tiêu cụ thể của luận văn:
- Nhận diện công tác đào tạo nghiệp vụ báo hình tại một số trường ĐH trong sự
phát triển mạnh mẽ của truyền thông đại chúng, của ngành truyền hình VN.
- Khẳng định xu thế XHH SXCT là một xu thế tất yếu của ngành truyền hình VN.
Những cơ hội và thách thức đặt ra đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực báo
làm báo hình tại các trường ĐH.
- Chỉ ra đặc điểm của hoạt động hợp tác giữa ĐTH và các trường: quan điểm của
ĐTH và các trường về hoạt động hợp tác; mục đích, ý nghĩa, đặc trưng của các
chương trình mời hợp tác, đối tượng thực hiện, các nguyên tắc xây dựng chương
trình và mối quan hệ hợp tác sản xuất.
- Khảo sát hoạt động hợp tác, cụ thể thông qua: khảo sát chương trình đào tạo
nghiệp vụ báo hình để thấy được quy mô, nội dung kiến thức trang bị cho sinh
viên; khảo sát cơ sở vật chất, điều kiện thiết bị kĩ thuật phục vụ tác nghiệp; khảo
sát cách thức tiến hành tổ chức sản xuất của các trường; khả năng tác nghiệp của
đội ngũ thực hiện; đánh giá chất lượng sản phẩm, tính khả thi và hiệu quả của hoạt
động hợp tác…
- Phân tích những kết quả đạt được và những vấn đề hạn chế còn tồn tại của công
tác đào tạo nghiệp vụ báo hình được thể hiện qua hoạt động hợp tác này.

10
- Đưa ra những kiến nghị, đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả của việc hợp tác
thực hiện chương trình truyền hình theo phương thức XHH nói riêng và nâng cao
chất lượng công tác đào tạo nghiệp vụ báo hình nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiến hành khảo sát thực tế đào tạo nghiệp vụ báo hình tại 4 cơ sở:
Khoa Phát thanh – Truyền hình (Học viện báo chí tuyên truyền), Khoa Báo chí và
Truyền thông (Đại học Quốc gia Hà Nội), Bộ môn Báo chí Truyền thông (Đại học
Khoa học Huế) và Khoa Báo chí và Truyền thông (Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí
Minh). Đối tượng khảo sát là quá trình hợp tác sản xuất chương trình truyền hình
Thế hệ Tôi – VTV6 giữa các trường và Đài Truyền hình Việt Nam.
Thời gian khảo sát từ tháng 5 năm 2007 đến tháng 5 năm 2009
5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận triết học, kinh tế học của chủ
nghĩa Macxit kết hợp với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà
nước về báo chí truyền thông.
Cơ sở lý thuyết của luận văn là hệ thống lý thuyết về truyền thông đại
chúng, về giáo dục học bậc đại học.
Cơ sở thực tiễn của luận văn là việc điều tra, khảo sát chương trình đào tạo
nghiệp vụ báo hình đang được thực hiện tại 4 trường ĐH, các chương trình
truyền hình hợp tác giữa các trường và ĐTH.
Phương pháp nghiên cứu: thu thập và xử lí tài liệu, đối chiếu, so sánh, tổng
hợp. Luận văn tập trung phỏng vấn sâu các đối tượng là chuyên gia gồm: 05 người
(cán bộ các trường Đại học trực tiếp phụ trách đào tạo và hợp tác sản xuất, cán bộ
Đài THVN); đối tượng là sinh viên chuyên ngành Truyền hình, trực tiếp tham gia
và quy trình thực hiện chương trình: 06 người. Bên cạnh đó, Luận văn cũng tiến
hành điều tra bằng bảng hỏi với số lượng 150 phiếu cho sinh viên năm thứ 4 theo
học tại các cơ sở đào tạo báo chí. Điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vần sâu giúp

11
luận văn có được cơ sở để rút ra những đặc điểm về lượng và chất của công tác
đào tạo nghiệp vụ báo hình và quá trình hợp tác với Đài truyền hình Việt Nam.

6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
Ý nghĩa lí luận: tổng hợp và phân tích quan điểm, chủ trương của Đảng và
Nhà nước về đổi mới đào tạo nghiệp vụ báo chí nói chung và truyền hình nói
riêng. Hệ thống lại lý thuyết về XHH SXCTTH.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn là tài liệu tham khảo cho các trường Đại học
đào tạo báo chí, cho Đài Truyền hình và các công ty truyền thông, các nhà nghiên
cứu về truyền thông, đào tạo nghiệp vụ … về việc tổ chức, xây dựng chương trình
đào tạo nghiệp vụ truyền hình. Đồng thời đóng góp cho việc tổ chức hợp tác, liên
kết giữa các cơ sở đào tạo và các đơn vị, tổ chức sử dụng nguồn nhân lực báo chí
truyền hình trong xu thế đào tạo theo nhu cầu xã hội.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương I: Tiếp cận những quan điểm về đào tạo nghiệp vụ báo hình trong
xu thế xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình.
Chương II: Khảo sát công tác đào tạo nghiệp vụ báo hình tại các trường Đại
học qua việc thực hiện các chương trình truyền hình theo phương thức xã hội hóa.
Chương III: Đề xuất, kiến nghị nhằm đổi mới công tác đào tạo nghiệp vụ báo hình
tại các trường Đại học trong xu thế xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền
hình.

12
CHƢƠNG 1
TIẾP CẬN NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ TRUYỀN
HÌNH TRONG XU THẾ XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH TẠI VIỆT NAM
1.1 Khái niệm cơ bản về xã hội hóa sản xuất chƣơng trình truyền hình tại
Việt Nam
1.1.1 Một số quan niệm về xã hội hóa
Xã hội hóa là một khái niệm quen thuộc của lĩnh vực Xã hội học, Nhân
học. Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu khái niệm Xã hội hóa trong khoa học
về kinh tế chính trị, thể hiện trong quan hệ sản suất của xã hội.
Quan điểm về Xã hội hóa của K.Mác là “Sự tiến xa hơn nữa của quá trình
xã hội hóa lao động… thành khai thác xã hội, và do đó, là tư liệu sản xuất chung”
và là “ Sự tiết kiệm mọi tư liệu sản xuất trong sử dụng như là tư liệu sản xuất của
lao động tập thể” [8, tr.10]
Lê nin cũng đặt khái niệm Xã hội hóa trên cơ sở mặt biểu hiện cấp cao của
lao động/ tư liệu sản xuất trên bình diện toàn xã hội trong giai đoạn Nhà nước tổ
chức lao động, quản lý sản xuất toàn phần hay gần toàn phần. “Từ Xã hội hóa chỉ
biểu lộ khuynh hướng, ước mơ, một bước sửa soạn tiến tới chủ nghĩa xã hội”
[8,tr11].
Trong Báo cáo Chính trị Đại hội X – Đảng Cộng sản Việt Nam có đề cập
tới Xã hội hóa trong giáo dục. “Đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, phương
pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, nâng cao chất
lượng dạy và học” [1,tr3]. Từ Xã hội hóa ở đây được dùng với nghĩa là huy động
nguồn lực của toàn xã hội vào hoạt động của lĩnh vực này. Như vậy, xã hội hóa là
việc đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm thực hiện trong nhiều lĩnh vực. Theo
Từ điển Tiếng Việt, “Xã hội hóa” nghĩa là: “Làm cho trở thành của chung của xã
hội” [17,tr.1140].

13

Nhiều ý kiến hiểu một cách phiến diện về thuật ngư này, cho rằng: xã hội
hóa tạo điều kiện cho quá trình phát triển tư nhân mà không chú trọng đến mục
tiêu và định hướng xã hội, đẩy trách nhiệm vốn của các cơ quan Nhà nước sang
phía tư nhân. Hiện nay còn nhiều ý kiến tranh luận về cụm từ này. Tuy nhiên
trong luận văn này thừa nhận cách hiểu: Xã hội hóa là huy động nguồn lực của cả
xã hội vào một lĩnh vực, một hoạt động mà trước kia chỉ có các cơ quan Nhà nước
quản lí, chịu trách nhiệm. Quan điểm, bản chất và quá trình thực hiện xu thế này
cần phải được định hướng dựa trên lập trường của quan điểm Đảng Cộng sản
Việt Nam,vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
1.1.2 Xã hội hóa sản xuất các chƣơng trình truyền hình
“Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình” là sự huy động các
nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động sản xuất chương trình truyền hình. Biểu
hiện quan trọng nhất của xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình chính là
quá trình tham gia sản xuất các chương trình truyền hình của các cá nhân, tổ chức
khác ngoài Đài Truyền hình. Theo TS Trần Đăng Tuấn – Nguyên Phó Tổng Giám
đốc thường trực Đài Truyền hình Việt Nam khẳng định tại Liên hoan Truyền hình
toàn quốc lần thứ 25 (Nha Trang – Khánh Hòa): Xã hội hóa sản xuất truyền hình
chính là “Sự tham gia vào quá trình sản xuất chương trình từ bên ngoài ngành
truyền hình… Bản chất của xã hội hóa không phải vì tiền, mà là việc lôi kéo nhiều
đơn vị, tổ chức tham gia vào quá trình sản xuất chương trình, nhằm giảm tải cho
nhà Đài cũng như tạo ra hiệu quả tốt nhất cho các chương trình truyền hình. Và
nó sẽ thu hút được quan tâm và ủng hộ của công chúng”.
Khái niệm “xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình” còn hàm chứa cả
mục tiêu xây dựng một nền truyền hình hiện đại nhờ phát huy tối đa các nguồn lực
của xã hội. Đây cũng là con đường để việc sản xuất các chương trình truyền hình
đi theo hướng chuyên môn hóa, chất lượng và năng suất hơn.

14
Ở Việt Nam, “xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình” có những màu
sắc đặc thù. Nhiều đơn vị thuộc nhiều thành phần kinh tế, nhiều cơ quan tổ chức
không thuộc lĩnh vực Truyền hình đều có khả năng tham gia thực hiện một phần,
toàn phần hoặc tài trợ cho chương trình, nhưng việc phát sóng và quản lý về nội
dung tư tưởng thuộc quyền của các Đài Truyền hình. Mô hình này cho phép xử lý
được vấn đề tuân thủ các quy định về sự quản lý của Nhà nước về truyền hình
trong sở hữu, vận hành, phát sóng, quản lý nội dung, đồng thời được đông đảo các
lực lượng trong toàn xã hội đóng góp. Nhiều ý kiến cho rằng xã hội hóa sản xuất
chương trình truyền hình đơn thuần là việc “chia lô, bán sóng” truyền hình Nhà
nước cho các đơn vị tư nhân vì mục đích kinh tế. Quan niệm cho rằng đây là “tư
nhân hóa truyền hình, là thương mại hóa báo chí” là không chính xác. Quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với báo chí nói
chung và truyền hình nói riêng là: báo chí là tiếng nói của Đảng, là diễn đàn của
nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta
luôn tạo điều kiện để báo chí phát triển nhanh, mạnh, vững chắc, đúng định
hướng, đảm bảo an ninh thông tin. Đây cũng là định hướng, là chỗ dựa căn bản để
truyền hình thực hiện thành công mục tiêu xã hội hóa.
Quá trình Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình đã diễn ra từ
lâu và có những phương thức, diện mạo khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển của
truyền hình Việt Nam. Từ những giai đoạn đầu hình thành và phát triển, chương
tình truyền hình luôn có sự tham gia của nhiều cơ quan ngoài Đài truyền hình
tham gia xây dựng. Các Bộ, Ban, Ngành cũng tham gia sản xuất chương trình
như: Truyền hình Vì an ninh Tổ quốc của Bộ Công An, Truyền hình Quân đội
Nhân dân của Quân đội Nhân dân, Truyền hình Phụ nữ của Hội Phụ nữ Việt Nam,
Truyền hình Thanh niên, Truyền hình Nhân đạo….do đội ngũ cán bộ trong ngành
chịu trách nhiệm nội dung, Đài Truyền hình phụ trách về nghiệp vụ và phát sóng.
Cho đến nay, một số chương tình vẫn tồn tại trên sóng của Đài Truyền hình Việt

15
Nam, một số chương trình đã tách ra phát trên các kênh riêng của các cơ quan chủ
quản. Như vậy, có thể thấy rằng lực lượng xã hội bên ngoài tham gia vào thực
hiện chương trình truyền hình cùng với Đài truyền hình là các cơ quan, tổ chức
Nhà nước. Mục đích của việc hợp tác như vậy thực chất là coi Truyền hình là một
diễn đàn rộng mở để các cơ quan, tổ chức này phát ngôn, dành cho các đối tượng
công chúng nhất định, làm phong phú lượng chương trình của Đài. Về kinh phí
phục vụ sản xuất cũng như cơ chế hoạt động nằm trong sự bao cấp của Nhà nước.
Đồng thời hình thức chương trình không được đổi mới thường xuyên, chất lượng
về nghiệp vụ và nội dung cũng không được đầu tư thỏa đáng để nâng cao. Xóa bỏ
cơ chế bao cấp, một số nghị định như Nghị định 10/2002/NĐ-CP (Nghị định của
Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu) hay Nghị
định 43/2006/NĐ-CP (Nghị định của Chính phủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức
bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập) đã giúp Đài
Truyền hình mạnh dạn hơn khi sử dụng các chương trình của các đơn vị, tổ chức
bên ngoài. Nhận định tính đúng đắn của hướng đi này, chủ chương xã hội hóa
truyền hình được Nhà nước ta hoàn toàn khuyến khích. Nhằm đẩy nhanh quá trình
xã hội hóa, Đài Truyền hình đã được giao nhiệm vụ là đơn vị chủ chốt thực hiện
nhiệm vụ này. Tính đến thời điểm này, số lượng cũng như chất lượng của các
chương trình được “xã hội hóa” phát trên các kênh sóng của Đài Truyền hình Việt
Nam ngày càng tăng lên.
Hiện tại ở nước ta có 64 tỉnh thành, tương ứng với 64 đài Phát thanh và
Truyền hình với tổng cộng hơn một trăm kênh truyền hình trong nước (kể cả
truyền hình cáp). Các kênh truyền hình tỉnh trung bình phát sóng 18h/ngày; truyền
hình kỹ thuật số và truyền hình cáp, HTV, VTV phát sóng 24/24h. Với hàng trăm
kênh truyền hình như thế, rất cần một lượng chương trình khổng lồ mỗi ngày để
phát sóng.

16
Sự phát triển của xã hội nói chung của truyền hình nói riêng nhằm đáp ứng
những nhu cầu ngày càng cao của công chúng. Từ khi chỉ có một kênh duy nhất,
phát một vài tiếng trong ngày, Đài phát chương trình nào thì công chúng xem
chương trình đó, không có sự lựa chọn nào hết, ngày nay có rất nhiều kênh với
hàng trăm chương trình phong phú từ thời sự, chính trị, kinh tế đến văn hóa giải
trí, công chúng có quyền tự do lựa chọn theo nhu cầu và sở thích của mình. Đài
Truyền hình Trung ương với gần 10 kênh sóng: VTV1, VTV2, VTV3, VTV4,
VTV5, VTV6, VTV9 và hiện tại đang có kế hoạch chuẩn bị ra thêm các kênh mới.
Ngoài ra, các đài truyền hình địa phương cũng cố gắng nâng chất lượng các
chương trình của mình nhằm phục vụ khán giả của địa phương mình. Đặc biệt là
sự lớn mạnh của các kênh truyền hình cáp và truyền hình kĩ thuật số với trên 80
kênh sóng cả trong và ngoài nước. Từ ca nhạc, phim truyện đến các phim tài liệu,
nghiên cứu khoa học, các trò chơi truyền hình.
Đài Truyền hình Việt Nam trong những năm gần đây đã có kế hoạch đầu tư
trang thiết bị ngày càng hiện đại phục vụ cho việc sản xuất các chương trình
truyền hình. Mà mục đích cuối cùng là phục vụ công chúng ngày một tốt hơn.
Hiện nay công chúng đã, đang và sẽ được xem ngày càng nhiều các chương
trình có sự tham gia của những người không phải là cán bộ công nhân viên của
Đài truyền hình. Bên cạnh những chương trình bản quyền Việt Nam, do các biên
tập viên của Đài Truyền hình sáng tạo như Vườn cổ tích, Ở nhà chủ nhật, Sóng
nước phương Nam, Theo dòng lịch sử… hàng loạt những trò chơi truyền hình
(Showgames) được phát sóng trên truyền hình hiện nay là mua bản quyền từ nước
ngoài. Ví dụ: Các showgames của Ban Thể thao, Giải trí và Thông tin kinh tế
(VTV3): Ai là triệu phú?, Hãy chọn giá đúng, Đấu trường 100, Đối mặt, Khắc
nhập khắc xuất, Hành khách cuối cùng, Rung chuông vàng, Trò chơi âm nhạc…

17
Hiện tại có khá nhiều các chương trình xã hội hóa đang phát trên các kênh
sóng của Đài Truyền hình Việt Nam, tuy nhiên ở mỗi chương trình có những cách
hợp tác riêng sao cho phù hợp nhất, thuận lợi nhất trong quá trình sản xuất.
 Thứ nhất: Đài Truyền hình mua các chương trình trọn gói. Ở đây có nghĩa
là các đơn vị sẽ sản xuất hoàn chỉnh các chương trình ở tất cả các khâu, Đài truyền
hình sẽ có nhiệm vụ phát sóng các chương trình đó.
 Thứ hai: Các đơn vị bán chương trình cho Đài Truyền hình sẽ tham gia
trong một số các khâu của quá trình sản xuất các chương trình truyền hình.
 Thứ ba: Các đơn vị hợp tác chỉ thực hiện một vài khâu nhỏ để xây dựng
nội dung, hình thức của chương trình. Ví dụ như là tìm người chơi cho các
showgames, hay thiết kế đồ họa, trailer, hoặc hình hiệu, hình cắt, nhạc hiệu, nhạc
cắt…
Đối tƣợng tham gia vào xu thế XHHSXCTTH rất đa dạng và phong
phú, yêu cầu về năng lực sản xuất đƣợc đặt lên hàng đầu.
Các công ty truyền thông, công ty quảng cáo:
Hiện nay có rất nhiều các công ty truyền thông, quảng cáo được thành lập.
Có thể kể tới Công ty Truyền thông An, Công ty tổ chức sự kiện Việt, Công ty
Truyền thông BHD, Hoàng Gia Media, Le Bros Media… Các công ty truyền
thông với sự năng động, trẻ trung đã mang đến những màu sắc mới cho các
chương trình. Họ có khả năng xây dựng, tổ chức một bộ phận sản xuất truyền hình
với các trang thiết bị hiện đại. Bằng chức năng hoạt động đặc thù của mình, các
công ty truyền thông, công ty quảng cáo có thể tham gia rộng rãi, mạnh mẽ vào
các chương trình văn hóa nghệ thuật, giải trí, quảng cáo trên truyền hình. Họ có
thể thiết lập các mối liên kết ngoài cho chương trình một cách nhanh chóng.
Nguồn lực thực hiện chương trình truyền hình vì vậy được tăng cường. Diện mạo
của các chương trình truyền hình mang tính chất nghệ thuật, giải trí, chỉ dẫn được
thay đổi rõ nét.

18
Các hãng phim tư nhân:
Khi các hãng phim tư nhân được thành lập đã đem tới cho điện ảnh Việt
Nam một làn gió mới. Các hãng phim tư nhân đã mạnh dạn đầu tư về kinh phí để
thực hiện những bộ phim phù hợp với thị hiếu của công chúng. Đặc biệt cũng
không ít bộ phim có giá trị nghệ thuật đích thực, không chỉ đoạt các giải thưởng
trong nước mà còn được khẳng định tại các liên hoan phim quốc tế. Phim truyền
hình Việt Nam cũng có sự tham gia của các hãng phim tư nhân…
Các cơ quan báo chí khác ngoài Đài Truyền hình, đặc biệt là báo in vào
báo mạng điện tử. Với thế mạnh đa loại hình, báo mạng điện tử đã có những kênh
truyền hình thu hút được công chúng. Có thể kể tới sự thành công của
VietNamNet TV trước đây. Một số chương trình của VietNamNet TV đã được
phát trên kênh truyền hình Cáp Hà Nội (HCTV) và một số đài địa phương như Đài
Phát thanh – Truyền hình Hà Nam. Hiện nay, lập thêm các trang Video là một xu
hướng của các báo điện tử lớn như VnExpress.net, TienPhongonline,
ThanhnienOnline, Tuoitreonline… Ngoài ra, các báo mạng còn liên kết với Đài
Truyền hình thực hiện các cuộc bình chọn hoặc điều tra xã hội học. Ví dụ như
chương trình “Đối thoại trẻ” của VTV6 hợp tác với trang báo mạng điện tử của
báo Tiền Phong tại địa chỉ htthp://www.tienphongonline.com để các khán giả gửi
câu hỏi đến cho khách mới đồng thời bình chọn cho độ thuyết phục của khách mới
trong mỗi chương trình truyền hình trực tiếp.
Các Bộ, ngành: Đây là quan hệ hợp tác có từ lâu. Tuy nhiên, cách thức hợp
tác và sản xuất chương trình cũng đã có sự khác biệt so với trước đây. Các đơn vị
đã có những cơ chế mở về tài chính và liên kết, nên nội dung cũng như hình thức
thể hiện cũng được chú trọng đầu tư. Mới đây nhất là sự ra đời của kênh Truyền
hình Du lịch với sự hợp tác của Truyền hình Cáp Việt Nam và Tổng Cục Du lịch
Việt Nam.

19
Các cơ sở đào tạo báo chí: Đây là một nét mới của xã hội hóa truyền hình ở
Việt Nam hiện nay. Trước kia, các trường Đại học, Cao đẳng về báo chí chỉ có
chức năng đào tạo các phóng viên, biên tập viên, quay phim, kỹ thuật viên… cho
Đài Truyền hình Trung ương và địa phương. Tuy nhiên đã có một số chương trình
mạnh dạn hợp tác với các cơ sở đào tạo trực tiếp sản xuất các chương trình, mà
vẫn phải đủ chất lượng, đảm bảo phát sóng. Các chương trình với góc nhìn trẻ
trung của các nhà báo tương lai đã mang đến cho khán giả không ít điều thú vị. Có
thể kể đến “Thời sự học đường” (VTV1) và “Thế hệ Tôi” (VTV6).
Xu thế XHHSXCTTH diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây đã thu
hút sự quan tâm của những nhà chuyên môn, các nhà nghiên cứu xã hội học. Hội
thảo Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 25 (Ngày 05/01/2006 tại Nha
Trang- Khánh Hoà với nội dung chính: Sản xuất chương trình truyền hình sẽ được
xã hội hoá như thế nào?). Sau đó là Hội thảo tại Liên hoan Truyền hình lần thứ 26
(Ngày 11/01/2007 - Hội thảo xã hội hoá truyền hình tại Thành phố Hồ Chí Minh)
Các nghiên cứu về xã hội hóa nói chung đã có một số cuốn sách viết về vấn đề
này. Có thể kể đến “Xã hội hóa hoạt động văn hóa – một số vấn đề lý luận và
thực tiễn” ( Đinh Xuân Dũng, NXB Chính trị quốc gia, 2000), “Xã hội hóa hoạt
động văn hóa” ( Lê Như Hoa, NXB Văn hóa thông tin, 1996), “Vấn đề xã hội hóa
hoạt động điện ảnh” (Luận án tiến sỹ Văn hóa học), “Sự biến đổi chức năng xã
hội hóa của gia đình Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại” (Luận án tiến sỹ
Kinh tế học). Ngoài ra trên báo chí cũng có những loạt bài viết về vấn đề này: “Xã
hội hóa truyền hình – Không phải phân lô bán sóng (http://www.sggp.org.vn),
“Xã hội hóa truyền hình: Chưa được như mong đợi”
(http://www.vietnamnet.vn/tuanvietnam), “Xã hội hóa truyền hình:Cạnh tranh
hay hợp tác?” (http://www.vietbao.vn/vanhoa), “Truyền hình 2008: Làn sóng xã
hội hóa” (http://www.tuoitre.com.vn) Điều này thế hiện sự quan tâm của xã hội
đối với xu thế XHHSXCTTH. Những vấn đề dư luận đặt ra càng là điều kiện thúc

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×