Tải bản đầy đủ

Đất đai nhóm 1 _ Phong Thu Phạm.doc

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trong tiến trình lịch sử, phần lớn các cuộc chiến tranh xâm lược đều vì mục
đích xâm chiếm đất đai và mở rộng lãnh thổ. Đất đai là thành quả mà phải trải qua
nhiều gian khổ, hi sinh, tốn biết bao xương máu mới tạo lập, bảo vệ và giữ gìn được
vốn đất đai như ngày nay. Trong lĩnh vực đất đai, vấn đề sở hữu đóng vai trò trung
tâm, giữ vị trí hạt nhân chi phối toàn bộ quá trình quản lí và sử dụng đất đai ở nước
ta. Nhằm góp phần làm rõ và đem lại những hiểu biết sâu sắc hơn về vấn đề này,
chúng em xin lựa chọn đề tài: Anh, chị hiểu như thế nào về “chế độ sở hữu đất đai”,
“hình thức sở hữu đất đai” và “quyền sở hữu đất đai” trong pháp luật Việt Nam.
Đây là lần đầu tiên làm bài tập nhóm tuần môn luật đất đai, do điều kiện thời
gian cũng như trình độ am hiểu về vấn đề còn hạn chế, nên bài viết chắc chắn không
thể tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em kính mong nhận được những ý kiến phê
bình, đánh giá của các thầy cô giáo để đề tài này được hoàn thiện hơn và đem lại
những kinh nghiệm quý báu cho chúng em trong những lần viết sau.
Chúng em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn đã
giảng giải trong các tiết học và trong các giờ tư vấn để giúp chúng em hoàn thành tốt
bài tập này.
NỘI DUNG
1. Chế độ sở hữu đất đai trong pháp luật Việt Nam
Từ Hiến Pháp năm 1980 cho đến nay, chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam có sự

thay đổi căn bản, từ chỗ còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, chúng ta đã
tiến hành quốc hữu hóa đất đai và xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai theo
nguyên tắc: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” một
chế độ sở hữu chuyển từ giai đoạn nền kinh tế tập trung hóa cao độ sang nền kinh tế
thị trường có điều tiết, tạo thành sự đặc trưng trong quan hệ đất đai dưới tác động của
các quy luật kinh tế thị trường. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta được xây
dựng dựa trên những luận cứ khoa học của học thuyết Mác – Lênin về quốc hữu hóa
đất đai, những điều kiện thực tiễn đặc thù của nước ta, cũng như kế thừa và phát triển
tập quán chiếm hữu đất đai của ông cha ta trong lịch sử.
"Đất đai thuộc sở hữu toàn dân..." là nguyên tắc hiến định, được quy định tại
Điều 17 - Hiếp pháp 1980: "Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước tài nguyên trong
lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời... cùng các tài sản khác mà
pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân". Đây là cơ sở pháp lí
cao nhất xác định rõ toàn dân là chủ sở hữu đối với toàn bộ vốn đất quốc gia.
Với tư cách là chủ thể trong quan hệ sở hữu đất đai, nhân dân có quyền chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình. Nhưng nhân dân không thể tự mình thực
hiện mà chuyển giao các quyền này cho Nhà nước. Nhà nước ta là Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân không có mục đích tự thân. Nhà nước chỉ là công
cụ là phương tiện để nhân dân thực hiện quyền chủ thể trong quan hệ sở hữu tài sản
thuộc sở hữu toàn dân nói chung đất đai nói riêng. "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước thống nhất quản lý". Vì vậy Nhà nước với tư cách đại diện sở hữu toàn dân
quản lý đất đai. Toàn bộ đất dù ở đất liền hay ở lãnh hải, dù đất đang sử dụng hay đất
chưa sử dụng đều thuộc Nhà nước.
Mục đích của quy định "Nhà nước thống nhất quản lý" là nhằm sử dụng đất đai
có hiệu quả, phục vụ tốt các mục tiêu kinh tế xã hội. Nhà nước thống nhất quản lý đất
đai cũng là quy định cần thiết khi Nhà nước thừa nhận đất đai là hàng hoá đặc biệt,
xúc tiến việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản.
Trong pháp luật Việt Nam có sự tách bạch giữa chủ sở hữu và chủ sử dụng đất
trong quan hệ đất đai. Thực ra ở đây có mối quan hệ khăng khít giữa Nhà nước với tư
cách là người đại diện chủ sở hữu đất đai với người sử dụng vốn đất đai của Nhà
nước. Tuy đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng Nhà nước là người đại diện chủ sở
hữu, vì vậy Nhà nước có quyền xác lập hình thức pháp lý cụ thể đối với người sử
dụng đất. Điều đặc trưng ở đây là, tuy cơ chế thị trường, đất đai là tài nguyên quốc
gia có giá trị lớn song Nhà nước vẫn có thể xác lập hình thức giao đất không thu tiền
sử dụng đất, giao đất có thu tiền hoặc cho thuê đất đối với người sử dụng. Nhà nước
còn chủ trương xác định giá đất làm cơ sở cho việc lưu chuyển quyền sử dụng đất
trong đời sống xã hội. Quyền sử dụng đất hiện nay được quan niệm là loại hàng hóa
đặc biệt, được lưu chuyển đặc biệt trong khuôn khổ các quy định của pháp luật. Quy
định giá đất trước hết để thực hiện chính sách tài chính về đất đai thông qua các
khoản thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế, các khoản phí và lệ phí từ đất đai.


Đây chính là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước để thực sự coi đất đai là
nguồn tài chính có tiềm năng lớn để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước. Bên cạnh đó, quyền sử dụng đất là một hàng hóa đặc biệt trong thị
trường bất động sản. Bởi vậy, thừa nhận thị trường bất động sản đồng thời xây dựng
một thị trường chính quy nằm trong tầm kiểm soát của Nhà nước chính là một trong
những nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai. Việc xác định như vậy
hoàn toàn phù hợp với vai trò của Nhà nước vừa là chủ sở hữu đại diện đồng thời là
người thống nhất quản lý toàn bộ đất đai vì lợi ích trước mắt và lâu dài.
Tóm lại, chế độ sở toàn dân về đất đai là một khái niệm pháp lý gồm tổng hợp
các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu đất đai trong đó xác nhận quy
định và bảo vệ quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử
dụng và định đoạt đất đai.
2. Hình thức sở hữu đất đai trong pháp luật Việt Nam
Ngành luật đất đai gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước
Việt Nam. Qua mỗi giai đoạn lịch sử, Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và
năm 1992 đã có những quy định khác nhau về vấn đề sở hữu đất đai từ đó để xác lập
chế độ quản lý và sử dụng đất. Nếu như Hiến pháp năm 1946 xác lập nhiều hình thức
sở hữu về đất đai, sau đó đến Luật cải cách ruộng đất năm 1953 còn lại hai hình thức
sở hữu chủ yếu là sở hữu Nhà nước và sở hữu của người nông dân, thì Hiến Pháp năm
1959 đã xác định có ba hình thức sở hữu về đất đai là: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập
thể và sở hữu tư nhân về đất đai… tạo nên sự đặc trưng về quản lí đất đai trong thời
kì quan liêu bao cấp. Khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành đã quy định chỉ còn
một hình thức sở hữu đất đai duy nhất: Sở hữu toàn dân về đất đai. Hình thức sở hữu
đất đai này tiếp tục được Hiến pháp năm 1992 khẳng định tại Điều 17.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Đây cũng là
hình thức sở hữu duy nhất đối với đất đai ở Việt Nam. Nhà nước thừa nhận sự tồn tại
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu tư liệu
sản xuất nhưng đất đai – tư liệu sản xuất quan trọng nhất lại thuộc hình thức sở hữu
duy nhất: sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Nhằm xác định cụ thể
vị trí, vai trò của Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu đất đai và phương thức thực
hiện vai trò đại diện chủ sở hữu của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường thì Luật
đất đai năm 2003 đã ra đời và quy định rõ về vấn đề này. Mặc dù từ Hiến pháp 1980
đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý nhưng pháp luật lại
chưa quy định rõ về nội dung hình thức sở hữu này. Tại khoản 1 Điều 5 Luật Đất đai
năm 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Đây là lần đầu tiên vai trò của Nhà nước với tư cách
đại diện chủ sở hữu đã được pháp luật quy định rõ. Nhà nước đứng ra thay mặt toàn
dân thực hiện các quyền năng cụ thể của chủ sở hữu nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ
sở hữu đó là toàn dân. Bên cạnh đó luật còn xác định rõ vai trò là người đại diện chủ
sở hữu, thực hiện việc định đoạt đất đai thông qua các biện pháp của mình.
3. Quyền sở hữu đất đai trong pháp luật Việt Nam
a. Chủ thể của quyền sở hữu đất đai
Điều 17 Hiến pháp 92, Điều 1 Luật đất đai năm 1993, Điều 5 Luật đất đai năm
2003 quy định Nhà nước là chủ thể đại diện và đặc biệt của quyền sở hữu đất đai, bởi
vì đây là quyền duy nhất và tuyệt đối. Nhà nước vừa là chủ sở hữu, vừa là người nắm
quyền lực chính trị nên bằng pháp luật qui định những hình thức, những biện pháp để
thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu.
b. Khách thể của quyền sở hữu đất đai
Khách thể của quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai là toàn bộ vốn đất đai
nằm trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, bao gồm đất liền, hải đảo và lãnh hải. Căn cứ
vào mục đích sử dụng, đất đai được phân thành các nhóm: nhóm đất nông nghiệp,
nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng.
c. Nội dung của quyền sở hữu đất đai
Bao gồm những quyền năng của một chủ thể sở hữu đó là: Quyền chiếm hữu;
quyền sử dụng; quyền định đoạt.
Quyền chiếm hữu đất đai: là quyền của Nhà nước nắm giữ toàn bộ vốn đất
đai trong phạm vi cả nước. Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu đất đai trên cơ sở là
đại diện chủ sở hữu đối với đất đai một cách gián tiếp thông qua các hoạt động vừa
mang tính kĩ thuật, nghiệp vụ, vừa mang tính pháp lí như đo đạc, khảo sát, đánh giá
và phân hạng đất để nắm được hiện trạng, sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước và
từng địa phương; hệ thống hồ sơ địa chính, bản đồ địa chính, sổ sách địa chính và các
tài liệu về địa chính khác để nắm được sự phân bố đất đai, kết cấu sử dụng đất ở các
địa phương; hoạt động đăng kí quyền sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai…để nắm
được biến động đất đai qua các thời kỳ. Tuy nhiên, quyền chiếm hữu đất đai của

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×