Tải bản đầy đủ

Sử dụng một số phần mềm thiết kế giáo án điện tử dạy chuyên đề sinh lí thực vật cho học sinh chuyên sinh bậc trung học phổ thông

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM



LÊ THỊ BÍCH THUỶ



SỬ DỤNG MỘT SỐ PHẦN MỀM THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ
DẠY CHUYÊN ĐỀ SINH LÍ THỰC VẬT CHO HỌC SINH
CHUYÊN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG




LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN SINH HỌC
Mã số: 601410



Người hướng dẫn khoa học: TSKH. Mai Văn Hưng




HÀ NỘI 2009
- 1 -
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu 2
3. Mục tiêu nghiên cứu 6
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu 6
5. Phạm vi nghiên cứu 7
6. Giả thuyết khoa học 7
7. Vấn dề nghiên cứu 7
8. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
9. Phƣơng pháp nghiên cứu 7
10. Những đóng góp mới của đề tài 10
11. Cấu trúc của luận văn 10
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 11
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
1. 1.Cơ sở lí luận 11
1.1.1. Một số khái niệm 11
1.1.2. Các đặc điểm ƣu việt của giáo án điện tử 14
1.1.3. Vai trò của công nghệ thông tin trong việc thiết kế giáo án điện tử 17
1.1.4. Các phần mềm công cụ sử dụng trong giáo án điện tử
dạy học chuyên đề Sinh lí thực vật 20
1.1.5. Hoạt động nhận thức và phát triển tƣ duy của học sinh
chuyên Sinh trong quá trình dạy - học chuyên đề Sinh lí thực vật 23
- 2 -
1.2. Cơ sở thực tiễn 29
1.2.1. Thực trạng sử dụng giáo án điện tử trong dạy học
ở một số trƣờng Trung học phổ thông ở Hải Phòng hiện nay 29
1.2.2. Thực trạng sử dụng giáo án điện tử trong chuyên đề
Sinh lí thực vật trong trƣờng chuyên 32
Chƣơng 2: SỬ DỤNG CÁC PHẦN MỀM DẠY HỌC TRONG XÂY


DỰNG CÁC GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ CHUYÊN ĐỀ SINH LÍ THỰC VẬT 36
2.1. Vai trò của các phần mềm công cụ trong dạy học hiện nay 36
2.2. Nguyên tắc sử dụng các phầm mềm công cụ trong dạy học sinh học 37
2.3. Sử dụng các phần mềm công cụ trong thiết kế giáo án
điện tử dạy học chuyên đề Sinh lí thực vật 39
2.4. Quy trình thiết kế bài giảng điện tử 39
2.4.1. Những kĩ năng cần có để soạn giáo án điện tử 39
2.4.2. Lựa chọn các phần mềm thích hợp 40
2.4.3. Các yêu cầu sƣ phạm trong việc thiết kế giáo án điện tử 40
2.4.4. Mẫu kế hoạch xây dựng giáo án điện tử
ở trƣờng phổ thông trung học 41
2.4.5. Các bƣớc xây dựng giáo án điện tử 45
2.4.6. Các bƣớc thiết kế bài giảng điện tử trên PowerPoint 48
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 55
3.1. Mục đích thực nghiệm 55
3.2. Nội dung thực nghiệm 55
- 3 -
3.3. Phƣơng pháp thực nghiệm 55
3.3.1. Chọn trƣờng, lớp thực nghiệm 55
3.3.2. Bố trí thực nghiệm 56
3.3.3. Các bƣớc thực nghiệm 56
3.4. Phân tích kết quả thực nghiệm 59
3.4.1.Về mặt định lƣợng 59
3.4.2. Phân tích định tính các bài kiểm tra 67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72
1. Kết luận 72
2. Khuyến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Viết tắt
Đọc là
PPDH
Phương pháp dạy học
CNTT
Công nghệ thông tin
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
THPT
Trung học phổ thông
GAĐT
Giáo án điện tử
PTDH
Phương tiện dạy học
SGK
Sách giáo khoa
SH
Sinh học
TN
Thực nghiệm
ĐC
Đối chứng
Nxb
Nhà xuất bản


- 1 -
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là đào tạo
những con người và thế hệ trẻ có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại,
phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và
phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học, công nghệ hiện
đại, có tư duy sáng tạo…Nghị quyết TW 2 khoá VIII và Nghị quyết TW 6 khoá
IX của Đảng cộng sản Việt Nam xác định chiến lược phát triển giáo dục năm
2001- 2010: “Giáo dục - Đào tạo hướng vào mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Nâng cao mặt bằng dân trí đào tạo lớp người lao
động có kiến thức cơ bản, có kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm đến hiệu quả thiết
thực, nhạy cảm với cái mới có ý thức vươn lên về khoa học công nghệ”.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, chúng ta đang chứng kiến những
đổi thay trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người nhất là trong lĩnh vực học
tập. Sự phát triển của CNTT đã góp phần tạo ra nền kinh tế tri thức, tác động vào
hầu hết các lĩnh vực làm thay đổi sâu sắc đời sống, kinh tế, xã hội, trong đó có
giáo dục. Sự phát triển đó tạo ra các vận hội mới đồng thời với nhiều thách thức
cho ngành giáo dục Việt Nam.
Việc đổi mới PPDH nhờ ứng dụng CNTT là một chủ đề lớn mà UNESCO
chính thức đưa vào chương trình trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI. UNESCO
cũng đã dự đoán rằng sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản do ảnh
hưởng của CNTT. Với những bước tiến nhanh chóng CNTT ngày càng trở thành
một phương tiện không thể thiếu trong nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội, đặc
biệt là lĩnh vực giáo dục. Nhờ CNTT con người có thể cập nhập thường xuyên
được những kiến thức khoa học tiến tiến nhất trên thế giới vào đời sống thực tế.
Chuyên đề “Sinh lí thực vật” là một trong 6 chuyên đề quan trọng của
môn Sinh học, nhất là đối với học sinh chuyên Sinh.

- 2 -
Nghiên cứu về Sinh lí thực vật là nghiên cứu các khái niệm, các cơ chế
sinh lí, hoá sinh trong tế bào và cơ thể thực vật, từ đó rút ra được cái nhìn tổng
quan và đầy đủ về cơ thể thực vật, nêu được mối liên hệ giữa cơ thể thực vật với
môi trường sống và mối liên hệ với các sinh vật khác
Kiến thức về sinh lí thực vật khó và trừu tượng bởi nhiều các cơ chế sinh
lí, hoá sinh nên sử dụng các mô hình, hình ảnh động, hình ảnh tĩnh, các thí
nghiệm ảo được xây dựng trên các phần mềm ứng dụng của công nghệ thông tin
sẽ làm cho học sinh dễ hiểu, tiếp cận được vấn đề chi tiết và gần gũi hơn, từ đó
có thể giúp học sinh có thể tiếp thu được lượng kiến thức cần thiết và mở rộng
được kiến thức và cuối cùng là áp dụng được các kiến thức học được trong thực
tiễn đời sống và sản xuất
Vì những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: "Sử dụng một
số phần mềm thiết kế giáo án điện tử dạy chuyên đề sinh lí thực vật cho học
sinh chuyên Sinh bậc Trung học phổ thông".
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Trên thế giới
Việc xuất hiện chiếc máy tính điện tử đầu tiên tại Mỹ năm 1946 là khởi
đầu cuộc cách mạng CNTT. Sau một thời gian phát triển, chiếc máy vi tính cá
nhân có tốc độ tính toán đạt hàng triệu phép tính trong một giây ra đời.
Để tăng hiệu quả và năng lực tính toán của máy vi tính cá nhân, người ta
nối một số máy lại với nhau. Việc nối các máy lại với nhau xuất hiện một điều
kỳ diệu: xuất hiện khả năng tương tác linh hoạt giữa các máy vi tính cá nhân với
nhau, khi xuất hiện khả năng nối máy tính thành một mạng toàn cầu, sức mạnh
của hệ thống tăng lên rất nhiều đó là Internet. Internet là một hệ thống gồm các
dịch vụ truyền thông dữ liệu như đăng nhập từ xa, truyền các tệp tin, thư điện tử
và các nhóm thông tin.

- 3 -
Trong các thập niên cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 với sự gia tăng mạnh mẽ
tốc độ của cuộc cách mạng công nghệ, đặc biệt sự phát triển vượt bậc của công
nghệ thông tin (Communication technology), vấn đề dạy và học được đặt ra,
được tổ chức bàn bạc một cách nghiêm chỉnh chu đáo hơn trên phạm vi toàn thế
giới, với cách tiếp cận thông tin là cần thiết…
Giáo dục bậc Phổ thông và Đại học cho thế kỷ 21, người ta có thể nêu ra
nhiều mô hình giáo dục, đó là các mô hình như: mô hình truyền thống, mô hình
thông tin, mô hình tri thức…Trong đó, ta sẽ phân tích mô hình giáo dục hiện đại
nhất của thế giới hiện tại để có thể nhìn cái đích tương lai mà ta phải tiến đến:
mô hình tri thức. Mô hình “tri thức” là mô hình lấy nhóm người học làm trung
tâm, vai trò người học thích nghi, với công nghệ chủ yếu khai thác mạng
internet. Đây là mô hình giáo dục hiện đại nhất hình thành khi xuất hiện thành
tựu mới quan trọng nhất của công nghệ thông tin và mạng internet. Cũng với mô
hình mới nhất này, chúng ta hãy lưu ý đến các yếu tố thay đổi sâu sắc sau đây
của việc học:
- Yếu tố thời gian: xuất hiện khả năng giáo dục không đồng bộ.
- Yếu tố không gian: xuất hiện khả năng sinh viên tham gia học tập mà
không cần đi đến trường học.
- Sự chuyển giao tri thức không còn chiếm vị trí hàng đầu của giáo dục
nữa; học sinh, sinh viên phải học cách truy tìm thông tin họ cần, đánh giá và xử
lý thông tin để biến thành tri thức giao tiếp…
Nói tóm lại, ở bước ngoặc đi vào nền văn minh trí tuệ hiện nay, những
công nghệ mới về thông tin đang tạo ra những thay đổi mang mầm mống của
một cuộc cách mạng giáo dục thực sự.
2.2. Ở Việt Nam
Từ năm 1945 đến nay đã có 3 lần cải cách giáo dục, đó là các năm 1951,
1956 và 1979. Môi trường cải cách của 3 lần có khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn

- 4 -
cảnh kinh tế, chính trị, xã hội và điều kiện phát triển khoa học kỹ thuật của đất
nước. Với 3 lần cải cách giáo dục, chúng ta đã cải thiện được tình hình giáo dục
nước nhà, đã thu hẹp được khoảng cách về trình độ so với khu vực và thế giới.
Luôn chú trọng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là phương
châm trong mọi hoàn cảnh của đất nước. Cùng với việc phổ cập giáo dục tiểu
học, trung học cơ sở và xã hội hoá giáo dục, chúng ta đã trở thành một trong
những nước có tỉ lệ số người mù chữ thấp nhất thế giới. Tuy vậy, cũng còn nhiều
bất cập cần phải giải quyết [2,5]:
- Đó là “bệnh” thành tích và tiêu cực vẫn đang len lỏi vào tư tưởng, vào
hành động của một bộ phận nhà giáo dục và của nhận thức của một bộ phận
người dân.
- Chương trình, SGK vẫn chưa thật thống nhất, khoa học.
- Khả năng thực hành, áp dụng kiến thức vào thực tế, khả năng tư duy
sáng tạo, độc lập giải quyết vấn đề còn hạn chế.
- Các tiêu chí giáo dục còn thấp so với các nước tiên tiến.
- Một số GV chưa đáp ứng được tay nghề, vẫn có tình trạng HS ngồi nhầm
lớp, GV đứng nhầm bục giảng và cán bộ giáo dục ngồi nhầm “ghế”…
Theo Đinh Quang Báo [5,6] “Dạy học mà hướng chủ yếu vào khối lượng
kiến thức ghi nhớ, mà khối lượng đó là một đại lượng vô cùng bé về lượng và
biến đổi nhanh chóng về chất. Điều đó dẫn đến sự biến đổi nhanh chóng lạc hậu
của người được đào tạo, làm cho người học không tự cập nhật, bổ sung, thích
ứng với những kiến thức mới”. Và tác giả cũng tính nếu trung bình 3-4 năm tri
thức tăng gấp đôi thì một người tốt nghiệp đại học ở độ tuổi 22 đến 60 tuổi, họ
đã qua 38 năm công tác, họ phải qua ít nhất 9 chu kỳ tăng gấp đôi tri thức nhân
loại, vậy họ phải học lại ít nhất 9 lần đại học nữa.
Vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của HS nhằm đào
tạo những con người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngành giáo dục từ

- 5 -
những năm 1960. Phát huy tính tích cực của HS là một trong các phương hướng
của cải cách giáo dục được triển khai ở các trường phổ thông từ 1980. Cho đến
nay, sự đổi mới về PPDH cũng luôn luôn mới chỉ là bắt đầu, PPDH phổ biến vẫn
là thuyết trình giảng giải xen kẽ, vấn đáp, tái hiện, biểu diễn trực quan minh hoạ
vẫn là chủ yếu. Cũng đã có nhiều GV thiết kế các giáo án điện tử cho bài giảng
nhưng chưa phổ biến, chủ yếu là những nơi có điều kiện như các thành phố lớn,
trung tâm các tỉnh thành phố hay chỉ xuất hiện trong các giờ thao giảng mẫu, các
giờ có thanh tra chuyên môn hay thi GV giỏi các cấp.
Tình trạng trên có nhiều nguyên nhân như công tác bồi dưỡng GV theo
định kỳ và không định kỳ chưa tốt, đời sống vật chất và tinh thần của GV nói
chung còn nhiều khó khăn, phương tiện, thiết bị còn nghèo nàn, số tiết/tuần của
mỗi GV còn cao (từ năm học 2006 - 2007, GV THPT còn tới 17 tiết/tuần). Việc
chuẩn bị cho 1 tiết dạy theo phương pháp tích cực tốn rất nhiều thời gian, công
sức, tiền của. Mặt khác GV còn yếu về phương pháp, HS thiếu động lực học tập.
Định hướng đổi mới PPDH ở Việt Nam đã được xác định trong Nghị
quyết Trung ương khoá VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương khoá VIII
(12/1996), được thể chế hoá trong Luật Giáo dục (năm 2005), được cụ thể hoá
trong các Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt Chỉ thị số 14 (4/1999).
Luật Giáo dục, điều 28.2 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm
của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc
theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Với môi trường giáo dục
phổ thông là “giúp HS phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng cơ
bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân
cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm

- 6 -
công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham
gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học: Triển khai áp dụng
CNTT trong dạy và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng
dụng CNTT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi
có điều kiện thiết bị tin học; xây dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục.
Phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng internet của người
học; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung
học phù hợp; xóa bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý
đem lại. Khuyến khích giáo viên, giảng viên soạn bài trình chiếu, bài giảng điện
tử và giáo án trên máy tính. Khuyến khích giáo viên, giảng viên trao đổi kinh
nghiệm giảng dạy qua website của các cơ sở GD và ÐT và qua Diễn đàn giáo
dục trên website bộ. Triển khai mạnh mẽ công nghệ học điện tử (e-Learning). Tổ
chức cho giáo viên, giảng viên soạn bài giảng điện tử e-Learning trực tuyến; tổ
chức các khóa học trên mạng, tăng tính mềm dẻo trong việc lựa chọn cơ hội học
tập cho người học [7].
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nêu ra cách giảng dạy chuyên đề sinh lí thực vật ban nâng cao dành cho
học sinh chuyên Sinh bằng cách ứng dụng một số phần mềm tin học như
Powerpoint, Flash slide show, Mindmap (bản đồ tư duy) và sơ bộ đánh giá hiệu
quả của phần mềm trong thực tế giảng dạy.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
Hệ thống kiến thức thuộc chuyên đề "Sinh lí học thực vật"
Mẫu khảo sát gồm các lớp chuyên Sinh và các lớp chuyên tự nhiên, xã hội
của trường THPT chuyên Trần Phú:
- Học sinh 3 lớp chuyên Sinh (10Sinh, 11Sinh, 12Sinh)
- Học sinh lớp 11 chuyên Tin, 11 chuyên Hoá và 11 Song ngữ

- 7 -
5. Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề "Sinh lí thực vật" được chia làm 4 chương nhỏ:
- Trao đổi nước và muối khoáng.
- Quang hợp ở thực vật.
- Hô hấp ở thực vật.
- Sinh trưởng và phát triển ở thực vật.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng các phần mềm dạy học chuyên đề "Sinh lí thực vật" trong
việc thiết kế các giáo án điện tử trong giảng dạy sẽ giúp học sinh nắm vững kiến
thức và phát triển tư duy, nâng cao hiệu quả của quá trình dạy - học.
7. Vấn dề nghiên cứu
Làm thế nào để xác định được việc giảng dạy theo tiến trình của giáo án
điện tử có hiệu quả hơn các giáo án truyền thống nhằm phát triển tư duy của HS.
8. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài.
- Điều tra thực trạng việc học tập sinh học nói chung và chuyên đề "Sinh lí
thực vật" nói riêng.
- Xác định việc áp dụng các phần mềm cho từng nội dung thích hợp.
- Thiết kế các giáo án điện tử bằng việc ứng dụng các thành tựu của khoa
học công nghệ thông tin.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết của đề tài.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông
tin, phần mềm công cụ làm cơ sở lý thuyết cho việc vận dụng vào thiết kế giáo
án điện tử dạy học sinh học chuyên đề Sinh lí thực vật.

- 8 -
- Nghiên cứu các nguyên tắc và yêu cầu sư phạm của việc sử dụng giáo án
điện tử trong môn sinh học nói chung và chuyên đề Sinh lí thực vật nói riêng.
- Phân tích chương trình, nội dung sách giáo khoa, tài liệu tham khảo
chuyên sâu chương trình sinh học trung học phổ thông, nội dung chuyên đề Sinh
lí thực vật có thể áp dụng để xây dựng các giáo án điện tử để dạy học.
9.2. Phương pháp điều tra
- Bằng các phiếu hỏi dành cho giáo viên, điều tra thực trạng và hiệu quả
của việc dạy học bằng các giáo án điện tử trong môn Sinh học nói chung và
chuyên đề Sinh lí thực vật nói riêng.
- Trao đổi trực tiếp với giáo viên, dự giờ, nghiên cứu giáo án của giáo viên
và vở ghi của học sinh.
9.3. Phương pháp chuyên gia
Phối hợp với một số giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy, vững vàng về
chuyên môn để cùng thực hiện, với tư cách là cộng tác viên. Sau đó thống nhất
nội dung, phương pháp, phương thức, câu hỏi và phần mềm ứng dụng chung.
Phối hợp với các chuyên gia sư phạm, tư vấn về việc sử dụng các giáo án
điện tử và phương pháp tiến hành để đạt hiệu quả cao nhất.
9.4. Thực nghiệm sư phạm
9.4.1. Thực nghiệm thăm dò
Tiến hành thực nghiệm bằng các giáo án được xây dựng đơn giản để tìm
hiểu về trình độ nhận thức, tư duy của học sinh. Từ đó đưa ra các biện pháp,
phương pháp và cách thức tổ chức giờ học hợp lí.
9.4.2. Thực nghiệm chính thức
Phần thực nghiệm được tiến hành trên đối tượng là học sinh chuyên của
trường THPT chuyên Trần Phú Hải Phòng
Bố trí thực nghiệm song song: Đối chứng và thực nghiệm. HS các lớp có
trình độ ban đầu là như nhau. Các bài giảng ở lớp đối chứng được giảng dạy theo

- 9 -
phương thức cổ truyền, có sử dụng tranh ảnh và mô hình tĩnh sẵn có trong phòng
thí nghiệm. Các bài giảng ở lớp thực nghiệm được sử dụng theo phương thức
tích cực hoá người học, có sử dụng các phần mềm tin học dạy học kết hợp với
máy tính, màn hình lớn, bảng dạy học tương tác. Sau mỗi tiết học tiến hành kiểm
tra, đánh giá học sinh. Các lớp thực nghiệm và đối chứng đều được kiểm tra theo
chế độ như nhau bằng các đề kiểm tra giống nhau được đảm bảo tuyệt đối bí
mật, sau đó so sánh kết quả thu được với kết quả ban đầu và so sánh với đối
chứng.
Ngoài các số liệu thu được thu được qua các bài kiểm tra viết, còn tiến
hành kiểm tra vấn đáp qua từng bài giảng, và sau mỗi chương nhằm xác định
thêm kết quả giữa thực nghiệm và đối chứng.
9.4.3. Xử lí số liệu
Các số liệu điều tra cơ bản được tính toán theo tỉ lệ % số bài đạt khá, giỏi
cũng như số bài đạt yếu, kém trên tổng số bài. Việc làm này có tác dụng đánh giá
chất lượng có tính định lượng, đồng thời thấy được khả năng tiến bộ của học
sinh khi có sự tích cực hoá của phương pháp giảng dạy.
Các số liệu xác định chất lượng của các lớp thực nghiệm và đối chứng
được chấm theo thang điểm 10. Việc định tính này rất quan trọng để xác định
mức độ lĩnh hội của học sinh về nội dung nghiên cứu.
Về mặt định lượng, chúng tôi tiến hành sử dụng các tham số sau [4]:
a. Trung bình cộng: X đo độ trung bình của một tập hợp
b. Sai số trung bình cộng
c. Độ lệch chuẩn S: độ phân tán của các số liệu quanh giá trị trung bình
d. Hệ số biến thiên Cv biểu thị mức độ biến thiên trong nhiều tập hợp có
khác nhau
e. Độ đáng tin cậy sai khác giữa hai giá trị trung bình phản ánh kết quả của
hai phương án thực nghiệm và đối chứng

- 10 -
9.5. Phương pháp chứng minh luận điểm
Đọc và tổng hợp các tài liệu liên quan để làm cơ sở lí luận của đề tài như:
- Lý luận về dạy học sinh học
- Tài liệu về đổi mới dạy học sinh học
- Các luận án, luận văn tiến sĩ, thạc sĩ có liên quan.
- Tài liệu hướng dẫn chuyên môn
- Các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của ngành giáo dục
10. Những đóng góp mới của đề tài
- Xác định được thực trạng dạy học chuyên đề "Sinh lí thực vật" cấp bậc
trung học phổ thông.
- Nêu được các phần mềm dạy học có ý nghĩa lớn trong dạy học sinh học.
- Xác định được việc áp dụng các phần mềm cụ thể cho từng loại kiến
thức trong chuyên đề "Sinh lí thực vật".
- Kết quả thí nghiệm sư phạm khẳng định được tính khả thi của các
phương thức đã đề xuất.
11. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, phụ lục, luận
văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Sử dụng Sử dụng các phần mềm dạy học trong xây dựng các
giáo án điện tử chuyên đề "Sinh lí thực vật"
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm





- 11 -
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU.
1. 1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Giáo án.
Hoạt động dạy học là hoạt động dựa trên các bài học cụ thể. Các bài học
này lại dựa trên mục đích của lớp học và mục tiêu mà học viên mong muốn sẽ
đạt được vào cuối mỗi bài học. Mỗi lần đặt ra mục đích và mục tiêu, người giáo
viên phải vạch ra một giáo án cho từng bài học để giảng dạy.
Giáo án là những chỉ dẫn cho giáo viên. Đồng thời, giáo án là một bảng
liệt kê được sắp xếp theo trình tự dựa trên các mục tiêu giảng dạy. Điều quan
trọng là các mục tiêu mà giáo viên đặt ra phải rõ ràng nhằm giúp cho chính giáo
viên dễ dàng kiểm tra học sinh đã tiếp thu được những gì sau bài giảng.
Một bài giảng được lên kế hoạch sẽ giúp đảm bảo tính liên tục và sự tiến
bộ trong quá trình học tập. Giáo viên nên bắt đầu bài giảng bằng cách dành một
chút thời gian để hỏi học sinh với mục đích tìm hiểu xem học sinh nhớ bài cũ
như thế nào và họ hiểu biết về chủ đề của bài học mới ra sao. Người giáo viên
kiểm tra dựa trên các câu hỏi với từng cá nhân học sinh chứ không phải cả tập
thể lớp trả lời. Sau khi hỏi học sinh xong, giáo viên nên bắt đầu bài giảng bằng
cách nói với học sinh các thông tin mới hoặc chỉ cho họ làm thế nào để thực
hành các kỹ năng mới.
Giáo viên chuẩn bị giáo án trước khi bắt tay vào công việc giảng dạy.
Người GV sẽ viết ra giấy kế hoạch giảng bài của mình trước khi vào lớp. Có rất
nhiều phần cơ bản trong một giáo án, mặc dù có nhiều cách để viết ra chúng.
Bảng dưới đây sẽ minh họa cho các phần cơ bản này và cung cấp những
gợi ý hữu ích cho việc thiết kế thành công một giáo án [13].

- 12 -
Các phần của
giáo án
Gợi ý cho giáo viên
Mục đích
Đặt ra mục đích rõ ràng vào phần đầu giáo án
Nội dung
Học sinh đã biết những gì rồi và mình (người giáo
viên) định dạy gì cho họ?
Thời gian
Bài học kéo dài trong bao lâu? Mỗi hoạt động kéo
dài bao lâu? Giáo viên bắt đầu và kết thúc bài giảng
như thế nào?
Phương pháp giảng dạy
Lưu ý đến sự phân bố thời gian giảng dạy: giáo
viên phải bắt đầu và dừng bài giảng một cách rõ
ràng. Nên nhớ khi chuẩn bị giáo án, giáo viên phải
tính thời gian chuẩn bị (ví dụ như: khi kiểm tra, giáo
viên dành ít phút cho việc phát bài và thu bài)
Tài liệu giảng dạy
Giáo viên sẽ dùng phương pháp và hoạt động nào
trong công tác giảng dạy? Học sinh sẽ tham gia hoạt
động nào trong lớp? Làm cách nào giáo viên thu hút
học sinh tham gia vào các hoạt động đó?
-Các công cụ dạy học đã đầy đủ chưa?
Đánh giá
- Làm thế nào để giáo viên kiểm tra những gì mình
vừa dạy?
Nhận xét
Nên dành một phần cuối trong giáo án để giáo viên
ghi lại những thuận lợi và khó khăn trong tiết dạy.



- 13 -
1.1.1.2. Giáo án điện tử và bài giảng điện tử
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế
hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển
thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra. Cần lưu ý bài giảng điện
tử không phải đơn thuần là các kiến thức mà học sinh ghi vào tập mà đó là toàn
bộ hoạt động dạy và học - tất cả các tình huống sẽ xãy ra trong quá trình truyền
đạt và tiếp thu kiến thức của học sinh. Bài giàng điện tử càng không phải là một
công cụ để thay thế “bảng đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò định hướng
trong tất cả các hoạt động trên lớp [24].
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học
của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia
hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc
của bài học. Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy
được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành.
Giáo án điện từ là một bản kế hoạch lên lớp của giáo viên được xây dựng
bằng phần mềm tin học. Cần phải phân biệt giáo án điện tử với bài giảng điện tử,
đây là những tập tin có chức năng chuyển tải nội dung giáo dục đến học sinh.
Như vậy, bài giảng là công cụ tương tác giữa người học và người dạy để thực
hiện các mục tiêu của giáo án. Xét về mặt hình thức, giáo án điện tử có thể là
trang văn bản hay một file có đuôi HTML với các đường liên kết trực tuyến.
Giáo án của một bài học phải bao gồm mục đích, yêu cầu của bài giảng,
phân bổ thời gian, các bước lên lớp, hoạt động của thầy - của trò (Lesson plan &
Activity sheet). Trong giáo án điện tử các nội dung trên được tổ chức và thực
hiện dựa trên nền công nghệ thông tin (các phần mềm dạy học) và các phương
tiện dạy học hiện đại như máy tính, máy chiếu, máy ảnh, máy quay phim kĩ thuật
số [7].

- 14 -
Song thực chất có thể nói rằng giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài
giảng điện tử, do đó xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai
cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử.
Các đơn vị của bài học đều phải được Multimedia hóa. Multimedia được
hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông. Trong môi trường
multimedia, thông tin được truyền dưới các dạng:
- Văn bản (text).
- Đồ hoạ (graphics).
- Hoạt ảnh (animation).
- Ảnh chụp (image).
- Flash movies hoặc các scientific movies (phim khoa học).
- Âm thanh (audio).
- Phim video (video clip)
1.1.2. Các đặc điểm ưu việt của giáo án điện tử
Xu hướng toàn cầu hoá và sự xuất hiện nền kinh tế tri thức đã và đang đưa
xã hội loài người tới một kỉ nguyên mới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải có một hệ
thông giáo dục mới để thích nghi với môi trường xã hội thay đổi [26,27].
Dạy học, khi xét về hình thức tiến hành thì nó là quá trình truyền thông tin
hai chiều. Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy - học nói chung,
vào nâng cáo tính tích cực trong dạy - học nói riêng là xu hướng tất yếu của thời
đại. Sở dĩ như vậy là vì công nghệ thông tin có những ưu thế: tốc độ cao, nhất
quán, chính xác và ổn định. Công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi không chỉ nội
dung và cả phương pháp truyền đạt của người thầy trong dạy học, cụ thể:
- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh vedeo, camera …
với âm thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản
vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan.

- 15 -
- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng
trong tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra
trong điều kiện nhà trường.
- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện
những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những
lĩnh vực khác nhau.
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và
với người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet … có thể được khai
thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để
học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo,
được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu.
- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình,
kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy
luận có lý, HS có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới.
Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá
trình đổi mới phương pháp dạy học. Có thể khẳng định rằng, môi trường công
nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển
trí tuệ của học sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới.
Cái được lớn nhất ở mỗi tiết giảng bằng giáo án điện tử chính là một
lượng lớn kiến thức, hình ảnh trực quan sinh động được chuyển tải đến các em
học sinh. Nó không những giúp cho tiết học trở nên lôi cuốn hơn mà còn hạn chế
việc giáo viên bị cháy giáo án vì thời gian được kiểm soát bằng máy. Nếu như
trong mỗi tiết học thông thường, giáo viên phải dành khá nhiều thời gian để treo
tranh ảnh, thao tác các hoạt động thí nghiệm thì trong tiết học có sử dụng giáo án
điện tử, những chuyện đó chỉ cần một cú kích con chuột [23].

- 16 -
Giảng dạy ứng dụng công nghệ thông tin có nhiều ưu điểm: giúp bài giảng
sinh động, tạo cho học sinh sự hứng thú và yêu thích môn học, đạt hiệu quả cao,
kiểm tra kiến thức của nhiều học sinh, hỗ trợ đắc lực cho các giờ thực hành.
Giáo viên được giảm nhẹ việc thuyết giảng, có điều kiện tăng cường đối
thoại, thảo luận với học sinh, qua đó kiểm soát được HS, HS được thu hút, kích
thích khám phá tri thức qua thông tin thu nhận được, có điều kiện quan sát vấn
đề, chủ động nêu câu hỏi để hỏi giáo viên, giúp cho giờ học thêm hứng thú, có
hiệu quả.
GV không phải soạn giáo án nhiều lần mà chỉ cần đầu tư thời gian một lần
và chỉnh sửa cho bài học tốt hơn vào những lần sau.
Có thể giúp người thầy trao đổi kinh nghiệm cho nhau nhanh chóng, dễ
dàng, thuận tiện. Nó cũng tăng cường tính thẩm mỹ cho học sinh. Nó cho phép
người thầy thay đổi, cập nhật hằng ngày.
Như vậy có thể tóm tắt những đặc điểm ưu việt của giáo án điện tử so với
các giáo án truyền thống soạn tay như sau:
- Có thể minh họa bài giảng một cách sinh động thông qua hình ảnh, âm
thanh, đặc biệt là các cơ chế sinh học
- Giáo viên chuẩn bị bài dạy một lần có thể sử dụng nhiều lần
- Có thể tiến hành các thí nghiệm minh họa trực tiếp trong khi giảng
- Có thể chỉ ra các tài liệu tham khảo cần thiết ngay trong lúc giảng
- Nguồn thông tin đa dạng, phong phú, sinh động và có cả yếu tố bất ngờ
- Có thể hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu
Đặc biệt, riêng đối với các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội giáo
án điện tử dùng PowerPoint có ưu thế rất lớn ở chỗ:
- Giúp giáo viên thực hiện được nhiều thứ mà cách dạy “bảng phấn”
không thể làm được như: sơ đồ động, tài liệu minh họa đa dạng và phổ biến được
đến từng học sinh, …

- 17 -
- Cho phép giáo viên liên kết sử dụng các phần mềm chuyên dụng phục vụ
bộ môn.
1.1.3. Vai trò của công nghệ thông tin trong việc thiết kế giáo án điện tử
1.1.3.1. Đặc điểm của môn sinh học
Sinh học là khoa học về sự sống (bắt nguồn từ Hy Lạp Bios là sự sống, và
logos là môn học). Nó miêu tả những đặc điểm và tập tính của sinh vật, cách
thức các cá thể và loài tồn tại, và những tác động qua lại lẫn nhau và với môi
trường [11,14].
Sinh học bao hàm nhiều ngành học khác nhau được xây dựng dựa trên
những nguyên lý riêng. Các môn học này có mối quan hệ qua lại với nhau, giúp
ta hiểu về sự sống với các mức độ, phạm vi khác nhau.
Sự sống ở mức độ nguyên tử và phân tử được nghiên cứu thông qua sinh
học phân tử (molecular biology), hóa sinh (biochemistry) và di truyền phân tử
(molecular genetics). Ở mức độ tế bào, nó được hiểu biết thông qua tế bào học
(cell biology) và mức độ đa bào thì thông qua sinh lý học (physiology), giải phẫu
học (anatomy) và mô học (histology). Sinh học phát triển (developmental
biology) nghiên cứu sự sống ở các giai đoạn phát triển khác nhau hoặc phát triển
cá thể (ontogeny) của sinh vật.
Với mức độ lớn hơn, di truyền học quan tâm đến tính di truyền giữa cha
mẹ và con cái. Di truyền học quần thể (population genetics) xem xét toàn bộ
quần thể và hệ thống học (systematics) quan tâm đến sự tiến hóa của nhiều loài
thuộc các nhánh tiến hóa (lineage). Mối quan hệ qua lại giữa các quần thể với
nhau và với ổ sinh thái của chúng là đối tượng của sinh thái học (ecology) và
sinh học tiến hóa (evolutionary biology). Một lĩnh vực tương đối mới là sinh học
vũ trụ (astrobiology hoặc xenobiology) nghiên cứu về khả năng tồn tại sự sống
ngoài Trái Đất [11].

- 18 -
Các môn học trên chung quy lại bao gồm: kiến thức giải phẫu, cơ chế sinh
lí, sinh hoá, các quá trình sinh học, các quy trình công nghệ v.v Chúng đều là
kiến thức thực nghiệm, khó nhận thấy bằng các giác quan thông thường.
1.1.3.2. Vai trò của công nghệ thông tin trong thiết kế giáo án điện tử
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các
phương pháp và hình thức dạy học. Những phương pháp dạy học theo cách tiếp
cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết
vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học như
dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi
trường công nghệ thông tin và truyền thông. Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực
với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng,
dạy học qua cầu truyền hình. Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp
dạy sao cho học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và
phát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động. Nếu trước kia người ta
thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng
vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của học
sinh. Như vậy, việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh
làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin công nghệ thông tin trong dạy học
sinh học, tập trung ở một số hoạt động: soạn thảo văn bản, báo cáo, quản lý
điểm, quản lý học sinh, thiết kế giáo án điện tử nhưng trong khuôn khổ của báo
cáo, chỉ giới hạn ở thiết kế bài giảng điện tử tức là sử dụng công nghệ thông tin
và truyền thông như một công cụ dạy học, hỗ trợ quá trình dạy và học ở mức
thấp như sử dụng các phương tiện nghe nhìn, xem băng, đĩa hình để minh họa
cho các tiết dạy hoặc sử dụng tư liệu hình ảnh thay thế tranh vẽ trong dạy học
truyền thống. Ở mức cao sẽ là giáo án điện tử, giáo viên dạy dựa chủ yếu trên

- 19 -
máy tính xách tay và máy chiếu projector và có thể dạy và học từ xa qua mạng
nội bộ (mạng LAN), mạng Internet.
Công nghệ thông tin đã và đang có những đóng góp đa dạng và quan trọng
vào quá trình dạy và học. Công nghệ thông tin có thể hỗ trợ công tác giảng dạy
và nâng cao chất lượng các hoạt động học tập cho hiệu quả hơn, tạo ra nhiều
phương pháp tiếp cận học tập, bảo đảm sự tiếp cận với chương trình dạy và học.
Với sự hỗ trợ của máy tính, mạng Internet, học sinh có điều kiện tiếp xúc với các
chương trình giảng dạy đa phương tiện: thí nghiệm mô phỏng, hình ảnh động,
các phần mềm hỗ trợ vẽ hình như bài toán quĩ tích trong Toán học, các Movie
trực quan…
Công nghệ thông tin có thể cải thiện việc đánh giá quá trình dạy và học
bằng cách đưa ra những phân tích và phản hồi nhanh chóng và bằng cách hỗ trợ
giáo viên sử dụng những đánh giá của học sinh để cải tiến chương trình giảng
dạy. Những thông tin phản hồi tích cực được thiết kế cho các phản ứng riêng của
học sinh, từ đó đưa ra các đánh giá chính xác về cách tiếp cận và vận dụng tri
thức mới. Tác động của công nghệ thông tin đối với quá trình dạy và học còn
phụ thộc vào nhiều yếu tố và trong từng điều kiện cụ thể. Công nghệ thông tin
cũng có thể không có tác dụng gì hoặc thậm chí có những ảnh hưởng bất lợi. Bởi
vì công nghệ thông tin không phải là “biến trung tâm” trong quá trình cải tiến
chất lượng giáo dục. Hơn nữa, hiệu quả của nó đối với giáo viên và học sinh còn
phụ thuộc rất quan trọng vào việc nó được ứng dụng như thế nào đối với các
chương trình giảng dạy, hướng dẫn và đánh giá. Tác động lớn nhất của công
nghệ thông tin đối với kết quả học tập của học sinh được ghi nhận trong những
trường hợp khi việc sử dụng công nghệ thông tin phù hợp với nội dung giảng
dạy và với việc đánh giá về kết quả dự kiến. Dù các thầy cô là một người không
chuyên về tin học nhưng các thầy cô vẫn hoàn toàn có thể thiết kế được các bài
giảng điện tử hấp dẫn, sử dụng được nhiều lần. Thầy cô cũng có thể chia sẻ các

- 20 -
sản phẩm của mình cho nhiều người cùng sử dụng, cùng đồng nghiệp hoàn thiện
và quan trọng hơn là nhiều lớp học sinh được hưởng lợi.
1.1.4. Các phần mềm công cụ sử dụng trong giáo án điện tử dạy học chuyên
đề Sinh lí thực vật
Hiện nay các công cụ, các phần mềm ứng dụng được dùng cho việc dạy
học bằng công nghệ thông tin là không thiếu về số lượng và đảm bảo cả về chất
lượng, từ các phần mềm thương mại cho đến các phần mềm miễn phí, mã nguồn
mở. Tuy nhiên với chi phí bản quyền phần mềm như hiện nay, với việc phổ biến
diện rộng và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục cần phải đặc biệt chú
trọng đến các phần mềm miễn phí và mã nguồn mở .
Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học có nghĩa là việc đầu tiên
mà người giáo viên phải thực hiện là có các giáo án điện tử. Giáo án điện tử cần
phải được hiểu thống nhất như là một phương pháp dạy học trong đó giáo viên
khai thác tiện ích của công nghệ thông tin để thiết kế các nội dung học tập nhằm
giúp học sinh không chỉ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng phát triển tư duy, nhận thức
mà còn phát triển cả kỹ năng xử lý thông tin và kỹ năng giao tiếp [16].
Sự lựa chọn số 1 cho một giáo viên thuộc một trường có điều kiện máy
chiếu projector) và PC thì là PowerPoint. Với các trường không có điều kiện như
vậy thì có thể in bài giảng ra tờ giấy trong và chiếu lên máy Overhead projector.
Nếu trường có điều kiện tối thiểu thì giáo viên có thể in bài giảng ra các tờ giấy
A4 phát cho học sinh và một số tờ A1/A0 để treo như poster để làm công cụ
giảng dạy trong giờ học.
Nếu chỉ đơn thuần máy tính điện tử mà thiếu đi các phần mềm dạy học thì
hiệu quả của việc dạy học với trợ giúp của máy tính điện tử sẽ rất hạn chế. Mặt
khác, chất lượng của việc dạy học với sự trợ giúp của máy tính điện tử phụ thuộc
rất nhiều vào chất lượng của các phần mềm, trong đó có các phần mềm dạy học.
Người ta dự đoán rằng, đến cuối thế kỉ này, phần mềm tin học dạy hoc sẽ trở

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×