Tải bản đầy đủ

KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ CHI PHÍ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO VIỆT NAM

Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
MỤC LỤC
HƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ BÁN HÀNG TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1. Cơ sở lý luận của kế toán chi phí bán hàng trong doanh nghiệp
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến chi phí bán hàng
1.1.1.1 Các khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh tế chủ yếu của các doanh nghiệp là
cung cấp hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng qua đó cũng là
để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình. Hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp diễn ra trên các lĩnh vực như sản xuất, xây dựng, thương mại, dịch vụ,
du lịch… và các nhà quản trị doanh nghiệp luôn đặt ra mục tiêu cho doanh nghiệp
là đáp ứng được càng nhiều nhu cầu của người tiêu dùng thì càng tốt. Khi nhu cầu
được thỏa mãn, người ta sẵn sàng bỏ tiền ra để có được thứ mà họ cần. Chính điều
này sẽ làm tăng doanh thu của Công ty. Nhưng doanh thu chưa phải là mục đích
cuối cùng của doanh nghiệp mà lợi nhuận mới là cái đích mà nhà quản trị hướng
tới. Một trong các biện pháp để đạt được mục tiêu tăng lợi nhuận đó là tìm cách để
giảm chi phí kinh doanh nói chung và chi phí bán hàng nói riêng.
Quan sát thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ta thấy chi phí phát
sinh liên tục và đa dạng hàng ngày, hàng giờ như chi phí cho nguyên vật liệu, chi
phí gia công, chế biến, chi phí bao bì, chi phí quảng cáo, chi phí liên quan đến quản

lý doanh nghiệp… Do đó, chúng ta có thể thấy rằng: “chi phí sản xuất của doanh
nghiệp là biểu hiện bằng tiền của các phí tổn về vật chất, về lao động và các chi phí
khác, phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định”.
Sản phẩm sau khi được hoàn thành thì nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tổ
chức tiêu thụ nó để tiếp tục duy trì và phát triển. Muốn để sản phẩm đến tay người
tiêu dùng doanh nghiệp cần phải bỏ ra các chi phí như: Chi phí vận chuyển, chi phí
đóng gói bảo quản, chi phí cho lương nhân viên bán hàng, chi phí xây dựng thương
hiệu, chi phí quản cáo… Các khoản chi phí này chiếm một lượng đáng kể trong
tổng chi phí.
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 1
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
Vậy chi phí là gì? Theo chuẩn mực VAS-01 “Chuẩn mực chung” thì “Chi phí là
tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các
khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến
làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ
sở hữu”.
Còn chi phí kinh doanh của doanh nghiệp chính là biểu hiện bằng tiền của toàn
bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác
mà doanh nghiệp phải bỏ ra nhằm có được một số thu thập nhất định trong tương
lai, trong một thời kỳ nhất định.
Như chúng ta đã biết thì chi phí bán hàng là một khoản mục chính trong chi phí
kinh doanh của doanh nghiệp đó chính là khoản chi phí thực tế phát sinh trong quá
trình bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp.
Do vậy, chi phí bán hàng là toàn bộ những chi phí phát sinh phục vụ cho hoạt
động bán hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp. Xét về bản chất chi phí là những
hao phí về lao động vật hóa biểu hiện dưới hình thái giá trị tính bằng tiền.
Chi phí bán hàng bao gồm toàn bộ các chi phí trực tiếp đến hoạt động bán hàng
của doanh nghiệp như chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm, hàng hóa (trừ hoạt
động xây lắp). Ngoài ra chi phí bán hàng còn bao gồm: chi phí bảo quản, đóng gói,
vận chuyển hàng hóa,
Trong toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và hoạt động
bán hàng nói riêng thì chi phí bán hàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng như làm căn
cứ để doanh nghiệp kiểm tra, phân tích đánh giá công tác quản lý chi phí của doanh
nghiệp, tìm ra các biện pháp nhằm giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh của sản
phẩm và của doanh nghiệp trên thương trường.
Đối với hoạt động kinh doanh thương mại, các chi phí phát sinh trong quá trình
kinh doanh, được tính theo nguyên tắc giá phí do vậy các chi phí gắn liền với quá
trình bán hàng và phục vụ bán hàng được gọi là chi phí bán hàng.
1.1.2. Một số lý thuyết liên quan đến kế toán chi phí bán hàng
1.1.2.1 Phân loại chi phí bán hàng
Loại hình tổ chức của doanh nghiệp quyết định đến các chi phí phát sinh và
cách thức phân loại chúng. Kết cấu chi phí bán hàng trong doanh nghiệp là tỷ trọng
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 2
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
từng loại chi phí chiếm trong tổng số chi phí bán hàng của doanh nghiệp ở một thời
điểm nhất định. Để xác định chính xác kết cấu này, người ta phải tiến hành phân
loại chúng. Việc phân loại chi phí vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ
quan. Phân loại chi phí mang tính khách quan là do nó phụ thuộc vào bản chất của
các khoản chi phí đó, còn chủ quan là do nó xuất phát từ nhu cầu và mục đích quản
lý của doanh nghiệp. Việc phân loại chi phí bán hàng trong doanh nghiệp chịu sự
tác động bởi nhiều nhân tố như đặc điểm kinh doanh, trình độ trang thiết bị kỹ
thuật, sự phát triển khoa học công nghệ, công tác quản lý, tổ chức phân công lao
động, tổ chức bán hàng. Các doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề khác nhau
thì cách phân loại chi phí cũng khác nhau. Do đó có thể thấy rằng sự phân loại chi
phí là vô cùng quan trọng và thiết yếu trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh.
Kết cấu chi phí bán hàng trong các doanh nghiệp luôn luôn biến động nên việc
phân loại chi phí bán hàng là bước đầu tiên trong công tác quản lý chi phí bán hàng,
là cơ sở để nhận thức một cách khoa học quá trình chi phí phát sinh trong hoạt động
kinh doanh. Đồng thời nó cũng giúp cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp nói
riêng và các tổ chức, cá nhân ngoài doanh nghiệp nói chung có thể nhìn nhận đánh
giá, xem xét một cách chính xác tình hình chi phí bán hàng của doanh nghiệp. Tùy
theo yêu cầu của nhà quản lý mà các nhà quản trị tài chính sẽ chọn các tiêu thức
khác nhau để phân loại chi phí bán hàng cho phù hợp, nhằm xác định phương
hướng phấn đấu tiết kiệm các chi phí một cách đúng đắn và đề ra các biện pháp tiết
kiệm chi phí bán hàng hợp lý nhất.
a. Căn cứ vào tính chất của các khoản chi phí
Toàn bộ chi phí bán hàng có thể chia làm 5 loại sau:
 Chi phí nhân viên: Bao gồm toàn bộ các chi phí về tiền lương, các khoản phụ cấp
có tính chất lương, các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo lương của nhân viên
bán hàng trong doanh nghiệp.
 Chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ: Là toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu,
công cụ, dụng cụ… phục vụ cho hoạt động bán hàng của doanh nghiệp.
 Chi phí khấu hao TSCĐ là toàn bộ số trích khấu hao của những tài sản cố định phục
vụ cho hoạt động bán hàng của doanh nghiệp.
 Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ
cho hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Bao gồm:
+ Tiền thuê nhà, thuê quầy thuê công cụ.
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 3
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
+ Điện, nước, điện thoại.
 Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ chi phí khác phục vụ cho hoạt động bán hàng
của doanh nghiệp.
Phân loại chi phí theo tiêu thức này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi
phí bán hàng mà doanh nghiệp đã chi ra để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính và
giúp cho công tác phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí cho kỳ sau.
b. Căn cứ vào nội dung kinh tế của các khoản chi phí
 Chi phí nhân viên là những khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng
gói, vận chuyển, bảo quản sản phẩm, hàng hóa bao gồm: tiền lương, tiền ăn giữa ca,
tiền công và các khoản phải trích BHXH, BHYT, KPCĐ…
 Chi phí vật liệu bao bì là các khoản chi phí về vật liệu, bao bì xuất dùng cho việc
đóng gói sản phẩm, hàng hóa, chi phí vật liệu, nhiên liệu dùng cho bảo quản, bốc
vác, vận chuyển sản phẩm, hàng hóa trong quá trình tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa
chữa, bảo quản TSCĐ… dùng cho bộ phận bán hàng.
 Chi phí dụng cụ, đồ dùng là các khoản chi phí về công cụ, dụng cụ phục vụ cho quá
trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa như dụng cụ đo lường, phương tiện tính toán,
phương tiện làm viêc,…
 Chi phí khấu hao TSCĐ là các khoản chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản,
bán hàng như nhà kho, cửa hàng, bến bãi, phương tiện bốc dỡ, vận chuyển, phương
tiện tính toán, đo lường, kiểm nghiệm chất lượng…
 Chi phí bảo hành: Dùng để phản ánh khoản chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa.
Riêng chi phí sửa chữa và bảo hành công trình xây lắp thì phản ánh ở chi phí sản
xuất chung.
 Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ
cho bán hàng như chi phí thuê ngoài sửa chữa TSCĐ phục vụ trực tiếp cho khâu bán
hàng, tiền thuê kho, thuê bãi, tiền thuê bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng hóa đi
bán, tiền trả hoa hồng cho đại lý bán hàng, cho đơn vị nhận ủy thác xuất khẩu…
 Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh các chi phí bằng tiền khác phát sinh trong khâu
bán hàng ngoài các chi phí đã kể trên như chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng,
chi phí giới thiệu sản phẩm, hàng hóa, quảng cáo, chào hàng, chi phí hội nghị khách
hàng…
Phân loại chi phí theo cách này giúp quản lý định mức chi phí bán hàng và cung
cấp số liệu cho công tác quản trị chi phí của doanh nghiệp.
c. Căn cứ theo phương pháp tập hợp chi phí và đối tượng chịu chi phí bán hàng.
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 4
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
Theo cách phân loại này thì chi phí bán hàng của doanh nghiệp bao gồm:
Chi phí trực tiếp: Là những khoản chi phí bán hàng liên quan trực tiếp đến đối
tượng tập hợp chi phí. Với những khoản chi phí này thì kế toán sẽ căn cứ vào chứng
từ liên quan để ghi trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí.
Chi phí gián tiếp: Là những khoản chi phí bán hàng có liên quan đến nhiều đối
tượng tập hợp chi phí mà không thể tập hợp riêng đươc, do vậy, phải tập hợp chung.
Đối với những chi phí này, kế toán phải phân bổ chi phí bán hàng cho từng đối
tượng có liên quan theo những tiêu chuẩn nhất định.
Phân loại chi phí theo cách này giúp xác định phương pháp kế toán tập hợp và
phân bổ chi phí cho các đối tượng được đúng đắn và hợp lý.
d. Căn cứ vào tính chất biến đổi của các khoản chi phí bán hàng so với mức
doanh thu (hay đối tượng hàng bán)
Đây là cách phân loại căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí với doanh thu tiêu
thụ hàng hóa để chia thành chi phí bất biến, chi phí khả biến và chi phí hỗn hợp.
 Chi phí bất biến là những khoản chi phí tương đối ổn định so với sự biến động của
mức doanh thu bán hàng trong kỳ. Tuy nhiên, nếu tính cho một đơn vị hoạt động thì
chi phí này lại thay đổi. Chi phí bất biến trong doanh nghiệp bao gồm:
+ Chi phí khấu hao TSCĐ
+ Chi phí thuê nhà, trụ sở, thuê đất…
 Chi phí khả biến là những khoản chi phí biến đổi phù hợp với sự biến đổi của mức
doanh thu bán hàng trong kỳ. Tuy nhiên, nếu tính cho một đơn vị hoạt động thì đây
lại là khoản chi phí ổn đinh, không thay đổi. Chi phí khả biến của doanh nghiệp bao
gồm:
+ Chi phí bảo hành
+ Chi phí vật chất
+ Chi phí vật liệu bao bì.
 Chi phí hổn hợp là các chi phí gồm các yếu tố định phí và biến phí, ở mức độ hoạt
động đó thì nó có đặc điểm của biến phí. Thuộc loại chi phí này bao gồm: chi phí
tiền điện thoại, tiền điện…
Riêng đối với chi phí nhân viên thì nó vừa mang tính chất của chi phí bất biến
vừa mang tính chất chi phí khả biến. Nó là chi phí bất biến như lương khoán, tiền
công thuê khoán… Nó là chi phí khả biến như lương theo doanh số.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng khi mức doanh thu thay đổi sẽ làm cho tổng
chi phí bán hàng thay đổi nhưng tác động của sự thay đổi doanh thu đến các bộ
phận chi phí là không giống nhau.
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 5
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
Việc phân loại chi phí bán hàng theo phương pháp này có ý nghĩa rất lớn đối
với công tác quản lý chi phí của doanh nghiệp. Qua việc xem xét sự biến đổi của chi
phí bán hàng với từng loại chi phí để có thể xây dựng một cách đúng đắn phương án
giá cả bán hàng so với mức doanh thu giúp cho các nhà quản lý tìm ra các biện pháp
quản lý thích hợp đối với việc phân tích điểm hòa vốn.
1.1.2.2 Đặc điểm
Trong doanh nghiệp thì chi phí bán hàng bao gồm nhiều khoản mục chi phí
khác nhau, tính chất và đặc điểm của từng loại chi phí khác nhau nên việc theo dõi
và kiểm soát các khoản chi phí này là tương đối phức tạp.
Doanh nghiệp dịch vụ có sự phức tạp riêng vì dịch vụ là quá trình sản xuất trao
đổi và tiêu dùng cùng diễn ra một lúc, mặt khác do tính vô hình và không dự trữ
được của dịch vụ cũng ảnh hưởng đến chi phí. Nếu dịch vụ sản xuất ra được tiêu
thụ nhiều và nhanh chóng thì sẽ bù đắp được chi phí, ngược lại nếu không tiêu thụ
được thì sẽ mất không khoản chi phí đó.
Chi phí bán hàng chính là khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiêu thụ
sản phẩm, hàng hóa của mình, do vậy nó là một khoản chi phí rất quan trọng có thể
ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của một sản phẩm cũng như của doanh
nghiệp.
Chi phí bán hàng có thể được chi ra để phục vụ cho một kỳ kinh doanh của
doanh nghiệp (như chi phí nhân viên bán hàng trong kỳ, chi phí quầy hàng…),
nhưng cũng có thể được sử dụng cho nhiều kỳ kinh doanh khác nhau của doanh
nghiệp như chi phí quảng cáo, bảo hành, tiếp khách…
Ngày nay, nhu cầu của khách hàng đa dạng và phong phú kéo theo sự cạnh
tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn vận động
đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh của mình để thích nghi với đòi hỏi của thị
trường và tận dụng tối đa nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Điều này tạo ra một
xu hướng quan hệ chặt chẽ giữa các doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương
mại, hơn thế nữa doanh nghiệp thương mại dám xâm nhập vào lĩnh vực sản xuất
dưới hình thức đầu tư vốn cho sản xuất qua quan hệ cho và đi thuê tài chính, mua
hàng trả tiền trước và trả tiền sau… Ngược lại, doanh nghiệp sản xuất cũng “lấn
sân” các doanh nghiệp thương mại, tổ chức phân bố các sản phẩm của mình trực
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 6
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
tiếp đến người tiêu dùng, đồng thời kết hợp với việc phân phối các mặt hàng không
thuộc phạm vi sản xuất của doanh nghiệp nhằm hạn chế rủ ro. Chính sự đa dạng
trong hoạt động kinh doanh đã dẫn đến các chi phí kinh doanh nói chung và chi phí
bán hàng cũng hết sức phong phú và phức tạp, đòi hỏi các nhà quản lý phải sáng
suốt, năng động, nhạy bén hơn trong quản lý chi phí.
1.1.3. Một số qui định trong kế toán chi phí bán hàng
a. Yêu cầu chung:
Thiết lập một chính sách phân chia chi phí cùng các mức lợi nhuận một cách
hợp lý đối với công ty, vừa bảo vệ được quyền lợi của chủ công ty và các cổ đông,
vừa bảo đảm được lợi ích hợp pháp, hợp lý cho người lao động; xác định phần lợi
nhuận còn lại từ sự phân phối này để đưa ra các quyết định về mở rộng sản xuất
hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới, tạo điều kiện cho công ty có mức
độ tăng trưởng cao và bền vững
Kiểm soát việc sử dụng cả các tài sản trong công ty, tránh tình trạng sử dụng
lãng phí, sai mục đích.
Bộ phận quản lý chi phí trong các công ty sẽ dựa vào các thống kê kế toán, báo
cáo doanh thu, báo cáo nhân sự và tiền lương… do các bộ phận kế toán, quản trị và
thống kê cung cấp, đồng thời kết hợp với những yếu tố khách quan để tiến hành
phân loại, tổng hợp, phân tích và đánh giá các khoản chi phí của công ty, so sánh
kết quả phân loại của kỳ này với kỳ trước của công ty mình với các công ty cùng
ngành, lĩnh vực sản xuất, so sánh với các chuẩn mực của ngành. Bằng các chỉ tiêu
và sự nhạu bén mà bộ phận quản lý chi phí có thể chỉ ra những mặt mạnh cũng như
những thiếu sót của công ty trong kỳ.
Ngoài ra, bộ phận quản lý chi phí còn giúp giám đốc hoạch định chiến lược chỉ
tiêu ngắn và dài hạn của công ty dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía
cạnh cụ thể các yếu tố chi phí có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của công ty,
bao gồm: Tham gia vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán;
xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự án của công ty là mở
rộng hay thu hẹp sản xuất…
b. Yêu cầu đối với từng khoản mục trong chi phí bán hàng
Chi phí nhân viên
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 7
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
Về chi phí lương: Việc chi trả lương cho người công nhân phải tuân thủ theo
các quy định của nhà nước như: thang lương, bậc lương, cũng như mức lương tối
thiểu (hiện nay theo Nghị định 31/2012/NĐ-CP do chính phủ ban hành ngày
12/04/2012 thì mức lương tối thiểu của một lao động phổ thông sẽ là 1.050.000
đồng/tháng).
Theo điều 58 BLLĐ thì Doanh nghiệp có quyền lựa chọn một trong ba hình
thức trả lương sau:
- Trả lương theo thời gian là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào thời
gian làm việc thực tế, gồm có:
+ Tiền lương tháng là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp đồng lao
động.
+ Tiền lương tuần là tiền lương trả cho một tuần làm việc được xác định trên cơ
sở tiền lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần.
+ Tiền lương ngày là tiền lương trả cho một ngày làm việc được xác định trên
cơ sở tiền lương tháng chia cho 26 ngày.
- Trả lương theo sản phẩm: là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào số
lượng, chất lượng sản phẩm họ làm ra.
- Trả lương khoán: là hình thức trả lương cho người lao động.
Việc lựa chọn hình thức trả lương và quỹ lương của người lao động là do mỗi
doanh nghiệp tự quyết định nhưng phải đảm bảo mức sống cho người lao động cũng
như việc thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước thông qua việc tuân thủ chế độ thuế
thu nhập cá nhân đối với người có thu nhập cao trong doanh nghiệp.
Các khoản trích nộp theo lương BHYT, BHXH, BHTN, KPCĐ: Việc trích nộp
các khoản theo lương thì theo quy định của chế độ hiện hành cụ thể là Quyết định
1111/QĐ-BHXH thì việc trích nộp BHYT, BHXH, KPCĐ như sau: 23 % tiền lương
đối với người sử dụng lao động (trong đó 17% BHXH, 3%BHYT, 1% BHTN,
2%KPCĐ) và 9,5% đối với người lao động (trong đó 7% BHXH, 1,5%BHYT, 1%
BHTN).
Chi phí vật liệu bao bì
Nguyên vật liệu của doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc
tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Do vậy, có thể nói trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh như hiện
nay thì vật liệu bao bì có vai trò quan trọng trong việc giúp cho sản phẩm hàng hóa
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 8
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
của doanh nghiệp có thể xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường. Tuy vây, việc sử dụng
vật liệu bao bì cũng phải chú ý tới mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và hiệu quả mang
lại. Do vậy, để quản lý tốt việc này thì trong nhiều doanh nghiệp bộ phận quản lý đã
xây dựng định mức cụ thể cho vật liệu bao bì dùng để tiêu thụ sản phẩm như chi phí
bao bì không được vượt quá 0.5% trên tổng giá trị của sản phẩm.
Việc hạch toán nguyên vật liệu được thực hiện theo nguyên tắc giá gốc quy định
trong chuẩn mực VAS-02 “Hàng tồn kho”. Nội dung giá gốc được xác định theo
nguồn nhập.
Nếu nguyên vật liệu là mua ngoài thì giá gốc của nguyên vật liệu bao gồm giá
mua ghi trên hóa đơn, thuế nhập khẩu phải nộp, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập
khẩu phải nộp (nếu có), chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, phân loại, bảo
hiểm… nguyên vật liệu từ khi mua về đến kho của doanh nghiệp, công tác phí của
cán bộ thu mua, chi phí của bộ phận thu mua độc lập, các chi phí khác có liên quan
trực tiếp đến việc thu mua nguyên vật liệu và số hao hụt tự nhiên trong định mức
(nếu có)
Trường hợp doanh nghiệp mua nguyên liệu, vật liệu dùng vào hoạt động kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ thì giá trị
của nguyên vật liệu mua vào được phản ảnh theo giá mua chưa có thuế GTGT. Thuế
GTGT đầu vào khi mua nguyên vật liệu và thuế GTGT đầu vào của dịch vụ vận
chuyển, bốc xếp, bảo quản, chi phí gia công,… sẽ được khấu trừ.
Trường hợp doanh nghiệp mua nguyên liệu, vật liệu dùng vào hoạt động kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp hoặc
không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, hoặc dùng cho hoạt động sự nghiệp, phúc
lợi, dự án thì giá trị của nguyên vật liệu mua vào được phản ánh theo tổng giá thanh
toán bao gồm cả thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ (nếu có)
Đối với nguyên vật liệu mua bằng ngoại tệ thì phải được quy đổi ra đồng Việt
Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm
phát sinh nghiệp vụ để ghi tăng giá trị nguyên vật liệu nhập kho.
Chi phí dụng cụ, đồ dùng
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 9
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
Công cụ, dụng cụ của doanh nghiệp là những tư liệu lao động không có đủ các
tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng quy định đối với TSCĐ. Vì vậy, công cụ,
dụng cụ được quản lý và hạch toán như nguyên liệu, vật liệu, dụng cụ, đồ dùng sử
dụng cho bộ phận bán hàng cũng phải tuân theo quy định nhất định
Theo chuẩn mực số 02 “Hàng tồn kho” thì nguyên tắc xác định giá gốc nhập
kho công cụ, dụng cụ cũng được thực hiện như quy định đối với nguyên liệu, vật
liệu. Và việc tính giá trị công cụ, dụng cụ tồn kho cũng được thực hiện theo một
trong bốn phương pháp trên.
Ngoài ra, theo quy định hiện hành thì đối với những dụng cụ, đồ dùng giá trị
nhỏ xuất dùng cho sản xuất, kinh doanh thì phải được ghi nhận toàn bộ một lần vào
chi phí sản xuất, kinh doanh. Còn đối với trường hợp xuất dùng công cụ, dụng cụ
một lần có giá trị lớn và thời gian sử dụng vào sản xuất, kinh doanh dưới một năm
thì giá trị công cụ, dụng cụ xuất dùng được ghi nhận vào “Chi phí trả trước ngắn
hạn” và sẽ được phân bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh cho các kỳ kế toán
tháng hoặc quý trong năm.
Trường hợp công cụ, dụng cụ xuất dùng vào sản xuất, kinh doanh có giá trị lớn
và có thời gian sử dụng cho sản xuất, kinh doanh trên một năm thì giá trị công cụ,
dụng cụ xuất dùng được ghi nhận vào “Chi phí trả trước dài hạn” và sẽ được phân
bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh.
Chi phí khấu hao TSCĐ
Về mặt nguyên tắc, mọi TSCĐ, BĐS đầu tư của doanh nghiệp có liên quan đến
hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung và hoạt động bán hàng nói riêng (gồm cả
tài sản chưa dùng, không cần dùng, chờ thanh lý) đều phải trích khấu hao theo quy
định hiện hành.
Theo chính sách tài chính và chuẩn mực kế toán hiện hành thì doanh nghiệp có
thể lựa chọn 1 trong 3 phương pháp tính khấu hao:
Phương pháp khấu hao theo đường thẳng;
Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh;
Phương pháp khấu hao theo sản lượng.
Vì vậy, doanh nghiệp cần phải căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp mà
lựa chọn phương pháp khấu hao phù hợp cho từng TSCĐ, BĐS đầu tư nhằm kích
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 10
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
thích sự phát triển sản xuất kinh doanh, đảm bảo việc thu hồi vốn nhanh, đầy đủ và
phù hợp với khả năng trang trải chi phí của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý là phương pháp tính khấu hao phải được nhất
quán và chỉ có thể được thay đổi khi có sự thay đổi đáng kể cách thức thu hồi lợi
ích kinh tế của TSCĐ.
Thời gian và phương pháp khấu hao phải được xem xét lại ít nhất là vào cuối
mỗi năm tài chính. Nếu thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản khác biệt lớn
so với các ước tính kế toán trước đó thì thời gian khấu hao phải được thay đổi tương
ứng. Phương pháp khấu hao TSCĐ được thay đổi khi có sự thay đổi đáng kể cách
thức ước tính thu hồi lợi ích kinh tế của TSCĐ. Khi đó thì phải điều chỉnh chi phí
khấu hao năm hiện hành và các năm tiếp theo và điều đó sẽ phải được thuyết minh
trong báo cáo tài chính.
Chi phí bảo hành
Đây chính là khoản chi phí mà doanh nghiệp trích lập để đảm bảo thực hiện cho
việc cam kết bảo hành cho sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp đã bán cho khách
hàng.
Và giá trị được ghi nhận của một khoản dự phòng phải trả về việc bảo hành là
giá trị được ước tính hợp lý nhất về khoản tiền sẽ phải chi để thanh toán nghĩa vụ
bảo hành của doanh nghiệp hiện tại tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm hoặc tại ngày
kết thúc kỳ kế toán giữa niên độ.
Khoản dự phòng phải trả về việc bảo hành được lập mỗi năm một lần vào cuối
niên độ kế toán. Trường hợp đơn vị có lập báo cáo tài chính giữa niên độ thì được
lập dự phòng phải trả ở kỳ kế toán giữa niên độ. Trường hợp số dự phòng phải trả
về bảo hành ở kỳ kế toán này lớn hơn số dự phòng phải trả về việc bảo hành đã lập
ở kỳ kế toán trước chưa sử dụng hết thì phần chênh lệch phải được trích lập bổ sung
và phần chi phí này sẽ được hạch toán vào chi phí bán hàng ở kỳ kế toán đó. Ngược
lại, trong trường hợp số lập dự phòng phải trả lập về bảo hành ở kỳ kế toán này nhỏ
hơn số dự phòng phải trả về việc bảo hành đã lập ở kỳ kế toán trước chưa sử dụng
hết thì phần chênh lệch phải được hoàn nhập ghi giảm chi phí bán hàng của kỳ kế
toán đó.
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 11
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
1.2Nội dung kế toán chi phí bán hàng trong doanh nghiệp
1.2.1 Nội dung chuẩn mực quy định về kế toán chi phí bán hàng
1.2.1.1 Chuẩn mực chung
Theo VAS-01 “Chuẩn mực chung” thì việc ghi nhận chi phí bán hàng phải tuân
theo một số nguyên tắc sau:
Cơ sở dồn tích
Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải
trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời
điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc
tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài
chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Như v ậy, đối với việc ghi nhận chi phí bán hàng thì phải căn cứ vào thời
điểm doanh số chứ không phải thời điểm thực chi tiêu ta sẽ thấy rõ hơn điều này
qua nguyên tắc phù hợp.
Nguyên tắc phù hợp
Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một
khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến
việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra
doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến
doanh thu của kỳ đó.
Nguyên tắc thận trọng
Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế
toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
 Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn.
 Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập
 Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí
 Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng
thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả
năng phát sinh chi phí. Đối với chi phí bán hàng và chi phí bảo hành là một ví dụ.
1.2.1.2. Các chuẩn mực kế toán có liên quan khác
Việc hạch toán nguyên vật liệu được thực hiện theo nguyên tắc giá gốc quy định
trong chuẩn mực VAS-02 “Hàng tồn kho”. Nội dung giá gốc được xác định theo
nguồn nhập.
Nếu nguyên vật liệu là mua ngoài thì giá gốc của nguyên vật liệu bao gồm giá
mua ghi trên hóa đơn, thuế nhập khẩu phải nộp, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 12
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
khẩu phải nộp (nếu có), chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, phân loại, bảo
hiểm… nguyên vật liệu từ khi mua về đến kho của doanh nghiệp, công tác phí của
cán bộ thu mua, chi phí của bộ phận thu mua độc lập, các chi phí khác có liên quan
trực tiếp đến việc thu mua nguyên vật liệu và số hao hụt tự nhiên trong định mức
(nếu có)
Trường hợp doanh nghiệp mua nguyên liệu, vật liệu dùng vào hoạt động kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ thì giá trị
của nguyên vật liệu mua vào được phản ảnh theo giá mua chưa có thuế GTGT. Thuế
GTGT đầu vào khi mua nguyên vật liệu và thuế GTGT đầu vào của dịch vụ vận
chuyển, bốc xếp, bảo quản, chi phí gia công,… sẽ được khấu trừ.
Trường hợp doanh nghiệp mua nguyên liệu, vật liệu dùng vào hoạt động kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp hoặc
không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, hoặc dùng cho hoạt động sự nghiệp, phúc
lợi, dự án thì giá trị của nguyên vật liệu mua vào được phản ánh theo tổng giá thanh
toán bao gồm cả thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ (nếu có)
Đối với nguyên vật liệu mua bằng ngoại tệ thì phải được quy đổi ra đồng Việt
Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm
phát sinh nghiệp vụ để ghi tăng giá trị nguyên vật liệu nhập kho.
1.2.2 Kế toán chi phí bán hàng theo chế độ kế toán hiện hành (QĐ 15)
Hạch toán ban đầu là việc kế toán tập hợp hệ thống chứng từ. Kiểm tra tính hợp
lệ, hợp pháp của các chứng từ để từ đó làm căn cứ cho các công việc tiếp theo của
kế toán như là hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết và ghi sổ kế toán…
Trong công tác hạch toán ban đầu của kế toán nghiệp vụ chi phí bán hàng thì
thông thường sử dụng các chứng từ sau đây:
• Bảng thanh toán tiền lương (Mẫu số 02-LĐTL)
• Bảng thanh toán tiền thưởng (Mẫu số 03-LĐTL)
• Bảng phân bổ tiền lương và BHXH (Mẫu số 11-LĐTL)
• Phiếu xuất kho nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ (Mẫu số 02-VT)
• Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ (Mẫu số 06-TSCĐ)
• Hóa đơn GTGT (Mẫu số 01GTGT-3LL)
• Hóa đơn bán hàng thông thường (Mẫu số 02GTGT-3LL)
• Phiếu chi (Mẫu số 02-TT)
• Giấy báo nợ
• Giấy thanh toán tiền tạm ứng (Mẫu số 04-TT)
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 13
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
• Giấy đề nghị thanh toán (Mẫu số 05-TT)
• Bảng lập dự phòng
• Tờ khai nộp thuế
• Và các chứng từ khác…
1.2.2.1 Tài khoản sử dụng
Tài khoản 641 “chi phí bán hàng”
Nội dung:
Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình
bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ, bao gồm các chi phí chào hàng, giới
thiệu sản phẩm, quảng cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí bản hành, sản
phẩm, hàng hóa (trừ hoạt động xây lắp), chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển,…
Kết cấu:
Bên nợ:
Phản ánh chi phí bán hàng phát sinh trong kỳ (tập hợp theo từng nội dung chi
phí)
Bên có:
Phản ánh các khoản thu được ghi giảm chi phí bán hàng.
Kết chuyển chi phí bán hàng phân bổ cho hàng tiêu thụ sang tài khoản xác định
kết quả kinh doanh.
Kết chuyển chi phí bán hàng phân bổ cho hàng tồn kho sang kỳ sau
Tài khoản 641 được mở chi tiết thành các tài khoản cấp 2 như sau:
- Tài khoản 6411 - Chi phí nhân viên: Phản ánh các khoản phải trả cho nhân
viên bán hàng, nhân viên đóng gói, vận chuyển, bảo quản sản phẩm, hàng hoá,
bao gồm tiền lương, tiền ăn giữa ca, tiền công và các khoản trích bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn,
- Tài khoản 6412 - Chi phí vật liệu, bao bì: Phản ánh các chi phí vật liệu, bao bì
xuất dùng cho việc giữ gìn, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, như chi phí vật
liệu đóng gói sản phẩm, hàng hoá, chi phí vật liệu, nhiên liệu dùng cho bảo quản,
bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng hoá trong quá trình tiêu thụ, vật liệu dùng cho
sửa chữa, bảo quản TSCĐ, dùng cho bộ phận bán hàng.
- Tài khoản 6413 - Chi phí dụng cụ, đồ dùng: Phản ánh chi phí về công cụ,
dụng cụ phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá như dụng cụ đo lường,
phương tiện tính toán, phương tiện làm việc,
- Tài khoản 6414 - Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ ở
bộ phận bảo quản, bán hàng, như nhà kho, cửa hàng, bến bãi, phương tiện bốc dỡ,
vận chuyển, phương tiện tính toán, đo lường, kiểm nghiệm chất lượng,
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 14
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
- Tài khoản 6415 - Chi phí bảo hành: Dùng để phản ánh khoản chi phí bảo hành
sản phẩm, hàng hoá. Riêng chi phí sửa chữa và bảo hành công trình xây lắp phản
ánh ở TK 627 “Chi phí sản xuất chung” mà không phản ánh ở TK này.
- Tài khoản 6417 - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh các chi phí dịch vụ
mua ngoài phục vụ cho bán hàng như chi phí thuê ngoài sửa chữa TSCĐ phục vụ
trực tiếp cho khâu bán hàng, tiền thuê kho, thuê bãi, tiền thuê bốc vác, vận chuyển
sản phẩm, hàng hoá đi bán, tiền trả hoa hồng cho đại lý bán hàng, cho đơn vị nhận
uỷ thác xuất khẩu,
- Tài khoản 6418 - Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh các chi phí bằng tiền khác
phát sinh trong khâu bán hàng ngoài các chi phí đã kể trên như chi phí tiếp khách ở
bộ phận bán hàng, chi phí giới thiệu sản phẩm, hàng hoá, quảng cáo, chào hàng, chi
phí hội nghị khách hàng
Bên cạnh TK 641 thì doanh nghiệp còn sử dụng một số các tài khoản khác để
hạch toán như: TK 111,112,331,242,142,335,352,…
1.2.2.2 Trình tự hạch toán
 Hàng tháng, kế toán căn cứ vào bảng phân bổ và thanh toán tiền lương, để phản ánh
chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp, tiền ăn giữa ca kế toán ghi:
Nợ TK 641(6411)
Có TK 334 Lương thực tế và các khoản phụ cấp
 Hàng tháng, kế toán căn cứ vào Bảng phân bổ tiền lương và BHXH, để trích
BHXH, BHYT. KPCĐ cho nhân viên phục vụ trực tiếp cho quá trình bán các sản
phẩm hàng hóa, cung cấp dịch vụ, kế toán ghi:
Đối với BHXH kế toán ghi:
Nợ TK 641(6411)
Có TK 3383 Trích 17% trên lương thực tế
Đối với các khoản BHYT kế toán ghi:
Nợ TK 641(6411)
Có TK 3384 Trích 3 % trên lương thực tế
Đối với các khoản BHTN kế toán ghi:
Nợ TK 641(64111)
Có TK 3389 Trích 1% trên lương thực tế
Đối với KPCĐ kế toán ghi
Nợ TK 641(6411)
Có TK 3382 Trích 2% trên lương thực tế
Khi tính chi phí nguyên nhiên vật liệu kế toán ghi:
+ Nếu là vật liệu xuất kho thì căn cứ vào phiếu xuất kho kế toán ghi
Nợ TK 641(6412)
Có TK 152 Trị giá nguyên vật liệu
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 15
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
+ Nếu là vật liệu mua ngoài, đưa thẳng vào sử dụng, không qua nhập kho căn
cứ vào hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng kế toán ghi
Nợ TK 641(6411)
Nợ TK 133(nếu có)
Có TK 111,112,…
 Khi xuất công cụ đồ dùng ra sử dụng ở bộ phận bán hàng thì căn cứ vào phiếu xuất
kho, bảng phân bổ công cụ, dụng cụ kế toán ghi
+ Loại phân bổ 100%
Nợ TK 641(6413)
Có TK 153 Trị giá công cụ dụng cụ
+ Loại phân bổ 50%
Xuất kho:
Nợ TK 142
Có TK 153 50% trị giá công cụ dụng cụ
Công cụ dụng cụ báo hỏng, phân bổ 50% trị giá còn lại
Nợ TK 641
Có TK 142 50% trị giá công cụ dụng cụ
+ Loại phân bổ nhiều lần (trị giá lớn)
Xuất kho
Nợ TK 142
Có TK 153 Nguyên giá công cụ dụng cụ
Hàng kỳ, phân bổ giá trị công cụ dụng cụ vào chi phí
Nợ TK 641(6413)
Có TK 142,242 Phần giá trị phân bổ cho kỳ
Công cụ dụng cụ báo hỏng, phân bổ nốt
Nợ TK 641(6413)
Có TK 142,242 Phần giá trị còn lại
 Khi trích khấu hao TSCĐ thì căn cứ vào bảng phân bổ khấu hao, biên bản kiểm kê
hàng hóa của bộ phận bán hàng, kế toán ghi
Nợ TK 641(6414)
Có TK 214 Mức khấu hao
 Trường hợp doanh nghiệp sử dụng phương pháp trích trước chi phí sửa chữa lớn
TSCĐ thì căn cứ vào bảng trích lập dự phòng kế toán ghi
Khi trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí bán hàng
Nợ TK 641(6414) Số trích lập
Có TK 335
Khi phát sinh chi phí sửa chữa lớn TSCĐ thực tế phát sinh
Nợ TK 335 Chi phí thực tế phát sinh
Có TK 331,241,111,112,152,…
 Trong trường hợp chi phí sửa chữa lớn TSCĐ phát sinh một lần có giá trị lớn và liên
quan đến việc bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong nhiều kỳ hạch toán, doanh
nghiệp không sử dụng phương pháp trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ thì:
Khi phát sinh chi phí:
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 16
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
Nợ TK 242, 142 Chi phí thực tế phát sinh
Có TK331,241,111,112,152,
Sau đó, định kỳ căn cứ vào bảng phân bổ tính vào chi phí bán hàng từng phần
chi phí sửa chữa lớn đã phát sinh, kế toán ghi:
Nợ TK 641(6414) Số chi phí phân bổ
Có TK242, 142
 Hạch toán chi phí bảo hành sản phẩm hàng hóa:
Trường hợp doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng có kèm theo Giấy bảo hành
sửa chữa cho các hỏng hóc do lỗi sản xuất được phát hiện trong thời gian bảo hành
sản phẩm, hàng hóa thì khi đó doanh nghiệp phải xác định cho từng mức chi phí sửa
chữa cho toàn bộ nghĩa vụ bảo hành.
Đối với chi phí bảo hành thì chia thành các trường hợp
• Trường hợp doanh nghiệp không có bộ phận bảo hành độc lập:
Nếu đơn vị trích trước chi phí bảo hành sản phẩm hàng hóa:
Khi xác định số dự phòng phải trả về chi phí sửa chữa, bảo hành sản phẩm,
hàng hóa, kế toán ghi:
Nợ TK641(6415) Số trích lập
Có TK 352
+ Khi phát sinh chi phí bảo hành sản phẩm :
Nợ TK 352
Có TK 111,112,334, Chi phí thực tế
Nếu có thuế GTGT ghi
Nợ TK 1331
Có TK 111,112, Chi phí thực tế
+ Khi hết thời hạn bảo hành (cuối niên độ kế toán)
Nếu số trích trước > chi phí thực tế phát sinh thì hoàn lại
Nợ TK 352
Có TK 641(6415) Phần chênh lệch
Nếu số trích trước < chi phí thực tế phát sinh thì phải trích bổ sung
Nợ TK 641(6415) Phần chênh lệch
Có TK 352
+ Khi phát sinh chi phí bảo hành kế toán ghi:
Nợ TK 641(6415) Nếu chi phí nhỏ
Nợ TK 142(1421) Nếu chi phí lớn
Có TK 111,152, Chi phí thực tế
Nếu có thuế ghi:
Nợ TK 1331
Có TK 111,112 Thuế GTGT
• Trường hợp doanh nghiệp có bộ phận bảo hành độc lập:
Tại bộ phận bảo hành:
+ Khi phát sinh chi phí bảo hành ghi:
Nợ TK 621,622,627 Chi phí thực tế phát sinh
Có TK 111,112
Nếu có thuế ghi
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 17
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
Nợ TK 133
Có TK 111,112 Thuế GTGT
+ Cuối kỳ tập hợp toàn bộ chi phí bảo hành ghi:
Nợ TK 154
Có TK 621,622,627
+ Khi hoàn thành việc bảo hành ghi:
Doanh thu bán dịch vụ bảo hành
Nợ TK 111,112,136 Tổng giá thanh toán
Có TK 512 Doanh thu bán hàng nội bộ
Có TK 3331 Thuế GTGT đầu ra
Kết chuyển trị giá vốn chi phí bảo hành ghi
Nợ TK 632
Có TK 154
Tại bộ phận có sản phẩm, hàng hóa phải bảo hành:
+ Khi phát sinh số tiền phải trả cho bộ phận bảo hành của doanh nghiệp, nếu
doanh nghiệp không trích trước chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa thì ghi
Nợ TK 641(6415)
Có TK 111,112,336 Chi phí bảo hành phải trả
+ Nếu doanh nghiệp trích trước chi phí bảo hành hàng hóa thì hàng tháng kế
toán ghi
Nợ TK 641(6415)
Có TK 352 Chi phí bảo hành trích trước
+ Khi xác định số tiền phải trả cho bộ phận bảo hành của doanh nghiệp, kế toán ghi
Nợ TK 352
Có TK 111,112,336
 Đối với các sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ cho hoạt động bán hàng, thì căn
cứ vào các chứng từ liên quan, kế toán phản ánh doanh thu, thuế GTGT phải nộp
của sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ.
Nếu sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ dùng vào hoạt động bán hàng hóa,
cung cấp dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ
thì không phải tính thuế GTGT, khi đó kế toán ghi:
Nợ TK 641(6412,6413,6417, 6418)
Có TK 512 Doanh thu bán hàng nội bộ (Ghi theo CFSX sản phẩm hoặc giá
vốn hàng xuất tiêu dùng nội bộ cộng (+) thuế GTGT)
Nếu sản phẩm, hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương
pháp khấu trừ tiêu dùng nội bộ dùng cho hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ
không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT phải nộp của sản phẩm,
hàng hóa tiêu dùng nội bộ tính vào chi phí bán hàng, khi đó kế toán ghi
Nợ TK 641(6412,6413,6417,6418)
Có TK333(3331) Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 18
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
Có TK512 Doanh thu bán hàng nội bộ (Ghi theo CFSX sản phẩm hoặc giá
vốn hàng xuất tiêu dùng nội bộ cộng (+) thuế GTGT)
 Nếu doanh nghiệp có phát sinh nghiệp vụ ủy thác xuất khẩu thì số tiền phải trả đơn
vị nhận ủy thác xuất khẩu về các khoản đã chi hộ liên quan đến hàng ủy thác xuất
khẩu và phí ủy thác xuất khẩu, căn cứ vào hóa đơn chứng từ liên quan kế toán ghi
Nợ TK641(6412,6413,6417,6418) Chi phí bán hàng
Nợ TK133 Thuế GTGT (nếu có)
Có TK 338 Phải trả phải nộp khác (chi tiết theo từng đơn vị nhận ủy thác
xuất khẩu)
 Khi phát sinh Hoa hồng bán hàng phải trả cho bên nhận đại lý, thì căn cứ vào hóa
đơn dịch vụ của bên đại lý xuất ra và điều khoản của hợp đồng giao nhận đại lý kế
toán ghi
Nợ TK641(6417) Hoa hồng đại lý không thuế
Nợ TK 133 Thuế GTGT của hoa hồng (nếu có)
Có TK 131 Tổng số tiền phải trả cho đại lý
 Khi phát sinh chi phí dịch vụ mua ngoài ở bộ phận bán hàng thì căn cứ vào hóa đơn
chứng từ mua ngoài kế toán ghi
Nợ TK641(6417) Chi phí thực tế
Nợ TK 133 Thuế GTGT (nếu có)
Có TK 111,112, Tổng giá thanh toán
 Khi phát sinh các chi phí bằng tiền khác ở bộ phận bán hàng căn cứ vào hóa đơn
chứng từ và phiếu chi kế toán ghi
Nợ TK641(6418) Giá chưa có thuế
Nợ TK 133 Thuế GTGT (nếu có)
Có TK 111,112 Tổng giá thanh toán
 Cuối kỳ, kết chuyển chi phí bán hàng cho hàng hóa tiêu thụ trong kỳ kế toán ghi
Nợ TK 911 Chi phí bán hàng phân bổ cho hàng hóa tiêu thụ trong kỳ
Có TK 641
+ Đối với những doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài trong kỳ không có
hoặc có ít sản phẩm tiêu thụ, thì cuối kỳ kết chuyển toàn bộ hoặc một phần chi phí
bán hàng chi phí trả trước ngắn hạn, kế toán ghi:
Nợ TK 142 Chi phí bán hàng phân bổ cho hàng tồn kho
Có TK 641
+ Sang kỳ hạch toán sau, khi có sản phẩm hàng hóa tiêu thụ, chi phí bán hàng
đã được kết chuyển sang TK 142 sẽ được kết chuyển sang TK 911, kế toán ghi
Nợ TK 911 Phân bổ chi phí bán hàng cho hàng hóa tiêu thụ
Có TK 142
1.2.2.3 Hình thức nhật ký chung
 Điều kiện vận dụng
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 19
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
Hình thức này áp dụng phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp, mọi trình độ
quản lý, trình độ kế toán và rất phù hợp với doanh nghiệp sử dụng kế toán bằng
máy vi tính.
 Quy trình ghi sổ
Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc về chi phí bán hàng phát sinh kế toán ghi
vào nhật ký chung và sổ chi tiết chi phí. Trên cơ sở nhật ký chung, kế toán ghi vào
sổ TK 641
Nếu doanh nghiệp sử dụng nhật ký đặc biệt thì từ chứng từ gốc về chi phí, kế
toán ghi vào sổ nhật ký đặc biệt, cuối kỳ ghi vào sổ cái TK 641.
Cuối tháng từ sổ chi tiết chi phí, kế toán vào bảng tổng hợp chi tiết. Bảng này
dùng đối chiếu với sổ cái TK 641.
Cuối tháng căn cứ vào sổ cái TK 641 kế toán ghi vào bảng cân đối số phát sinh
Cuối quý từ bảng cân đối số phát sinh, bảng tổng hợp chi tiết kế toán ghi vào hệ
thống báo cáo kế toán.
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 20
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ BÁN HÀNG TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO VIỆT NAM
2.1 Tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến kế toán chi
phí bán hàng tại công ty Cổ phần Nông nghiệp Công Nghệ Cao Việt Nam
2.1.1. Đánh giá tổng quan về kế toán chi phí bán hàng trong các DN.
Nói đến bán hàng người ta nghĩ ngay đến một quá trình trao đổi hàng hoá - tiền
tệ giữa hai chủ thể người mua và người bán, trong đó người bán trao hàng cho
người mua và người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền để có được quyền sở hữu
về hàng hoá. Trong nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế thị trường như hiện nay, bán
hàng là một khâu giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là điều kiện để tiến hành tái
sản xuất xã hội vừa là cầu nối giữa sản xuất với người tiêu dùng, phản ánh sự gặp
nhau giữa cung và cầu về hàng hoá, qua đó giúp định hướng cho sản xuất, tiêu dùng
và khả năng thanh toán. Với một doanh nghiệp việc tăng nhanh quá trình bán hàng
tức là tăng vòng quay của vốn, tiết kiệm vốn và trực tiếp làm tăng lợi nhuận của
doanh nghiệp, từ đó sẽ nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên trong doanh
nghiệp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước. Thời đại toàn cầu hoá về kinh tế
đòi hỏi hạch toán kế toán đã trở thành một trong những công cụ đắc lực không thể
thiếu giúp cho doanh nghiệp có cái nhìn tổng thể về tình hình kinh doanh và tình
hình tài chính tại đơn vị. Và cũng chính vì vậy mà kế toán có vai trò quan trọng hơn
bao giờ hết trong việc quản lý và kiểm soát các hoạt động kinh tế phát sinh thông
qua một hệ thống thông tin trung thực, chính xác đầy đủ và kịp thời. Để giám sát
được quá trình bán hàng tại doanh nghiệp, xem xét mức độ quay vòng vốn và tốc độ
lưu thông hàng hoá, các doanh nghiệp đều cần thiết tổ chức công tác hạch toán kế
toán bán hàng. Chính vì vậy kế toán bán hàng trở nên quan trọng và kế toán chi phí
bán hàng ngày càng trở nên rất quan trọng trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các
doanh nghiệp thương mại.
Hiện nay kế toán chi phí bán hàng được hướng dẫn một cách rất chi tiết, đầy đủ
trong các chuẩn mực, chế độ kế toán và ngày một hoàn thiện hơn. Nhưng mỗi
doanh nghiệp lại có cách áp dụng khác nhau sao cho phù hợp nhất với đặc điểm sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình. Tùy mỗi loại hình doanh nghiệp, mỗi
Công ty mà Kế toán lại áp dụng một mô hình khác nhau chính điều đó nên việc tổ
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 21
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
chức công tác kế toán chi phí bán hàng trong các doanh nghiệp vẫn còn một số
vướng mắc cần được làm rõ hơn như:
- Khi nghiên cứu về kế toán chi phí bán hàng cần phải tìm hiểu những nội dung gì?
- Bản chất, mục đích của kế toán chi phí bán hàng?
- Phương pháp kế toán chi phí bán hàng có được ghi chép, phản ánh một cách
chính xác, kịp thời không?
- Việc tập hợp chi phí bán hàng có hợp lệ, hợp pháp không?
2.1.2. Sự ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến kế toán chi phí bán hàng
trong công ty.
2.1.2.1 Môi trường vĩ mô:
Môi trường kinh tế: nền kinh tế và cơ chế quản lý, các loại hình doanh nghiệp,
đặc điểm sản xuất kinh doanh, giá cả thị trường, thuế…Mỗi thay đổi của môi trường
kinh tế làm phát sinh những hoạt động kinh tế mới đòi hỏi kế toán trong doanh
nghiệp nói chung cũng như kế toán chi phí bán hàng nói riêng phải có những thay
đổi thích hợp để đáp ứng được sự thay đổi của môi trường kinh tế.
Môi trường pháp lý: là những cơ sở pháp lý mà kế toán phải căn cứ vào để
thực hiện công việc kế toán, đảm bảo cho hoạt động của kế toán phù hợp với những
quy định của pháp luật.
- Chế độ kế toán: vừa mang tính chất hướng dẫn vừa mang tính chất bắt buộc
với công tác kế toán tại các doanh nghiệp. Chế độ kế toán có ảnh hưởng trực tiếp
đến hoạt động kế toán của mỗi doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp phải tổ chức công tác kế toán theo một chế độ kế toán nhất
định. Và công tác kế toán tại công ty cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao cũng
vây, nó chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi chế độ kế toán. Khi chế độ thay đổi việc tổ
chức công tác kế toán chi phí bán hàng cũng phải thay đổi theo. Khi công ty đã
chọn một chế độ kế toán để áp dụng thì mọi quy trình nghiệp vụ phát sinh trong
công tác kế toán đều phải nhất quán tuân theo, bên cạnh đó có thể điều chỉnh sao
cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất của công ty mình nhưng vẫn phải
trong mức cho phép của chế độ kế toán.
- Chuẩn mực kế toán: Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và hàng loạt các
thông tư hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực do Bộ tài chính ban hành đã tạo khuôn
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 22
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
khổ pháp lý quan trọng để thống nhất quản lý kế toán trong công ty. Tất cả các
doanh nghiệp đều phải tuân thủ đúng nội dung quy định của các chuẩn mực. Mỗi sự
thay đổi của chuẩn mực đều có ảnh hưởng đến công tác kế toán chi phí bán hàng tại
công ty.
Môi trường khoa học công nghệ kỹ thuật:
Khoa học công nghệ phát triển và việc áp dụng thành tựu khoa học vào công tác
kế toán là một xu hướng tất yếu. Nếu không áp dụng công nghệ vào kế toán thì
công tác kế toán sẽ rất rắc rối, phức tạp. Công việc sẽ diễn ra chậm hơn rất nhiều và
như vậy sẽ làm cho công ty phát triển chậm. Cần phải ứng dụng khoa học vào công
tác kế toán chi phí bán hàng của công ty và phải thường xuyên cập nhật những
thành tựu khoa học kỹ thuật mới để thay đổi sao cho phù hợp với điều kiện của
công ty.
2.1.2.2. Môi trường vi mô:
Năng lực, trình độ của nhà lãnh đạo doanh nghiệp.
Thành công của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự điều hành và lãnh đạo
tài năng của nhà quản lý hay chủ doanh nghiệp. Nhà lãnh đạo sẽ có những chính
sách phát triển hợp lý, lựa chọn được hình thức kế toán phù hợp, tổ chức sổ sách,
chứng từ quy trình hạch toán các nghiệp vụ kế toán của công ty mình. Công tác kế
toán chi phí bán hàng cũng chịu ảnh hưởng bởi người lãnh đạo. Chính vì vậy nếu có
những quyết đinh và lựa chọn đúng đắn công tác kế toán của công ty sẽ hoạt động
hiệu quả hơn.
Trình độ của người đứng đầu bộ máy kế toán.
Kế toán trưởng sẽ tham mưu cho các nhà lãnh đạo để các nhà lãnh đạo có
những quyết định đúng đắn, hợp lý nhất về công tác kế toán. Họ là người trực tiếp
quản lý, điều hành, kiểm tra công tác kế toán. Chính vì vậy họ sẽ là người đưa ra
những chính sách kế toán sao cho phù hợp. Nếu những người đứng đầu bộ máy kế
toán này giúp doanh nghiệp lựa chọn ra được hình thức kế toán phù hợp sẽ giúp
công tác kế toán ổn định và hiệu quả hơn. Vì vậy trình độ và năng lực của người
đứng đầu bộ máy kế toán là điều kiện tiên quyết và vô cùng quan trọng.
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 23
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
Trình độ, năng lực của đội ngũ nhân viên kế toán.
Nhà quản lý và kế toán trưởng là người đưa ra quyết định và điều hành công tác
kế toán nhưng người thực hiện các phần hành kế toán cụ thể của công tác kế toán
chính là các nhân viên kế toán của phòng kế toán. Vì vậy, nếu trình độ của đội ngũ
nhân viên kế toán cao thì các công việc của công tác kế toán sẽ được thực hiện một
cách chính xác, nhanh chóng và đem lại hiệu quả cao.
2.2. Tổng quan về toán chi phí bán hàng tại Công ty cổ phần Nông nghiệp
Công nghệ Cao Việt Nam
2.2.1 Đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh của công ty
2.2.1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty
- Tên doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Việt Nam
- Tên tiếng Anh: VIET NAM HIGH TECHNOLOGY AGRICULTURE JOINT
STOCK COMPANY
- Tên công ty viết tắt: VNAGR.,JSC
- Ngày thành lập : Năm 2007
- Tổng số vốn: Tổng vốn điều lệ của công ty là 1.500.000.000 VNĐ.
Mệnh giá cổ phần: 10.000 đồng.
Số cổ phần đã đăng ký mua: 150.000
Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần.
Giấy phép kinh doanh số : 0102552458.
Đăng ký lần đầu: ngày 27 tháng 11 năm 2007 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành
phố Hà Nội cấp phép.
Đăng ký thay đổi lần thứ nhất: ngày 08 tháng 08 năm 2011 do Sở Kế hoạch và
Đầu tư thành phố Hà Nội cấp phép
Địa chỉ của doanh nghiệp: Số 2/75, ngõ 173, đường Hoàng Hoa Thám, phường
Ngọc Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Địa điểm nhà xưởng, kho bãi: Thôn Ngãi Cầu, xã An Khánh, huyện Hoài Đức,
thành phố Hà Nội
Điện thoại: 04-3568 2283 Fax: 04- 3568 228
- Giám đốc công ty: Lại Tiến Hải
- Chủ tịch hội đồng quản trị: Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
- Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 24
Trường ĐH Thương Mại GVHD: PGS-TS Nguyễn Phú Giang
Chức năng - Nhiệm vụ của Công ty:

Lĩnh vực sản xuất
- Gia công cơ khí, xử lý và tráng phủ kim loại
- Sản xuất máy nông nghiệp và lâm nghiệp
- Sản xuất phụ tùng phục vụ ngành nông nghiệp và lâm nghiệp

Lĩnh vực thi công: Thi công các công trình giao thông bao gồm :
- Xấy lắp các công trình điện dưới 35kv
- Tư vấn xây dựng (không bao gồm thiết kế công trình )
- Xây dựng công trình dân dụng , công nghiệp, giao thông ,thủy lợi , thủy điện
- Lắp đặt máy móc và thiết bị công nghiệp, nông nghiệp
2.2.1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh của công Cổ phần Nông nghiệp Công
nghệ cao Việt Nam
Có thể khái quát đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty theo sơ đồ sau
Sơ đồ 2.1 : Sơ đồ tổ chức Công Ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Việt Nam
2.2.2. Tổ chức bộ máy kế toán và chính sách kế toán áp dụng tại Công ty
Công ty hạch toán độc lập do đó công ty có sơ đồ tổ chức bộ máy như sau :
SV: Ngô Thành Trường – 09D150216 Page 25
Hội đồng quản
trị
Giám đốc
Phòng kế toán Phòng kĩ thuật Phòng Kế
hoạch vật tư
Phòng hành
chính
Đội sản xuất
số 2
Đội sản xuất
số 1
Đội sản xuất
số 3

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×