Tải bản đầy đủ

326 Một số kiến nghị, giải pháp cho các doanh nghiệp Thương mại Việt Nam tồn tại và đứng vững khi Việt Nam gia nhập WTO

LỜI MỞ ĐẦU

1. Ý NGHĨA CHỌN ĐỀ TÀI
Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là nhiệm vụ quan trọng nhất của
Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong thời gian qua thực hiện
chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong hợp
tác đa phương và song phương. Nước ta đã trở thành thành viên của nhiều Tổ chức
quốc tế như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế
Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM), đã ký Hiệp
định thương mại song phương với nhiều nước thuộc các Châu lục khác nhau, trong
đó đặc biệt là Hiệp định thương mại với Hoa Ký. Đây là bản Hiệp định mà thông
qua đó, Việt Nam cam kết thực hiện quan hệ thương mại trên cơ sở những chuẩn
mực pháp luật quốc tế và của WTO.
Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới đang là đòi hỏi cấp bách hiện nay,
vấn đề này đã được kề cập trong văn kiện Đại hội IX của Đảng “Tiếp tục mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương, đa dạng hoá; chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế, thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương
như AFTA, BTA, tiến tới gia nhập WTO”. Tại Hội nghị lần thứ IX, Ban chấp hành
trung ương khoá IX cũng nhận định “Tiếp tục chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
thực hiện có hiệu quả những cam kết và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, chuẩn bị

tốt những điều kiện trong nước để sớm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
WTO”
Thực tế cho thấy việc gai nhập WTO là xu thế khách quan phù hợp với tiến
trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng trên thế giới,
phù hợp với xu thế phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam hiện nay và những năm
đầu của thế kỷ 21. Hiện nay đã có 148 nước gia nhập WTO, 20 nước đang tiến hành
đàm phán gia nhập, điều đó cho thấy WTO ngày càng có vai trò quan trọng trong sự
phát triển của kinh tế, thương mại thế giới và có sức hấp dẫn hơn đối với các nền
kinh tế của các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu.
Việt Nam gia nhập WTO là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa có thới
cơ và cả thách thức đối với nền kinh tế nước ta. Doanh nghiệp thương mại là một tế
bào trong nền kinh tế, do đó các doanh nghiệp thương mại cũng bị tác động bởi sự
kiện này. Với sức ép thời gian gia nhập WTO đã gần kề, các doanh nghiệp thương
mại cần phải tìm hiểu rõ về cơ chế hoạt động của tổ chức này; nó có tác động như
thế nào đến tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại?,
thuận lợi hay không thuận lợi?...Tìm hiểu các vấn đề trên để từ đó các doanh nghiệp
thương mại kết hợp với tình hình hiện tại của mình mà đề ra chiến lược kinh doanh
để có thể tồn tại và phát triển bền vững. Đây cũng là lý do của việc nghiên cứu đề
tài “Dự báo những tác động cơ bản đến các doanh nghiệp thương mại khi Việt Nam
gia nhập WTO”. Đề tài rất có ý nghĩa khoa học và thực tiển để đóng góp vào hiệu
quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại nói riêng, nền kinh tế
Việt Nam nói chung cũng như vấn đề xã hội trong việc giải quyết công ăn việc làm
cho người lao động
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Nghiên cứ một cách có hệ thống về Tổ chức WTO và cơ chế điều hành của tổ
chức WTO
- Nghiên cứu những ưu đãi theo qui định của WTO dành cho các nước đang
phát triển như Việt Nam
- Nghiên cứu những kinh nghiệm đối phó những tác động của một số nước
thành viên WTO, các nước có điều kiện tương đồng như Việt Nam để rút ra bài học
cho Việt Nam
- Xác định sự cần thiết phải gia nhập WTO của Việt Nam
- Đánh gia tình hình hoạt động thương mại của Việt Nam và các doanh nghiệp
thương mại trước ngưỡng cửa gia nhập WTO
- Dự báo những tác động cơ bản đến các doanh nghiệp Việt Nam khi Việt Nam
gia nhập WTO
- Đề suất các kiến nghị, giải pháp để các doanh nghiệp thương mại tồn tại và
đứng vững khi Việt Nam gia nhập WTO

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài giới hạn trong phạm vi đối tượng ngiên cứu và thời gian nghiên cứu
* Về đối tương nghiên cứu
- Tổ chức thương mại thế giới WTO
- Trung Quốc
- Nhật Bản
- Việt Nam
- Các doanh nghiệp thương mại Việt Nam: là những doanh nghiệp chủ yếu
thực hiện các hoạt đọ6ng thương mại (thông qua các hoạt động mua bán trên thị
trường, doanh nghiệp thương mại vừa làm dịch vụ cho người bán, vừa làm dịch vụ
cho người mua và đáng ứng lợi ích của chính mình là có lợi nhuận)
* Về thời gian nghiên cứu
- WTO: từ thời điểm WTO kế thừa GATT trên cơ sở Hiệp định thành lập
WTO năm 1994
- Việt Nam: 2001-2004
- Các doanh nghiệp thương mại Việt Nam: từ 2000-2003
4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUNA ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ
ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Trong thời gian qua, đã có khá nhiều bài viết, tham luận ngắn (từ 3 đến 4
trang) đăng trên tạp chí hay phát biểu tạo một số hội thảo xoay quanh một số vấn đề
nâng cao năng lực các doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập,…Tuy nhiên, những
bài viết này chỉ nếu lên một số khía cạnh nhất định. Năm 2005, Nhà xuất bản Lao
động- Xã hội đã phát hành quyển sách “Nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh
nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả là TS. Nguyễn
Vĩnh Thanh. Đề tài này, như tên gọi của nó là nghiên cứu và đưa ra các giải pháp
nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại, nhưng không đi sâu nghiên
cứu những tác động thuận lợi vá không thuận lợi đến các doanh nghiệp khi Việt
Nam gia nhập WTO. Ngoài ra, cũng có hai đề tài của hai nhóm sinh viên thuộc
nhóm ngành Khoa Học Xã Hội tham gia giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu Khoa
học”, đó là “Giải pháp nâng cao tính cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam trong
tiến trình gia nhập WTO” thực hiện năm 2003 và đề tài “Thuận lợi và khó khăn của
doanh nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO- Những giải pháp đề ra” thực hiện năm
2004 nhưng cả hai đề tài này chưa hệ thống một cách đầy đủ những vấn đề liên
quan đến các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng
Luận văn này, có thể được xem là luận văn nghiên cứu một cách hệ thống khá
toàn diện đến tình hình của các doanh nghiệp thương mại và dự báo những tác động
cơ bản đến các doanh nghiệp thương mại khi Việt Nam gia nhập WTO. Từ những
góc nhìn nhận khác nhau trong nội dung của các tham luận, tham khảo các đề tài
trên, tác giả đã kế thừa những quan điểm thống nhất, thêm vào đó là những kinh
nghiệm đối phó những tác động cơ bản đến các doanh nghiệp thương mại của một
số nước thành viên WTO có đặc điểm kinh tế tương tự như Việt Nam và tiến trình
hội nhập của Việt Nam, đồng thời những quan điểm cam kết của Việt Nam khi gia
nhập WTO, tác giả đã tổng kết, phân tích, đánh giá để đưa ra cách nhìn tổng thể và
hoàn thiện nhằm đưa ra những kiến nghị, giảm pháp đối với Nhà nước và các doanh
nghiệp thương mại Việt Nam để các doanh nghiệp có thể chuẩn bị tốt, đối phó với
những vấn đề bất trắc và tận dụng cơ hội để có thể tồn tại và đứng vững trong bối
cảnh thời gian Việt Nam trở thành thành viên của WTO đã gần kề
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đề tài lấy quan điểm, đường lối chủ trương chính sách của Đảng Cộng Sản
Việt Nam về mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa và
đa dạng hoá làm kim chỉ nam cho phương pháp luận nghiên cứu của mình
- Đề tài tổng hợp những quan điểm, góc nhìn khác nhau của các tham luận;
nghiên cứu kinh nghiệm của một sớ nước có điều kiện tương đồng như Việt Nam và
tình hình hiện tại của các doanh nghiệp thương mại để sử dụng các phương pháp
phân tích, đánh giá và đi đến kết kết luận khoa học.

6. NỘI DUNG
Để thực hiện đực mục tiêu nghiên cứu, lau65n văn được cấu trúc thành 3
chương:




CHƯƠNG 1: WTO VÀ KINH NGHIỆM ĐỐI PHÓ NHỮNG TÁC ĐỘNG
CƠ BẢN ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI CỦA MỘT SỐ NƯỚC
THÀNH VIÊN WTO
Ở chưng này, tác giả trình bày tổng quan về WTO như lịch sử hình thành,
nguyên tắc hoạt động và kinh nghiệm đối phó những tác động của một số nước
thành viên WTO có điều kiện tương đồng như Việt Nam, từ đó luận văn rút ra bài
học cho việt nam và những ưu đãi mà WTO dành cho các nước đang phát triển như
Việt Nam
CHƯƠNG 2: DỰ BÀO NHỮNG TÁC ĐỘNG CƠ BẢN ĐẾN CÁC
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Nội dung chương này, tác giả trình bày sự cần thiết của việc gia nhập WTO,
tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam. Ngoài ra, luận văn cũng trình bày về tình
hình hoạt động thương mại của Việt Nam và các doanh nghiệp thương mại Việt
Nam, đánh giá những mặt còn tồn tại của các doanh nghiệp thương mại và dự báo
những tác động cơ bản đến các doanh nghiệp thương mại khi Việt Nam là thành
viên chính thức của WTO
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ CÁC DOANH
NGHIỆP TỒN TẠI VÀ ĐỨNG VỮNG KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Từ những thành tựu và các mặt tồn tại của các doanh nghiệp thương mại cũng
như dự báo những tác động thuận lợi và không thuận lợi đến các doanh nghiệp
thương mại khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, đồng thời dựa
vào quan điểm gai nhập WTO của Việt Nam, tác giả đưa ra một số kiến nghị, giải
pháp nhằm tận dụng thời cơ, hạn chế thách thức để Việt Nam nói chung và các
doanh nghiệp thương mại Việt Nam nói riêng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát
triển bền vững.







CHƯƠNG 1:TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VÀ
KINH NGHIỆM CỦA MỘT NƯỚC ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG
TÁC ĐỘNG KHI GIA NHẬP WTO

Nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam trong 10 năm gần đây
cho thấy rằng sự thành công kinh tế của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều ở mức độ
tham gia của Việt Nam vào nền kinh tế của khu vực và thế giới. Chính phủ Việt
Nam của nhận thấy sự cần thiết và lợi lích khi tham gia vào hệ thống thương mại
thế giới mà Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là tổ chức lớn nhất. Trước khi
chúng ta nghiên cứu về những tác động cơ bản đối với các doanh nghiệp thương
mại khi Việt Nam gia nhập WTO, trong chương này chúng ta sẽ nghiên cứu một số
vấn đề cơ bản sau:
- Tổ chức thương mại thế giới (WTO): Lịch sử hình thành, mục tiêu, chức
năng, các nguyên tắc cơ bản và một số ưu đãi mà WTO dành cho các nước đang
phát triển
- Kinh nghiệm đối phó với những tác động đến các doanh nghiệp thương mại
của một số nước và từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam
1.1 TỔNG QUAN VỀ WTO
1.1.1 Lịch sử hình thành WTO
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập và chính thức đi vào hoạt
động từ 1/1/1995, là kết quả của vòng đàm phán Uruguay kéo dài 8 năm (1986 –
1994). WTO ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thương mại thế giới trong
xu thế toàn cầu hoá và là sự kế thừa của Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại (GATT).
GATT được thành lập năm 1947 với 23 nước tham gia, cùng nhau xây dựng
các Hiệp định về thuế quan và thương mại. Hiệp định của GATT bắt đầu có hiệu
lực từ ngày 1/1/1948 và đến hết năm 1994. Từ khi ra đời đến khi chuyển sang
WTO, GATT đã thực hiện 8 vòng đàm phán thương mại lớn về mậu dịch và thuế
quan (xem phụ lục 1: Tóm tắt các vòng đàm phán của GATT). Các vòng đàm phán
càng về sau càng tăng cả về quy mô, thời gian, số nước tham gia và lĩnh vực đàm
phán nên GATT với tư cách là một sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang
tính chất tuỳ ý đã tỏ ra không thích hợp. Do đó ngày 15/4/1994 tại Marrakesh các
thành viên GATT đã ký ký Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp của GATT.
WTO là một thể chế pháp lý của hệ thống thương mại đa phương, WTO đưa ra
các nghĩa vụ có tính nguyên tắc để Chính phủ các nước thiết lập khuôn khỗ các luật
lệ và quy định thương mại trong nước phù hợp với nền thương mại thế giới.
Chỉ 10 năm sau khi thành lập đến nay WTO đã có tới 148 nước thành viên
chính thức, các thành viên WTO chiếm 85% tổng thương mại hàng hóa và 90%
thương mại dịch vụ toàn cầu.
Hiện nay WTO đang khởi động vòng đàm phán mới (Doha) nhằm tự do hóa
thương mại toàn cầu toàn diện và sâu sắc hơn. Lúc đó các nước muốn đàm phán gia
nhập WTO sẽ phải chịu những điều kiện ràng buộc cao hơn hiện nay. Vì vậy, nhiều
nước đang đẩy mạnh nhanh đàm phán để gia nhập trước khi Vòng đàm phán Doha
kết thúc.
* Sự khác biệt giữa WTO và GATT
- GATT là một loạt các quy định, Hiệp định đa biên mang tính tạm thời,
không có nền tảng về thể chế. Còn WTO với các Hiệp định của mình mang tính
thường trực lâu dài. Với tư cách là một tổ chức quốc tế, WTO có nền tảng pháp lý
vững chắc.
- Các quy định của GATT được áp dụng cho thương mại hàng hoá. Còn
WTO bao gồm thương mại hàng hoá, dịch vụ và các khía cạnh liên quan đến
thương mại như đầu tư, sở hữu trí tuệ.
- WTO có các thành viên còn GATT chỉ có các bên ký kết (vì GATT chỉ là
một Hiệp định)
- Cơ chế Giải quyết tranh chấp của WTO nhanh hơn so với cơ chế của
GATT. Nguyên tắc của GATT là phán quyết có hiệu lực khi được tất cả các thành
viên Đại hội đồng tán thành (đồng thuận), trong khi phán quyết của WTO chỉ vô
hiệu lực khi tất cả các thành viên đồng tình phản đối.




1.1.2 Mục tiêu hoạt động và chức năng của WTO
1.1.2.1 Mục tiêu hoạt động
WTO với tư cách là tổ chức thương mại của các nước trên thế giới, thực hiện
những mục tiêu trong lời nói đầu của Hiệp định GATT 1947. Cụ thể WTO có 3 mục
tiêu sau:
- Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế giới phục
vụ cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường .
- Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, Giải quyết các bất đồng và
tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khỗ của hệ thống
thương mại đa phương.
- Nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho người dân các nước thành
viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng.
1.1.2.2 Chức năng của WTO
- Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thoả thuận thương mại
đa phương, giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kinh tế cho các thành viên thực
hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế cho họ, đồng thời thụ hưởng các quyền lợi
được quy định trong các Hiệp định đa phương.
- Tổ chức các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khỗ WTO
theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng của WTO. WTO là diễn đàn để thông qua
đó, các quốc gia thành viên tiến hành đàm phán về những vấn đề được quy định
trong các Hiệp định thương mại đa phương và về các vấn đề thương mại quốc tế.
- WTO tiến hành Giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên liên
quan đến việc thực hiện và Giải thích Hiệp định của WTO và các Hiệp định thương
mại đa phương và nhiều bên.
- WTO lập ra cơ chế để xem xét, kiểm soát chính sách thương mại của các
quốc gia thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và
tuân thủ các quy định của WTO.
- WTO thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế- thương mại quốc tế
khác như Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới trong việc hoạch định những
chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển của kinh tế toàn cầu.

1.1.3 Những nguyên tắc hoạt động của WTO
1.1.3.1 Không phân biệt đối xử: Nguyên tắc này thể hiện qua hai quy chế
- Quy chế đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): là quy chế mỗi nước thuộc WTO
phải giành cho sản phẩm nhập khẩu từ một quốc gia thành viên khác đối xử không
kém ưu đãi hơn so với sản phẩm nhập khẩu từ một quốc gia thứ ba.
- Quy chế đối xử quốc gia (NT): Là quy chế mà mỗi nước thành viên WTO
không giành cho sản phẩm nội địa (do các doanh nghiệp trong nước sản xuất)
những ưu đãi hơn so với sản phẩm nước ngoài (sản phẩm nhập khẩu hoặc sản phẩm
do các doanh nghiệp có vốn nước ngoài sản xuất) về các lĩnh vực như ưu đãi về
thuế, các điều kiện vệ sinh, kinh doanh,…
1.1.3.2 Thương mại ngày càng thuận lợi, tự do hơn thông qua đàm phán
Với nguyên tắc này đòi hỏi mỗi nước phải xây dựng lộ trình các giảm thuế và
các biện pháp phi quan thuế theo thỏa thuận đã thông qua ở các vòng đàm phán
song phương và đa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hoá
thương mại. Trong trường hợp này, mỗi nước phải xây dựng môi trường cạnh tranh
lành mạnh, bình đẳng giữa các sản phẩm trong nước và sản phẩm nhập khẩu.
1.1.3.3 Xây dựng môi trường kinh doanh dễ dự đoán
Với nguyên tắc này chính phủ của các nước thành viên thuộc WTO không thay
đổi cơ chế chính sách kinh tế, trong đó có hàng rào thương mại một cách tuỳ tiện,
gây khó khăn cho các doanh nghiệp và nhà nhập khẩu trong việc thực hiện các
chính sách kinh doanh dài hạn của mình.
1.1.3.4 Tạo ta môi trường cạnh tranh bình đẳng
Với nguyên tắc này chính phủ ở các quốc gia thuộc WTO ngoài việc thực hiện
nghiêm chỉnh hai cơ chế MFN và NT thì còn phải giảm việc áp dụng các biện pháp
cạnh tranh không bình đẳng như: trợ giá, tài trợ xuất khẩu,…hoặc áp dụng các biện
pháp giành đặc quyền đặc lợi trong kinh doanh cho một nhóm doanh nghiệp.
1.1.3.5 Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi
WTO áp dụng nguyên tắc này thông qua các biện pháp:
- Giành ưu đãi về thuế nhập khẩu khi thâm nhập vào thị trường các nước
công nghiệp phát triển (GSP)
- Không phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của WTO như các nước công nghiệp
phát triển
- Thời gian quá độ để điều chỉnh chính sách kinh tế và thương mại phù hợp
với quy định của WTO dài hơn.
- Viện trợ về vốn kỹ thuật và bồi dưỡng nhân lực
- Cơ chế Giải quyết tranh chấp thương mại
1.1.4 Một số ưu đãi theo quy định của WTO dành cho các nước đang phát
triển
Từ nội dung nghiên cứu về Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ta rút một số
ưu đãi mà WTO dành cho các nước đang phát triển như Việt Nam như sau:
* Hiệp định thành lập WTO
Trong Hiệp định này, WTO đã thể hiện mục đích của WTO là thúc đẩy sự phát
triển về kinh tế- thương mại của tất cả các thành viên. Các nước kém phát triển nhất
chỉ gánh vác các nghĩa vụ tương ứng với trình độ phát triển kinh tế của mình, thông
qua việc viện trợ và bồi dưỡng kỹ thuật đối với các nước đang phát triển để tăng
cường khả năng tham gia vào thể chế thương mại đa bên và thu được những lợi ích
đó. Vì vậy WTO đã thiết lập Uỷ ban thươngmại và phát triển, Diễn đàn thương mại
và phát triển, Trung tâm thương mại quốc tế để cung cấp các dịch vụ cho các nước
kém phát triển nhất và các nước đang phát triển
* Hiệp định về thuế quan- thương mại năm 1994
Dựa vào những quy định ở điều 12 và khoản 2 điều 18 trong Hiệp định này,
nếu thành viên là các nước đang phát triển xuất hiện tình trạng mất cân đối cán cân
thanh toán quốc tế thì có thể áp dụng biện pháp hạn chế số lượng xuất, nhập khẩu.
* Hiệp định về tự vệ
Khi một loại hàng hoá nào đó nhập khẩu với số lượng lớn tạo ra những tổn hại
nghiêm trọng hoặc đe doạ nghiêm trọng đến ngành sản xuất sản phẩm tương tự
trong nước thì nước đó có thể thực thi các biện pháp tự vệ. Theo Hiệp định này,
WTO cho phép các nước thành viên được áp dụng các biện pháp tự vệ tối đa là 4
năm. Trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn 1 lần đối với các nước phát triển
thời gian không quá 4 năm tiếp theo và đối với các nước đang phát triển không quá
6 năm. Như vậy tổng thời gian mà nước đang phát triển có thể áp dụng là 10 năm
* Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SDM)
Các nước kém phát triển và các nước đang phát triển có thu nhập quốc dân
dưới 1000 USD không cần phải hủy bỏ trợ cấp xuất khẩu cấm sử dụng, các nước
đang phát triển khác thì có thể huỷ bỏ dần dần loại trợ cấp này trong khoảng thời
gian 8 năm.
* Hiệp định về các biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại
(TRIMs)
Hiệp định quy định, thời kỳ quá độ 2 năm đối với các nước phát triển, nhưng
đối với các nước đang phát triển là 5 năm và các nước kém phát triển là 7 năm. Sau
khi hết thời kỳ quá độ sẽ được quyết định thông qua kết quả của cuộc đàm phán
* Hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu (ILP)
Theo Hiệp định này, các nước đang phát triển có thể kéo dài thời hạn 2 năm về
giấp phép tự động có liên quan trong trình tự cấp phép nhập khẩu
* Hiệp định về trị giá hải quan (CVA)
Thời kỳ quá độ mà các nước đang phát triển thực hiện Hiệp định này là 5 năm.
Hiệp định cũng yêu cầu các nước phát triển cung cấp viện trợ về kỹ thuật và bồi
dưỡng nhân viên cho các nước đang phát triển và các nước kém phát triển
* Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)
Các nước đang phát triển cũng có thể dựa vào tình hình kỹ thuật và kinh tế- xã
hội của mình để định ra những pháp quy, tiêu chuẩn và trình tự đánh giá đạt tiêu
chuẩn về kỹ thuật nào đó, mục đích là nhằm duy trì kỹ thuật, phương pháp sản xuất
và công nghệ tại chỗ sao cho thống nhất với những yêu cầu cần có cho sự phát triển
của họ. Các nước thành viên không được yêu cầu các nước đang phát triển áp dụng
tiêu chuẩn quốc tế không phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế thương mại của họ
* Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS)
Các nước phát triển không đựơc dùng các biện pháp kiểm dịch vệ sinh và động
thực vật để hạn chế việc xuất khẩu hàng hoá của các nước đang phát triển, phải cho
phép họ kéo dài thời kỳ quá độ
* Hiệp định về nông nghiệp
- Các nước đang phát tiển có thời kỳ quá độ là 8 năm đối với việc trợ cấp
xuất khẩu nông sản phẩm
- Các nước phát triển phải xem xét đến những nhu cầu và điều kiện đặc biệt
của các nước đang phát triển để tạo cơ hội và điều kiện thương mại cho các nông
sản phẩm đưa thâm nhập vào thị trường của các nước phát triển
* Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)
- Các nước phát triển giúp đở các nước đang phát triển trong điều kiện
thương mại của họ mà không có đòi hỏi một sự đáp lại nào về sự nhượng bộ của các
nước đang phát triển trong thương lượng
- Các nước phát triển đưa ra một cở sở pháp lý vĩnh viễn cho sự nhượng bộ
thâm nhập thị trường của các nước này đối với các nước đang phát triển theo hệ
thống ưu đãi phỗ cập (GSP)
- Các nước đang phát triển thực hiện mở rộng từng bước thị trường dịch vụ-
thương mại, đồng thời thực hiện chính sách trợ cấp và bảo hộ ở mức độ nhất định
đối với ngành dịch vụ hay áp dụng các biện pháp bảo hộ nếu có những tổn thất
nghiêm trọng khi ngành dịch vụ nước ngoài xâm nhập vào ồ ạt
Ngoài ra, trong cơ chế đánh giá, xem xét các chính sách thương mại đều quy
định việc miễn giảm nghĩa vụ tới mức thấp nhất cho các nước đang phát triển và các
nước kém phát triển, các nước phát triển phải cố gắng và nổ lực tăng viện trợ về kỹ
thuật và bồi dưỡng nhân viên, tăng cường khả năng sử dụng thể chế mậu dịch đa
bên cho các nước đang phát triển, thúc đẩy sự phát triển kinh tế các nước này.
Trong cơ chế Giải quyết tranh chấp thương mại của WTO, Cơ quan giải quyết
tranh chấp của WTO (DSB) đã dành một số ưu đãi cho các nước đang phát triển khi
sử dụng cơ chế này như:
- Các nước đang phát triển có thể yêu cầu Tổng Giám đốc WTO làm trung
gian hoà Giải trong trường hợp có tranh chấp với các nước phát triển
- Trong thành phần của nhóm chuyên gia nhất thiết phải có một thành viên là
công dân của một nước đang phát triển, trừ khi nước đang phát triển có liên quan
không yêu cầu như vậy
- Thời gian để Giải quyết tranh chấp với các nước đang phát triển có thể
được kéo dài hơn so với quy định chung
- Các nước phát triển cần có Thái độ kiềm chế khi áp dụng các biện pháp trả
đũa đối với bên thua kiện là nước đang phát triển
1.2 KINH NGHIỆM ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG CƠ BẢN CỦA
MỘT SỐ QUỐC GIA KHI GIA NHẬP WTO
Trong phần này đề tài sẽ nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước đã đạt được
thành công đáng kể trong việc có những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp nói
chung và các doanh nghiệp thương mại nói riêng đối phó với những tác động cơ bản
khi hội nhập kinh tế quốc tế cũng như gia nhập WTO. Nguyên nhân để tác giả chọn
lọc nghiên cứu kim nghiệm của Trung Quốc và Nhật Bản là vì:
- Trung Quốc định hướng theo con đường xã hội chủ nghĩa; Trung Quốc
cũng đã có thời kỳ theo nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và hiện nay đang tích
cực trong việc chuyễn đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trường đồng thời các nước phát triển, cụ thể là Mỹ vẫn chưa thừa nhận Trung Quốc
có nền kinh tế thị trường; mặt khác nước ta có hơn ngàn năm bị Trung Quốc đô hộ
nên cũng đã bị ảnh hưởng ít, nhiều về phong tục tập quán, văn hóa, xã hội. Do đó,
hai nước Việt Nam và Trung Quốc tình hình đất nước tương tự giống nhau, cùng
chung một ý tưởng và mục tiêu phát triển, nên có nhiều kinh nghiệm có thể tham
khảo lẫn nhau
- Nhật Bản đã từng là nước có nền kinh tế nông nghiệp, phong kiến lạc hậu
và kép mình hàng ngàn năm. Từ giữa những năm 80, Nhật Bản đã từng bước mở
cửa và hội nhập với bên ngoài. Thực tế đã chứng minh, Nhật Bản đã có những bước
đi khôn khéo và đúng đắn phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế lúc đó để mở
cửa và hội nhập thành công, từ một nước không còn gì để mất sau chiến tranh thế
giới lần thứ hai trở thành một nước có tất cả, thậm chí còn vượt qua cường quốc
phát triển khác. Từ những kinh nghiệm có tính đột phá của Nhật Bản, chúng ta
nghiên cứu, tham khảo, kết hợp với tình hình kinh tế trong nước mà có thể rút ra bài
học cho Việt Nam
1.2.1 Trung Quốc
1.2.1.1 Tận dụng những tác động thuận lợi của việc gia nhập WTO
* Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thương mại tiếp cận nguồn vốn đầu
tư, tiếp thu trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến
Để các doanh nghiệp thương mại có điều kiện thuận lợi tiếp cận nguồn vốn
đầu tư, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước trên thế
giới. Trung Quốc đã thành lập các đặc khu kinh tế. Đặc khu kinh tế là vùng đất
được khoanh lại trong một quốc gia hay khu vực, hưởng các chính sách và chế độ
ưu đãi đặc biệt trong quy định hiến pháp và pháp luật
Các đặc khu kinh tế Trung Quốc đảm nhận chức năng là “cửa sổ” giao lưu với
thế giới trong các lĩnh vực thu hút vốn đầu tư, du nhập công nghệ kỹ thuật hiện đại,
tiếp thu kinh nghiệm và phương pháp quản lý tiên tiến của nước ngoài, mở rộng
buôn bán mậu dịch và hợp tác văn hoá khoa học,…Điều này, giúp cho các doanh
nghiệp thương mại có điều kiện tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiến tiến để nâng cao
hiệu quả hoạt động trong kinh doanh, đặt biệt là có được nguồn hàng chất lượng sản
phẩm cao, giá thành hạ từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
thương mại trên thị trường thế giới
Trung Quốc chủ trương trao quyền tự chủ cao cho chính quyền và các doanh
nghiệp thương mại ở đặc khu kinh tế. Chính quyền đặc khu có quyền ban hành các
quy chế mang tính pháp quy, phù hợp với tình hình và nhu cầu phát triển cụ thể; tự
xem xét, phê duyệt một số hạng mục, dự án đầu tư kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ
thuật mà không cần báo cáo lên trên, miễn là sự phê duyệt không trái với Hiến
pháp, pháp luật đã được ban hành. Tương tự, các doanh nghiệp thương mại trong
đặc khu cũng có được quyền tự chủ cao, không chịu sự trực tiếp của chính quyền
trong quá trình vận hành. Theo đó, chủ các doanh nghiệp thương mại hoàn toàn chủ
động, tự quyết định phương thức kinh doanh, quản lý nhân công, điều hành nguồn
vốn và tự chịu lãi về các hạng mục kinh doanh của mình. Đây là bước đột phá trong
việc cải cách, đổi mới cơ chế quản lý của Trung Quốc theo hướng rộng mở hơn.
Với những quy chế thông thoáng đó, việc sớm hình thành các đặc khu kinh tế đã
tạo ra nơi tập đợt cho các doanh nghiệp thương mại tăng khả năng cạnh tranh để
chuẩn bị vho việc gia nhập WTO của Trung Quốc vào năm 2002.
Những thành công mà các đặc khu kinh tế gặt hái trong quá trình giao lưu và
mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế theo phương châm đa phương hoá, đa dạng hoá,
có thể khẳng định rằng đặc khu kinh tế Trung Quốc là một mô hình hướng ngoại
hiệu quả, góp phần quan trọng vào mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế nhất là việc gia
nhập WTO.
* Hỗ trợ cho các doanh nghiệp thương mại mở rộng thị trường, tăng
cường xuất khẩu hàng hoá ra thị trường thế giới
- Trung Quốc khuyến khích các hình thức liên doanh liên kết với nước ngoài
để tăng năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp thương mại
- Trung Quốc đặc biệt chú trọng dịch vụ xúc tiến xuất khẩu, đẩy mạnh đào
tạo, học tập kinh nghiệm quản lý, nâng cao trình độ thương mại quốc tế không
những các doanh nghiệp thương mại kinh doanh tại Trung Quốc mà còn các doanh
nghiệp thương mại Trung Quốc đang hoạt động kinh doanh tại nước ngoài
- Tạo dựng vào hoàn thiện hệ thống hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp
thương mại bằng chích sách như: cân bằng thu chi quốc tế, tỷ giá hối đoái hợp lý,
chế độ cắt giảm và hoàn thuế hợp lý, lập quỹ khai thác thị trường nước ngoài và quỹ
rủi ro, bảo hiểm và tái bảo hiểm xuất khẩu, đảm bảo tín dụng bên mua và bên bán
- Hỗ trợ cho các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và
nhỏ vượt qua các rào cản kỹ thuật của các nước nhập khẩu như Chính phủ tăng
cường quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới để được hưởng những nhượng bộ
trong buôn bán, đồng thời nghiên cứu kỹ các hàng rào bảo hộ ngày càng tinh vi của
các nước để tư vấn và hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại tìm cách đối phó.
1.2.1.2 Đối phó những tác động không thuận lợi
* Đối phó những tác động không thuận lợi đến các doanh nghiệp thương
mại từ việc cắt giảm thuế quan, tiến tới bải bỏ các rào cản thương mại phi thuế
quan khi gia nhập WTO
Gia nhập WTO, Trung Quốc phải cam kết cắt giảm thuế quan, tiến đến xoá bỏ
các rào cản thương mại phi thuế, tăng hạn ngạch nhập khẩu, xóa bỏ trợ cấp, ưu đãi
của Chính phủ. Chẳng hạn như cam kết của Trung Quốc đối với lĩnh vưc nông
nghiệp là giảm thuế quan nhập khẩu hàng nông sản từ mức bình quân 19,9% năm
2001, xuống 15,1% vào năm 2008, tăng hạn ngạch nhập khẩu nhiều mặt hàng quan
trọng. Điều này, dẫn đến nguy cơ cho các ngành sản xuất trong nước, từ đó tác động
không thuận lợi đến đầu vào của các doanh nghiệp thương mại như nguồn hàng
cung cấp không ổn định, chi phí kinh doanh tăng (cụ thể là giá vốn hàng bán), dẫn
đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại không ổn định và giảm
sức cạnh tranh về giá sản phẩm của các doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh
Ngoài ra, các doanh nghiệp thương mại trong nước có gặp nhiều khó khăn
trong việc xuất hiện ngày càng nhiều các đối thủ cạnh tranh ngay trên sân nhà dẫn
đến một số doanh nghiệp thương mại có nguy cơ phá sản hoặc mất thị phần của
mình trên thị trường nội địa. Trước những tác động không thuận lợi từ việc gia nhập
WTO, Chính phủ Trung Quốc đã có những biện pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp
thương mại thông qua việc hỗ trợ các ngành sản xuất trong nước phát triển.
- Trung Quốc hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại kinh doanh các mặt hàng
nông sản thông qua các biện pháp hỗ trợ ngành nông nghiệp trong nước phát triển
như: tăng cường đầu tư khoa học kỹ thuật, đầu tư vốn cho sản xuất lương thực, đào
tạo nguồn nhân lực phụ vụ trong nông nghiệp, tạo ra những loại giống mới, cải tiến
các loại giống truyền thống; đầu tư cho cơ sở hạ tầng để cải thiện tình hình thuỷ lợi;
đầu tư cho máy móc nông nghiệp, nâng cao chất lượng và tăng năng suất và hạ giá
thành sản phẩm. Tuy nhiên, những trợ cấp đó phải nằm trong phạm vi cho phép của
WTO. (theo cam kết của Trung Quốc khi gian nhập WTO, trợ cấp cho nông nghiệp
Trung Quốc có thể đạt 8,5% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp)
- Trung Quốc hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại kinh doanh các mặt hàng
công nghiệp chế tạo thông qua các biện pháp hỗ trợ ngành công nghiệp trong nước
phát triển như:
+ Tăng đầu tư cho khoa học công nghệ, tạo ra nhiều sản phẩm mới, cải tạo sản
phẩm truyền thống, không ngừng điều chỉnh hợp lý cơ cấu sản phẩm, tăng cường
khả năng cạnh tranh quốc tế cho các sản phẩm.
+ Chuyển đổi biện pháp bảo hộ công nghiệp. Sau khi gia nhập WTO, thuế
quan được giảm mạnh, hạn ngạch, giấy phép cũng được xoá bỏ triệt để, các biện
pháp phi thuế quan khác cũng chỉ áp dụng hạn chế trong phạm vi rất hẹp. Do đó,
Trung Quốc đã thay đổi các biện pháp bảo hộ mới, chủ yếu là áp dụng tiêu chuẩn
công nghệ và tiêu chuẩn môi trường nhằm ngăn chặn những sản phẩm gây ô nhiễm
nghiêm trọng, sản phẩm có chất lượng thấp,…thâm nhập vào thị trường trong nước
* Cải cách các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các doanh nghiệp
thương mại nhà nước nói riêng theo hướng nâng cao nội lực cho doanh nghiệp
để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường hoạt động kinh doanh ngày
càng gay gắt khi gia nhập WIO
Trung Quốc thực hiện việc cải cách cách doanh nghiệp nhà nước theo chủ
trương “nắm chắc lớn, buông lỏng nhỏ” đã thu được một số thành tựu khả quan,
năm 1998 số doanh nghiệp nhà nước đã giảm 40.000 doanh nghiệp so với trước đó
(chủ yếu do sáp nhập, phá sản hoặc giải thể), số doanh nghiệp giảm còn 238.000,
trong đó doanh nghiệp loại lớn tăng 2%, doanh nghiệp loại vừa giảm 12,6%, doanh
nghiệp loại nhỏ giảm 8,9% so với năm 1997
5
.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng đẩy mạnh cải cách động bộ tập trung chủ yếu ở
bốn lĩnh vực sau:
- Thực hiện những cải cách hành chính nhằm chuyển biến chức năng của
Chính phủ. Tách chức năng quản lí hành chính đối với tài sản Nhà nước ra khỏi
chức năng kinh doanh tài sản Nhà nước của Chính phủ, xây dựng và hoàn thiện hệ
thống kinh doanh tài sản Nhà nước.
- Thúc đẩy và pháp luật hoá việc lưu động và chuyển nhượng quyền tài sản,
đẩy mạnh việc lưu thông và tổ chức lại tài sản Nhà nước, làm tốt việc điều chỉnh tài
sàn tồn đọng, nâng cao hiệu quả và hiệu suất vận hành tài sản Nhà nước
- Đẩy mạnh việc xây dựng thị trường các yếu tố, đặc biệt là đẩy mạnh cải cách
thể chế tài chính, thúc đẩy việc thương mại hoá các ngân hàng
- Xây dựng và hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội, làm cho cải cách doanh
nghiệp tiến hành động bộ với cải cách xây dựng chế độ bảo hiểm
Công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc mang đặc điểm cơ
bản là phát huy tính chủ động của các doanh nghiệp, tránh tình trạng doanh nghiệp
“đợi chờ, dựa dẫm, ỷ lại” vào Chính phủ. Điều này, giúp cho các doanh nghiệp nhà
nước nói chung và các doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng có thể chủ
động, tự điều tiết chiến lược, phương thức kinh doanh của mình kịp thời trước
những diễn biến của thị trường, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong môi
trường cạnh tranh gay gắt khi gia nhập WTO
1.2.2 Nhật Bản
1.2.2.1 Tận dụng những tác động thuận lợi mở cửa thị trường xuất khẩu khi
gia nhập WTO
Nhật Bản tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại đẩy mạnh xúc tiến
xuất khẩu hàng hoá ra thị trường nước ngoài
- Nhật Bản thành lập JETRO để hỗ trợ cho các doanh nghiệp thương mại đẩy
mạnh xuất khẩu hàng hoá, JETRO là một tổ chức chuyên môn của Nhật Bản để
thực thi các chính sách thường mại nhằm xúc tiến xuất khẩu và các dịch vụ hỗ trợ
xuất khẩu. Đội ngũ cán bộ của JETRO có kiến thức rất rộng về thương mại và kinh
doanh, có kinh nghiệm thực tế, có quan hệ chặt chẽ với các ngành và lĩnh vực liên
quan trong việc xúc tiến xuất khẩu và các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu.
- Với hệ thống kiểm tra xuất khẩu của Nhật Bản đã đóng góp rất lớn vào việc
cải thiện hình ảnh, chất lượng hàng hoá xuất khẩu Nhật Bản, từ đó nâng cao uy tín
cho các doanh nghiệp thương mại Nhật Bản trên thị trường thế giới (đã có những
thời kỳ trên cả thị trường Châu Á và Châu Âu đều biết đến hàng Nhật, tạo nên hội
chứng được mua và sử dụng hàng “ Made in Japan”. Hệ thống kiểm tra xuất khẩu
bao gồm 37 cơ quan kiểm tra có thẩm quyền, tiến hành các hoạt động: kiểm tra chất
lượng hoặc kiểm tra phần cơ bản của sản phẩm; kiểm tra đóng gói bao bì; kiểm tra
nguyên liệu chế tạo sản phẩm,…
- Nhật Bản cho phép thành lập cơ quan phi chính phủ hoạt động xúc tiến
tương mại- xuất khẩu, bao gồm hai nhóm:
+ Nhóm 1 là liên minh các doanh nghiệp thương mại và các tổ chức kinh tế
Nhật Bản. Chúng hoạt động phi lợi nhuận dựa trên cơ sở hội phí của các thành viên.
Tổ chức này có quy mô lớn, bao gồm cả Viện nghiên cứu, các Quỹ hợp tác phát
triển, chúng còn có thể đấu tranh, gây ảnh hưởng tới Chính phủ về định hướng
chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp thương mại
+ Nhóm 2 gồm các Phòng thương mại và công nghiệp, các hiệp hội ngành.
Chúng hoạt động trên cơ sở hội phí và lệ phí dịch vụ
1.2.2.2 Đối phó những tác động không thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt
động kinh trong môi trường cạnh tranh gay gắt
Để hạn chế những tổn thất cho các doanh nghiệp thương mại hoạt động trong
môi trường cạnh tranh gay gắt khi hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và gia nhập
WTO nói riêng, Nhật Bản đã khuyến khích các doanh nghiệp thương mại liên kết
lại tạo thành một tập đoàn thương mại lớn, cạnh tranh lại các đối thủ mạnh trên thị
trường thế giới cũng trên sân nhà
Tập đoàn thương mại là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay
những ngành khác nhau ở phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một
“công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo chi phối hoạt động của các “công ty con” về mặt
tài chính và chiến lược phát triển
Tập đoàn thương mại là có quy mô lớn về vốn, lao động, doanh thu, và thị
phần. Họat động chủ yếu của tập đoàn thương mại là kinh doanh xuất nhập khẩu;
phân phối bán buôn, bán lẻ trong nước; buôn bán giữa các nước ở thị trường thế
giới và hoạt động đầu tư nhằm mục đích thương mại, chẳng hạn tập đoàn thương
mại Mitsui & Co của Nhật Bản,.…
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Những kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia trên đều cần thiết nghiên cứu
và tham khảo, tuy nhiên việc vận dụng kinh nghiệm nào còn tùy thuộc vào điều kiện
cụ thể của đất nước. Nhưng về cơ bản trong điều kiện hiện nay, chúng ta cần chú ý
một số kinh nghiệm như sau:
- Kinh nghiệm 1: hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại tiếp thu những khoa
học công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tiếp cận các nguồn vốn ở
nước ngoài dưới hình thức liên doanh, liên kết,…khi hội nhập kinh tế quốc tế cũng
như khi gia nhập WTO của Trung Quốc bằng việc thành lập các đặc khu kinh tế
- Kinh nghiệm 2: hỗ trợ cho các doanh nghiệp thương mại tăng cường mở
rộng thị trường xuất khẩu ở Trung Quốc như: khuyến khích các hình thức liên
doanh liên kết với nước ngoài, đẩy mạnh đào tạo, học tập kinh nghiệm quản lý,
nâng cao trình độ thương mại quốc tế cho các lãnh đạo doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh trong và ngoài nước, hỗ trợ tín dụng cho xuất khẩu, …
- Kinh nghiệm 3: đối phó với những tác động không thuận lợi đến các
doanh nghiệp thương mại khi Chính phủ thực thiện các cam kết cắt giảm thuế quan,
tiến tới xóa bỏ các rào cản thương mại quốc tế, loại bỏ dần những trợ cấp khi gia
nhập WTO của Trung Quốc, bằng việc hỗ trợ, đầu tư các ngành sản xuất trong nước
phát huy tiềm năng và phát triển bền vững
- Kinh nghiêm 4: cải cách các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các
doanh nghiệp thương mại nhà nước nói riêng theo hướng phát huy nội lực cho các
doanh nghiệp, tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt
khi gia nhập WTO ở Trung Quốc bằng cách nâng cao tính chủ động của các doanh
nghiệp để các doanh nghiệp có các biện pháp cải cách thích hợp, tự điều tiết chiến
lược, phương thức kinh doanh của mình kịp thời trước những diễn biến của thị
trường.
- Kinh nghiệm 5: nâng cao sức mạnh tổng hợp cho các doanh nghiệp thương
mại ở Nhật Bản bằng cách thành lập các tập đoàn thương mại có quy mô lớn phát
triển bền vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt khi Việt Nam gia nhập WTO

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một thể chế pháp lý của hệ thống
thương mại đa phương. WTO đưa ra các nghĩa vụ có tính nguyên tắc để Chính phủ
các nước thiết lập khuôn khỗ, các luật lệ và quy định thương mại trong nước phù
hợp với nền thương mại thế giới. WTO là nền tảng của tiến trình phát triển các quan
hệ thương mại giữa các nước thông qua các cuộc thảo luận, thương lượng đàm phán
song phương và đa phương
Thành công của vòng đàm phán Uruguay rõ ràng WTO đã có vai trò tích cực
thúc đẩy tốc độ tăng trưởng toàn cầu hoá kinh tế về thương mại, đầu tư chiếm 95%
thương mại thế giới. Ngoài ra, WTO cho phép các thành viên áp dụng hệ thống các
hiệp định, điều khoản dựa trên tình hình đặc điểm riêng của nước mình nhằm bảo
hộ sản phẩm sản xuất trong nước. Do vậy, các thành viên căn cứ vào tình hình phát
triển và năng lực cạnh tranh của mình để thực hiện từng bước tự do hóa, cung cấp
cho các ngành trong các nước thành viên cơ hội điều chỉnh cơ cấu. Điều này lý giải
vì sao các nước phát triển và đang phát triển trong WTO vẫn còn giữ mức thuế quan
và các biện pháp phi quan thuế ở một mức nhất định hoặc mở cửa thị trường hàng
hoá dịch vụ bị hạn chế. Mức độ mở cửa thị trường hàng hoá dịch vụ giữa các thành
viên WTO có sự khác biệt tương đối lớn, các nước phát triển có mức độ tự do hoá
hơn so với các nước đang phát triển.
Việt Nam gia nhập WTO tương đối trễ khi số thành viên của tổ chức này đã
lên đến 148 nước, đó là một thiệt thòi lớn của Việt Nam. Tuy nhiên đó cũng chính
là một lợi thế cho các quốc gia nhập trễ như Việt Nam khi được thừa hưởng những
kinh nghiệm đi trước để lại trong việc đối phó với những tác động khi gia nhập
WTO, đặc biệt là kinh nghiệm của những nước có điều kiện kinh tế như Việt Nam.
Chẳng hạn như Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm đối phó những tác động cơ
bản đến các doanh nghiệp thương mại khi gia nhập WTO của Trung Quốc và Nhật
Bản về các vấn đề như hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại trong việc tiếp thu kinh
nghiệm quản lý tiên tiến, tăng cường mở rộng thị trường xuất khẩu, đối phó những
tác động không thuận lợi đến các doanh nghiệp thương mại khi Chính phủ cam kết
cắt giảm thuế quan và tiến dần bãi bỏ rào cản phi thuế, về cải cách các doanh nghiệp
thương mại Nhà nước của Trung Quốc và biện pháp nâng cao sức mạnh tổng hợp
cho các doanh nghiệp thương mại ở Nhật Bản.
Với xu hướng hiện nay, Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO vì
WTO đang khởi động vòng đàm phán mới (Doha) nhằm tự do hóa thương mại toàn
cầu toàn diện và sâu sắc hơn, lúc đó các nước đàm phán gia nhập sẽ phải chịu
những điều kiện cao hơn hiện tại (WTO +). Vì vậy, nhiều nước đang đẩy nhanh
đàm phán để gia nhập trước khi vòng Doha kết thúc.













CHƯƠNG 2:
DỰ BÁO NHỮNG TÁC ĐỘNG CƠ BẢN ĐẾN CÁC DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

Để xác định được những tác động đến các doanh nghiệp thương mại khi Việt
Nam gia nhập WTO, chúng ta cần đánh giá thực trạng của các doanh nghiệp mà nội
dung cụ thể được giải quyết trong chương này như:
- Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam
- Tình hình thương mại Việt Nam và các doanh nghiệp thương mại trước
ngưỡng cửa gia nhập WTO
- Dự báo những tác động cơ bản đến của Doanh nghiệp Thương mại khi Việt
Nam gia nhập WTO
2.1 TIẾN TRÌNH GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM
2.1.1 Việt Nam gia nhập WTO - sự cần thiết và đòi hỏi khách quan
Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là nhiệm vụ quan trọng nhất của
Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong thời gian qua thực hiện
chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong hợp
tác đa phương và song phương đã đem lại những điều kiện thuận lợi để phát triển
kinh tế đất nước như mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ tiên tiến, giải quyết các vấn đề xã
hội
Tuy nhiên, trên thực tế Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO nên gặp
nhiều khó khăn bất lợi trong quan hệ kinh tế quốc tế, giải quyết những tranh chấp
thương mại, chưa được hưởng quyền lợi đầy đủ về kinh tế, thương mại của một
thành viên WTO. Từ vụ kiện cá tra, cá basa, vụ kiện tôm của Hoa Kỳ và các nước
EU và gần đây là tình trạng tranh chấp thương hiệu đang đặt ra nhiều vấn đề cho
các nhà sản xuất và quản lý kinh tế. Do vậy việc gia nhập WTO đang là đòi hỏi cấp
bách hiện nay, vấn đề này đã được đề cập trong văn kiện Đại hội IX của Đảng,
“Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương đa dạng hóa,
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện những cam kết trong quan hệ song
phương và đa phương như AFTA, BTA tiến tới gia nhập WTO”.
2.1.2 Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam: (6 giai đoạn)
* Giai đoạn 1: Nộp đơn xin gia nhập
Tháng 1-1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập tổ chức WTO.
* Giai đoạn 2: Gởi "Bị vong lục về chế độ ngoại thương của Việt Nam"
đến Ban Thư Ký của WTO.
Tháng 9/1996 Việt Nam đã nộp “ Bị vong lục về Chế độ ngoại thương của
Việt Nam” cho Ban Thư Ký giới thiệu tổng quan về nền kinh tế, các chính sách
kinh tế vĩ mô, cơ sở hoạch định và thực thi chính sách, các thông tin chi tiết về
chính sách liên quan đến thương mại hàng hóa, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ
* Giai đoạn 3: Minh bạch hoá chính sách thương mại
Việt Nam đã trả lời nhiều câu hỏi của các thành viên WTO nhằm làm rõ nội
dung chính sách, bộ máy quản lý và thực thi chính sách của Việt Nam đồng thời
cung cấp nhiều thông tin khác theo các mẫu biểu do WTO quy định về hỗ trợ, trợ
cấp trong công nông nghiệp, các doanh nghiệp có đặc quyền, các biện pháp đầu tư
không phù hợp với qui định của WTO, thủ tục hải quan, hệ thống tiêu chuẩn kỹ
thuật vệ sinh dịch tễ,...
Đến nay, Ban Công tác đã tổ chức 10 phiên họp (7/1998, 12/1998, 7/1999,
11/2000, 4/2002, 5/2003, 10/2003, 6/2004, 12/2004, 9/2005) tại trụ sở WTO
(Geneva, Thụy Sỹ) để đánh giá tình hình chuẩn bị của Việt Nam và để việt Nam có
thể trực tiếp giải thích chính sách. Đến nay hai phía đã cơ bản kết thúc giai đoạn
làm rõ chính sách chuyển sang đàm phán đa phương các điều kiện và điều khoản
gia nhập của Việt Nam (gồm các cam kết tuân thủ các luật lệ và các nguyên tắc của
WTO khi gia nhập và các giai đoạn quá độ để tiến hành các Cải cách về thể chế và
luật pháp theo các cam kết này).
* Giai đoạn 4: Đưa ra các bản chào ban đầu và tiến hành đàm phán song
phương
Từ tháng 1/2002, Việt Nam đưa ra các bản chào ban đầu về thuế về lộ trình
loại bỏ các hàng rào phi thuế, về mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ,...để tiến
hành đàm phán với từng nước thành viên quan tâm đến thị trường Việt Nam. Đến
nay, Việt Nam đã hoàn tất đàm phán song phương với 21 đối tác, trong đó đối tác
thứ 21 là Paragoay mới chỉ vừa kết thúc đàm phán với Vịêt Nam một ngày trước
phiên họp thứ 10.
Tại phiên họp thứ 10, Chủ tịch Ban công tác gia nhập WTO của Việt Nam
(Ông Eirich Glenne) kết luận, Việt Nam đã có những nỗ lực lớn trong Cải tổ hệ
thống pháp luật trong nước cho phù hợp với các quy định của WTO, đặc biệt là
những nỗ lực của Việt Nam trong đàm phán song phương. Chỉ tính riêng trong năm
2005, Việt Nam đã kết thúc đàm phán với 16 đối tác, trong đó có những đối tác rất
quan trọng như Trung Quốc và Nhật Bản. Ông Eirich Glenne cho biết, việc quyết
định tổ chức phiên họp thứ 11 vào thời điểm nào là phụ thuộc vào kết quả đàm phán
song phương của Việt Nam và Mỹ.
Hiện nay, Việt Nam ở giai đoạn 4 của tiến trình gia nhập WTO. Chúng ta đã
kết thúc đàm phán song phương với 21/27 đối tác, trong 6 đối tác còn lạ thì Hoa Kỳ,
Australia và New Zealand vẫn còn nhiều vấn đề cần phải đàm phán. Với sự nổ lực
của Chính Phủ và các cơ quan ban ngành có liên quan, chúng ta có quyền tin rằng
Việt Nam sẽ gia nhập WTO trước khi Vòng đàm phán Doha kết thúc.
* Giai đoạn 5: Hoàn thành Nghị định thư gia nhập (chưa tiến hành)
Một Nghị định thư nêu rõ các nghĩa vụ của Việt Nam khi trở thành thành viên
của WTO sẽ được hoàn tất dựa trên các thỏa thuận đã đạt được sau các cuộc đàm
phán song phương, đa phương
* Giai đoạn 6: Phê chuẩn Nghị định thư
30 ngày sau khi Chủ tích nước hoặc Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư, Việt
Nam chính thức trở thành thành viên của WTO
2.2 TÌNH HÌNH CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRƯỚC NGƯỠNG
CỬA VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
2.2.1 Khái quát hoạt động thương mại Việt Nam trước ngưỡng của hội nhập
WTO
2.2.1.1 Tình hình xuất nhập khẩu
Dưới tác động của công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế của Việt Nam, bối
cảnh quốc tế, ngoại thương của Việt Nam trong những năm qua đạt những thành
tựu to lớn trên nhiều mặt, trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Việt Nam.
* Về xuất khẩu
- Quy mô tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ngày gia tăng (Phụ lục 2). Kim ngạch
xuất khẩu năm 2004 đạt 26,5 tỷ USD, tăng 31,4%, đây là mức tăng cao nhất kể từ
năm 1997.
- Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng năm 2004 tăng do cả 2 yếu tố là
lượng tăng và giá tăng, điều mà không phải năm nào cũng có được, bởi vì có nhiều
năm lượng tăng thì giá giảm, giá tăng thì lượng giảm. Những mặt hàng có thống kê
được về lượng (có thể công lượng được với nhau) đã tăng cả về giá và lượngnhư
than đá, gạo, cao su,…còn nhiều sản phẩm lượng giảm nhưng giá tăng khá như dầu
thô, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, chè,…
- Thị trường xuất khẩu được mở rộng hơn. Các thị trừơng xuất khẩu trọng
điểm đều đạt được mức tăng cao như EU tăng gần 34%, Nhật Bản tăng 20%, Hoa
Kỳ tăng 27%,…song song, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh việc đa dạng hoá thị trường,
hàng trăn chủng loại hàng xuất khẩu đã vào được các thị trường mới, giảm dần xuất
khẩu qua thị trường trung gian (xuất khẩu vào Châu á và ASEAN chiếm tỷ trọng từ
60,5% và 17% năm 2001 giảm xuống còn 47,7% và 13,9% năm 2004)1.
Bên cạnh những điểm nội bật xuất khẩu, nước ta vẫn còn những hạn chế nhất
định:
- Cơ cấu xuất khẩu còn phụ thuộc lớn vào một số ít mặt hàng. Tính riêng 6
mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên là dầu thô, dệt may, giày dép,
thuỷ sản, điện tử và linh kiện máy tính, sản phẫm gỗ đã chiếm 66% tổng kim ngạch
xuất khẩu. Việc xuất khẩu phụ thuộc vào một số ít mặt hàng như trên làm cho xuất
khẩu của cả nước dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới có biến động, dễ dẫn đến
nguy cơ bị áp dụng chống bán phá giá.
- Một số mặt hàng được đánh giá là có nhiều tiềm năng xuất khẩu, tạo ra
nhiều việc làm, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế thì có tốc độ tăng trường thấp
hơn nhiều so với mức tăng trưởng chung như rau quả (tăng 10% so với năm 2003),
thủ công mỹ nghệ (tăng 16% so với năm 2003)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×