Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây ở gà thả vườn tại thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Khi nền kinh tế phát triển thì nhu cầu về thực phẩm của con người ngày
càng nâng cao, vì vậy trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đã có những
bước tiến nhất định đặc biệt là chăn nuôi gia cầm. Chăn nuôi gia cầm có một
vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bởi nó không chỉ đáp ứng nhu
cầu thực phẩm (thịt, trứng) cho người tiêu dùng mà còn cung cấp nguyên liệu
cho các ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân bón cho cây trồng…Tuy
nhiên, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng thường bị ảnh
hưởng của dịch bệnh, trong đó có bệnh ký sinh trùng.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi có nhiều điều kiện để phát triển chăn
nuôi gà, đặc biệt là gà thả vườn. Sán dây gà là bệnh ký sinh trùng khá phổ
biến, gà thường mắc bệnh với tỷ lệ và cường độ cao, mắc quanh năm không
kể mùa vụ và thời tiết nào. Tuy không gây ra thể cấp tính làm chết gà hàng
loạt nhưng sán dây ký sinh làm cho gà gầy yếu, giảm tăng trọng, giảm sản
lượng gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi.
Do sán ký sinh trong ống tiêu hoá chiếm đoạt chất dinh dưỡng làm cho
gà gầy yếu, thiếu máu nên khi gà mắc bệnh thường thể hiện rõ nhất là niêm
mạc vàng, nhợt nhạt, mào và dái tai xanh tái. Gà khó thở thường vươn cổ ra
để thở. Sán tác động cơ học trong ruột non của gà, gây tổn thương niêm mạc

ruột, gây viêm ruột và xuất huyết vì vậy gà ỉa lỏng, phân có lẫn máu.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế chăn nuôi gà và để có cơ sở khoa học đề
xuất biện pháp phòng trị bệnh sán dây cho gà, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây ở gà
thả vườn tại thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên”
1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
+ Nghiên cứu tình hình nhiễm sán dây trên gà tại 4 phường xã: Đồng
Bẩm, Tân Long, Quan Triều, Thịnh Đán ở thành phố Thái Nguyên.
+ Xác định một số đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán dây gà.
1.3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Chẩn đoán, có các biện pháp phòng, trị bệnh sán dây ở gà thả vườn.
1.4. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Kết quả đề tài là những thông tin khoa học về một số đặc điểm dịch tễ
và bệnh lý lâm sàng của bệnh sán dây ở gà thả vườn.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học khuyến cáo cho người chăn nuôi gà
áp dụng các bước phòng trị bệnh sán dây cho gà, hạn chế thiệt hại do sán dây
gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gia
cầm phát triển và đứng vững trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Ký sinh trùng là bệnh khá phổ biến của vật nuôi nói chung và gia cầm
nói riêng. Sán dây gà là bệnh thường gặp ở gà thả vườn, bệnh phân bố rộng ở
hầu hết các nước trên thế giới. Bệnh tuy không gây ra ở thể cấp tính làm chết
gà hàng loạt nhưng sán dây ký sinh trong ruột non và ruột già dùng giác bám,
bám vào niêm mạc ruột gây tổn thương, lấy chất dinh dưỡng làm gà gầy yếu,
giảm sức sản xuất. Nếu số lượng sán ký sinh nhiều gây tắc ruột, thủng ruột,
gây viêm xoang bụng, gây chết.
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1. Thành phần và đặc điểm sinh học của các loài sán ký sinh ở gà
Bệnh xảy ra do các loài sán thuộc lớp Cestoda bộ Cyclophyllidea ký
sinh ở ruột non và ruột già.
2.1.1.1. Thành phần của các loài sán dây ký sinh ở gà
* Vị trí sán dây trong hệ thống phân loại động vật
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về các loại sán dây ký sinh ở gà. Năm
1940 Krjabin đã giới thiệu hệ thống phân loại của bộ Cyclophyllidea ông đã
chia bộ này thành một số phân bộ: Anoplocephalata, Davaineata,


Hymenolepidata, Taeniata...
Các nhà khoa học Việt Nam đã phân loại sán dây ký sinh theo hệ thống
phân loại của Schulz và Gvozdev (1970) ( Đặng Ngọc Thanh và CS, 2003)
[17]. Theo Phan Thế Việt và CS (1977) [27]; Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4];
Nguyễn Thị Lê (1996) [11], sán dây có vị trí trong hệ thống phân loại động
vật như sau:
Ngành Plathelminthe Schneider, 1873
Lớp sán dây Cestoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Euestoda Southwell, 1930
Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900
Phân bộ Davaineata Skjabin, 1940
3
Họ Davaineidae Fuhrmann, 1907
Phân họ Davaineinae Braun, 1900
Giống Davainea Branchard, 1891
Loài Davainea proglottina (Davane,1860)
Giống Cotugnia Diamare, 1893
Loài Cotugnia digonopora (Pasquale, 1890)
Giống Raillietina Fuhrmann, 1920
Loài R. tetragona (Molin, 1858)
Loài R. echinobothrida (Megnin, 1880)
Loài R. penetrans (Barzynska, 1880)
Loài R. cesticillus (Molin, 1858)
Loài R. volzi (Fuhrmann, 1905)
Giống Dilepidoides Spassky et Spaskaja, 1954
Loài Dilepidoides bauchei (Joyeux, 1924)
Giống Echinolepis Spassky et Spaskaja, 1954
Loài Echinolepis cariona (Magalhaes, 1898)
Giống Microsomacanthus Lopez -Neyra, 1942
Loài Microsomacanthus (Joyeux et Baer, 1935)
Giống Staphylepis Spassky et Oschmarin,1954
Loài Staphylepis cantaniana (Polonio, 1960)
Giống Oraentolepis Spassky et Jurpalova, 1964
Loài Orientolepis exigura (Yoshida, 1910)
Giống Amoebotaenia Cohn, 1899
Loài Amoebotania cuneata (Linstow, 1872)
* Thành phần sán dây ký sinh ở gà
Giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam rất phong phú. Riêng sán dây
(Cestoda Rudolphi, 1808) là một trong bốn lớp giun sán ký sinh, đã phát hiện
được 148 loài (Nguyễn Thị Kỳ 1994) [4].
4
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002)
[8] cho biết, sán dây thường gặp ở gà gồm các loài chính: Cotugnia digonopor,
Davainea proglottina, R. tetragona, R. echinobothrida, R. cesticillus. Trong đó,
có 3 loài nhiễm phổ biến ở gà là: R. tetragona, R. echinobothrida, R. cesticillus
Theo Lê Đức Kỷ (1984) [5], bệnh sán dây gà gây nhiều tác hại, tuổi nào
cũng có thể mắc nhiều loài sán, gây tác hại nhất là 2 loài: Davainea
proglottina, R. echinobothrida
Kết quả mổ khám của Nguyễn Hồng Cường và CS (1999) [2], gà thuộc
khu vực xung quanh thành phố Hà Nội nhiễm 3 loài sán dây: R. tetragona, R.
echinobothrida, R. cesticillus
Nguyễn Thị Lê (1996) [11] cho biết, gà ở nước ta nhiễm các loài sán
dây là: Cotugnia digonopora, Davainea proglottina, R. tetragona, R.
echinobothrida, R. penetrans, R. cesticillus, R. macassariensis, R. tinguiana,
R. peradenica nova, R. georgiensis, R. peradenica, R. volzi
Theo Phan Thế Việt và CS (1977) [9], thành phần sán dây ký sinh ở gà gồm:
Giống Loài
Davainea Branchard, 1891 Davainea proglottina (Davane,1860)
Cotugnia Diamare, 1893 Cotugnia digonopora (Pasquale, 1890)
Raillietina Fuhrmann, 1920
R. tetragona(Molin, 1858)
R. echinobothrida (Megnin, 1880)
R. penetrans (Barzynska, 1880)
R. cesticillus (Molin, 1858)
Echinolepis Spassky et Spaskaja, 1954 Echinolepis cariona (Magalhaes, 1898)
Microsomacanthus Lopez -Neyra, 1942 Microsomacanthus (Joyeux et Baer, 1935)
Staphylepis Spassky et Oschmarin,1954 Staphylepis cantaniana (Polonio, 1960)
Oraentolepis Spassky et Jurpalova, 1964 Orientolepis exigura (Yoshida, 1910)
Amoebotaenia Cohn, 1900 Amoebotania cuneata (Linstow, 1872)
5
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo các loài sán dây gây bệnh
* Đặc điểm chung của các loài sán dây
Theo Phan Thế Việt và CS (1977) [27], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4],
Nguyễn Thị Lê và CS (1996) [11], sán dây có cơ thể dạng dải băng, dẹp theo
hướng lưng bụng. Cơ thể gồm có đầu (Scolex), cổ (Neck), chuỗi đốt (Strobila)
bao gồm nhiều đốt riêng biệt. Chỉ có một số ít đại diện của lớp là cơ thể không
phân đốt. Cơ thể sán được bao bọc bởi lớp cutin, dưới lớp cơ ngoài gồm những
tế bào tầng dưới biểu bì và những lớp cơ vòng, cơ dọc, phần trong cơ thể chứa
đầy nhu mô. Ở giai đoạn trưởng thành sán sống chủ yếu trong ruột của tất cả các
lớp động vật có xương sống. Trong ruột hoàn toàn không có ấu trùng của sán
dây. Theo mô tả của các tác giả cấu tạo của sán dây bao gồm:
Đầu: Dùng để bám vào thành ruột của vật chủ nên có những hình dạng,
kích thước và cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường nhỏ hơn
1mm, tuy nhiên cũng có loài đầu dài tới vài mm. Các cơ quan bám: nằm ở
trên đầu bao gồm rãnh bám, mồm ngoạm, giác bám và vòi có móc bám. Móc
đôi khi còn có ở rãnh bám, mồm ngoạm và trên đầu.
Rãnh bám: Là cơ quan có cấu tạo đơn giản gồm hai khe bám ở phía
lưng và phía bụng của đầu, ít khi có một hoặc bốn khe bám.
Mồm ngoạm: Có hình dạng đa dạng hơn, đây là những cơ quan bám có
sự phát triển riêng biệt, phân bố theo kiểu chéo chữ thập ở phía bụng và phía
lưng bề mặt đầu.
Giác bám: Có cấu tạo giống như nửa hình cầu, thành cơ cấu tạo phức tạp,
giác bám thường ở bề mặt của đầu và thường có bốn giác bám. Giác bám có gai
nhỏ và móc phân bố thành một số hàng trên thành cơ như ở các giống
Raillietina. Giác bám đặc trưng cho các đại diện của bộ Cyclophylidea. Trên
thành của giác bám đôi khi còn có những núm đặc biệt (Schistometra conoidea)
Vòi: Thường ở đỉnh đầu, có cấu tạo cơ, có thể nhô cao trong bao vòi với
sự hoạt động của những cơ đặc biệt. Vòi thường có móc. Móc có hình một
hoặc hai hàng
Sau đầu là phần cổ, đây là phần hẹp có vai trò quan trọng trong việc
hình thành các đốt mới. Kích thước của cổ khác nhau tuỳ loài. Ở một số loài
cổ có sự thay đổi do sự co lại của cơ. Các đốt non được hình thành ở khoảng
6
giữa cổ và những đốt ở phía dưới nó, những đốt già bị đẩy lùi về phía dưới.
Vì vậy những đốt non nhất nằm ở phía đầu, còn lại những đốt già nhất nằm ở
tận cùng của chuỗi đốt.
Chuỗi đốt: Bao gồm các đốt sán, có từ một vài đốt đến hàng nghìn đốt.
Chiều dài của chuỗi đốt thay đổi từ vài milimet đến vài trăm milimet. Các đốt
thường có hình dạng và kích thước khác nhau, phụ thuộc vào sự sinh trưởng của
đốt sán và chúng còn thay đổi ngay ở cả các cá thể trong một loài. Những đốt
sán thường có dạng bốn góc. Ở một số loài chiều rộng của đốt sán lớn hơn chiều
dài, một số loài khác thì ngược lại. Sự tương quan giữa chiều rộng và chiều dài
của đốt thường phụ thuộc vào sự kéo dài về phía này hay phía khác của đốt.
Chiều dài của sán dây dao động từ 0,5mm - 25m. Chiều dài của sán dây
ký sinh ở gia cầm từ 1,5 - 500mm. Nội quan gồm có hệ thần kinh, hệ bài tiết
và hệ sinh dục, không có hệ tiêu hoá.
Hệ thần kinh: Ở sán dây hệ thần kinh kém phát triển gồm có hạch thần
kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó các dây chạy dọc cơ thể. Có hai dây phát
triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và nối với nhau bởi các cầu nối ngang.
Hệ bài tiết: Sán dây bài tiết theo kiểu nguyên đơn thận. Gồm có bốn
ống chính chạy dọc cơ thể trong đó hai ống mặt lưng và hai ống mặt bụng,
chúng nối với nhau ở phần đầu. Ngoài ra, ở mỗi đốt các ống trái và phải nối
với nhau bằng các cầu nối ngang.
Trong các đốt chứa cơ quan sinh dục phát triển ở các giai đoạn khác
nhau. Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính. Trong mỗi đốt trưởng thành
thường có một hoặc hai hệ sinh dục (mỗi hệ sinh dục gồm có một cơ quan
sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái). Sự phát triển của hệ sinh dục theo
một thứ tự nhất định. Các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó
hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái. Sau khi thụ
tinh, hệ sinh dục đực teo dần, còn lại cơ quan sinh dục cái. Ở các đốt già trứng
chứa đầy trong tử cung.
Hệ sinh dục đực: Gồm tinh hoàn, các ống dẫn và các tuyến sinh dục. Số
lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và đây cũng là dấu
hiệu để phân loại mỗi loài. Từ tinh hoàn có nhiều ống thoát tinh nhỏ đi ra và
hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào các cơ quan giao phối là
7
lông gai. Lông gai nằm trong nang lông gai. Phần cuối ống dẫn tinh có thể
phình ra gọi là túi tinh. Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh
ngoài, còn ở trong lông gai thì gọi là túi tinh trong. Lông gai dùng để đưa vào
lỗ sinh dục cái khi giao phối. Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình
dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau. Đôi khi trong xoang sinh dục ngay
cạnh lỗ lông gai còn có một hoặc hai thể Furhmann (sacculus accesorius).
Hệ sinh dục cái: Có cấu tạo phức tạp hơn gồm có buồng trứng (Ovari),
noãn hoàng (Vitelline), tử cung (Uterus) và các tuyến phụ. Trong mỗi hệ sinh
dục hay mỗi buồng trứng thường có hai thuỳ, ít khi có một thuỳ. Các thuỳ này
có cấu tạo hình khối, hình ống hoặc hình cành. Ở Cyclophyllidea các tế bào
trứng có giai đoạn phát triển đồng nhất. Buồng trứng nằm trong nhu mô ở
giữa đốt hoặc phía dưới đốt sán bề mặt bụng, ở những đốt có hai hệ sinh dục
thì cả hai buồng trứng nằm ở hai bên bờ của chuỗi đốt. Ống dẫn trứng đi ra từ
buồng trứng, ống này đưa những tế bào già vào cơ quan Ootyp, sau khi chúng
được bảo vệ trong cơ quan trứng gọi là Ovicaot. Từ Ootyp trứng được tạo
thành với sự tham gia của các tuyến Melis, tuyến noãn hoàng và tinh dịch.
Tuyến noãn hoàng: Có cấu tạo khác nhau, ở Cyclophyllidea chỉ có một
noãn hoàng và nó nằm ngay dưới buồng trứng. Nhiều loài sán dây khác noãn
hoàng gồm nhiều thể, các thể bao gồm nhiều các tế bào noãn hoàng, trong
huyết tương của tế bào có nhiều khối màu tối và vàng khúc sạ ánh sáng tạo
thành những quả cầu “noãn hoàng”, nhưng ống noãn hoàng nhỏ từ mỗi phía
của đốt đổ vào hai ống lớn hơn, sau hợp thành một ống, tận cùng của ống
phình rộng tạo thành tuyến noãn hoàng đổ vào Ootyp.
Thể Melis: Đổ vào Ootyp có chức năng tạo vỏ trứng.
Âm đạo: Có dạng một cái ống, phần đầu là lỗ sinh dục cái, phần cuối là
túi tinh chứa tinh nằm gần Ootyp, cạnh buồng trứng. Phần đầu của âm đạo
thường nằm dưới lông gai, ít khi ở trên. Sau khi thụ tinh và chứa đầy tinh dịch
trong túi chứa tinh thì lỗ âm đạo teo lại.
Tử cung (uterus): Có cấu tạo khác nhau ở các loài khác nhau. Ở nhiều
loài sán dây tử cung kín, có nghĩa là thiếu lỗ tử cung đặc trưng
(Cyclophyllidea), tử cung là ống ngang với những nhánh bên. Nhưng tử cung
của sán dây có thể dạng túi, dạng cành và cả dạng nang riêng biệt chứa từ một
8
đến vài trứng (Daivaneidea). Trứng của sán dây có cấu tạo đa dạng, có một
hoặc hai vỏ, ấu trùng trong trứng của phân lớp Eucestoda có 6 móc. Ở những
sán dây này trứng được thải ra ngoài tuỳ theo mức độ hình thành của trứng.
Tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái
túi chứa trứng. Trứng được chui ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt.
Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài nơi mà các đốt sán dây
già được thải ra cùng với phân vật chủ.
Ấu trùng: Bộ Cyclophyllidea có ấu trùng là Cyssticercoid. Đây là bào
nang có hai vỏ bao gồm cơ quan bám và tuyến đuôi (Ceromera) với ba đôi
móc bào thai. Sự hình thành Cysticercoid do sự kéo dài của Oncoxphera, xuất
hiện xoang cơ thể và bốn giác bám, vòi thô sơ. Sau đó phần sau hẹp lại, dài ra,
nối với đường tạo thành xoang và ở đây hình thành nang. Phần trước của cơ
thể có mầm mống của giác bám và vòi, kéo dài tới phần sau của nang. Bằng
cách đó hình thành xoang hai vỏ, vỏ ngoài là phần sau của cơ thể, còn vỏ
trong là phần trước của cơ thể (Đặng Ngọc Thanh và CS, 2003) [17].
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6], ấu trùng của các loài sán
dây gây bệnh ở vật nuôi bao gồm:
- Cysticercus: Là một bọc hình tròn hoặc hình bầu dục, có màng mỏng
bọc ngoài là tổ chức liên kết, bên trong có nước trong suốt và một đầu sán
màu trắng dính với màng trong (đầu sán có 4 giác bám, một số có móc nhỏ).
Thí dụ: Cysticercus cellulosae, Cystycercus bovis, Cyscercus tenuicollis.
- Coenrus: Hình tròn hoặc bầu dục, trong có nước và rất nhiều đầu sán
bám ở màng sinh sản (có tới 300 đầu sán). Thí dụ: Coenrus cebralis ký sinh ở
não cừu.
- Echinococcus: Có thể to bằng hạt đậu đến quả bưởi, trong bọc chứa
nhiều nước trong suốt, bên ngoài là lớp kitin dầy, trong cùng là lớp mô sinh
sản. Từ lớp này sinh ra nhiều bọc con, các bọc con này sinh ra các bọc bên
trong chứa nhiều đầu sán. Đầu sán phần lớn rời khỏi mô và rơi vào trong
nước. Đặc điểm của ấu trùng này là trong bọc cò bọc con, và nhiều đầu sán.
Các dạng ấu trùng trên đều là ấu trùng của sán dây thuộc bộ
Cyclophyllidea do trứng có 6 móc phát triển thành.
9
* Đặc điểm sinh học của một số loài sán dây ký sinh ở gà
Sán dây chia làm hai phân lớp: Cestoda và Eucestoda. Ở gia cầm Việt
Nam gặp các đại diện của phân lớp Eucestoda. Phân lớp này gồm hai bộ:
Pseudophyllidea, nhưng thường gặp sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea, bộ này
có 7 phân bộ. Các loài sán dây ở nước ta thuộc 3 phân bộ, trong đó có 3 giống
thuộc phân bộ Davaineata (Nguyễn Thị Lê và CS, 1996) [11].
- Loài Raillietina Echinobothrida: Ký sinh ở ruột non của các loài vật
chủ là gà nhà, gà rừng, gà tây, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà
(Galliffomes). Loài này được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam,
các nhà khoa học đã tìm thấy sán dây Raillietina Echinobothrida ở các tỉnh:
Lai Châu, Nghĩa Lộ, Tuyên Quang, Vĩnh Phú và nhiều nơi khác ở miền Bắc
Việt Nam (Nguyễn Thị Kỳ, 1994) [4].
Hình thái: Theo mô tả của Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6], sán
dài 250 mm, rộng 1 - 4 mm. Đầu có 4 giác bám hơi tròn, đường kính đầu 0,09
- 0,20 mm. Trên giác bám có 8 -10 hàng móc nhỏ. Bờ giác có nhiều gai nhỏ,
có hình dạng và kích thước khác nhau. Nang lông gai cơ hoá mạnh, gồm phần
cổ hình trụ, phần thân hình trứng. Trên mõm có 200 móc xếp thành 2 hàng.
Lỗ sinh dục đơn tính nằm ở giữa cạnh sườn đốt sán. Có 20 - 30 tinh hoàn ở
giữa đốt, túi dương vật tương đối to. Buồng trứng ở giữa đốt sán. Tử cung có
nhiều túi trứng, mỗi túi có 6 - 12 trứng. Đường kính trứng 0,025 - 0,050 mm.
- Loài Raillietina tetragona: Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [11] loài
Raillietina tetragona ký sinh ở ruột non của các loài vật chủ là gà nhà, gà tây,
gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà (Gallifomes).
Hình thái: Dài 250 mm, rộng 1 - 4 mm. Đầu hơi tròn, đường kính đầu
0,175 - 0,350 mm. Trên mõm có 90 -130 móc xếp thành 2 -3 hàng. Có 4 giác
bám hình trứng tròn, trên giác có 8 - 12 hàng móc. Lỗ sinh dục nằm ở một
bên đốt sán. Có 18 - 23 tinh hoàn ở giữa đốt sán.
Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6] cho biết: Loài Raillietina
tetragona túi dương vật hình lê. Buồng trứng ở phần sau đốt sán.Tử cung của
các đốt sán trưởng thành nằm trong lớp vỏ có nhiều túi trứng, mỗi túi có 6 - 12
trứng. Đường kính trứng 0,025 - 0,05 mm; ấu trùng có đường kính 10 -14 µ.
10
- Loài Raillietina cesticillus: Ký sinh ở ruột non các loài vật chủ là gà
nhà, gà rừng gà tây, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà (Gallifomes).
Hình thái: Dài 90 - 100 mm, rộng 1,5 - 3 mm. Đỉnh đầu có mõm có
hình thái rất đặc biệt như một chiếc gối hình bán cầu, có 400 - 500 móc xếp
thành 2 hàng. Trên giác bám không có móc. Có 15 -30 tinh hoàn. Lỗ sinh
dục ở một bên đốt. Tử cung ở tất cả các đốt trưởng thành cũng nằm ở trong
lớp vỏ, tử cung có nhiều túi trứng, mỗi túi chỉ có một trứng. Đường kính
trứng 0,05 -0,09 mm.
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], Phạm Sỹ Lăng và CS (2002) [8] cũng cho
biết loài này có vòi hình nấm đặc trưng, rộng 0,252 - 0,321 mm, lỗ sinh dục
không nằm về một phía, có ở tất cả các đốt và nằm so le nhau. Tử cung ở tất
cả các đốt trưởng thành nằm trong lớp vỏ.
Hình 2.1. Loài Raillietina cesticillus
- Loài R. vozli: Ký sinh ở ruột của vật chủ là gà rừng, gà nhà.
Hình thái: Sán dài 40 - 60 mm, rộng 2mm. Đầu dài 0,3 mm; rộng 0,045
mm. Giác bám có đường kính 0,18 mm, có nhiều gai, phần trên giác có 12-14
hàng móc, còn phần ở dưới chỉ có 4 - 6 hàng. Gai phần ngoài giác bám lớn
hơn phần trong (0,013 và 0,0018 mm), vòi nhỏ, chiều ngang 0,088 mm; có
hai vòng móc gồm 240 móc. Có 30 tinh hoàn phân bố rộng ở hai bên và phía
dưới tuyến sinh dục cái. Nang lông gai dài 0,2 mm. Noãn hoàng rộng 0,1 mm.
Tử cung chia thành các nang, mỗi nang chứa 8- 12 trứng.
- Loài Raillietina georgiensis: Ký sinh ở ruột vật chủ là gà.
Hình thái: Sán dài 150 - 380 mm, rộng tối đa 3,5 mm. Có 220 - 268 móc,
vòi dài 0,017 - 0,023 mm xếp thành hai hàng. Giác bám dài 0,110 - 0,179 mm,
rộng 0,080 - 0,151 mm, có gai xếp trong 8 - 10 hàng, gai dài 0,008 - 0,013mm.
11
Cổ dài 1,3 - 3,2 mm. Lỗ sinh dục ở một phía ít khi xen kẽ, nhưng không đều ở
1/3 phía trên bờ bên đốt sán. Có 23 - 28 tinh hoàn hơi tròn, có đường kính
0,065 mm. Tinh hoàn xếp thành nhóm ở hai bên tuyến sinh dục cái. Ống dẫn
tinh uốn khúc nhiều, nang lông gai dài 0,096 - 0,143 mm, rộng 0,055 - 0,096
mm. Buồng trứng phân thành 3 - 10 thuỳ. Noãn hoàng không phân thuỳ nằm ở
dưới buồng trứng, dài 0,220 - 0, 248 mm, rộng 0,082 - 0,110 mm. Đốt già có
80 - 130 nang trứng, mỗi nang chứa 8 - 10 trứng.
- Loài Raillietina penetrans: Ký sinh ở ruột vật chủ là gà nhà.
Hình thái: Chuỗi đốt dài 115 mm, rộng nhất 2,45 mm. Mốc trên vòi
phân bố thành hai hàng, có khoảng 200 móc, chiều dài móc hàng trên 0,017
mm, hàng dưới 0,014 mm, trên giác bám có 8 hàng gai, dài nhất 0,014 mm.
Trong đốt lưỡng tính có 26 - 35 tinh hoàn, có kích thước 0,078×0,045 mm,
phần lớn tinh hoàn nằm ở phía không có lỗ. Nang lông gai có thành cơ dày
0,017 mm và có kích thước 0,19 x 0,08 mm.
- Loài Raillietina penetrans nova: Ký sinh ở ruột non của vật chủ là gà.
Hình thái: Sán dài 225 - 270 mm, rộng 1,12 - 2,5 mm, kích thước đầu
0,330 x 0,315 - 0,390 x 0,335 mm. Vòi có gần 240 móc xếp thành hai hàng.
Có 22 - 24 tinh hoàn, có đường kính 0,045 - 0,055 mm, đa số nằm ở bên
không có lỗ. Nang lông gai có chiều dài 0,115 mm, rộng 0,050 mm. Thành cơ
của nang lông gai mỏng có thể thấy rõ ống dẫn tinh ở nang lông gai. Buồng
trứng gồm nhiều thuỳ hình giọt nước nằm ở giữa đốt. Noãn hoàng hình hạt
đỗ. Những đốt già chứa 65 - 90 nang trứng, mỗi nang chứa 5 - 11 trứng.
Đường kính trứng 0,045 mm.
- Loài Raillietina peradenica: Ký sinh ở ruột vật chủ là gà nhà.
Hình thái: Sán dài 190 - 250 mm, rộng nhất 2,5 mm. Đầu rộng 0,56 -
0,64 mm. Vòi có 180 - 200 hàng móc, móc dài 0,008 mm xếp thành hai hàng.
Giác bám hình bầu dục có kích thước 0,119 - 0,149 x 0,134 - 0,178 mm. Bờ
giác bám có 7- 10 hàng gai, các hàng gai dài 0,010 - 0,014 mm, cổ ngắn và
rộng 0,238 - 0,270 mm. Lỗ sinh dục ở một phía nhưng đôi khi xen kẽ không
đều, mở ra ở giữa bờ đốt. Tinh hoàn hình bầu dục có đường kính 0,059 - 0,-74
mm. Có 17- 21 tinh hoàn nằm ở xung quanh buồng trứng và noãn hoàng, 7-
12
10 tinh hoàn ở phía có lỗ và 10 m- 14 ở phía không lỗ. Nang lông gai rất rộng
có hình hạt đỗ dài 0,312 mm, rộng 0,105 mm, dài tới ống bài tiết. Lông gai
không có gai, ống dẫn tinh tạo thành nhiều nếp uốn khúc ở đáy nang lông gai.
Âm đạo gồm hai phần: Phần rộng ở phía có lỗ coi như túi chứa tinh, phần còn
lại có dạng ống hẹp. Buồng trứng chia thuỳ nằm ở giữa đốt, noãn hoàng
không lớn lắm và nằm dưới buồng trứng hơi lệch về phía có lỗ. Có 80 - 90
nang trứng hình tròn hay hình bầu dục, mỗi nang trứng chứa 5 - 10 trứng.
- Loài Raillietina macasarensis: Ký sinh ở vật chủ là gà nhà, gà rừng.
Hình thái: Sán dài 47 - 72 mm, đường kính đầu 0,21 - 0,25 mm. Giác
bám hình bầu dục, có gai, kích thước 0,096 - 0,100 x 0,075 - 0,085 mm, gai
xếp thành các hàng xoáy chôn ốc đều nhau, mỗi hàng có 16 gai. Các gai ở gần
hàng ngoài dài 0,005 mm và giảm dần ở các hàng trong. Vòi hình hạt đậu,
đường kính 0,075 - 0,090 mm. Có hai hàng móc, móc hàng trên dài 0,084
mm, hàng dưới dài 0,072 mm. Chuỗi đốt có chiều rộng lớn hơn chiều dài. Có
20 - 28 tinh hoàn hình tròn hoặc hình bầu dục, kích thước 0,045 - 0,060 x
0,042 - 0,045 mm, tinh hoàn thường phân bố ở hai bên tuyến sinh dục cái, ống
dẫn tinh uốn khúc. Nang lông gai hình quả lê, kích thước 0,075 - 0,200 x 0,15
- 0,50 mm. Noãn hoàng nằm ở giữa và dưới buồng trứng, có kích thước 0,033
- 0,100 x 0,075 - 0,150 mm.
- Loài Raillietina tinguiana: Ký sinh ở ruột của vật chủ là gà nhà, gà rừng.
Hình thái: Sán dài 80 -95 mm, rộng nhất 3mm. Đường kính vòi 0,106
mm, vòi có gần 300 móc xếp thành hai hàng, móc dài 0,008 - 0,010 mm. Giác
bám tròn có kích thước 0.103 - 0,108 x 0,105 - 0,108 mm, có nhiều gai xếp
thành 15 hàng. Trên bề mặt của đầu có rất nhiều gai nhỏ. Lỗ sinh dục ở một
phía, có túi tinh trong và 30 - 35 tinh hoàn phân bố xung quanh tuyến sinh
dục cái. Ống dẫn tinh uốn khúc nhiều. Buồng trứng có hai thuỳ, mỗi thuỳ
phân thành nhiều thuỳ nhỏ trong các đốt sinh dục, buồng trứng rộng 0,330 -
0,375 mm. Noãn nang có thuỳ nhỏ, tử cung phân thành nhiều nang trứng.
- Loài Cotugnia digonopora: Ký sinh ở vật chủ là gà.
Hình thái: Sán dài 22 - 107 mm, rộng 1- 4 mm. Kích thước đầu 0,66 x
1,07 mm, kích thước vòi 1,12 x 1,40 mm. Giác bám có kích thước 0,36 x 0,25
mm. Cổ ngắn. Cơ quan sinh dục kép, có gần 100 tinh hoàn. Nang lông gai dài
13
0,3 mm, có các gai nhỏ. Buồng trứng phân thuỳ, trứng hình bầu dục có kích
thước 0,036 - 0,058 mm.
- Loài Davainea proglottina: Ký sinh ở ruột non các loài vật chủ là gà
nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà
(Gallifomes).
Hình thái: Dài 0,5 - 3 mm, rộng 0,18 - 0,6 mm, chỉ có 4 - 9 đốt. đầu nhỏ
trên mõm có 60 - 90 móc. Trên giác bám có móc. Lỗ sinh dục ở nửa trước đốt
sán. Túi dương vật bằng 2/3 chiều ngang đốt sán. Có 12 - 15 tinh hoàn, xếp
hai hàng ở nửa sau đốt sán. Trứng sán rải rác trong đốt. Đường kính trứng
0,035 - 0,04 mm (Nguyễn Thị Kim Lan và CS, 1999) [6].
* Chu kỳ sinh học của một số loài sán ký sinh ở gà
Trong chu kỳ sinh học của sán dây thường có 2 lần thay đổi vật chủ (vật
chủ trung gian và vật chủ cuối cùng). Sán dây muốn hoàn thành chu kỳ sinh
học của mình cần phải có vật chủ trung gian, vì vậy gà chỉ nhiễm bệnh khi
nuốt phải vật chủ trung gian mang ấu trùng gây bệnh.
Vật chủ trung gian của sán dây gà thường là động vật không xương
sống bao gồm: côn trùng, nhuyễn thể… Đốt sán già rụng theo phân ra ngoài,
đốt sán phân huỷ giả phóng trứng sán, vật chủ trung gian ăn phải trứng sán, ở
ruột vật chủ trung gian vỏ trứng phân huỷ qua các giai đoạn phát triển thành
ấu trùng có sức gây nhiễm được gọi là Cysticercoid. Gà ăn vật chủ trung gian
có mang ấu trùng này vào đường tiêu hoá, vật chủ trung gian bị phân huỷ, ấu
trùng phát triển thành sán trưởng thành. Như vậy gà là vật chủ cuối cùng, giúp
sán dây hoàn thành chu kỳ sinh học.
Các loài sán dây khác nhau có vật chủ trung gian khác nhau:
Loài R. echinobothrida: Chu kỳ sinh học có sự tham gia của vật chủ
trung gian là loài kiến Pheidole pallidula, ruồi nhà Musca domestica
(Akhumiam. X, 1952; Phan Thế Việt và CS, 1977). Các đốt sán già chứa nhiều
trứng rụng theo phân ra ngoài. Đốt vỡ ra giải phóng nhiều trứng sán,kiến là vật
chủ trung gian nuốt trứng sán vào cơ thể, trứng nở ra ấu trùng 6 móc, tiếp tục
phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm. Gà ăn kiến có ấu trùng, ấu trùng vào ruột
non ký sinh và phát triển thành sán trưởng thành, hoàn thành chu kỳ sinh học.
Loài R. cesticillus: Vật chủ trung gian là 19 loài bọ hung (Coleoptere)
thuộc các giống Geotrupes, Carabus, Broscus, Panagatus, Ophnus, Tenebrria,
Aphodius, Plastysm và Oryctes. Các loài bọ hung này ăn phải trứng sán dây
14
trong tự nhiên, trứng sán qua các giai đoạn phát triển trở thành ấu trùng có sức
gây bệnh.
Loài R. tetragona cần vật chủ trung gian là các loài kiến: Pheidole
pallidula, Tetrmorium (Orlov. M, 1962; Kaufmann. J, 1996; Phan Thế Việt và
CS, 1977). Các giai đoạn phát triển ấu trùng thực hiện trong vật chủ trung
gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm Cysticercoid.
Loài Davainea proglottina: Vật chủ trung gian là nhuyễn thể trên cạn
(ốc Limax). Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán chửa rụng theo phân ra ngoài, vỡ
ra giải phóng trứng. Ký chủ trung gian nuốt phải trứng sán, vào đến ruột, ấu
trùng 6 móc nở ra và phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh.
Thời gian phát triển ở vật chủ trung gian là 14 - 16 ngày (mùa hè) và 66
ngày (mùa đông) đối với vật chủ trung gian là côn trùng cánh cứng, 20 - 22
ngày đối với vật chủ trung gian là nhuyễn thể trên cạn.
Thời gian từ lúc gà nuốt phải ký chủ trung gian mang ấu trùng gây
bệnh, đến khi phát triển thành sán dây trưởng thành dài hay ngắn tuỳ loài sán
dây: loài R. tetragona và R. echinobothrida là 19 - 23 ngày; loài R. cesticillus
là 11 - 20 ngày; loài D. proglottina là 12 - 16 ngày (Nguyễn Thị Kim Lan và
CS, 1999) [6].
Vòng đời chung của sán dây gà diễn ra như sau:
Hình 2.2. Vòng đời của sán dây gà
15
Theo Phan Thế Việt (1977) [27], tất cả bề mặt sán là một cái “mồm”
khổng lồ. Thức ăn thấm qua “da” của sán dây. Các loài sán dây thường tắm
mình trong nguồn dinh dưỡng giàu có của cơ thể vật chủ. Cái mồm đã không
cần, thì hệ tiêu hoá của chúng cũng không có. Ăn và tiêu hoá đều qua bề mặt
cơ thể sán dây. Hiện tượng rụng đốt sán dây làm cho người ta nghĩ rằng: cơ
thể sán dây sẽ dần ngắn lại. Song không phải như vậy, bởi các đốt sán mới
được sinh ra thay thế các đốt già đã rụng làm cho sán trở nên “trẻ lại”. Sau đốt
đầu là đốt cổ, người ta gọi đốt cổ là đốt sinh trưởng, từ đó sẽ mọc ra các đốt
khác. Các đốt mới sinh ra đẩy lùi các đốt cũ lùi dần về phía sau.
Mỗi đốt sán dây hầu như là một cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng
biệt. Nhờ có sự hoá đốt mà khả năng sinh đẻ của sán dây tăng lên gấp bội.
Trong cùng một lúc, ở những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng
chục triệu trứng. Ngoài ra, sự hoá đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt
khác. Đó là, do có những đốt sán già lần lượt đứt và thải ra môi trường bên
ngoài mà sự reo rắc trứng ở đó được thuận lợi hơn, bản thân sán dây thải bỏ đi
những đốt già cỗi, đời nó hầu như từng thời gian được trẻ lại, có sức lực và
năng lượng mới để phát triển những loạt đốt thành thục mới (Nguyễn Thị
Kim Lan và CS, 2008) [7].
2.1.2. Dịch tễ học bệnh sán dây gà
Bệnh sán dây ở gà là một bệnh phân bố rộng ở hầu hết các nước. Sự
phát sinh, phát triển của bệnh phụ thuộc vào các yếu tố thời tiết, khí hậu mùa
vụ, tuổi của con vật, yếu tố lây truyền (vật chủ trung gian), phương thức chăn
nuôi và sức đề kháng của mầm bệnh ở ngoài tự nhiên.
Điều kiện khí hậu ôn hoà, ẩm ướt là điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại
và phát triển của các ký chủ trung gian. Khi nhiệt độ, ẩm độ môi trường quá
cao hoặc quá thấp đều gây ra những điều kiện bất lợi cho hoạt động của các
ký chủ trung gian của sán dây gà. Sự phát triển của sán dây phụ thuộc phần
lớn vào vật chủ trung gian. Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm ở nước ta, các
loài kiến, bọ hung và ruồi nhà có thể hoạt động quanh năm. Do vậy, sự lây
truyền bệnh sán dây cũng diễn ra quanh năm, nhưng tập trung vào các tháng
có thời tiết nóng và ẩm ướt, từ cuối mùa xuân đến đầu mùa thu. Thời gian
này, điều kiện sinh thái phù hợp cho các loài kiến, bọ hung và ruồi nhà phát
16
triển, truyền bá nhiều loại mần bệnh trong đó có ấu trùng sán dây (Phạm Sỹ
Lăng và CS, 2002) [8].
Theo Dương Công Thuận (2003) [24]: Điều kiện khí hậu ảnh hưởng
đến sự phát triển bệnh sán dây ở gà. Mùa đông, khí hậu khô và lạnh, tỷ lệ
cường độ nhiễm ký sinh trùng thường thấp hơn so với các mùa khác. Nước ta
là nước nhiệt đới, có một mùa nóng ẩm kéo dài và một mùa đông không lạnh,
khô lắm, thích hợp cho sự phát triển và lây lan của bệnh ký sinh trùng nói
chung và bệnh sán dây gà nói riêng.
Orlov. F.M và CS (1975) [28] cho biết gà bị nhiễm sán dây nặng
thường thấy vào mùa mưa nhiều, ẩm độ cao, trời nóng chủ yếu từ tháng 4 đến
tháng 11, đây là thời điểm thích hợp cho ký chủ trung gian phát triển. Từ
tháng 11 đến tháng 3 năm sau nhiệt độ xuống thấp hơn, trời rét, khô hạn nên
tỷ lệ nhiễm thấp hơn.
Mpoame và CS (1989) [35] kiểm tra trên 315 gà mua tại chợ Dschang
(phía tây Camaroon), kết quả tìm thấy 10 loài giun sán. Trong đó gà nhiễm
R.tetragona với tỷ lệ 14,5%; không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giữa gà
trống và gà mái. Gà thường nhiễm nặng vào mùa mưa (tháng 4 đến tháng 10)
Permin A. và CS (1997) [40] đã nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán
theo mùa và khí hậu tại 6 làng trong vùng Morogoro (tanzania) trên 600 gà
được lựa chọn ngẫu nhiên, kết quả là: Tất cả các gà đều nhiễm giun sán với
mức độ trung bình là 4,8 loài giun sán/gà ở mùa mưa và 5,1 loài giun sán/gà ở
mùa khô. Tỷ lệ nhiễm các loài ở mùa mưa là: R. echinobothrida (41,3%), R.
tetragona (25,3%), R. cesticillus (8,7%), ở mùa khô tương ứng là 46,3% và
2,7%. Như vậy tỷ lệ nhiễm theo mùa phụ thuộc vào loài sán dây.
Điều kiện chăn nuôi và môi trường sống của gà cũng ảnh hưởng tới tỷ
lệ và cường độ nhiễm sán dây. Gà nuôi theo phương thức công nghiệp (nuôi
nhốt), ít có điều kiện tiếp xúc với vật chủ trung gian mang mầm bệnh nên ít
thấy nhiễm sán dây. Nhưng trong điều kiện chăn nuôi thả vườn, gà liên tục
tiếp xúc với vật chủ trung gian mang ấu trùng sán dây nên thường nhiễm sán
dây với tỷ lệ và cường độ cao (Phạm Sỹ Lăng và CS, 2002) [8].
17
Nghiên cứu về giun sán trong hệ thống gia cầm ở Đan Mạch, Permin
A. và CS (1999) [41] cho biết, khi kiểm tra tỷ lệ nhiễm giun sán trên 268 con
gà trưởng thành được lựa chọn ngẫu nhiên từ 16 trang trại ở Đan Mạch (từ
tháng 10 năm 1994 đến tháng 10 năm 1995), kết quả như sau: Ở gà thả vườn
đã tìm thấy các giun sán sau: Ascaridia galli (63,8%), Heterakis gallinarum
(72,5%), Capillaria obsignata (53,6%), Capillaria anatis (31,9%) và Capillaria
caudinflata (1,5%). Tỷ lệ nhiễm giun sán của gà ở chuồng nuôi nhốt: A. galli
(5%) và Raillietina cesticillus hoặc Choanotaenia infundibulum (3,3%). Gà
nuôi theo hình thức bán chăn thả: A. galli (37,5%) H. gallinarum (68,8%), C.
obsignata (50,0%), C. anatis (56,3 %) và C. caudinflata (6,3%). Các kết quả
xác nhận nguy cơ nhiễm giun sán ở gà chăn thả cao hơn gà nuôi ở các hình
thức khác.
Ở những nơi nuôi gà mà chuồng trại, sân chơi bị thu hẹp, chất độn
chuồng không được thay đổi, vệ sinh kém, những nơi có nhiều ký chủ trung
gian như kiến, côn trùng thì gà thường nhiễm sán dây với tỷ lệ cao.
Tuổi gà cũng là một yếu tố liên quan tới tình hình nhiễm và mức độ
nặng nhẹ của bệnh.
Phạm Sỹ Lăng và CS (2002) [8] nhận xét : Gà con bị nhiễm sán với tỷ lệ
và cường độ cao, phát bệnh nặng thể cấp tính và chết nhiều, nhất là gà có độ tuổi
từ 1 - 3 tháng. Gà trưởng thành nhiễm sán đôi khi không thể hiện rõ các triệu
chứng lâm sàng, chỉ thấy gầy, tăng trọng giảm và giảm đẻ trứng (đối với gà
mái).
Phan Lục và CS (1996) [12], Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6]
cho biết, gà ở các lứa tuổi đều nhiễm sán dây: Gà dưới 3 tháng tuổi nhiễm
40,07%; 3 - 6 tháng tuổi nhiễm 57,1%; trên 6 tháng tuổi là 69,9%. Như vậy tỷ
lệ nhiễm tăng theo lứa tuổi vì tuổi càng nhiều thì càng có cơ hội tiếp xúc với
vật chủ trung gian.
Đỗ Hồng Cường và CS (1999) [2] cho biết, gà Ri nhỏ hơn 2 tháng tuổi
tỷ lệ nhiễm sán dây là 36,11%; gà từ 2 - 5 tháng là 70,79%; gà lớn hơn 6
tháng tuổi là 71,08%. Qua kết quả mổ khám, tác giả có nhật xét, mức độ cảm
nhiễm sán dây xảy ra ngay từ những tháng đầu, gà càng lớn mức độ cảm
nhiễm càng cao.
18
Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây còn phụ thuộc vào vùng miền. Ở vùng
núi có điều kiện cho các loài ký chủ trung gian phát triển nên có tỷ lệ nhiễm
cao hơn. Theo kết quả điều tra ở các thập kỷ 70 và 80 cho thấy, gà ở vùng núi
nhiễm sán dây cao hơn vùng trung du và đồng bằng: Nghĩa Lộ 80,7%; Quảng
Ninh 85,0%; Hà Bắc 73,8%; Nam Hà 69.4% (Trịnh Văn Thịnh và CS, 1982)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6], đốt sán chửa theo phân ra
ngoài thường vào một thời gian nhất định trong ngày. Theo Wetzel (1954) sán
dây R. cesticillus thường thải đốt vào khoảng 11 - 15 giờ, loài Davainea
proglottina thải đốt vào khoảng 12 - 18 giờ. Việc thải đốt sán cũng phụ thuộc
vào phương thức cho ăn và giờ cho ăn. Nếu cho gà ăn hai lần vào lúc 10 giờ
và 16 giờ thì phân có nhiều đốt sán vào lúc 16 - 18 giờ. Ngược lại, nếu cho ăn
buổi chiều vào lúc 18 giờ và đêm thì 6 - 10 giờ sáng hôm sau sẽ ra đốt sán.
Dương Công Thuận (2003) [24] cũng cho thấy, đối với mỗi loài sán,
các đốt sán được thải ra theo thời gian nhất định trong ngày, thường vào buổi
chiều hay tối. Việc đốt sán ra còn phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi và
giờ cho ăn. Nếu cho ăn trưa và chiều thì đốt sán ra vào chiều tối. Nếu cho ăn
chiều và tối thì đốt sán ra vào sáng hôm sau.
Sức đề kháng của mầm bệnh ở ngoài tự nhiên cũng góp phần vào sự
phát triển của bệnh. Đốt sán già theo phân ra ngoài bị phân huỷ, giải phóng ra
nhiều trứng sán. Trứng sán dây tròn, được bao bọc bởi một hay nhiều lớp vỏ,
vì vậy chúng có thể tồn tại trong một thời gian nhất định ở ngoại cảnh.
Nguyễn Thị Lê và CS (1998) [9] nhận xét: Ngay bản thân của vật ký
sinh cũng có những biến đổi chức năng sống để phù hợp với đời sống ký sinh.
Đối với động vật sống tự do, dinh dưỡng là một trong những vấn đề phức tạp,
động vật bắt buộc phải vượt qua nhiều khó khăn, vì vậy chúng hình thành
hàng loạt khả năng thích nghi chuyên hoá đặc biệt để tồn tại, để bảo vệ loài và
sinh sản. Đối với vật ký sinh thì ngược lại, dinh dưỡng quá đầy đủ, do vậy
chúng tăng cường sinh sản để phát tán và bảo tồn. Vấn đề phát tán đối với
động vật tự do rất dễ dàng nhưng đối với động vật ký sinh thì cực kỳ phức tạp
và khó khăn, thường phải vượt qua nhiều điều kiện không thuận lợi của môi
trường. Vì vậy vật ký sinh thường sản sinh ra số lượng lớn trứng, ấu trùng,
đảm bảo khả năng tồn tại và phát tán ra môi trường bên ngoài.
19
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây gà
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6], sán dùng giác bán bám
sâu vào niêm mạc ruột gây tổn thương. Nếu nhiều sán sẽ làm thủng ruột, tắc
ruột, gây viêm xoang bụng. Trong khi ký sinh sán còn lấy chất dinh dưỡng
của vật chủ, tiết chất độc làm gà bị trúng độc. Khi số lượng sán ký sinh nhiều
sẽ làm cho con vật gầy dần, rối loạn tiêu hoá, kiết lỵ, có khi táo bón, gà ăn ít,
khát nước ủ rũ, gục đầu dưới cánh, cánh sã, lông dựng. Có khi liệt chân và lên
cơn động kinh. Mào nhợt nhạt do hàm lượng hồng cầu, huyết sắc tố giảm. Gà
mái đẻ ít hoặc không đẻ. Mổ khám thấy niêm mạc bị viêm, phủ chất nhờn
đặc, đỏ hoặc vàng nhạt, hôi thối, có những mụn lấm tấm, thành ruột dầy lên,
có chấm xuất huyết. Trên niêm mạc có nhiều đầu sán cắm vào.
Nguyễn Xuân Bình và CS (2004) [1] cho biết thường gà từ 2 tháng tuổi
trở lên thường nhiễm nhiều sán. Khi bị nhiễm nhiều gà thường có biểu hiện
chậm lớn, giảm tính thèm ăn, xù lông, còi cọc tiêu chảy thiếu máu, niêm mạc
xanh xao, nhợt nhạt. Ở gà đẻ thấy lông xơ xác và giảm đẻ trứng. Khi mổ
khám thấy niêm mạc đường tiêu hoá viêm và xuất huyết điểm. Trên niêm mạc
dễ dàng tìm thấy đốt sán.
Theo Phạm Sỹ Lăng và CS (2002) [8]: 3 loài sán dây thường gặp ở gà là
R .tetragona, R. echinobothrid , R. cesticillus đều gây ra trạng thái bệnh đường
tiêu hoá tương tự cho gà, nhưng loài R. echinobothrida có tác động nhiều nhất.
Kết quả điều tra về tình hình nhiễm giun sán ở gà tại một số điểm tại huyện Từ
Liêm (Hà Nội), cho thấy: cường độ nhiễm sán dây của gà từ 20 - 35
Raillientina spp/gà. Với số lượng lớn sống ký sinh trong ống tiêu hoá của gà,
sán dây chiếm đoạt chất dinh dưỡng của gà, làm gà gầy yếu, thiếu máu, thể
hiện rõ nhất là niêm mạc vàng, nhợt nhạt, mào và dái tai gà tái xanh. Gà khó
thở, do đó thường vươn cao cổ. Gà nhiễm sán nặng sẽ giảm trọng lượng và sản
lượng trứng. Trong thời gian bị bệnh gà vẫn ăn nhưng ăn kém hơn gà khoẻ.
Sán dây ký sinh trong ruột gà tác động cơ học làm cho niêm mạc ruột bị tổn
thương, gây viêm ruột thứ phát. Gà ỉa lỏng, phân có lẫn máu. Gà con bị bệnh
thường thể hiện viêm ruột cấp và chết với tỷ lệ cao. Trong quá trình ký sinh,
sán tiết độc tố tác động đến hệ thần kinh, làm cho gà mệt mỏi, không muốn vận
20
động, đứng ủ rũ trong bóng tối. Gà con bị bệnh cấp tính có thể bỏ ăn, hôn mê
lên cơn động kinh rồi chết.
Lê Đức Kỷ và CS (1984) [5] cho biết, gà có triệu chứng rõ khi có nhiều
sán ký sinh, xem kỹ phân cũng thấy đốt sán. Gà bị bệnh đi lại chậm chạp, ỉa
chảy ít một, khi ỉa luôn có sán theo ra. Gà khát nước nên uống nhiều nước, gà
xù lông, xã cánh, gầy yếu dần, nhiều khi liệt chân, lên cơn động kinh. Nếu
nặng hơn thì gà bỏ ăn, gầy rạc bỏ ăn rồi chết.
Theo Nguyễn Thất và CS (1975) [19]:
- Gà bị nhiễm Davainea proglottina: Với gà con thường bị nhiễm vào
những ngày đầu sau khi được đưa ra sân chơi, triệu chứng lâm sàng biểu hiện
sau 15 - 20 ngày kể từ khi nhiễm bệnh. Khi bị nhiễm nặng, con vật rối loạn
tiêu hoá, gầy yếu kiết lỵ có khi táo bón, ăn ít, khát nước, rũ cánh, mệt mỏi,
kém hoạt động, hô hấp tăng, hồng cầu và huyết sắc tố giảm, niêm mạc hơi
vàng nhạt. Gà mái gầy sút cân nhanh, đẻ ít có khi ngừng đẻ.
- Gà bị nhiễm Raillietina echinobothrida: Gà con mắc bệnh mệt mỏi,
không muốn vận động, ủ rũ trong bóng tối. Sau đó phát triển trạng thái hôn
mê và nhiều gà con bị chết. Ở gà lớn bị bệnh mãn tính thường thấy rõ triệu
chứng thiếu máu, gà vẫn ăn uống bình thường nhưng sau đó mào và dái tai
bắt đầu xanh tím, khó thở nên gà thường vươn cao cổ. Ở gà chết do bệnh sán
dây cấp tính, niêm mạc ruột non sưng có màu đỏ máu.
- Gà bị nhiễm Raillietina tetragona: Triệu chứng đặc trưng là ỉa chảy,
phân lẫn chất nhờn màu vàng, đôi khi lẫn máu, có khi cả đốt sán dây. Gà mặc
dù ăn tốt nhưng vẫn gầy dần, uể oải, ngồi giấu đầu dưới cánh, không có phản
ứng khi bắt, lông xù, sã cánh, khát nước và thích uống nước lạnh. Đặc biệt khi
cảm nhiễm nặng có thể có những cơn động kinh, gà bỏ ăn, gầy và chết.
Nguyễn Hùng Nguyệt và CS (2008) [15] cho biết: Sán dây ký sinh
trong ruột gà gây ra các tác động sau:
- Tác động cơ giới: Sán trưởng thành dùng giác bám bám vào niêm mạc
ruột gây tổn thương, xuất huyết, loét niêm mạc. Nếu số lượng sán dây ký sinh
nhiều có thể gây tắc ruột, thủng ruột từ đó gây viêm phúc mạc.
- Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng: Sán dây lấy dưỡng chấp ở ruột
non làm cho vật chủ bị mất nhiều dinh dưỡng.
21
- Tác động do độc tố: Sán ký sinh tiết độc tố làm gà bị trúng độc, gà gầy
yếu, thiếu máu có triệu chứng thần kinh. Sau đó bỏ ăn, nằm bẹp một chỗ rồi chết.
Khi mổ khám thấy xác chết gầy rạc, lông bết, phân ướt dính ở phía hậu
môn. Dọc theo ruột có nhiều sán ký sinh, niêm mạc ruột bị viêm, chất chứa
bên trong có màu nâu hồng.
Theo kết quả mổ khám của Dương Công Thuận (2003) [24], mổ khám
gà chết cấp tính thấy niêm mạc ruột non viêm đỏ, phủ một lớp nhờn đỏ hay
vàng nhạt, không tìm thấy sán trưởng thành, nhưng nạo niêm mạc thấy nhiều
đầu sán. Mổ khám gà chết mãn tính, trên niêm mạc có những chấm đen, sau
có các nốt lõm ở giữa, trong đó có sán dây. Trên thành ruột còn thấy các u
hoặc nốt màu vàng, trong có đầu sán.
Khi gà nhiễm bệnh, sán bám vào ruột non do các giác bám chặt gây
tổn thương thành ruột nên bị xung huyết, vì vậy đôi khi phân có máu. Sán
dây nằm đợi sẵn ở ruột khi các chất dinh dưỡng hấp thụ được là chúng
hưởng hết nên gà bị còi cọc, gầy ốm xơ xác, giảm cân vì không có chất
dinh dưỡng nuôi cơ thể.
2.1.4. Chẩn đoán bệnh sán dây gà
Chẩn đoán bệnh sán dây gà có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng, tuy
nhiên phần lớn gà bị bệnh thường không có biểu hiện đặc trưng và khó phân
biệt, vì vậy phải kết hợp với xét nghiệm phân tìm đốt sán.
Phạm Sỹ Lăng và CS (2002) [8] cho biết: Phương pháp chẩn đoán chủ
yếu là kiểm tra phân gà, phát hiện đốt sán dây bằng phương pháp dội rửa
nhiều lần (phương pháp Benedek). Mổ khám gà nghi nhiễm sán, thu thập và
định loại sán cũng là phương pháp đơn giản cho phép xác định các loài sán, tỷ
lệ và cường độ nhiễm sán dây.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6], (2008) [7]:
Đối với gà còn sống: Nếu số lượng đốt sán trong phân nhiều thì có thể
trực tiếp tìm đốt sán trong phân. Trường hợp gà nhiễm nhẹ, chỉ có ít đốt sán
thì xét nghiệm phân tìm đốt sán hoặc mảnh đốt sán bằng phương pháp lắng
cặn Benedek (1943). Có thể dùng phương pháp phù nổi Fulleborn tìm trứng
sán khi đốt già vỡ ra (Mckenna P.B., 1981; Hasen J.,1994). Hầu hết trứng sán
22
dây hình tròn, được bao bọc bởi nhiều lớp vỏ. Giữa trứng có phôi 6 móc, phôi
hình bầu dục. Cần chú ý, sán dây gà thuộc bộ Cyclophyllidea, tử cung hình túi
kép kín nên trứng sán không theo phân ra ngoài mà đốt sán chửa theo phân ra
ngoài, do vậy khi gà bị nhiễm loài sán thuộc bộ này khi xét nghiệm phân
không tìm thấy trứng sán.
Khi sán dây chưa thành thục, đốt sán già chưa thải theo phân ra ngoài,
có thể điều trị để chẩn đoán.
Đối với gà chết hoặc những con nghi mắc bệnh còn sống có thể mổ
khám để kiểm tra bệnh tích và tìm sán trưởng thành.
Ngoài ra, theo tài liệu của Chu Thị Thơm và CS (2006) [23] có thể căn cứ
vào đặc điểm của đốt sán già để xác định các loài sán dây như: Cotugina
proglotina đốt trưởng thành có cơ quan sinh dục kép; R. echinobothrida có vết
nối liền đầu và cổ rỗ rệt, vòi có hai hàng móc; R. tetragona phổ biến ở nước ta,
giác bám hình bầu dục, vị trí lỗ sinh dục đổ sang bên cạnh của đốt; R. cesticillus
ở đốt già tử cung phân thành các nang trứng, mỗi nang chứa một trứng…
2.1.5. Điều trị và phòng bệnh cho gà
2.1.5.1. Điều trị
Như đã thấy vai trò gây bệnh của các loài sán dây là rất rõ rệt đối với
gà. Vì vậy cần có các biện pháp điều tri có hiệu quả. Chữa bệnh phải đạt được
yêu cầu:
Trước hết phải dùng thuốc tẩy sán dây cho gà. Phải dùng thuốc hướng
ký sinh trùng, tức là độc với ký sinh trùng nhưng không độc với vật chủ. Nên
chọn loại thuốc nào có hiệu lực nhất với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm
nhất đối với ký chủ, rẻ tiền nhất dễ dùng nhất.
Phải ngăn chặn không cho gà bị ốm tái nhiễm. Sát trùng tiêu độc
chuồng trại.
Theo Dương Công Thuận cho biết: Trước đây tẩy sán cho gà thường
dùng bột hạt cau với liều 0,5g/gà hoặc Arecolin 3 mg/kg thể trọng. Hạt cau có
tác dụng làm tê liệt sán dây, đồng thời tăng co bóp dạ dày ruột để tống sán ra
ngoài. Hiện nay thường dùng Niclosamid, dẫn xuất của Salicylanilid có tác
dụng cao trị các loại sán dây, nhất là với Raillietina. Liều dùng 0,2g/kg. Có
23
thể dùng thuốc tẩy sán của người Yomesan (Niclosamid) với liều như trên.
Mebendazol ngoài tác dụng trị giun tròn còn có hiệu lực trị sán dây với liều 3-
6mg/kg thể trọng dùng trong 7 ngày trộn thức ăn 12g/1 tạ thức ăn hỗn hợp
cho ăn trong 10 ngày (nếu dùng Mebenvet thì trộn 120g/1 tạ thức ăn).
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [6], có thể dùng thuốc tẩy sán dây
cho gà:
- Arecolin: 0,003 g/kgTT, pha thành dung dịch 0,1%. Cho thuốc vào
thực quản bằng ống cao su. Hiệu quả điều trị cao.
- Bột hạt cau: 50 - 500 mg/gà. Cho uống.
- Niclosamid: 20 mg/kgTT. Cho uống.
- Hexachlorophen: 50 - 100 mg/kg TT. Cho uống. Hiệu quả đạt trên
90% nhưng với gà đẻ sau 3-7 ngày sản lượng trứng giảm.
Lê Thị Tài và CS (2002) [16] cho biết, có thể dùng hạt bí ngô kết hợp
với nước sắc hạt cau, vỏ hạt lựu khô để điều trị sán dây cho gà.
Theo Phạm Sỹ Lăng và CS (2002) [8]: Các hoá dược đặc hiệu có tác
dụng điều trị bệnh sán dây của gà gồm:
- Praziquantel: Viên nén, màu trắng, liều dùng 10 mg/kg TT, có hiệu
lực cao và an toàn tẩy các loài sán dây gà. Tỷ lệ sạch sán có thể đạt 90 -
100%. Thuốc trộn với thức ăn cho gà.
- Niclosamid: Dạng bột màu vàng hoặc viên nén với liều 20 mg/kg TT,
trộn vào thức ăn dùng liên tục từ 2 - 6 ngày. Thuốc có hiệu lực tẩy cao và an
toàn, tỷ lệ sạch sán 90 - 95%.
- Mebenvet: Trong hoá dược này có 10% Mebendazol,dạng bột màu
trắng không tan trong nước. Liều dùng 60 ppm trộn vào thức ăn, cho gà ăn
liên tục trong 7 ngày. Thuốc an toàn, tỷ lệ sạch sán 90 - 95%.
- Oxfendazole: Dạng bột hoặc dạng viên nén, dùng liều 10 mg/kg TT.
Thuốc an toàn tỷ lệ sạch sán 90 - 95%.
- Febentel: Dạng bột hoặc viên nén, dùng liều 30 mg/kg TT. Thuốc an
toàn, tỷ lệ sạch sán 90 - 95%.
Theo Lê Hồng Mận và CS (2001) [13], ngoài các loại thuốc trên thì có
thể dùng Butyrorate kết hợp Piperazin và Phenothiazin.
24
Orlov F.M và CS (1975) [28] cho biết: Thuốc trị sán dây tốt nhất cho gà
là bột hạt cau với liều lượng 1 - 2 g/con. Ngoài ra có thể dùng chất chiết rễ
cây dương sỉ đực cũng với liều lượng như trên.
Jelvai V.V (1955) đã nghiên cứu phương pháp chữa bệnh sán dây
R.echinobothrida cho gà, bằng Arecolin hydrobromic hoặc Tetraclorua
cacbon, tỷ lệ sạch sán từ 90 -100%.
Jelvai V.V cũng cho biết sau khi tẩy sán dây R. echinobothrida cho gà
đại trà bằng Tetreclorua ccacbon, đã nâng mức đẻ trứng lên 65%.
2.1.5.2. Phòng bệnh
Theo quan điểm học thuyết về tiêu diệt bệnh giun sán của Skrjabin K.I
(1944), muốn diệt trừ tận gốc bệnh giun sán thì phải dự phòng có tính chất chủ
động: Dùng tất cả các biện pháp cơ giới, vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), hoá học
(thuốc), sinh vật học (sinh vật nọ tiêu diệt sinh vật kia) để tiêu diệt giun sán trên
cơ thể vật chủ, tiêu diệt giun sán ở tất cả các giai đoạn phát dục: Trứng ấu trùng,
giun sán trưởng thành (Nguyễn Thị Kim Lan và CS, 1999) [6]
Trên cơ sở đó, việc phòng trị bệnh giun sán nói chung phải đạt được các
yêu cầu sau:
- Điều trị cho gà bị bệnh khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bị ô
nhiễm mầm bệnh, tránh mầm bệnh nhiễm vào các con vật khác. Sau khi tẩy phải
tiêu diệt tất cả sán và đốt sán thải ra ngoài để ngăn ngừa mầm bệnh phân tán.
- Dùng thuốc đặc hiệu để diệt giun sán.
- Định kỳ cho dùng thuốc tẩy giun sán, chống tái nhiễm, bội nhiễm.
- Phối hợp các phương sách nhằm ngăn ngừa mầm bệnh phát tán ra
ngoại cảnh (các phương pháp xử lý phân).
Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6] khuyến cáo rằng, để tẩy giun
sán đạt hiệu quả thì cần phải thực hiện các nguyên tắc sau: Sau khi chẩn đoán
bệnh chính xác, trước tiên phải tẩy cho những gà bị nhiễm nặng hoặc những
con có biểu hiện lâm sàng, với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy cho cả đàn.
Tốt nhất nên tẩy vào mùa Xuân (tháng 3 - 4) và mùa Thu (tháng 8 - 9), khi tẩy
phải nhốt gà trong chuống từ 3 - 5 ngày sau khi tẩy để tập trung phân ủ diệt
mầm bệnh, sau 10 - 15 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu quả của thuốc.
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×