Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4

Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐỀ.
Tập đọc là một phân môn trong môn Tiếng việt ở bậc tiểu học. Phân
môn này được dạy ở bậc tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5. Nhằm phát triển các kỹ
năng nghe, nói, sử dụng tiếng Việt của học sinh trên cơ sở những kiến thức cơ
bản về đọc, nhằm từng bước giúp học sinh làm chủ được ngôn ngữ tiếng Việt
để học tập trong nhà trường và giao tiếp một cách đúng đắn, mạch lạc, tự
nhiên, tự tin trong môi trường xã hội thuộc phạm vi hoạt động của lứa tuổi.
Tập đọc góp phần cùng môn học khác rèn luyện các thao tác tư duy cơ bản
cho học sinh tiểu học, cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên,
con người Từ đó bồi dưỡng cho học sinh tình yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp,
yêu cái thiện, yêu lẽ phải và sự công bằng. Nhất là các em yêu quý tiếng mẹ
đẻ, có ý thức nói đúng, đọc đúng, nghe đúng tiếng Việt. “Đọc” trở thành đòi
hỏi đầu tiên của học sinh khi đi học. Không những tế còn giáo dục các em biết
giữ gìn, bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt.
Nhiệm vụ của môn tập đọc nhằm hình thành các kỹ năng đọc văn bản.
Thông qua đọc làm nổi bật sự biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm
thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc hiểu được nội dung văn bản đọc.
Thông qua tiếp xúc với văn bản đọc các em thấy được cái hay, cái đẹp. Từ đó
góp phần hình thành nhân cách. Đây chính là nhiệm vụ chính và rất cần thiết
của phân môn tập đọc.
Phân môn tập đọc ở tiểu học nói chung, lớp 4 nói riêng củng cố phát

triển kỹ năng đọc trơn (đã hình thành sau các lớp 1,2,3 ở bậc học). Tập đọc
lớp 4 giúp cho học sinh tăng cường về tốc độ đọc, biết đọc hiểu để lựa chọn
thông tin nhanh, tiến tới các em biết đọc diễn cảm các văn bản là văn, thơ,
kịch Hình thành kỹ năng phát hiện giá trị nghệ thuật trong các bài tập đọc
và biết nhận xét đánh giá các giá trị đó.
Xuất phát từ tình hình thực tế học sinh lớp 4B - Trường Tiểu học
……… mà bản thân tôi trực tiếp giảng dạy trong năm học 2009 -2010 kỹ
năng đọc “Diễn cảm” chưa cao, chưa đạt được yêu cầu, mục tiêu của môn học
1
đề ra, các em đọc còn đọc chưa lưu loát, phát âm bị lẫn phụ âm đầu, thanh,
vần, chưa biết cách đọc hiểu, dẫn đến việc cảm nhận cái hay, cái đẹp của văn
bản còn khó khăn.
Mặt khác, thông qua quá trình giảng dạy của giáo viên trong tổ khối
chuyên môn, tôi thấy có đồng chí giáo viên chưa thực sự quan tâm rèn kỹ
năng đọc “Diễn cảm” trong các giờ tập đọc trên lớp. Để giải quyết phần nào
những hạn chế trên của học sinh lớp 4 và góp phần rèn luyện kỹ năng đọc
“Diễn cảm” cho học sinh.
Bản thân tôi đã nghiên cứu và đưa ra “ Một số giải pháp rèn luyện kỹ
năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4”
2
Phần thứ hai: NỘI DUNG
I - CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA “MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN KỸ NĂNG ĐỌC
CHO HỌC SINH LỚP 4”
Mục tiêu chính của phân môn tập đọc lớp 4 mà Bộ Giáo dục đã đề ra là:
Hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt. Giúp học sinh yêu
cái hay, cái đẹp của tiếng Việt Biết đọc nhanh, “đọc diễn cảm” hay còn gọi
là đọc truyền cảm.
Như chúng ta đã biết:
- Đọc là hình thức biến chữ viết của văn bản thành hình thức âm thanh
để người nghe hiểu được điều mà tác giả nói qua chữ viết. Đọc với tư cách là
một phân môn của tiếng Việt ở bậc tiểu học là một dạng hoạt động lời nói,
đọc là hoạt động nhận tin và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành
tiếng) là quá trình chuyển trực tiếp từ dạng chữ viết thành các đơn vị nghĩa
không có âm thanh (đọc thầm). Như vậy cả hai hình thức đọc thành tiếng và
đọc thầm không thể tách rời với việc hiểu những gì được đọc.
Kỹ năng đọc được tạo nên từ 4 yêu cầu về chất lượng đọc: Đọc đúng -
đọc nhanh - đọc lưu loát- đọc hiểu. Như vậy rèn kỹ năng “đọc diễn cảm” cho
học sinh đó chính là các em phải biết đọc đúng - đọc nhanh (đọc thầm, đọc
thành tiếng) - đọc hiểu nội dung và biết đọc diễn cảm.
II - CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ:
1) Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh đọc đúng âm, vần, dấu thanh.
* Đọc đúng các âm dễ lẫn:
Đọc đúng là phát âm đúng hệ thống ngữ âm chuẩn. Nói cách khác là
phải đọc đúng chính âm (không đọc theo cách phát âm của địa phương, mà
cách phát âm có sự sai lệch so với âm chuẩn). Phát âm đúng tiếng Việt là yêu
cầu cần thiết. Đọc đúng đòi hỏi thể hiện chính xác âm vị. Để học sinh đọc
đúng trong quá trình giảng dạy tôi đã cho các em phát hiện, so sánh, phân biệt
để từ đó các em phát âm đúng hay đọc đúng hay đọc đúng các âm đầu trong
các bài đọc và trong giao tiếp.
3
+ Ví dụ 1: Khi dạy bài “Dế mèn bênh vực kẻ yếu” - Tiếng Việt lớp 4 -
phần I.
Là bài học đầu tiên của chương trình, tôi đã tiến hành hướng dẫn cho
học sinh phát hiện, phân biệt để đọc đúng các phụ âm đầu hay đọc lẫn như
sau: (Các tiếng có phụ âm đầu “l/n”).
- Học sinh đọc bài một lượt - Toàn lớp đọc thầm.
- Học sinh đưa ra các từ hay đọc lẫn ở trong bài đó là:
“Mới lột, bước non, lương ăn, món nợ cũ ”
- Gọi một học sinh đọc các từ đó.
- Cho học sinh khác nhận xét xem bạn đọc đúng, sai.
- Nếu học sinh đọc vẫn sai - Giáo viên đọc mẫu - Học sinh đọc lại.
Mặt khác cho học sinh có thể so sánh phân biệt để đọc cho đúng.
- Phải đọc là vay “lương” ăn chứ không đọc là vay “nương” ăn trong
câu (Năm trước, gặp khi trời làm đói kém, mẹ em phải vay lương ăn của
Nhện).
“Lương” ở đây là lương thực, lương tháng khác “Nương” rẫy hay làm
nương.
Như vậy chúng ta cần chỉ rõ cho học sinh khi nào phát âm là “l”, khi
nào phát âm đọc là “n” trên cơ sở học sinh hiểu nghĩa của từ.
+ Ví dụ 2: Khi dạy bài “Những hạt thóc giống” - Tiếng Việt lớp 4 -
phần 1.
- Tôi tiến hành hướng dẫn học sinh đọc đúng phụ âm đầu (l/n) như sau:
- Gọi học sinh lần lượt đọc bài.
- Học sinh khác chú ý lắng nghe bạn đọc, phát hiện những tiếng bạn đọc
chưa đúng phụ âm đầu.
- Giáo viên ghi lên bảng chẳng hạn (nô nức, lo lắng, nảy mầm )
- Gọi những học sinh đọc chưa đúng đọc lại - Học sinh khác nhận xét
đọc được chưa không được đọc là “lô lức”; “no nắng”, “lảy mầm” trong các
câu ( mọi người nô nức chở thóc chôm lo lắng đến trước vua quỳ tâu).
4
* Đọc đúng các vần:
Không những yêu cầu học sinh đọc đúng phụ âm đầu (l/n) như trên mà
cần rèn cho các em đọc đúng cả những vần khó, tiếng khó, vần có nguyên âm
đôi mà các em hay phát âm sai, tôi đã hướng dẫn cụ thể như sau:
+ Ví dụ:
- Cho các em đọc bài giáo viên cùng học sinh theo dõi, nếu học sinh
đọc sai ghi lên bảng và sửa cho học sinh: “con hươu” vần “ươi” không đọc là
con “hiêu” vần iêu, “về hưu” không đọc là “về hiu” vần “iu”, “uống rượu”
vần “ươu” không đọc là “uống riệu” vần “iêu” hoặc cho học sinh phát hiện
các tiếng có vần khó như “tuyết, khuyết, khúc khuỷu, đêm khuya, ngoằn
ngoèo ”
- Gọi học sinh đọc lại những từ, tiếng có vần khó.
- Giáo viên uốn nắn sửa luôn cho học sinh.
Bên cạnh hướng dẫn học sinh đọc đúng âm, vần như trên tôi còn luyện
đúng dấu thanh.
+ Đọc đúng dấu thanh.
Học sinh tiểu học vẫn còn có em chưa phát âm đúng, đọc đúng dấu
thanh do nhiều yếu tố mang lại. Trong đó có yếu tố do đặc điểm khu vực vùng
miền mà các em sinh sống. Các em còn phát âm sai ở dấu thanh như thanh
ngã (~) phát thành thanh sắc (') như tiếng “mỡ” thành “mớ” là sai nghĩa của
câu.
Chính vì thế chúng ta cần rèn cho các em đọc đúng dấu thanh trong các
bài tập đọc như:
+ Ví dụ: Khi dạy bài “Chị em tôi” - Tiếng Việt lớp 4 - phần I.
- Giáo viên đưa ra các tiếng mà có dấu thanh hay lẫn.
- Giáo viên gọi một số học sinh đọc.
- Học sinh khác nhận xét bạn đọc đúng dấu thanh chưa.
- Nếu vẫn còn học sinh đọc chưa đúng.
- Giáo viên đọc mẫu và phân tích cho học sinh.
5
Chẳng hạn như:
“Tặc lưỡi” thanh ngã không đọc là “Tặc lưới” thanh sắc.
“Giận giữ” thanh ngã không đọc là “Giận dứ” thanh sắc.
“Dũng cảm” thanh ngã không đọc là “Dúng cảm” thanh sắc
2) Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh đọc đúng ngữ điệu.
- Đọc đúng ngữ điệu bao gồm lên giọng, xuống giọng, nhấn giọng,
chuyển giọng, ngắt hơi, cường độ và cả trường độ của giọng đọc Như vậy
đọc đúng ngữ điệu là đúng về ý nghĩa, nội dung của từ, câu, đoạn đúng
phong cách và chức năng của văn bản các em đọc thế nào để người nghe thấy
được cái hay, cái đẹp của nội dung và nghệ thuật của bài đọc. Đọc đúng ngữ
điệu là thể hiện hài hòa về âm hưởng của bài đọc. Nó có giá trị lớn để bộc lộ
cảm xúc, và vậy đọc đúng ngữ điệu rất quan trọng, giúp học sinh bước đầu
thâm nhập vào văn bản, làm việc với văn bản.
Chính vì thế để rèn kỹ năng đọc “Diễn cảm” cho học sinh, giáo viên cần
chú ý rèn luyện cho học sinh đọc đúng ngữ điệu. Chẳng hạn khi học sinh đọc
giáo viên hướng dẫn cụ thể, từng thể loại như sau:
+ Hướng dẫn đọc các câu đối thoại, lời nhận vật.
Ví dụ: Khi dạy bài: “Những hạt thóc giống” - Tiếng Việt 4 - Phần 1.
- Tôi hướng dẫn cụ thể như sau để học sinh biết đọc lời của nhân vật,
cho học sinh đọc thầm 1 lượt.
Hỏi: - Bài có mấy nhận vật? Đó là những nhận vật nào?
- Lời của từng nhân vật đọc như thế nào?
- Giáo viên đọc mẫu đúng lời của các nhân vật.
Lời của Chôm : Ngây thơ, lo lắng: “Tâu bệ hạ! con không làm sao cho
hạt thóc của Người nảy mầm được''
Lời của Nhà vua:
- Khiêm tốn (lúc giải thích thóc giống đã được lộc).
- Khi dõng dạc (Lúc ca ngợi chú bé Chôm)
6
“Trung thực là đức tính quý nhất của con người. Ta sẽ truyền ngôi cho
chú bé trung thực và dũng cảm này”
Sau khi hướng dẫn và đọc mẫu, giáo viên cho học sinh đọc phân vai
(người dẫn chuyện, Nhà vua, chú bé).
Hướng dẫn đọc nhấn giọng các từ ngữ hình ảnh quan trọng.
Ví dụ: Khi dạy bài “Đôi giày ba ta màu xanh” - Tiếng Việt lớp 4- Phần 1
Bài có 2 đoạn:
Đoạn 1: Tả vẻ đẹp của đôi giày cần đọc giọng thế nào.
Đoạn 2: Đọc giọng thế nào thấy được tâm trạng của cậu bé.
- Đoạn 1: Đọc giọng hồi tưởng, nhẹ nhàng nhấn giọng một số từ
Chao ôi!/ đôi giày mới đẹp làm sao!/ cổ giày cao,/ ôm sát chân,/ thân
giày làm bằng vải cứng,/ dáng thon thả,/ màu vàng như màu da trời
- Đoạn 2: Nhấn giọng từ ngữ tả sự xúc động niềm vui xướng của cậu
bé.
Hôm nhận giày, tay lái run run,/ môi cậu mấy máy,/ mắt hết nhìn đôi
giày,/ lại nhìn xuống đôi chân,/ lái cột hai chiếc giày vào với nhau,/ đeo vào
cổ,/ nhảy tưng tưng
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Truyện cổ nước mình”
(Tác giả: Lâm Thị Vĩ Dạ - Tiếng Việt 4 - Phần 1)
Thơ lục bát: Thể thơ lục bát cần đọc giọng thong thả, trầm tĩnh, sâu
lắng. Sự ngắt nhịp của câu thơ rất đa dạng, phù hợp với nội dung của từng câu
thơ như:
-Tôi yêu/ truyện cổ nước tôi//
Vừa nhân hậu/ lại tuyệt vời sâu xa//
-Thương người/ rồi mới thương ta//
Yêu nhau/ chi mới cách xa/ cũng tìm//
- Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa//
Con sông chảy/ có rặng dừa nghiêng soi//
7
Câu thì nhịp 3/5, câu thì 2/4, câu lại nhịp 2/2/2 và câu nhịp 3/3. Khi
dạy, chúng ta cho học sinh thấy được sự ngắt nhịp cũng như sự gieo vần của
các dòng thơ. Thơ lục bát thường tiếng 6 của câu 6 gieo vần với tiếng thứ 6
của câu thứ 8 (Vần “ơi” của tiếng tôi gieo với vần “ơi” của tiếng vời )
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Dòng sông mặc áo”
(Tiếng Việt lớp 4- phần II - Tác giả: Nguyễn Trọng Tạo).
Để thấy được niềm vui bất ngờ của tác giả khi phát hiện ra những vẻ
đẹp đổi thay muôn màu của dòng sông qua sự ngắt nhịp của câu thơ.
Sáng ra/ thơm đến ngẩn ngơ/
Dòng dông đã mặc bao giờ/ áo hoa/
Ngước lên/ bỗng gặp la đà/
Ngàn hoa bưởi đã nở nhòa/ áo ai/
Thơ tự do : Khi dạy bài “Tuổi ngựa” của tác giả: Xuân Quỳnh
(Tiếng Việt lớp 4 - Phần 1).
Bài thơ mỗi dòng gồm 5 tiếng. Yêu cầu học sinh đọc ngắt nhịp khác với
bài thơ lục bát. Để miêu tả được ước vọng lãng mạng của đứa con. Lắng lại
đầy trìu mến của tình cảm mẹ con, thể hiện rõ sự ngắt nhịp, nhấn giọng như:
Mẹ ơi/con sẽ phi/ nhịp 2/3
Qua bao nhiêu/ngọn gió/ nhịp 3/2
Gió xanh/miền Trung du/ nhịp 2/3
Gió lồng/vùng đất đỏ nhịp 2/3
Gió xanh hút/đại ngàn/ nhịp 3/2
Con/mang về/ cho mẹ/ nhịp 1/2/2
Ngọn gió của/ trăm miền.// nhịp 3/2
Như vậy, để rèn luyện kỹ năng đọc “diễn cảm” cho học sinh, chúng ta
ngoài việc rèn đọc đúng âm, vần và đọc cần đúng ngữ điệu của các bài văn,
thơ. Bên cạnh đó, chúng ta cần rèn cho học sinh biết đọc hiểu.
3) Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh đọc hiểu
8
Đọc hiểu là thông qua đọc, người đọc hiểu được nội dung tư tưởng chủ
đề đơn giản của bài. Nhận biết được đề tài, chủ đề đơn giản của bài. Nắm
được dàn ý sơ lược, tóm tắt được nội dung chính của bài, của đoạn, phát hiện
được giá trị của tác phẩm trong việc biểu đạt nội dung. Hiểu được ý nghĩa của
bài. Hình thành kỹ năng đọc lướt nắm ý chính hoặc lựa chọn thông tin. Biết
ghi các thông tin cần thiết. Chính vì thế để rèn kỹ năng đọc cho học sinh, tôi
đã chú ý rèn kỹ năng đọc hiểu.
* Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu nội dung của đoạn bài.
Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu nội dung của bài, đoạn. Tôi đã cho học sinh
dựa vào các câu hỏi trong sách giáo khoa để tìm hiểu như:
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Trung thu độc lập”.
(Tác giả: Thép Mới - Tiếng việt 4 - phần 1)
Học sinh đọc đoạn 1 và các em thấy được cảnh đẹp của đất nước qua
các câu văn miêu tả Trung thu độc lập đầu tiên của đất nước.
“ Trăng ngàn và gió núi bao la khiến lòng anh ”
Đoạn 2: Đây chính là mơ tưởng của anh chiến sĩ - Mơ ước của anh rất
đẹp và ước mơ đó đã thành sự thực.
“ Mươi mười lăm năm dòng thác nước chảy xuống làm chạy máy
phát điện”.
Đoạn 3: Học sinh đọc và thấy được niềm tin của anh chiến sĩ về những
tết Trung thu sau là niềm tin vào tương lai.
“Anh mừng cho các em Tết Trung thu sau còn tươi đẹp hơn”
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Chợ tết”
(Tác giả: Đoàn Văn Cừ - Tiếng Việt lớp 4 - phần II)
Thông qua đọc, học sinh hiểu và thấy được vẻ đẹp của bài thơ là một
bức tranh giàu mầu sắc và vô cùng sinh động dưới ngòi bút của tác giả. Bức
tranh ấy nói lên cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc của người dân quê: Mặt trời lên
làm đỏ dần những dải mây trắng và những làn sương sớm. Núi đồi cũng làm
9
duyên, núi uốn mình trong chiếc áo the xanh đồi thoa son. Những tia nắng
nghịch ngợm nhảy hoài trong ruộng lúa Bức tranh giàu màu sắc của chợ tết
được tạo bởi các màu: Trắng, đỏ, hồng, làm, xanh, biếc, thắm, vàng, tím, son.
Ngay cả màu đỏ cũng có nhiều cung bậc: (hồng, đỏ, tía, thắm, son ) Học sinh
hiểu được như vậy là do đọc từng đoạn, bài thông qua các câu hỏi gợi ý của
sách giáo khoa và giáo viên đưa ra.
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Hoa học trò”
(Tác giả: Xuân Diệu - Tiếng việt lớp 4 - Phần II)
Để học sinh cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo của hoa phượng qua ngòi
bút miêu tả tài tình của tác giả. Tôi đã cho học sinh đọc đoạn, đọc bài và gợi ý
bằng hệ thống câu hỏi để học sinh tìm hiểu nội dung như:
+ Tại sao tác giả gọi hoa phượng là hoa học trò?
Vì : Phượng là loại cây gần gũi, quen thuộc với học trò. Phượng thường
được trồng nhiều ở sân trường và nở vào mùa thi của học trò. Hoa phượng nở
là nghĩ đến kỳ thi và những ngày hè.
+ Vẻ đẹp của hoa phượng có gì đặc biệt:
Hoa phượng đỏ rực, đẹp không phải ở một đóa mà cả loạt, cả một vùng,
cả một góc trời, sắc màu như muôn ngàn con bướm thắm
+ Màu hoa phượng thay đổi như thế nào theo thời gian?
Lúc đầu đỏ nhạt, gặp mưa hoa càng tươi. Dần dần số hoa tăng, màu đỏ
đậm dần theo thời gian.
+ Em nêu cảm nhận của mình khi đọc bài văn đó (Học sinh tự do nói
cảm nghĩ của mình).
Như vậy, thông qua đọc học sinh không những thấy được, hiểu được,
cảm nhận được nội dung, ý nghĩa của văn bản mà còn thấy được giá trị nghệ
thuật của từng văn bản, có thể đưa ra nhận xét, đánh giá về chúng. Đây là
những giải pháp để hướng dẫn học sinh lớp 4 đọc diễn cảm tốt. Tôi thấy vô
cùng cần thiết, để góp một phần không nhỏ vào việc cảm thụ văn học của
10
mình. Đọc diễn cảm tốt là truyền được nội dung và cảm xúc của bài văn, thơ
tới người nghe mà chưa cần phải giảng.
III - HIỆU QUẢ CỦA VIỆC THỰC HIỆN KINH NGHIỆM “RÈN ĐỌC DIỄN
CẢM CHO HỌC SINH LỚP 4”
Để rèn luyện cho học sinh đọc “diễn cảm” chúng ta cần hiểu rằng “đọc
diễn cảm” chính là cách đọc diễn ý làm rõ nghĩa lôgic của từ, câu, văn bản.
Tùy thuộc vào nội dung của văn bản và thể loại (văn xuôi, thơ hay văn bản
kịch ) mà người đọc sử dụng ngữ điệu phù hợp, nhằm diễn tả sinh động
những điều tác giả muốn nói đến trong văn bản. Đọc diễn cảm là cách đọc
sáng tạo, linh hoạt của người đọc như lên giọng, xuống giọng Như vậy để
học sinh đọc diễn cảm tốt, tôi thấy cần dạy kết hợp cả ba giải pháp trên đó là:
+ Hướng dẫn học sinh đọc đúng âm, vần, dấu thanh
+ Hướng dẫn học sinh đọc đúng ngữ điệu
+ Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản
Kết hợp cả ba giải pháp đó trong các bài tập đọc đã giúp học sinh đọc
diễn cảm tốt hơn, các em sẽ yêu thích tiếng Việt. Bên cạnh đó còn giúp các
em viết được những câu văn, đoạn văn, bài văn đúng với yêu cầu chương
trình của bậc tiểu học. Các em say mê học bộ môn, không còn sợ bộ môn
tiếng Việt. Đó chính là mục tiêu yêu cầu của bậc tiểu học.
Thực hiện tốt sự kết hợp của ba giải pháp trên, cũng như sự tích cực rèn
luyện của học sinh, dưới sự hướng dẫn của giáo viên trong thời gian qua của
lớp 4 - trường tiểu học ……………… Tôi thấy về chất lượng đọc “Diễn cảm”
của lớp được nâng lên rõ rệt cả về số lượng và chất lượng. Nhiều em đã đọc
một cách truyền cảm đến người nghe. Thể hiện rõ trong bảng so sánh qua kết
quả kiểm tra trắc nghiệm như sau:
XẾP LOẠI
ĐẦU NĂM CUỐI HỌC KỲ I
KẾT QUẢ SO SÁNH
SỐ
LƯỢNG
% SỐ LƯỢNG %
Tốt
Khá
Trung bình
11
Yếu
Như vậy, nhìn vào bảng so sánh trên giữa đầu năm và cuối học kỳ I. Ta
nhận thấy chất lượng hay kết quả đọc diễn cảm của học sinh được nâng lên rõ
rết. Số học sinh đọc diễn cảm tốt tăng và nhất là học sinh đọc diễn cảm yếu đã
giảm xuống. Qua đó ta thấy được thực hiện các giải pháp trên trong học kỳ
vừa qua bước đầu đã thu được kết quả khả quan.
12
Phần thứ ba: KẾT LUẬN
1/Kết luận chung
Để giúp cho học sinh lớp 4 có kỹ năng đọc diễn cảm tốt. Giúp các em
nhận thức được cái hay, cái đẹp trong tiếng Việt góp phần hình thành nhân
cách con người. Thấm nhuần truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, ưa chuộng
lối sống lành mạnh, ham thích làm việc, có khả năng tư duy cao và thích ứng
với cuộc sống xã hội sau này. Mặt khác mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên xã
hội, con người. Thông qua đọc diễn cảm giúp học sinh tư tưởng, chủ đề đơn
giản của bài. Nắm được giàn ý sơ lược. Tóm tắt được nội dung chính của bài.
Biết phát hiện giá trị nghệ thuật và nhận xét đánh giá bài. Từ đó các em có thể
tự viết được các câu, đoạn, bài văn bằng chính sự hiểu biết của mình. Đó
chính là sản phẩm của sự học hỏi, tìm tòi, khám phá qua được tiếp xúc văn
bản đọc (đọc diễn cảm).
Có được kết quả như vậy trong kinh nghiệm này tôi đưa ra và thực hiện
kết hợp cả ba giải pháp:
+ Hướng dẫn học sinh đọc đúng âm, vần, dấu thanh
- Âm đầu mà học sinh hay mắc đó là âm “l” và “n”
- Vần học sinh hay lẫn, sai “ươu”, “iêu”, “ưu” “iu”
- Dấu thanh học sinh hay đọc sai là dấu (~) thành dấu sắc (')
+ Hướng dẫn học sinh đọc đúng ngữ điệu
- Hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ câu văn dài
- Hướng dẫn học sinh đọc đúng các câu hội thoại
- Hướng dẫn học sinh đọc nhấn giọng từ ngữ, hình ảnh quan trọng
- Hướng dẫn học sinh đọc đúng nhịp các bài thơ (thơ lục bát và thơ tự do)
+ Hướng dẫn học sinh đọc hiểu
- Hướng dẫn học sinh đọc thầm
- Hướng dẫn rèn luyện đọc tìm hiểu nội dung của đoạn, bài.
Để học sinh đọc diễn cảm tốt, thực hiện được mục tiêu, yêu cầu của bộ
môn. Chúng ta cần nắm được mục tiêu:
- Mục tiêu của bậc tiểu học
- Mục tiêu của bộ môn Tiếng Việt
- Mục tiêu của phân môn cần đạt - Xác định đúng mục tiêu của bài
13
+ Nắm vững nội dung chương trình tiếng Việt bậc học nhất là chương
trình của lớp 4, xem có hợp lý, vừa sức học sinh không.
+ Cần lựa chọn, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học của bộ
môn, phân môn. Để gây hứng thú quá trình học tập của học sinh, huy động
được mọi học sinh cùng tích cực học tập.
+ Thực hiện tốt cả ba giải pháp mà tôi đã đưa ra trong sáng kiến kinh
nghiệm này.
Thực hiện tốt ba giải pháp trên giúp học sinh đọc “Diễn cảm” tốt, góp
phần không nhỏ trong việc giúp học sinh lớp 4 tiếp thu các bộ môn khoa học
khác. Nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
Với kinh nghiệm “Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4” thông
qua ba giải pháp đã thực hiện. Tôi thấy có thể vận dụng dạy trong giờ tập đọc
của nhà trường và nhất là ở 2 lớp 4 trong khối. Tôi thấy các đồng chí, đồng
nghiệp có thể vận dụng tham khảo.
2/ Một số kiến nghị
Để kinh nghiệm trên của tôi đưa ra có thể triển khai tới nhiều đồng chí
giáo viên trong nhà trường, nhất là trong khối. Góp phần nâng cao chất lượng
dạy và học của giáo viên và học sinh. Tôi có đề xuất nhỏ như sau:
- Tổ chức chuyên đề về hướng dẫn luyện đọc diễn cảm tới các đồng chí
giáo viên.
- Tổ chức cho học sinh ngoại khóa (thi đọc diễn cảm )
Trên đây là một số giải pháp tôi đưa ra. Rất mong các đồng chí, đồng
nghiệp, Hội đồng khoa học nhà trường, ban giám khảo đóng góp, bổ xung ý
kiến tích cực. Để cho sáng kiến kinh nghiệm thêm hoàn hảo và nhất là phát
huy được tác dụng. Nâng cao chất lượng đọc diễn cảm cho học sinh
Người viết
14

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×