Tải bản đầy đủ

skkn các lớp thời gian trong vợ chồng a phủ của tô hoài thpt chuyên lê quý đôn

Chuyên đề:
các lớp thời gian trong vợ chồng A phủ của
Tô hoài
Lời giới thiệu
Đây là chuyên đề nghiên cứu về thời gian nh một công cụ nghệ thuật
hữu hiệu đợc Tô Hoài sử dụng khi viết
Vợ chồng A Phủ.
Có thể vận dụng chuyên đề trong việc tìm hiểu nghệ thuật sử dụng
thời gian trong các tác phẩm văn học nói chung và các tác phẩm giảng dạy
trong nhà trờng nói riêng.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp đã
giúp đỡ để hoàn thành chuyên đề này !
Rất mong đợc sự góp ý của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp để
chuyên đề của chúng tôi đợc hoàn thiện hơn !
Tác giả
Nguyễn Ngọc Hng
1
Phần mở đầu
1. Lý do chon đề tài:
Mỗi loại hình nghệ thuật chiếm lĩnh hiện thực trong các chiều không gian, thời
gian khác nhau. Hội hoạ, điêu khắc tái hiện sự vật trong sự tĩnh tại, chớp lấy một

khoảnh khắc nhất định của đối tợng và biểu hiện nó trong tơng quan với không gian.
Còn văn học chủ yếu diễn tả quá trình đời sống diễn ra trong thời gian.
Nh vậy, so với các loại hình nghệ thuật nh hội hoạ, điêu khắc thì văn học có
khả năng to lớn trong việc miêu tả đối tợng trong tính vận động, tái tạo dòng thời
gian với những nhịp độ khác nhau. Sự vận động thời gian trong tác phẩm văn học
phản ánh nhịp độ vận động của cuộc sống. Thực chất việc tái hiện thời gian trong
văn học là tái hiện quan niệm của con ngời về sự tồn tại, là sự biểu hiện tâm lý của
con ngời trớc các sự kiện, biến cố đời sống.
Từ xa xa thời gian đã đi vào tác phẩm văn chơng để miêu tả nỗi lòng ngời con
gái phải lấy chồng xa xứ:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
(Ca dao)
Lúc nhớ nhung khắc khoải, một phút đợi chờ có thể dài bàng mấy năm:
Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê
(Truyện Kiều Nguyễn Du)
2
Còn về sau, Xuân Diệu cũng rất tinh tế khi dùng thời gian quá khứ để chỉ hiện
tại:
Đã nghe rét mớt luồn trong gió,
Đã vắng ngời sang những chuyến đò
(Đây mùa thu tới Xuân Diệu)
Rõ ràng thời gian trong tác phẩm văn học đợc các nhà văn sử dụng nh một thủ
pháp nghệ thuật. Trong tác phẩm truyện kể, các sự kiện, biến cố đợc sắp xếp theo
một trật tự thời gian nhất định đều nhằm phục vụ một ý đồ t tởng nào đó của nhà
văn. Thời gian đóng vai trò vô cùng quan trọng tạo nên sự thành công cho tác phẩm.
Tuy nhiên, việc khám phá tác phẩm văn chơng từ việc tìm hiểu thời gian nghệ thuật
hoặc là cha đợc để ý hoặc là có để ý thì đó cũng là một công việc không hề đơn
giản.
Vợ chồng A Phủ đợc Tô Hoài viết năm 1953, thời gian của câu truyện xảy ra
vào trớc cách mạng tháng Tám. Bối cảnh câu chuyện là cuộc sống của những ngời
dân vùng cao, nhân vật trung tâm là những con ngời bị áp bức, chà đạp, phải trở
thành kiếp ngựa trâu cho bọn thống trị. Khi Vợ chồng A Phủ đợc viết ra thì mọi sự
kiện, mọi số phận trong tác phẩm đã lùi về quá khứ. Thời điểm năm 1953 đủ để Tô
Hoài có độ lùi cần thiết khi mang đến cho tác phẩm một nguồn cảm hứng mới: cảm
hứng về sự đổi thay cho số phận của nhân vật; cảm hứng về sự hồi sinh, con ngời có
thể lấy lại những gì tởng nh đã mất. Sức mạnh tiềm tàng mãnh liệt trong con ngời
ngay khi tởng nh họ đã mất hết sức sống chính là ám ảnh lớn nhất mà tác phẩm đã
đem lại.


Nh thế, Vợ chồng A Phủ đã trở thành một trong những tác phẩm thành công
nhất của văn xuôi hiện đại Việt Nam viết về cuộc sống những ngời dân vùng cao.
Trong nhà trờng, Vợ chồng A Phủ đợc coi là tác phẩm kinh điển đã đợc giảng dạy
trong suốt mấy chục năm qua. Rất nhiều kỳ thi từ nhỏ đến lớn đã sử dụng câu hỏi
liên quan tới tác phẩm này. Tác phẩm đã đợc dựng thành phim. Cũng đã có rất
nhiều những công trình nghiên cứu của giới phê bình về Vợ chồng A Phủ. Tuy
3
nhiên, hầu nh cha có công trình nào nghiên cứu riêng về thời gian trong tác phẩm
này một cách trọn vẹn. Trong khuôn khổ hạn hẹp, bài viết sẽ khảo cứu, nhìn nhận
tác phẩm dới góc độ nghệ thuật sử dụng thời gian với mong muốn mang đến một h-
ớng khám phá mới cho tác phẩm.
Nhà văn Tô Hoài
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát nghệ thuật thời gian trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài để thấy yếu
tố thời gian đợc nhà văn sử dụng nh một công cụ hữu hiệu trong việc thể hiện đề tài,
chủ đề, nội dung t tởng cũng nh các giá trị cơ bản của tác phẩm.
Từ việc khảo sát trên, ứng dụng để tìm hiểu nghệ thuật thời gian trong các tác
phẩm truyện kể nói chung và các tác phẩm đợc giảng dạy trong nhà trờng nói riêng.
3. Đối tợng nghiên cứu
Để hoàn thành công trình này, chúng tôi tiến hành khảo sát các đối tợng sau:
3.1. Một số vấn đề lý thuyết về thời gian.
3.2. Tác phẩm Vợ chồng A Phủ
4. Phơng pháp nghiên cứu.
4
Chúng tôi sử dụng các phơng pháp nh: phân tích, thông kê, sơ đồ hóa, ứng
dụng thực tiễn
5. Kết quả nghiên cứu sẽ trình bày
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chuyên đề sẽ gồm ba phần chính:
- Tìm hiểu trật tự của truyên kể
- So sánh độ lâu của các sự kiện, biến cố với độ dài văn bản.
- Những hiện tợng xảy lặp.
Phần nội dung
Bài viết sẽ tìm hiểu nghệ thuật thời gian trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ
(Phần I: Chuyện xảy ra ở Hồng Ngài. Nội dung văn bản lấy từ sách giáo khoa Văn
học 12, tập I, NXBGD, Sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000 Trong sách này văn
bản tác phẩm không bị lợc bớt) dới các bình diện sau:
1.Tìm hiểu trật tự của truyên kể: là so sánh trật tự các biến cố thời gian trong
diễn ngôn trần thuật với trật tự kế tiếp nhau trong các biến cố thời gian trong cốt
truyện, tức là so sánh trật tự truyện kể (của việc kể chuyện) với trật tự niên biểu của
câu chuyện.
2. Tìm hiểu độ lâu của các sự kiện, biến cố và độ dài văn bản.
3. Nghiên cứu những hiện tợng xảy lặp nhằm nâng cao hiệu quả của nghệ thuật
thời gian trong tác phẩm.
Đơng nhiên mỗi cấp độ nêu trên sẽ có các cấp nhỏ hơn. Bài viết sẽ đi vào những
cấp độ đợc coi là quan trọng và thể hiện rõ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Các cấp độ thời gian trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài đợc cụ thể nh sau:
1. Trật tự truyện kể
Trong truyện cổ tích, không có sự đảo lộn về thời gian, sự việc xảy ra trớc kể
trớc, sự việc xảy ra sau kể sau. Chúng ta vẫn quen gọi là thời gian tuyến tính.ở
5
đây bài viết nghiên cứu về sự sai trật niên biểu (thời gian phi tuyến tính) của các
biến cố xảy ra trong câu chuyện với việc xắp xếp thời gian để kể lại chúng của Tô
Hoài.
Ta tạm thời quy ớc mỗi lớp truyện đợc ghi bằng một chữ cái in hoa: A, B, C,
D Sau mỗi lớp truyện, bài viết sẽ tính số trang, số dòng chính xác tơng đối và
tóm tắt những nội dung chính. Tác phẩm sẽ gồm những lớp truyện sau:
- A: Ai ở xa về có việc vào nhà thống lý Pá Tra thờng trông thấy có một cô con
gái ngồi quay sợi bên tảng đá trớc cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay
sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi, hay cõng nớc dới khe suối lên cô ấy cũng cúi
mặt, mặt buồn rời rợi Nhng rồi hỏi ra mới rõ cô ấy không phải con gái nhà Pá
Tra: cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lý Pá Tra.( Khoảng 1/4 trang)
- B: Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào cô không nhớ, cũng
không ai nhớ .
Đến Tết năm ấy,
Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc
Lần lần mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết. Nhng Mị cũng không còn t-
ởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm
nó còn đợc đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc
làm cả đêm, cả ngày.( khoảng hơn 1,5 trang)
- C: Mỗi ngày Mị càng không nóí, lùi lũi nh con rùa nuôi trong xó của. ở cái
buồng mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. lúc nào trông
ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sơng hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ
ngồi trong cái lỗ vuông ấy bao giờ chết thì thôi.(khoảng 5 dòng)
- D: Trên đầu núi, các nơng ngô, nơng lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các
nhà kho Vừa hết bữa cơm lại tiếp ngay bữa r ợu bên bếp lửa.( Khoảng 3/4 trang)
- E: Ngày Tết, Mị cũng uống rợu Có biết bao nguời mê ngày đêm thổi sáo đi
theo Mị.(khoảng gần 1/4 trang)
6
- F: Rợu đã tan từ lúc nào Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau đứt
từng mảnh thịt.(khoảng gần 2 trang)
- G: Có tiếng xôn xao phía ngoài rồi một đám đông vào nhà . Trong khi vào
rừng tìm lá thuốc, Mị nghe chị dâu nói lại mới biết chuyện A Sử đi chơi bị đánh vỡ
đầu.(khoảng 3/4 trang)
- H: Nửa đêm qua, A Sử vào làng tìm đến đám chơi có tiếng sáo, tiếng khè
Chúng nó xọc ngang cái gậy, khiêng A Phủ mang về ném xuống giữa nhà thống lý.
( khoảng 3/4 trang)
- I: Mị đi hái thuốc lá về, thấy trong nhà còn đông hơn lúc nãy Nhng A Phủ
cũng chẳng muốn trở về làm gì bên ấy nữa.(khoảng hơn 2 trang)
- K: A Phủ cũng không phải ngời làng bên ấy
Vì thế mà sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài.(khoảng nửa trang)
- M: Khi đó đang đói rừng A Phủ chỉ đứng nhắm mắt, cho tới đêm khuya
( khoảng gần 2 trang)
- N: Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, Mỗi đêm Mị đã dậy ra
thổi lửa, hơ tay, hơ lửa không biết bao nhiêu lần.( gần 3 dòng)
- P: Thờng khi dến gà gáy sáng Mị ngồi dậy ra bếp sởi một lúc thật lâu thì các
chị em trong nhà mới bắt đầu dậy ra dóm lò bung ngô Nhng đêm sau Mị vẫn ra s-
ởi lửa nh đêm trớc.( khoảng 1/3 trang)
- Q: Lúc ấy đã khuya.( ). Và hai ngời lẳng lặng đỡ nhau bỏ chạy xuống dốc núi.
( khoảng hơn 1 trang)
Từ việc phân chia lớp chuyện ở trên ta có nội dung và niên biểu của từng lớp
chuyện nh sau:
A-2: Cuộc sống hàng ngày của Mị.
B-1: Lai lịch Mị và con đờng dẫn tới kiếp làm dâu gạt nợ, là quá khứ xa nhất t-
ơng đơng với quá khứ kể về lai lịch A Phủ.
. C-3: Quãng ngng: khẳng định thêm tính bi đát cho số phận Mị.
D-4: Không khí ngày Tết.
7
E-5: Không khí ngày Tết bắt đầu tác động đến tâm hồn Mị của.
F-6: Mị nhớ về ngày trớc và nảy ra ý định muốn đi chơi song ý muốn của Mị đã
bị A Sử phá hoại.
G-8: A Sử bị đánh.
H-7: xảy ra vụ ẩu đả giữa A Sử và A Phủ, A Phủ bị bắt.
I-9: A Phủ bị phạt vạ, trở thành trâu ngựa cho nhà thống lý Pá Tra.
K-1: Kể lai lịch A Phủ, là quá khứ xa nhất tơng đơng với quá khứ kể về lai lịch
Mị.
M-10: Xảy ra sự kiện A Phủ làm mất bò.A Phủ bị trói
N-11: Quãng ngng: miêu tả cảnh sinh họat hàng ngày của Mị.
P-12: Thái độ vô cảm của Mị trớc cảnh ngộ của A Phủ.
Q-13: Mị cởi trói và chạy theo A Phủ
Chú thích:
- A, B, C : Ký hiệu đoạn văn.
- 1, 2, 3 : Thứ tự thời gian sự kiện.
Ta có sơ đồ về trật tự niên biểu nh sau:
A B C D E F G H I K M N P Q
2 1 3 4 5 6 8 7 9 1 10 11 12 13
Qua sự phân chia lớp truyện và sơ đồ trật tự niên biêu trên, ta có nhận xét nh
sau:
- Câu chuyện thực chất là kể về cuộc đời và số phận hai nhân vật Mị và A Phủ,
có thể tách ra thành hai câu chuyện nhỏ. Đoạn B và K cùng một trât tự thời gian vì
đó là hai đoạn kể về lai lịch của Mị và A Phủ.
- Lớp truyện A: Mở đầu bằng việc đa thời gian hiện tại lên trớc khi giới thiệu
nhân vật Mị: Mị luôn tồn tại trong một t thế bất biến, lúc nào cũng cúi mặt, mặt
buồn rời rợi. Đó là hiện thực vĩnh hằng. Cách vào truyện bằng cách đa hiện tại lên
đầu tác phẩm đầy dụng ý nghệ thuật của Tô Hoài nhằm gây ấn tợng mạnh, sâu sắc
8
với ngời đọc ngay từ ban đầu. Đó là ấn tợng về cô Mị mang thân phận éo le, đau
khổ chứ không phải ấn tợng về cô Mị trong quá khứ: Ngày trớc, Mị thổi sáo giỏi.
Mùa xuân này Mị uống rơu bên bếp lửa và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi
lá cũng hay nh thổi sáo. Có biết bao nhiêu ngời mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo
Mị
- Lớp truyện B: Quay ngợc: Thực chất là tạo ra truyện kể thứ hai. Đó là câu
chuyện về bố mẹ Mị: Ngày xa bố Mị lấy mẹ Mị không có đủ tiền cới, phải đến vay
nhà thống lý, bố của thống lý Pá Tra bây giờ. Mỗi năm đem nộp lãi cho chủ nợ một
nơng ngô. Đến tận khi hai vợ chồng về già rồi mà vẫn cha trả đợc nợ. Ngời vợ chết
cũng cha trả hết nợ.
Sự quay ngợc thời gian đã lý giải kiếp làm dâu gạt nợ của Mị là do gánh chịu
hậu quả từ đời cha mẹ để lại. Mặt khác ta thấy thân phận éo le của Mị là thân phận
éo le truyền kiếp. Từ đó, ngời đọc cảm nhận sâu sắc hơn về giá trị hiện thực và giá
trị tố cáo của tác phẩm.
- Lớp truyện E: Ngoái lại, tìm thời gian đã mất.Cụ thể: Tết đến sớm ở Hồng
Ngài. Không khí ngày Tết đã tác động đến tâm hồn Mị. Mị uống rợu. Mị nhớ về
quá khứ xa xa. í đồ sử dụng thời gian của Tô Hoài đã đạt tơi mức tinh tế khi để cái
Tết năm nay đến sớm hơn mọi năm: Hồng Ngài ngời ta thành lệ cứ ăn Tết khi
gặt hái vừa xong, không kể ngày, tháng nào Nhng trong các làng Mèo đỏ những
chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè ra nh những con bớm sặc sỡ Đám
trẻ đợi Tết, chơi quay cời ầm trên sân chơi trớc nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có
tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sao vọng lại, thiết tha bổi hổi
Tiếng chó sủa xa xa. Những đêm tình mùa xuân đã tới Cùng với tiếng sáo, men r-
ợu thì cái Tết đến sớm là một tác nhân dẫn đến sự hồi sinh và trỗi dậy sức sống tiềm
tàng trong tâm hồn Mị. Điều này lý giải tại sao qua biết bao mùa xuân mà mùa xuân
này mới đủ sức tác động đến tâm hồn vô cảm của Mị.
- Lớp truyện G:
9
Đón trớc: Các đoạn văn đón trớc mang chức năng dự báo sự kiên. Mặc dù ý
muốn của Mị không thực hiện đợc nhng ta đã thấy đợc lòng ham sống, khao khát tự
do, sức mạnh tiềm tàng trong nhân vật Mị. Nó dự báo chắc chắn sẽ có một biến cố
lớn xảy ra trong một con ngời nô lệ mà vẫn ham sống mãnh liệt nh Mị. Đó là cơ sở
để chúng ta lý giải hành động cởi trói cho A Phủ và tự giải thoát cho mình sau này
của Mị.
Lòng Mị đang hớng về ngày trớc
(Cảnh trong phim Vợ chồng A Phủ )
Quay ngợc: Tạo ra chuyện kể thứ hai: Mị chợt nhớ lại câu chuyện ngời ta vẫn
kể: đời trớc ở nhà thống lý Pá Tra có một ngời trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi
chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi. Sự quay ngợc này đã khẳng định thêm số phận
cơ cực của những ngời phụ nữ trong nhà Pá Tra. Mị không phải trờng hợp ngoại lệ.
Ta càng thấy đợc tội ác dã man thuộc về bản chất của giai cấp phong kiến thống trị
miền núi
10
Nh vậy ta thấy, văn học có khả năng miêu tả mối liên hệ thời gian đa dạng, nhiều
chiều, nhiều lớp. Nhà văn có thể miêu tả thời gian thuận chiều, đồng nhịp với thời gian
t nhiên nhng nhiều khi nhà văn lại miêu tả thời gian ngợc chiều từ hiện tại trở về quá
khứ rồi từ quá khứ đi tới tơng lại. Đây cũng chính là u thê trong khả năng chiếm lĩnh
đời sống của văn học so với các loại hình nghệ thuật khác.
2. Tìm hiểu độ lâu của sự kiện và độ dài văn bản
Vì miêu tả thời gian trong ý thức, trong sự cảm thụ của con ngời mà văn học
có thể kéo căng thời gian bằng cách miêu tả hàng loạt sự kiện dồn dập trong một
khoảnh khắc nhất định và ngợc lại có thẻ dồn nénthời gian hàng trăm năm trong
một dòng trần thuật ngắn.
2.1. Thời gian cốt truyện:
Một điều đặc biệt trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ là thời gian cốt truyện khó
có thể xác định cụ thể. Chúng ta có những dấu hiệu xác định thời gian nh:
Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào cô không nhớ, cũng
không ai nhớ .
Đến Tết năm ấy,
Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc
Lần lần mấy năm qua, mấy năm sau,
Thì cũng đã mấy ngày A Phủ phải trói đứng trong góc nhà
Cách thể hiện thời gian của Tô Hoài rõ ràng đầy dụng ý nghệ thuật. Thời gian
không xác định tạo cho ngời đọc cảm giác dài đẵng đẵng. Không thể biết đợc Mị và
A Phủ đã làm tôi tớ cho nhà Pá Tra bao lâu, chỉ biết là đã lâu lắm, lâu đến mức
chính bản thân Mị cũng không thể nhớ nổi nữa. Do đó tính bi đát cho số phận của
nhân vật đợc tô đậm thêm rất nhiều.
2.2. Thời gian, độ dài của tác phẩm
Tác phẩm chủ yếu tập trung miêu tả cảnh đời của Mị và A Phủ (11/12 trang tác
phẩm). Thực chất đó la hai câu chuyện về cuộc đời hai nhân vật Mị và A Phủ Chi
tiết Mị cởi trói và chạy theo A Phủ cũng chính là tình huống gặp gỡ đầu tiên của hai
11
nhân vật này. Từ suy nghĩ đến hành động đợc diễn ra rất nhanh, hầu nh chỉ trong
một khoảnh khắc, cũng chỉ chiếm một trang văn bản. Điều đó cho thấy quyết định
của Mị diễn ra nhanh chóng, có phần tự phát, mở ra bớc ngoặt cho tác phẩm, khép
lại câu chuyện xảy ra ở Hồng Ngài, chuẩn bị cho những câu chuyện xảy ra tiếp theo
ở Phiềng Sa.

Mị cởi trói cho A Phủ
(Cảnh trong phim Vợ chồng A Phủ )
2.3. Quãng ngng:
Quãng ngng là những đoạn tác giả hay dừng lại để miêu tả hay nhấn mạnh một
vấn đề nào đó nhằm phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của mình. những quãng ngng
thời gian truyện kể bao giờ cũng lớn hơn thời gian sự kiện. Ví dụ:
12
Lớp truyện C: Quãng ngng khẳng định thêm sự bi đát cho số phận Mị, không
chỉ vô cảm về thời gian, Mị còn vô cảm về không gian: . ở cái buồng mị nằm, kín
mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. lúc nào trông ra cũng chỉ thấy
trăng trắng, không biết là sơng hay là nắng.
Lớp truyện E: Quãng ngng báo hiệu những đổi thay trong tâm trạng của Mị
khi mùa xuân về: nhng lòng Mị thì đang sống về ngày trớc. Tai Mị. Tai Mị văng
vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trớc Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị
uống rợu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cúng hay nh thổi
sáo. Có biết bao ngời mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Đó là những thay đổi
đầu tiên trong tâm lý của Mị, chuẩn bị cho một chuỗi những thay đổi tâm lý tiếp
theo của cô.
Lớp truyện N: Quãng ngng miêu tả thói quen sinh hoạt hàng ngày của Mị:
thói quen trở dậy hơ tay sởi lửa vào ban đêm của Mị nhằm nhấn mạnh sự vô cảm
của Mị trớc cảnh ngộ của A Phủ: Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi.
Để từ đó Tô Hoài đã đem đến cho ngời đọc một bất ngờ lớn cho hành đông tiếp
theo là cắt dây trói cứu A Phủ của Mị.
3 . Những hiện t ợng xảy lặp:
3.1. Những sự kiện ngày Tết lặp đi lặp lại:
ở Hồng Ngài ngời ta thành lệ cứ ăn Tết khi gặt hái vừa xong, ăn Tết nh thể
cho kịp lúc ma xuân Hồng Ngài năm ấy ăn Tết
Đám trẻ đợi Tết,
ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm cái sân chơi chung ngày Tết
Cả nhà thống lý Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm Tết cúng ma
Ngày Tết, Mị cũng uống rợu
. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết Đã từ nãy Mị thấy phơi phới trở
lại, trong lòng đột nhiên vui sớng nh những đêm Tết ngày trớc Bao nhiêu ngời có
chồng cũng đi chơi ngày Tết.
13
Rất nhiều sự kiện nhằm tô đậm thời gian: Tết. Tô Hoài muốn đem đến cho mùa
xuân năm ấy ở Hồng Ngài có một sự khác biệt. Nó vừa là sự đối lập với cuộc sống
nô lệ của Mị vừa là tác nhân đa đến những thay đổi trong tâm hồn Mị.
3.2. Chi tiết tiếng sáo cũng đợc trở đi trở lại:
Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng
sáo vọng lại thiết tha, bổi hổi
Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trớc, Mị thổi sáo giỏi.
Mùa xuân này Mị uống rợu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá
cũng hay nh thổi sáo. Có biết bao ngời mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị.
Nhớ lại chỉ thấy nớc mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay
ngoài đờng:
Anh ném pao, em không bắt
Em không yêu, quả pao rơi rồi
Hơi rợu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đa Mị đi theo những cuộc
chơi, những đám chơi. Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu ng ời nào, em bắt
pao nào Mị không nghe tiếng sáo nữa
Lúc lại nồng nàn thiết tha nhớ. Hơi rợu toả. Tiếng sáo
Đó là tiếng sáo thi gian. Ting sáo của mùa xuân hiện tại đã đa Mị về với
tiếng sáo của những mùa xuân trong quá khứ. Tiếng sáo hay chính là tiếng lòng,
là nỗi ám ảnh không nguôi về quá khứ của Mị? Mị nhớ về tiếng sáo hay chính là
hành trình đi tìm thời gian đã mất ?
3.3. Kể một lần cái điều xảy ra nhiều lần
Tô Hoài kể về thói quen trở dậy hơ tay sởi lửa về đêm của Mị:
Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sởi kia
thì Mị cũng chết héo. Mỗi đêm Mị đã dậy ra thổi lửa, hơ tay, hơ lửa không biết bao
nhiêu lần.
Tô Hoài muốn khẳng định việc dậy sởi lửa mỗi đêm của Mị là thói quen thờng
ngày và đêm Mị cởi trói cho A Phủ ban đầu Mị cũng chỉ trở dậy nh mọi đêm, cha
14
hề có ý định cứu A Phủ. Từ đó, nhà văn lý giải hành động cởi trói cho A Phủ là tự
nhiên, bất ngờ, không có chủ ý trớc của Mị.
3.4. Lặp lại thái độ:
Thái độ vô cảm của Mị đợc lặp đi lặp lại:
Sự vô cảm của Mị
(Cảnh trong phim Vợ chồng A Phủ )
Vô cảm về thời gian: Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào
cô không nhớ, cũng không ai nhớ
Vô cảm về thời gian: ở cái buồng mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ
vuông bằng bàn tay. lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sơng
hay là nắng.
Vô cảm trớc số phận của A phủ: Mỗi đêm khi nghe tiếng phù phù thổi bếp, A
Phủ lại mở mắt. Ngọn lửa sởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A
Phủ trừng trừng mới biết A Phủ còn sống. Mấy đêm nay nh thế nhng Mị vẫn thản
nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác đứng đấy, cũng thế thôi.
Sự vô cảm của Mị đợc Tô Hoài khắc hoạ đậm nét bằng cách lặp đi lặp lại. Đều
đó càng nhấn mạnh thêm không chỉ là cuộc sống cơ cực mà thời gian Mị về làm
15
dâu nhà Pá Tra đẫ rất lâu rồi, cô không nhớ, cũng không ai nhớ. Nhà văn đã cho
ta thấy một triết lý ám ảnh về thời gian: thời gian qua đi với ngời nghèo khổ chỉ là
phép cộng của những khó khăn chồng chất và nan giải, là sự mất dần đi những
điều êm đẹp, những kỷ niệm. Do vậy ngời đọc càng thấy rõ hơn tính đột biến trong
suy nghĩ và hành động của Mị khi cởi trói cho A Phủ và tự giải phóng cho mình.
Kết luận
1. Thời gian cốt truyện và thời gian sự kiện trong Vợ chồng A Phủ đều không
xác định đợc rõ. Cũng nh chúng ta không thể biết đợc khi nào chúng ta mới thôi
đọc nó. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua mà tác phẩm vẫn còn nguyên ý nghĩa và giá trị.
Nó đem lại cho ngơi đọc những ám ảnh về nỗi đau của kiếp ngòi nô lệ. Nó còn ám
ảnh chúng ta bởi sức sống tiềm tàng mãnh liệt và khả năng đứng lên tự giải pháng
cho mình của con ngời ngay trong những hoàn cảnh hà khắc, phi nhân tính nhất.
Hơn hết, nó giúp chúng ta hiểu ra một chân lý vững bền của cuộc sống: Sự sống nảy
sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời
này không có con đờng cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức
mạnh để bớc qua những ranh giới ấy.( Nguyễn Khải).
2. Từ việc nghiên cứu trên, chúng tôi đã áp dụng để giảng dạy thử nghiệm tại
các lớp ban C, D của trờng THPT Yên Lạc và đem lại kết quả tốt: học sinh hứng
thú, hiểu tác phẩm sâu hơn, hiểu ý đồ của nhà văn khi sáng tác
3. Theo đánh giá chủ quan của chúng tôi, chuyên đề đã mở ra một hớng tiếp cận
khá mới mẻ và khoa học khi tìm hiểu thời gian trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ. Từ đó
có thể vận dụng các bình diện thời gian nh đã phân tích ở trên để khảo sát các tác
phẩm văn học đặc biệt là văn xuôi khác, khi mà việc tìm hiểu tác phẩm văn chơng đi từ
khám phá nghệ thuật nói chung và thời gian nghệ thuật nói riêng vẫn là một thách thức
không nhỏ đối với ngời đọc nhất là học sinh phổ thông.
Danh mục tài liệu tham khảo
16
1. Sách giáo khoa Văn học 12, tập 1, NXBGD, năm 2000.
2. Chuẩn kiến thức kỹ năng Ngữ văn 12, NXBGD, năm 2010
3. Hà Minh Đức (chủ biên), Lý luận văn học, NXBGD, năm 2001.
4. Phơng Lựu (chủ biên), Lý luận văn học, NXBGD, năm 2003.
5. Đào Duy Hiệp Thơ và truyện và cuộc đời, NXBHNV.
6. Đặng Anh Đào, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phơng Tây hiện đại,
NXBĐHQG, năm 2011
7. Đào Duy Hiệp, Phê bình văn học từ lý thuyết đến hiện đại, NXBGD, năm
2008.
8. Một số tài liệu tham khảo khác.
________________________________________________________
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hng (Phòng CTHSSV-Sở GD&ĐT)
17

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×