Tải bản đầy đủ

một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp xã ở huyện hoằng hóa, tỉnh thanh hóa hiện nay

i

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
o0o




KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP


Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP XÃ Ở HUYỆN HOẰNG
HÓA, TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY


Giáo viên hƣớng dẫn : TS Nguyễn Thanh Bình
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Trang
Mã số sinh viên : 5014021047

Khóa : 1
Ngành : Tài chính – Ngân hàng
Chuyên ngành : Tài chính công



Hà Nội, năm 2014
ii


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế
của đơn vị thực tập.
Tác giả khóa luận



Nguyễn Thị Thu Trang















iii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÂN SÁCH
CẤP XÃ 4
1.1. Một số vấn đề lý luận về ngân sách cấp xã 4
1.1.1. Ngân sách cấp xã, đặc điểm, vai trò của ngân sách cấp xã 4
1.1.2. Nội dung (quy trình) ngân sách xã 17
1.1.3. Sự cần thiết phải hoàn thiện ngân sách cấp xã 26
1.2. Thực tiễn ngân sách xã ở một số huyện của Việt Nam 28
1.2.1. Thực tiễn một số đơn vị 28
1.2.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho ngân sách xã ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh
Thanh Hóa 28
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NGÂN SÁCH XÃ Ở HUYỆN HOẰNG HOÁ, TỈNH
THANH HOÁ GIAI ĐOẠN (2008-2012) 29
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, KT-XH liên quan đến NS cấp xã trên địa
bàn huyện Hoằng Hoá, Thanh Hoá 30
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên 30
2.1.2 Về kinh tế 31
2.1.3. Về chính trị 33
2.1.4. Về văn hóa – xã hội 34
2.1.5. Văn hóa, thông tin – thể dục, thể thao 34
2.1.6. Công tác xã hội và giải quyết việc làm 35
2.2. Thực trạng bộ máy quản lý tài chính ngân sách cấp xã 35
2.2.1. Phòng Tài chính kế hoạch và bộ phận quản lý tài chính ngân sách ở các
xã, thị trấn 35
2.2.2. Đội ngũ làm công tác tài chính NS cấp xã ở các xã, thị trấn 36
2.3 Thực trạng công tác quản lý NSX tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 38
2.3.1 Về thu Ngân sách nhà nước 38
2.3.2Về chi Ngân sách địa phương 39
2.4 Thực trạng Ngân sách xã trên địa bàn huyện Hoằng Hóa 39
2.4.1 . Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi trong thời kỳ ổn định ngân sách giai
đoạn (2011-2015). 39
2.4.2 Thực trạng công tác lập dự toán 42
2.4.3 Thực trạng công tác chấp hành dự toán 46
iv

2.4.4 Thực trạng công tác kế toán, quyết toán Ngân sách 57
2.4.5 Thực trạng công tác kiểm tra, kiểm toán, thanh tra. 59
2.5 Đánh giá chung về ngân sách xã ở huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa 60
2.5.1 Ưu điểm 60
2.5.2 Hạn chế 62
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THU
NSX TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOẰNG HÓA TRONG NHỮNG NĂM TỚI. 67
3.1. Định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội huyện Hoằng Hoá trong thời gian tới
đến 2020 67
3.1.1. Định hướng chung 67
3.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ 68
3.1.3. Các chỉ tiêu cụ thể phát triển kinh tế - xã hội đến 2020. 69
3.2. Phƣơng hƣớng chủ yếu hoàn thiện ngân sách xã 71
3.2.1. Nâng cao nhận thức của chính quyền cấp xã về ngân sách xã 71
3.2.2. Động viên hợp lý ở mức cao nhất các nguồn lực vào phát triển kinh tế -
xã hội. 73
3.2.3. Tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý trong thu, chi ngân sách cấp xã
73
3.2.4. Từng bước chuẩn hoá đội ngũ làm công tác quản lý NS cấp xã 74
3.2.5. Định hướng phát triển nguồn thu ổn định, lâu dài nhằm tạo tính chủ
động và tự cân đối cho NS cấp xã 74
3.3. Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện ngân sách cấp xã trên địa bàn
huyện Hoằng Hoá. 75
3.3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật 75
3.3.2. Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quy trình về ngân sách xã. 75
3.3.3. Công tác nuôi dưỡng phát triển nguồn thu ổn định, lâu dài. 83
3.3.4. Công tác thanh tra, kiểm tra. 84
3.4. Kiến nghị của tác giả 85
3.4.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về ngân sách cấp xã. 85
3.4.2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động ngân sách cấp xã. 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NSX : Ngân sách xã
NSNN : Ngân sách Nhà nƣớc
NS : Ngân sách
UBND : Ủy ban nhân dân
HĐND : Hội đồng nhân dân
KBNN : Kho bạc Nhà nƣớc
KT-XH : Kinh tế- Xã hội
TC-KH : Tài chính- Kế hoạch
TC-KT : Tài chính- Kế toán
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
MLNSNN : Mục lục Ngân sách nhà nƣớc
XDCB : Xây dựng cơ bản













vi

I. DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
Bảng 2.2: Tình hình đầu tƣ thực hiện qua các năm (từ năm 2009- 2013)
II. DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Tổng hợp thu NSNN, chi ngân sách địa phƣơng huyện Hoằng Hoá,
Thanh Hoá (năm 2011 - 2013).
Phụ lục 2: Tổng hợp dự toán thu NSX theo đơn vị (từ năm 2011-2013)
Phụ lục 3: Tổng hợp dự toán chi NSX theo đơn vị (từ năm 2011-2013)
Phụ lục 4 : Bảng tổng hợp thu NSX theo nội dung kinh tế trên địa bàn huyện Hoằng
Hoá - Thanh Hoá.
Phụ lục 5: Bảng tổng hợp chi NSX theo nội dung kinh tế trên địa bàn huyện Hoằng
Hoá - Thanh Hoá.















1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách cấp xã là một cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách nhà
nƣớc, có tầm quan trọng đặc biệt. Ngân sách cấp xã vừa là phƣơng tiện vật chất
vừa là công cụ tài chính quan trọng để chính quyền cơ sở thực hiện nhiệm vụ chính
trị, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng tại địa phƣơng.
Ngân sách cấp xã có đầy đủ những đặc điểm chung của ngân sách các cấp
chính quyền địa phƣơng nhƣ: Đƣợc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo quy
định của pháp luật; đƣợc điều hành ngân sách theo dự toán và theo chế độ, tiêu
chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định; hoạt động của ngân sách xã
gắn với với hoạt động của chính quyền Nhà nƣớc cấp xã. Bên cạnh các đặc điểm
chung của cấp ngân sách, ngân sách xã còn có những đặc điểm riêng đó là: Xã vừa
là cấp ngân sách vừa là đơn vị sử dụng ngân sách, đặc điểm riêng này ảnh hƣởng và
chi phối lớn đến công tác lãnh đạo, quản lý và quá trình tổ chức lập, chấp hành, kế
toán và quyết toán ngân sách.
Cùng với tiến trình đổi mới của đất nƣớc, NS cấp xã đã đƣợc Đảng, Nhà
nƣớc quan tâm và có những bƣớc tiến đáng kể, luật NSNN ra đời năm 1996 có hiệu
lực thi hành năm 1997, sửa đổi năm 1998 và gần đây luật NSNN do Quốc hội khoá
IX thông qua ngày 26 tháng 12 năm 2002 có hiệu lực thi hành năm 2004 đã khẳng
định NS cấp xã trở thành một cấp ngân sách độc lập, đƣợc Luật quy định từ khâu
lập, chấp hành đến quyết toán ngân sách. Nguồn thu và nhiệm vụ chi đã đƣợc quy
định khá rõ ràng, tạo tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong quá trình điều hành
ngân sách, từ đó ngân sách xã không ngừng tăng cả về quy mô và tốc độ, góp phần
thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, giải quyết có hiệu quả các vấn đề KT-XH ở cơ sở.
Trong những năm qua, NS cấp xã ở huyện Hoằng Hoá có nhiều đổi mới. Thu
ngân sách cấp xã hàng năm đều tăng, nguồn thu ngân sách đƣợc đảm bảo, thu đúng,
thu đủ và huy động tốt đƣợc các nguồn lực toàn xã hội, đồng thời chi NS cấp xã cơ
bản đáp ứng đƣợc yêu cầu đặt ra, đảm bảo các mục tiêu phát triển KT-XH, phát huy
hiệu quả của ngân sách cấp xã, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, thúc đẩy tiến
trình xây dựng Nông thôn mới góp phần hiện đại hoá Nông nghiệp nông thôn. Tuy
nhiên tiếp cận NS cấp xã từ góc độ kinh tế chính trị thì còn không ít khó khăn
2

vƣớng mắc và bất cập: một mặt là Nhà nƣớc và nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ; mặt
khác, lại là Thu và Chi theo Luật NSNN. Hai yếu tố này nếu không nhìn nhận một
cách thấu đáo, biện chứng thì sẽ dẫn tới kìm hãm lẫn nhau.
Để đảm bảo tính cơ bản và toàn diện, phù hợp với các quy định, tôi lựa chọn
đề tài: “Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý cấp xã ở huyện Hoằng
Hóa, tỉnh Thanh Hóa hiện nay” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình, nhằm làm
sáng tỏ cơ sở lý luận, mối quan hệ giữa NS cấp xã với tăng trƣởng kinh tế, ổn định
chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
2. Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: NS của chính quyền cấp xã, cơ quan tài chính huyện
Hoằng Hoá và KBNN đóng trên địa bàn.
- Mục đích: Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận và tìm hiểu kinh
nghiệm thực tiễn, đánh giá thực trạng NS cấp xã ở huyện Hoằng Hóa từ đó đề xuất
các giải pháp tiếp tục hoàn thiện NS cấp xã ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa từ
nay đến năm 2015 và 2020.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: khóa luận này chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi
NS cấp xã, các nội dung khác của NSNN đƣợc đề cập chỉ nhằm làm rõ thêm các nội
dung nghiên cứu.
- Giới hạn trong thời gian 3 năm: 2011, 2012 và năm 2013trên địa bàn
huyện Hoằng Hoá.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phƣơng pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử và các phƣơng pháp nhƣ: phân tích , tổng hợp, thống kê, so
sánh
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chƣơng.
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về ngân sách cấp xã
3

Chƣơng 2: Thực trạng ngân sách cấp xã ở huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh
Hoá giai đoạn (2011-2013)
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp tăng cƣờng và hoàn thiện ngân sách
cấp xã trên địa bàn huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.























4

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NGÂN SÁCH CẤP XÃ

1.1. Một số vấn đề lý luận về ngân sách cấp xã
1.1.1. Ngân sách cấp xã, đặc điểm, vai trò của ngân sách cấp xã
1.1.1.1. Ngân sách cấp xã trong hệ thống ngân sách nhà nước
NSNN nƣớc là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Sự hình thành và phát
triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển kinh tế hàng hóa - tiền tệ
trong các phƣơng thức sản xuất của cộng đồng và nhà nƣớc. Nói cách khác, sự ra
đời của nhà nƣớc, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự
phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nƣớc.
Trong giai đoạn nền kinh tế nƣớc ta là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
bao cấp, NSNN ta đƣợc tổ chức thành hai cấp đó là: Cấp NSTW và cấp Ngân sách
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng. Việc phân cấp đó là phù hợp với lịch sử và
đảm bảo nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền trong việc huy động tối đa các nguồn
lực tài chính.
Đến kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá IX khẳng định huyện là một cấp chính
quyền có ngân sách, NS cấp huyện là một bộ phận hợp thành Ngân sách địa phƣơng
thuộc hệ thống NSNN còn hoạt động thu chi tài chính ở xã vẫn chƣa đƣợc tổng hợp
vào hệ thống NSNN.
Sau đó đến năm 1996, Quốc hội tiếp tục khẳng định xã là một cấp ngân sách
và ngân sách cấp xã cùng với ngân sách cấp huyện, tỉnh hợp thành ngân sách địa
phƣơng thuộc hế thống NSNN và mang đầy đủ bản chất của NSNN. Bên cạnh đó,
NS cấp xã cũng đã thể hiện đƣợc bản chất chính trị của Nhà nƣớc thông qua việc
thực hiện đúng đắn, hiệu quả, năng động các chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà
nƣớc, góp phần điều chỉnh phù hợp với bản chất Nhà nƣớc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Đó là là nƣớc của dân, do dân và vì dân dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam.
Hệ thống NSNN Việt nam gồm: NSTW và NSĐP. NSĐP bao gồm NS cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh), NS cấp
5

huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) và
ngân sách cấp xã, phƣờng, thị trấn ( gọi chung là ngân sách cấp xã) với cơ cấu này
phù hợp với mô hình tổ chức các cấp chính quyền nhà nƣớc ta hiện nay.

HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VIỆT NAM HIỆN NAY











Trong đó:
NSTW giữ vai trò chủ đạo, chi phối trong hệ thống NSNN, NSTW thực hiện
các nhiệm vụ quan trọng có tính chất điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo chi cho
an ninh, quốc phòng và các chƣơng trình mục tiêu Quốc gia, phát triển toàn diện
nền kinh tế xã hội, và thực hiện chức năng hỗ trợ cho ngân sách cấp dƣới.
Ngân sách cấp tỉnh có nhiệm vụ chỉ đạo, khai thác các nguồn thu tại chỗ theo
phân cấp, đồng thời phân bổ các khoản chi, chú trọng đầu tƣ xây dựng kết cấu hạ
tầng, phát triển KT - XH trên phạm vi quản lý, ngoài ra còn thực hiện nhiệm vụ hỗ
trợ cho ngân sách cấp dƣới.
Ngân sách cấp huyện là cấp ngân sách trung gian có nhiệm vụ thu, chi theo
luật ngân sách, đồng thời thực hiện quản lý, cấp phát theo chức năng nhiệm vụ đƣợc
phân cấp.
NSNN
NSTW
NSĐP
NS cấp tỉnh
NS huyện
NS cấp huyện
NS cấp xã
6

Ngân sách cấp xã vừa là cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN vừa là
đơn vị dự toán đặc biệt, nó đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nhà nƣớc cơ sở.
1.1.1.2. Khái niệm về ngân sách cấp xã
Nƣớc ta cũng nhƣ một số nƣớc trên thế giới, từ xa xƣa ở cấp xã đều có ngân
quỹ (bây giờ gọi là NS cấp xã). Tuy sự hình thành và nhận thức về NS cấp xã mỗi
thời kỳ là khác nhau nhƣng đều coi NS cấp xã là một bộ phận của hệ thống tài chính
quốc gia.
Xét về nguồn gốc xuất hiện NSNN nói chung và NS cấp xã nói riêng thì các
nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nƣớc và nền kinh tế
hàng hoá - tiền tệ đã tạo ra những điều kiện cần và đủ cho NSNN ra đời và tồn tại.
Chừng nào còn tồn tại cả hai điều kiện trên thì khi đó NSNN vẫn tồn tại, và đáng
lƣu ý là tổ chức bộ máy của nhà nƣớc ở mọi quốc gia đều có sự phân công, phân
cấp quản lý kinh tế xã hội cho mỗi cấp quản lý hành chính nên hệ thống NSNN bao
giờ cũng bao gồm một số cấp khác nhau. Số cấp ngân sách ở mỗi quốc gia nhiều
hay ít khác nhau đều tuỳ thuộc vào tổ chức bộ máy quản lý hành chính và sự phân
cấp quản lý kinh tế, tài chính cho mỗi cấp đó. Song bao giờ cũng có cấp ngân sách
gắn liền với cấp quản lý hành chính ở cơ sở và đƣợc gọi chung là NS cấp xã.
Trong hệ thống chính quyền hiện nay của nƣớc ta gồm 4 cấp, chính quyền
cấp xã, phƣờng, thị trấn là cấp cuối cùng thƣờng đƣợc gọi là cấp chính quyền cơ sở
hoặc gọi là cấp xã. Cấp chính quyền này là cấp trực tiếp triển khai thực hiện các chủ
trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nƣớc giữa nhân dân với Đảng, Nhà
nƣớc. Theo Luật tổ chức HĐND các cấp, Pháp lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn
của HĐND và UBND mỗi cấp quy định HĐND, UBND cấp xã có trên 52 nhiệm vụ
cụ thể thuộc các lĩnh vực: kinh tế; văn hoá, giáo dục, xã hội và đời sống; quốc
phòng, an ninh trật tự an toàn xã hội; thi hành pháp luật; kế hoạch, ngân sách, tài
chính; nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp, thuỷ lợi; tiểu thủ công nghiệp; giao
thông; thƣơng mại dịch vụ; thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo
Để thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ đó, chính quyền cấp xã phải có
phƣơng tiện tài chính đủ mạnh. Luật NSNN đã quy định cụ thể các khoản thu,
nhiệm vụ chi cho ngân sách cấp xã, phƣờng, thị trấn. Ngân sách xã là bộ phận của
7

NSNN, nó vừa là kế hoạch Tài chính, vừa là quỹ tiền tệ của xã đƣợc hình thành từ
các nguồn thu và các khoản chi đƣợc phân chia theo quy định. Chính vì vậy, ta có
thể hiểu ngân sách cấp xã nhƣ sau:
Xét về hình thức biểu hiện bên ngoài: Quá trình vận động của quỹ NS cấp xã
cũng đƣợc nhìn nhận trên hai giác độ: quá trình huy động nguồn thu; và quá trình
phân phối, sử dụng NS cấp xã (thƣờng gọi tắt là chi). Sự nhìn nhận về hình thức
của NS cấp xã còn đƣợc thể hiện thông qua chu trình với các khâu: Lập, chấp
hành, quyết toán NS cấp xã mà chính quyền cơ sở ở mọi nơi đều phải tuân thủ.
Hay NS cấp xã là toàn bộ các khoản thu, chi trong dự toán đã đƣợc HĐND xã
quyết nghị và đƣợc thực hiện trong một năm nhằm đảm bảo bảo nguồn tài chính
cho chính quyền Nhà nƣớc cấp xã trong quá trình thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ về chính trị, kinh tế, xã hội, anh ninh quốc phòng trên địa bàn.
Xét về bản chất: NS cấp xã là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nƣớc
với các chủ thể khác, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ
tiền tệ của chính quyền nhà nƣớc cấp xã nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của cơ sở trong khuôn khổ đã đƣợc phân công, phân cấp quản lý.
1.1.1.3. Đặc điểm của ngân sách cấp xã
Ngân sách cấp xã là một cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách nhà nƣớc,
đã đƣợc luật NSNN quy định, nó có đầy đủ những đặc điểm chung của NSNN,
ngoài ra còn có đặc điểm riêng tạo nên sự khác biệt căn bản với các cấp ngân sách.
* Đặc điểm chung
- Ngân sách cấp xã đƣợc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo quy định
của pháp luật, đồng thời luôn chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quyền lực
Nhà nƣớc.
- Ngân sách cấp xã đƣợc quản lý và điều hành theo dự toán, theo chế độ,
định mức, tiêu chuẩn do cơ quan có thẩm quyền quy định.
- Phần lớn các khoản thu, chi ngân sách cấp xã đƣợc thực hiện theo hình thức
phân phối lại và không hoàn trả trực tiếp.
* Đặc điểm riêng
8

NS cấp xã vừa là một cấp trong hệ thống NSNN, lại vừa nhƣ một đơn vị dự
toán NS. NS cấp xã đóng vai một cấp NS vì nó cũng đƣợc phân cấp quản lý nguồn
thu và thực hiện các nhiệm vụ chi nhƣ một cấp NS thực thụ, đóng vai nhƣ một đơn
vị dự toán NS, bởi xã cũng phải chi trả thanh toán cho các đầu vào để đảm bảo hoạt
động của chính quyền nhà nƣớc cấp xã về quản lý kinh tế, xã hội, quốc phòng, an
ninh; nhƣng các khoản này cũng đều do chính chủ tài khoản NS cấp xã ký lệnh
chuẩn chi. Chính yếu tố “lƣỡng tính” này của NS cấp xã lại tạo nên những trở ngại
không nhỏ cho quá trình quản lý NS cấp xã ở nƣớc ta thời gian qua.
1.1.1.4. Vị trí, vai trò của NS cấp xã đối với phát triển kinh tế xã hội
* Vị trí
Trong hệ thống NSNN thì ngân sách cấp xã là cấp ngân sách cuối cùng hay
còn gọi là cấp ngân sách cơ sở, ngân sách cấp xã là nơi thể hiện tất các các quan hệ
về tài chính, ngân sách của Nhà nƣớc với ngƣời dân và các tổ chức trong phạm vi
điều chỉnh, quản lý. Ngân sách cấp xã luôn gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của
chính quyền cấp xã, điều đó đƣợc thể hiện:
- Chính quyền cấp xã là nơi giải quyết trực tiếp các lợi ích kinh tế giữa Nhà
nƣớc và nhân dân, giữa các tổ chức, cá nhân. Chính vì vậy ngân sách cấp xã là một
công cụ, phƣơng tiện vật chất để chính quyền thực hiện nhiệm vụ của mình thông
qua quá trình thu, chi ngân sách.
- Bằng các hoạt động thu, chi ngân sách, chính quyền xã thực hiện chức năng
điều tiết, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoạt động xã hội
trong phạm vi cho phép đi đúng hƣớng, theo đúng cơ chế, chính sách xã hội.
- Ngân sách cấp xã là một cấp ngân sách đặc biệt, vừa là đơn vị chấp hành
ngân sách đồng thời cũng là một đơn vị thụ hƣởng ngân sách, chính vì vậy mà các
khoản thu, nhiệm vụ chi của ngân sách cấp xã đƣợc phân giao chỉ có thể thực hiện
tại ngân sách cấp xã mới phát huy đƣợc hết khả năng, kịp thời và đạt hiệu quả.
Ngân sách cấp xã đồng thời là nơi vừa trực tiếp thực hiện các hoạt động thu, chi
đồng thời cũng thực hiện các nghiệp vụ về tài chính, kế toán, quản lý thuế, quỹ, vật
tƣ, tài sản vv của xã.

9

* Vai trò
Sự thay đổi cơ chế quản lý nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ
chế kinh tế thị trƣờng có sự quản lý vĩ mô của nhà nƣớc đã làm thay đổi căn bản
cách nhìn nhận, sử dụng công cụ tài chính của nhà nƣớc từ chỗ coi tài chính chỉ nhƣ
là phƣơng tiện sẵn có sang vị thế là nguồn lực tài chính. Do đó, tài chính luôn là
nguồn lực khan hiếm nên phải cân nhắc và sử dụng nó một cách tiết kiệm nhất
nhƣng phải đạt hiệu quả một cách tốt nhất. Đó chính là quan điểm xuyên suốt mà
mỗi cấp chính quyền nhà nƣớc luôn phải quán triệt mỗi khi bàn về vấn đề quản lý,
sử dụng tài chính phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ của mình.
- Ngân sách cấp xã đảm bảm bảo các phương tiện vật chất cho sự tồn tại và
hoạt động của bộ máy nhà nước ở cơ sở
Lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời đã chứng minh rằng: Khi xã hội có
sự phân chia giai cấp thì tạo ra tiền đề cho sự xuất hiện nhà nƣớc. Nhà nƣớc ra đời
với tƣ cách là một bộ máy cai trị nhằm duy trì quyền lực và địa vị của giai cấp
thống trị, nên hoạt động của nó hầu nhƣ không tạo ra của cải cho xã hội. Ngƣợc lại,
nó còn phải sử dụng một phần giá trị của cải xã hội để trang trải cho các chi phí của
chính bộ máy đó.
Nguồn để trang trải các khoản chi phí của bộ máy nhà nƣớc chủ yếu đƣợc
đảm bảo từ NSNN. Ngoài ra, ngƣời ta có thể lấy từ các quỹ tài chính nhà nƣớc khác
ngoài NSNN để trang trải cho các nhu cầu của bộ máy nhà nƣớc thông qua các
chƣơng trình chi tiêu khác nhau; song cách này là thứ yếu. Trong điều kiện hình
thành cấp NS xã trong hệ thống NSNN, thì đƣơng nhiên NS cấp xã phải đảm nhận
vai trò là nguồn cung cấp chủ yếu các nhu cầu về tài chính để chính quyền nhà nƣớc
cấp xã tồn tại, hoạt động và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Thông
qua chi NS cấp xã mà các nhu cầu chi thƣờng xuyên, chi đầu tƣ do chính quyền cấp
xã phải đảm nhận mới có nguồn để trang trải. Vì vậy, muốn cho vai trò đảm bảo
nguồn tài chính cho chính quyền cấp xã đƣợc phát huy tốt, thì không ai khác là
chính quyền cấp xã lại phải có trách nhiệm bồi đắp các nguồn thu cho tài chính xã
ngày càng lớn, tốc độ tăng trƣởng nguồn thu ngày càng nhanh. Nhờ đó mà chính
quyền cấp xã mới có cơ hội hoàn thành và hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà mình đã
đƣợc giao phó.
10

- Ngân sách cấp xã là một trong những công cụ quan trọng để chính quyền
cấp xã thực hiện nhiệm vụ quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh,
quốc phòng trên địa bàn
Xã là cấp chính quyền cơ sở trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nƣớc ở nƣớc
ta. Chính quyền xã phải trực tiếp thực hiện các mối quan hệ giữa nhà nƣớc với dân
nên mọi chính sách, chế độ của nhà nƣớc đƣợc thực thi ở mức độ nào; mọi sự quan
tâm của nhà nƣớc tới dân; mọi tâm tƣ, nguyện vọng của ngƣời dân nhƣ thế nào, đều
đƣợc bộc lộ trong các hoạt động hàng giờ, hàng ngày trên địa bàn mỗi xã. Điểm
chung nhất là, để giải quyết các quan hệ đó trong quá trình hoạt động, chính quyền
cấp xã rất cần sử dụng đến một trong 3 nguồn lực đầu vào là tài chính. Bởi vậy, tài
chính xã đã trở thành công cụ quan trọng đƣợc chính quyền xã sử dụng phục vụ cho
việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa
bàn của mình. Có thể nhìn nhận vai trò này thông qua hai mặt hoạt động thu, chi
thuộc các quỹ tiền tệ của tài chính xã.
Thông qua thu tài chính xã mà các nguồn thu đƣợc tập trung vào các quỹ tiền
tệ của chính quyền cấp xã; đồng thời giúp chính quyền cấp xã kiểm tra, kiểm soát,
điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và các hoạt động khác trên
địa bàn vận động, phát triển theo đúng hành lang pháp lý mà nhà nƣớc đã quy định.
Việc kiểm tra, giám sát thông qua thu tài chính xã đƣợc thể hiện qua cơ cấu ngành
nghề, qua số lƣợng các mặt hàng, qua tốc độ lƣu chuyển hàng hóa và tốc độ lƣu
chuyển tiền tệ, .v.v…, từ đó có những điều tiết, kích thích hoạt động sản xuất kinh
doanh, hoặc tiêu dùng phát triển theo hƣớng tích cực. Thông qua thu tài chính xã
còn góp phần thực hiện các chính sách xã hội, nhƣ: Đảm bảo công bằng giữa những
ngƣời có nghĩa vụ đóng góp cho NS cấp xã; có sự trợ giúp cho những đối tƣợng nộp
khi họ gặp khó khăn; hoặc các đối tƣợng nộp thuộc diện ƣu đãi theo chính sách của
nhà nƣớc nên đƣợc xét giảm, miễn một số khoản thu nào đó. Ngoài ra, việc áp dụng
các hình thức và mức thu phạt đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về
an ninh trật tự và an toàn xã hội đã đƣợc coi nhƣ một liệu pháp kinh tế buộc họ phải
nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ của mình trƣớc nhà nƣớc và tập thể.
- Thực hiện công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội
11

Nền kinh tế thị trƣờng mang lại nhiều thuận lợi, tuy nhiên nó luôn chứa đựng
những khuyết tật tự thân không thể sửa chữa, đặc biệt về mặt xã hội nhƣ: tạo ra bất
bình đẳng về thu nhập, chênh lệch mức sống và các tệ nạn xã hội… Trong bối cảnh
đó, NS cấp xã đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi công bằng và giải quyết
các vấn đề xã hội nảy sinh. Vai trò đó đƣợc thể hiện thông qua các hoạt động thu
chi của NS, việc điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cƣ, giảm bớt những điều
bất hợp lý trong phân phối, đảm bảo công bằng tƣơng đối và góp phần giải quyết
các vấn đề xã hội khác.
Với các khoản chi sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp y tế từ NS cấp xã đã thiết
thực góp phần vào việc nâng cao dân trí, nâng cao sức khỏe cho ngƣời dân ngay từ
những bƣớc ban đầu. Mọi vấn đề phát sinh hàng ngày liên quan đến sức khỏe của
ngƣời dân ở địa phƣơng về cơ bản đã đƣợc giải quyết thông qua mạng lƣới y tế cơ
sở này. Hay vấn đề xóa mù chữ, chống tái mù chữ, phát triển giáo dục mầm non tại
địa phƣơng có cơ hội thực hiện đều đặn, toàn diện nhờ vào sự đảm bảo nguồn tài
chính từ tài chính xã. Các khoản chi nhằm thực hiện các chính sách xã hội, nhƣ: cứu
đói, trợ giúp các gia đình có hoàn cảnh khó khăn; thăm hỏi các gia đình thuộc diện
chính sách; … càng làm tăng thêm những thành tích tốt đẹp trong việc góp phần
giải quyết an sinh xã hội.
Với các khoản chi đầu tƣ nhằm không ngừng nâng cấp, làm mới các công
trình thuộc hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nhƣ: điện, đƣờng, trƣờng, trạm,
hệ thống kênh mƣơng tƣới tiêu nƣớc, hệ thống các công trình phúc lợi công cộng,
…, đã từng bƣớc làm thay đổi bộ mặt nông thôn hƣớng tới mô hình nông thôn mới
của một đất nƣớc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Từ các phân tích nhƣ trên, cho thấy NS cấp xã có vai trò tích cực trong quá
trình xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn, từng bƣớc đô thị hóa nông
thôn và giảm dần sự cách biệt về điều kiện sống giữa nông thôn và thành thị. Mặt
khác, xét trong mối quan hệ biện chứng giữa thu và chi, thì khi chi NS cấp xã tiết
kiệm và hiệu quả sẽ là cơ sở kinh tế vững chắc cho bồi dƣỡng phát triển nguồn thu
ngay tại địa bàn trong thời gian trung và dài hạn. Ngƣợc lại, khi nguồn thu NS cấp
xã dồi dào sẽ làm cho phạm vi chi và quy mô của mỗi khoản chi ngày càng lớn lại
trở thành tiền đề thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả chi NSX.
12

1.1.1.5. Chức năng, nhiệm vụ
* Chức năng
Thứ nhất: Huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu theo dự
toán của xã.
Thứ hai: Thực hiện cân đối giữa các khoản thu và các khoản chi bằng tiền
của xã.
* Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của NS cấp xã là huy động nguồn thu , bảo đảm các nhu cầu chi
tiêu tại xã, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội nói chung. Thông qua hoạt
động thu, chi ngân sách xã, đầu tƣ xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế, nâng
cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho nhân dân trong xã, đảm bảo sự công
bằng xã hội, tăng cƣờng hiệu quả các hoạt động quản lý nhà nƣớc, bảo đảm an ninh,
trật tự trên địa bàn xã. Các khoản thu, chi Ngân sách xã phải đảm bảo sự cân đối,
theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức, dự toán trên cơ sở pháp luật qui định. Cũng nhƣ
các cấp ngân sách khác, hoạt động của Ngân sách xã không mang tính tự phát mà
nó đƣợc quản lý theo dự toán và đƣợc kiểm soát một cách chặt chẽ qua KBNN.
1.1.1.6. Nội dung nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách cấp xã
Để thực hiện đƣợc chức năng, nhiệm vụ quyền hạn theo luật định, đồng thời
phù hợp với quá trình phát triển theo yêu cầu đổi mới KT - XH nông thôn hiện nay,
NS cấp xã phải có nguồn thu nhất định đủ đảm bảo nhu cầu chi tiêu của mình.
Nguồn thu của NS cấp xã do HĐND cấp tỉnh quyết định phân cấp trong phạm vi
nguồn thu ngân sách địa phƣơng đƣợc hƣởng.
Nguồn thu và nhiệm vụ chi của NS cấp xã đƣợc hình thành trên cơ sở tiềm
năng và nhu cầu phát triển KT - XH của địa phƣơng kết hợp với các nhiệm vụ về
quản lý KT - XH mà chính quyền xã đƣợc phân công, phân cấp thực hiện. Đó chính
là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phân cấp quản lý về KT - XH với sự phân cấp về
quản lý tài chính, ngân sách. Và trên một phƣơng diện nhất định, căn cứ vào nguồn
thu và nhiệm vụ chi của NS cấp xã đƣợc phân giao, ngƣời ta có thể coi đó là nội
dung của NS cấp xã.
13

Theo thông tƣ số 60/2008/ TT-BTC của Bộ Tài chính ra ngày 23/06/2008 về
việc quy định quản lý NS cấp xã và các hoạt động tài chính ở xã, phƣờng, thị trấn
thì nguồn thu và nhiệm vụ chi của NS cấp xã đƣợc quy định nhƣ sau:
* Nội dung nguồn thu
- Các khoản thu 100%
Là các khoản thu phát sinh trên địa bàn xã, do xã tổ chức huy động và tập
trung quản lý các khoản thu, và dành cho NS cấp xã đƣợc hƣởng 100% số thu từ
các khoản này. Cở sở để hình thành các khoản thu và cho phép xã đƣợc hƣởng
100% xuất phát bởi nhiệm vụ cơ bản của một cấp chính quyền cơ sở và yêu cầu tập
trung quản lý nguồn thu.
Dựa trên cơ sở kinh tế, ngƣời nào là chủ sở hữu (hoặc đƣợc giao quyền nhƣ
chủ sở hữu) các tƣ liệu sản xuất, thì ngƣời đó đƣợc hƣởng lợi ích từ khai thác, sử
dụng các tƣ liệu sản xuất đó. Nên, các khoản thu từ đấu thầu/khoán trên đất công
ích của xã; các khoản thu do kết quả đầu tƣ của xã mang lại, nhƣ phí chợ đò, bến
bãi; thu kết dƣ NS cấp xã;… Ngoài ra, một số khoản thu đƣợc hình thành từ quyền
lựa chọn ƣu tiên đầu tƣ của ngƣời dân hoặc ngƣời tài trợ cũng trở thành các khoản
thu NS cấp xã đƣợc hƣởng 100%, nhƣ: thu ủng hộ, đóng góp; và thu viện trợ trực
tiếp cho xã.
Dựa trên yêu cầu tập trung quản lý nguồn thu, thông thƣờng những khoản
thu nhỏ lẻ, gắn liền với các hoạt động thƣờng xuyên của chính quyền cấp xã, thì
giao cho xã thu và hƣởng 100%, nhƣ: các khoản phí, lệ phí và một số khoản thu
khác.
Từ những căn cứ đó mà nguồn thu ngân sách xã đƣợc hƣởng 100% thƣờng là
những khoản nhƣ sau:
+ Các khoản phí, lệ phí thu vào NS cấp xã theo quy định.
+ Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào NSNN theo chế độ
quy định.
+ Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi công
sản khác theo quy định của pháp luật do xã quản lý.
14

+ Các khoản huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: các khoản huy
động đóng góp theo pháp luật quy định, các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự
nguyện để đầu tƣ xây dựng kết cấu hạ tầng do HĐND xã quyết định đƣa vào NS
cấp xã quản lý và các khoản đóng góp tự nguyện khác.
+ Viện trợ không hoàn lại của các cá nhân và tổ chức ở ngoài nƣớc trực tiếp
cho NS cấp xã theo chế độ quy định.
+ Thu kết dƣ Ngân sách cấp xã năm trƣớc.
+ Các khoản thu khác của NS cấp xã theo quy định của pháp luật.
- Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách xã với
ngân sách cấp trên
Cơ sở để hình thành các khoản thu này cũng dựa vào cơ sở kinh tế và yêu
cầu tập trung quản lý nguồn thu. Khi dựa trên cơ sở kinh tế, những lợi ích gì thuộc
về quyền sở hữu của chính quyền nhà nƣớc cấp trên phát sinh trên địa bàn xã, thì
chính quyền nhà nƣớc cấp trên đƣợc hƣởng; song có phân chia cho cấp xã một
phần để tạo sự phối hợp quản lý có hiệu quả. Khi dựa trên yêu cầu tập trung quản lý
nguồn thu, những khoản thu lớn và tƣơng đối ổn định thƣờng dành cho NS cấp trên.
Trong điều kiện hiện nay, Chính phủ đang khuyến khích chính quyền các
tỉnh/thành phố trực thuộc trung ƣơng nâng cao tỷ lệ để lại cho NS cấp xã (có thể
nâng tỷ lệ để lại cho NS cấp xã tới 100%). Thông qua đó nhằm phát huy quyền chủ
động của chính quyền cấp xã trong quản lý KT - XH, quốc phòng, an ninh trên địa
bàn ngày càng cao hơn.
Thông thƣờng thì các khoản thu này bao gồm:
+ Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
+ Thuế nhà đất.
+ Thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh .
+ Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình.
+ Lệ phí trƣớc bạ nhà đất.
Các khoản thu trên tỷ lệ NS cấp xã đƣợc hƣởng tối thiểu là 70%. Căn cứ vào
nguồn thu và nhiệm vụ chi của xã, thị trấn. HĐND cấp tỉnh có thể quy định tỷ lệ
15

Ngân sách xã, thị trấn đƣợc hƣởng cao hơn, đến tối đa là 100%. Ngoài các khoản
thu phân chia nhƣ trên NS cấp xã còn đƣợc HĐND các cấp tính bổ sung thêm các
nguồn thu phân chia sau khi các khoản thuế, phí, lệ phí phân chia theo luật ngân
sách nhà nƣớc đã dành 100% cho NS cấp xã và các khoản thu NS cấp xã đƣợc
hƣởng 100% nhƣng vẫn chƣa cân đối đƣợc nhiệm vụ chi.
- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp xã
Trong hệ thống tổ chức NSNN, các cấp NS có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, và mỗi cấp đều phải đảm bảo cân đối thu - chi của mình. Tuy nhiên, trong
những hoàn cảnh cụ thể nếu cấp NS (hay một bộ phận của cấp NS) nào không tự
cân đối đƣợc, thì NS cấp trên có trách nhiệm cấp bổ sung nguồn thu cho cấp NS
(hay bộ phận của cấp NS) đó, để đảm bảo cân đối thu - chi ngay từ khâu dự toán.
Từ đó hình thành khoản thu bổ sung từ NS cấp trên cho NS cấp dƣới. Trong điều
kiện nƣớc ta hiện nay, phần lớn NS cấp xã chƣa tự cân đối đƣợc thu – chi, nên NS
cấp trên phải cấp bổ sung và hình thành nguồn thu thứ 3 cho NS cấp xã. Cơ chế xác
lập số thu bổ sung từ NS cấp trên cho NS cấp xã ở nƣớc ta hiện hành nhƣ sau:
+ Thu bổ sung để cân đối NS đƣợc xác định trên cơ sở chênh lệch giữa dự
toán chi theo các nhiệm vụ đƣợc giao và dự toán thu từ các nguồn thu đƣợc phân
cấp. Số bổ sung này đƣợc xác định từ năm đầu của thời kỳ ổn định và đƣợc giao ổn
định từ 3 đến 5 năm.
+ Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản thu bổ sung theo từng năm để hỗ trợ
xã thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể.
* Nội dung nhiệm vụ chi của Ngân sách cấp xã
Nhiệm vụ chi của Ngân cấp xã sách gồm: chi đầu tƣ phát triển và chi thƣờng
xuyên. HĐND cấp tỉnh quyết định phân cấp nhiệm vụ chi cho NSX. Căn cứ vào chế
độ phân cấp quản lý KT - XH của nhà nƣớc, các chính sách chế độ về hoạt động của
các cơ quan nhà nƣớc, Đảng cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội và
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của xã khi phân cấp nhiệm vụ chi cho NS cấp xã,
HĐND tỉnh xem xét giao cho NS cấp xã thực hiện các nhiệm vụ thu, chi dƣới đây.
* Chi thường xuyên
- Chi cho hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc ở cấp xã:
16

+ Tiền lƣơng, tiền công của cán bộ công chức cấp xã.
+ Sinh hoạt phí đại biểu hội đồng nhân dân.
+ Các khoản phụ cấp khác theo quy định của nhà nƣớc.
+ Công tác phí.
+ Chi về các hoạt động văn phòng nhƣ: chi phí điện, nƣớc, văn phòng phẩm,
phí bƣu điện, điện thoại, hội nghị, chi tiếp tân, khánh tiết…
+ Chi mua sắm sữa, chữa thƣờng xuyên trụ sở, phƣơng tiện làm việc.
+ Chi khác theo chế độ quy định.
+ Kinh phí hoạt động của các cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở xã.
+ Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã - hội ở xã( Mặt trân tổ
quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt
Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam).Sau khi trừ các
khoản thu theo điều lệ và các khoản thu khác( nếu có).
+ Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ xã và các đối tƣợng khác
theo chế độ quy định.
- Chi cho công tác dân quân tự vệ, trật tự, an toàn xã hội:
+ Chi huấn luyện dân quân tự vệ, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự
vệ và các khoản chi khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của NS cấp xã theo
quy định của pháp lệnh về dân quân tự vệ.
+ Chi thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác
thuộc nhiệm vụ chi của NS cấp xã theo quy định của pháp luật.
+ Chi tuyên truyền, vận động tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự, an
toàn xã hội trên địa bàn.
+ Các khoản chi khác theo chế độ quy định.
- Chi cho công tác xã hội và các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể
thao do xã quản lý: Trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã việc theo chế độ quy định
(không kể cả trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc và trợ cấp thôi việc một lần
cho cán bộ xã nghỉ việc từ ngày 01/01/1998 trở về sau do tổ chức bảo hiểm xã hội
chi), chi thăm hỏi các gia đình chính sách, cứu tế xã hội và công tác xã hội khác.
17

- Chi cho hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, truyền thanh do xã
quản lý.
- Chi sự nghiệp giáo dục: hỗ trợ các lớp học bổ túc văn hoá, trợ cấp nhà trẻ,
lớp mẫu giáo, kể cả trợ cấp cho giáo viên và cô nuôi dạy trẻ do xã quản lý, cho công
tác giáo dục cộng đồng.
- Chi cho sự nghiệp y tế: Hỗ trợ chi thƣờng xuyên và mua sắm các khoản
trang thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh của trạm y tế xã.
- Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng
do xã quản lý nhƣ: Trƣờng học, trạm y tế, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà văn hoá, đài
tƣởng niệm, cơ sở thể dục thể thao, cầu, đƣờng giao thông, công trình cấp thoát
nƣớc công cộng…
- Hỗ trợ khuyến khích phát triển các sự nghiệp kinh tế nhƣ: Khuyến nông,
khuyến ngƣ, khuyến lâm theo chế độ quy định.
- Các khoản chi thƣờng xuyên khác ở xã theo quy định của pháp luật.
* Chi đầu tư phát triển:
- Chi đầu tƣ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có
khả năng thu hồi vốn theo phân cấp của tỉnh.
- Chi đầu tƣ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của xã từ
nguồn huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân cho từng dự án nhất định theo quy
định của pháp luật, do HĐND xã thông qua đƣa vào NS cấp xã quản lý.
- Các khoản chi đầu tƣ phát triển khác theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Nội dung (quy trình) ngân sách xã
1.1.2.1. Lập dự toán ngân sách cấp xã
* Mục tiêu, yêu cầu của lập dự toán NS cấp xã
Lập dự toán là khâu đầu tiên trong một chu trình NS xã và nó là công việc
khởi đầu có tầm quan trọng đặc biệt trong một chu trình NS đó.
Lập dự toán NS thực chất là lập kế hoạch thu - chi của NS cho một năm NS
kế tiếp. Kết quả của khâu này là dự toán NS đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm
18

quyền quyết định. Nhƣ ở nƣớc ta hiện nay, kết quả của lập dự toán NS cấp xã phải
đƣợc HĐND xã thảo luận và quyết định.
Quá trình lập dự toán NS xã nhằm hƣớng tới các mục tiêu sau:
- Huy động nguồn lực tài chính theo đúng chế độ, chính sách của Nhà nƣớc
và bảo đảm kiểm soát chi tiêu tổng thể;
- Phân bổ NS phù hợp với ƣu tiên trong kế hoạch phát triển KT-XH cấp xã
và chính sách, chế độ Nhà nƣớc;
- Là cơ sở cho việc quản lý thu, chi trong khâu chấp hành NS cũng nhƣ việc
đánh giá, quyết toán NS cấp xã đƣợc công khai, minh bạch và bảo đảm trách nhiệm
giải trình.
Các yêu cầu lập dự toán NS cấp xã:
Thứ nhất, lập theo đúng nội dung, mẫu biểu, mục lục NSNN, và thời hạn qui
định. Dự toán NS cấp xã phải lập theo đúng nội dung, biểu mẫu, thời hạn và phải
thể hiện đầy đủ các khoản thu, chi theo hƣớng dẫn của Bộ Tài chính, Sở Tài chính
và Phòng Tài chính – Kế hoạch (TC-KH) huyện.
Thứ hai, phải tuân theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức Nhà
nƣớc quy định. Các chế độ, tiêu chuẩn, định mức NS đƣợc quy định trong các văn
bản quy phạm pháp luật do các cấp có thẩm quyền ban hành. Định mức phân bổ NS
là mức NS đƣợc phân bổ cho nhiệm vụ, lĩnh vực chi NS, làm căn cứ để xây dựng
dự toán chi NS cấp xã và phân bổ NS giữa các xã và cho các cơ quan, tổ chức đơn
vị thuộc xã. Căn cứ vào định mức phân bổ NS do Thủ tƣớng Chính phủ ban hành,
khả năng tài chính - NS và đặc điểm tình hình ở địa phƣơng, HĐND cấp tỉnh quyết
định định mức phân bổ NS làm căn cứ xây dựng dự toán và phân bổ NS ở địa
phƣơng (cấp tỉnh; cấp huyện và cấp xã)
Định mức chi tiêu là mức chi NS tính theo chế độ, tiêu chuẩn cho một công
việc, nhiệm vụ cụ thể nào đó làm căn cứ để thực hiện chi và kiểm soát chi NS. Về
thẩm quyền ban hành định mức chi tiêu: Ngoài các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi
tiêu do Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ, Bộ trƣởng Bộ Tài chính ban hành, đối với
một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phƣơng để thực hiện nhiệm vụ phát
triển KT-XH, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, trên cơ sở nguồn NS địa
19

phƣơng bảo đảm, HĐND cấp tỉnh đƣợc quyết định chế độ chi NS, phù hợp với đặc
điểm thực tế ở địa phƣơng. Riêng những chế độ chi có tính chất tiền lƣơng, tiền
công, phụ cấp, trƣớc khi quyết định phải có ý kiến của các Bộ quản lý ngành, lĩnh
vực. HĐND cấp huyện và HĐND xã không có thẩm quyền ban hành định mức phân
bổ và định mức chi tiêu.
Thứ ba, đảm bảo nguyên tắc cân đối NS. “Về nguyên tắc, NS địa phƣơng
đƣợc cân đối với tổng số chi không đƣợc vƣợt quá tổng số thu”. Nhƣ vậy, NS cấp
xã hàng năm đƣợc cân đối theo nguyên tắc tổng số chi không đƣợc vƣợt tổng số thu
các khoản thu đƣợc hƣởng. Nghĩa là tổng số dự toán chi cả năm không đƣợc vƣợt
quá tổng số dự toán thu cả năm; và tổng số quyết toán chi không đƣợc vƣợt tổng số
quyết toán thu cả năm.
Thứ tư, phải có thuyết minh rõ ràng các cơ sở, căn cứ tính toán trong đó nêu
rõ: Căn cứ xác định các chỉ tiêu thu, chi trong dự toán; sự thay đổi dự toán thu, chi
NS cấp xã năm kế hoạch so với năm báo cáo; nguyên nhân của sự thay đổi. Làm rõ
các lý do ƣu tiên trong phân bổ nguồn lực tài chính. Đặc biệt phân tích rõ danh mục
ƣu tiên các dự án đầu tƣ, các công trình và các hoạt động đề xuất trong kế hoạch
phát triển KT-XH của xã nhƣng chƣa có nguồn lực tài chính đảm bảo. Đây là cơ sở
cho việc thảo luận lựa chọn có tiếp tục ƣu tiên hay loại bỏ các nhu cầu này trong kế
hoạch phát triển KT-XH của xã. Giải quyết thiếu hụt về nguồn lực tài chính nhƣ thế
nào? Dân đóng góp hay đề nghị cấp trên tài trợ? Lý do tại sao? các dự án đầu tƣ, các
công trình và các hoạt động đề xuất đó liên hệ gì với các chỉ tiêu, mục tiêu của từng
lĩnh vực đã phân tích trong kế hoạch phát triển KT-XH của xã. Nêu các biện pháp
cơ bản để thực hiện tốt dự toán NS cấp xã nhằm ngăn chặn tình trạng mất cân đối
NS cấp xã có thể xảy ra trong quá trình chấp hành.
* Căn cứ lập dự toán NS cấp xã
- Dự báo những xu hƣớng, cơ hội, thách thức trong phát triển KT-XH ở địa
phƣơng có tác động đến nguồn thu và nhiệm vụ chi của xã năm kế hoạch;
- Các nhiệm vụ phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh, quốc phòng và trật tự an
toàn xã hội của xã thể hiện trong kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm và hàng năm
của xã;

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×