Tải bản đầy đủ

đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất tại khu vực nông thôn và khu vực đô thị trên địa bàn thành phần tuyên quang, tỉnh tuyên quang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM




ĐÀO QUỐC TUẤN





ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN VÀ KHU VỰC ĐÔ THỊ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG,
TỈNH TUYÊN QUANG



LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI









THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM




ĐÀO QUỐC TUẤN





ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN VÀ KHU VỰC ĐÔ THỊ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG,
TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số ngành: 60 85 01 03


LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI


: TS. Nguyễn Thanh Hải






THÁI NGUYÊN - 2014


i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu của tôi trong luận văn này là
trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.


Tác giả luận văn


Đào Quốc Tuấn


ii
LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình và sự
đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành
bản luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc TS. Nguyễn Thanh Hải – ngƣời trực tiếp
hƣớng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo Sau Đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Tài
nguyên và Môi trƣờng, tập thể giáo viên và cán bộ trong Khoa đã giúp tôi hoàn
thành quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của sở Tài nguyên và Môi trƣờng
tỉnh Tuyên Quang, Sở Giao thông vận tải tỉnh Tuyên Quang, Ủy ban nhân dân
thành phố Tuyên Quang, Hội đồng bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ thành phố
Tuyên Quang, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Tuyên Quang, phòng Tài
nguyên và Môi trƣờng thành phố Tuyên Quang, Ủy ban nhân dân các xã, phƣờng:
Hƣng Thành, Ỷ La, Lƣỡng Vƣợng, An Khang, các tổ chức chính trị, xã hội tại các
địa phƣơng trên đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, cung cấp những thông tin
cần thiết cũng nhƣ tham gia góp ý để tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

Tác giả luận văn


Đào Quốc Tuấn








iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu của đề tài 1
2.1. Mục tiêu tổng quát 1
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở lý luận về công tác bồi thƣờng thiệt hại, giải phóng mặt bằng 3
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của quá trình bồi thƣờng giải phóng mặt bằng 3
1.1.2. Vai trò của việc bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất 4
1.2. Chính sách bồi thƣờng ở một số nƣớc trên thế giới 4
1.3. Chính sách bồi thƣờng GPMB khi nhà nƣớc thu hồi đất ở Việt Nam qua
các thời kỳ 7
1.3.1. Thời kỳ trƣớc 1987 7
1.3.2. Thời kỳ 1987 đến 1993 8
1.3.3. Thời kỳ 1993 đến nay 9
1.4. Tình hình thực hiện chính sách bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất ở
Việt Nam 16
1.5. Tình hình thực hiện chính sách bồi thƣờng thiệt hại khi nhà nƣớc thu hồi
đất của tỉnh Tuyên Quang 18
1.5.1. Các văn bản hƣớng dẫn thực hiện chính sách pháp luật bồi thƣờng,
hỗ trợ, tái định cƣ 18
1.5.2. Chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ tại tỉnh Tuyên Quang 19


iv
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 26
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu 26
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 26
2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 26
2.3. Nội dung nghiên cứu 26
2.3.1. Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố
Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang 26
2.3.2. Hiện trạng sử dụng đất của thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. 26
2.3.3. Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng
tại hai dự án nghiên cứu trên địa bàn thành phố Tuyên Quang 26
2.3.4. Đánh giá ảnh hƣởng của các chính sách đó đến đời sống kinh tế -
xã hội của các hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất 26
2.3.5. Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ khi
Nhà nƣớc thu hồi đất tại hai dự án nghiên cứu trên địa bàn thành phố
Tuyên Quang. 27
2.3.6. Đề xuất giải pháp nhằm khắc phục tình trạng bất cập về chính sách
bồi thƣờng, hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất tại khu vực nông thôn và
khu vực đô thị trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. 27
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 27
2.4.1. Phƣơng pháp chọn địa điểm nghiên cứu 27
2.4.2. Phƣơng pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu 28
2.4.3. Phƣơng pháp chuyên gia 28
2.4.4. Phƣơng pháp thống kê và xử lý số liệu 28
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Tuyên Quang, tỉnh
Tuyên Quang 29
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 29
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 32
3.1.3. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cƣ nông thôn 35


v
3.2. Hiện trạng sử dụng đất của thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang 37
3.2.1. Hiện trạng sử dụng theo các loại đất 37
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất theo các mục đích sử dụng 38
3.3. Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng tại hai
dự án nghiên cứu trên địa bàn thành phố Tuyên Quang 44
3.3.1. Giới thiệu khái quát hai dự án nghiên cứu và các chính sách liên
quan đến bồi thƣờng GPMB trên địa bàn thành phố Tuyên Quang 44
3.3.2. Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thƣờng giải phóng mặt bằng
tại hai dự án nghiên cứu 49
3.4. Đánh giá ảnh hƣởng của các chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ đến đời sống
kinh tế - xã hội của các hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất 57
3.4.1. Ảnh hƣởng đến đời sống kinh tế 58
3.4.2. Ảnh hƣởng đến việc làm và trật tự an ninh xã hội 61
3.5. Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ khi Nhà nƣớc
thu hồi đất tại hai dự án nghiên cứu trên địa bàn thành phố Tuyên Quang 66
3.5.1. Thành công 66
3.5.2. Hạn chế 67
3.6. Đề xuất giải pháp nhằm khắc phục tình trạng bất cập về chính sách bồi
thƣờng, hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất giữa khu vực nông thôn và khu vực
đô thị trên địa bàn thành phố Tuyên Quang 69
3.6.1. Các giải pháp chung 69
3.6.2. Các giải pháp cụ thể 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
1. Kết luận 71
2. Đề nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73




vi
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1. Diện tích, cơ cấu các loại đất chính thành phố Tuyên Quang 37
Bảng 3.2. Diện tích tự nhiên phân theo đơn vị hành chính thành phố
Tuyên Quang 38
Bảng 3.3. Diện tích, cơ cấu đất đô thị TP Tuyên Quang 43
Bảng 3.4. Tổng hợp kết quả xác định đối tƣợng đƣợc bồi thƣờng và không
đƣợc bồi thƣờng 49
Bảng 3.5. Ý kiến của ngƣời có đất bị thu hồi trong việc xác định đối tƣợng
và điều kiện đƣợc bồi thƣờng 50
Bảng 3.6. Tổng hợp đơn giá đất và kết quả bồi thƣờng về đất của 2 công trình 51
Bảng 3.7. Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cƣ; đất vƣờn,
ao không đƣợc công nhận là đất ở 52
Bảng 3.8. Đơn giá bồi thƣờng về nhà ở 53
Bảng 3.9. Đơn giá bồi thƣờng về hoa màu 54
Bảng 3.10. Kết quả bồi thƣờng về vật kiến trúc và hoa màu 54
Bảng 3.11. Các khoản hỗ trợ tại 2 công trình nghiên cứu 55
Bảng 3.12. Ý kiến của ngƣời có đất bị thu hồi trong việc thực hiện các chính
sách hỗ trợ 56
Bảng 3.13. Kết quả phỏng vấn chi tiết về thu hồi đất và bồi thƣờng, hỗ trợ
của 2 công trình nghiên cứu 57
Bảng 3.14. Thu nhập bình quân của ngƣời dân tại 02 công trình nghiên cứu 58
Bảng 3.15. Tình hình thu nhập của các hộ sau khi bị thu hồi đất của 2 công trình 58
Bảng 3.16. Thu nhập bình quân nhân khẩu/năm phân theo nguồn thu của 2
công trình 59
Bảng 3.17. Tình hình sử dụng tiền bồi thƣờng của ngƣời dân bị thu hồi đất
của 2 công trình nghiên cứu 60
Bảng 3.18. Tình hình lao động và việc làm của các hộ bị thu hồi đất của 2
công trình 61
Bảng 3.19. Thực trạng việc làm trong độ tuổi lao động trƣớc và sau khi thu
hồi đất 63
Bảng 3.20. Tình hình an ninh trật tự xã hội của ngƣời dân sau khi thu hồi đất 63


vii
DANH MỤC CÁC HÌNH


Hình 3.1. Tình hình lao động trƣớc và sau khi bị thu hồi đất tại công
trình Đƣờng từ Km 129+850 QL2 đến đƣờng dẫn cầu An Hòa 62
Hình 3.2. Tình hình lao động trƣớc và sau khi bị thu hồi đất tại công trình
Đƣờng từ đƣờng Lý Thái Tổ qua cầu Gạo đến Quốc lộ 2 đoạn
tránh thị xã Tuyên Quang 62





1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nƣớc ta đang trong giai đoạn hội nhập và phát triển, quá trình công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nƣớc đang chuyển biến rất nhanh; cùng với đó là việc đô thị
hóa cũng đang diễn ra ở khắp các tỉnh, thành trên toàn quốc. Bên cạnh khuôn mặt
mới của đô thị với những công trình tầm cỡ, những khu công nghiệp ngày càng phát
triển, những tòa nhà cao tầng chọc trời là hình ảnh ngƣời dân mất đất, mất nhà, cuộc
sống bất ổn định của bản thân và gia đình vì sự nghiệp phát triển chung của đất
nƣớc, của đô thị.
Công tác thu hồi đất, bồi thƣờng giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố
Tuyên Quang trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên,
những bất cập vẫn chƣa đƣợc giải quyết triệt để; tỷ lệ hộ nghèo hậu giải phóng mặt
bằng ở một số địa phƣơng có xu hƣớng tăng lên, việc ngƣời dân chƣa đƣợc bồi
thƣờng thoả đáng vẫn đang khiếu kiện kéo dài làm họ mất tập trung ổn định cuộc
sống, sự chênh lệch của chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ giữa khu vực thành thị và
nông thôn chƣa đƣợc giải quyết triệt để gây khó khăn rất lớn cho công tác bồi
thƣờng giải phóng mặt bằng.
Vì vậy việc điều tra, khảo sát thực tế, phân tích, đánh giá có cơ sở khoa học,
trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ khi Nhà
nƣớc thu hồi đất nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
có đất bị thu hồi, góp phần thiết lập trật tự, kỷ cƣơng pháp luật, hạn chế tranh chấp,
khiếu kiện về đất đai trong việc bồi thƣờng giải phóng mặt bằng khi Nhà nƣớc thu
hồi đất là cần thiết.
Với ý nghĩa đó tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá việc thực hiện chính
sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại khu vực nông thôn và khu
vực đô thị trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang”.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
- Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi
đất tại khu vực nông thôn và khu vực đô thị trên địa bàn thành phố Tuyên Quang,
tỉnh Tuyên Quang


2
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu thực trạng công tác bồi thƣờng, hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất
tại một số dự án trên địa bàn thành phố Tuyên Quang.
- Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu
hồi đất và ảnh hƣởng của các chính sách đó đến đời sống kinh tế - xã hội của các hộ
gia đình sau khi bị thu hồi đất.
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục tình trạng bất cập về chính sách
bồi thƣờng, hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất tại khu vực nông thôn và khu vực đô thị
trên địa bàn thành phố Tuyên Quang.
3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Củng cố và hoàn thiện các kiến thức về
Luật đất đai hiện hành; nắm vững các chính sách pháp luật đất đai; chính sách bồi
thƣờng, hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất và các văn bản pháp luật có liên quan.
- Ý nghĩa trong thực tiễn: Từ quá trình nghiên cứu đề tài, giúp tìm ra đƣợc
những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện chính sánh bồi thƣờng, hỗ trợ khi
Nhà nƣớc thu hồi đất tại khu vực nông thôn và khu vực đô thị trên địa bàn thành
phố Tuyên Quang từ đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện, nâng cao tính khả thi
của chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất.



3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận về công tác bồi thƣờng thiệt hại, giải phóng mặt bằng
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng
Quá trình bồi thƣờng giải phóng mặt bằng (hay đền bù giải phóng mặt bằng) là
quá trình đền bù thiệt hại khi Nhà nƣớc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng quy định tại điều 27 của Luật đất
đai năm 1993. [20]
Bản chất của công tác bồi thƣờng giải phóng mặt bằng (GPMB) là chuyển
quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất dƣới sự điều tiết của Nhà nƣớc.
Do vậy để tiến hành công tác bồi thƣờng GPMB của công trình, cần phải dựa vào
những cơ sở dƣới đây:
- Nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng
- Nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng
- Dựa vào kinh phí bồi thƣờng GPMB của công trình
- Dựa vào các loại bản đồ, sổ sách có liên quan đến công tác bồi thƣờng GPMB
GPMB là quá trình đa dạng và phức tạp nó thể hiện khác nhau đối với mỗi dự
án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội.
- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án đƣợc tiến hành trên một vùng đất khác
nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và trình độ dân trí nhất định. Đối với
khu vực nội thành, mức độ tập trung dân cao, ngành nghề của dân cƣ đa dạng, giá
trị đất và tài sản trên đất lớn dẫn đến quá trình GPMB có đặc trƣng nhất định. Đối
với khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cƣ khá cao ngành nghề dân cƣ phức tạp,
hoạt động sản xuất đa dạng: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thƣơng mại, buôn
bán nhỏ v.v quá trình GPMB cũng có đặc trƣng riêng của nó. Đối với khu vực
ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cƣ là sản xuất nông nghiệp, do đó
GPMB cũng đƣợc tiến hành với những đặc điểm riêng biệt.
- Tính phức tạp thể hiện: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế - xã hội, đối với mọi ngƣời dân. ở khu vực nông thôn dân cƣ
sống chủ yếu nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghịêp mà đất đai lại là tƣ liệu sản


4
xuất trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề
nghiệp khó khăn, do đó tâm lí dân cƣ vùng này là giữ đƣợc đất để sản xuất, thậm
chí họ cho thuê đất còn thu đƣợc lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhƣng họ vẫn không
cho thuê. Trƣớc tình hình đó đã dẫn đến công tác tuyên truyền vận động dân cƣ
tham gia di chuyển là rất khó khăn. Việc hỗ trợ nghề nghiệp là điều cần thiết để
đảm bảo đời sống dân cƣ sau này. Mặt khác cây trồng, vật nuôi trên vùng đất đó
cũng đa dạng không đƣợc tập trung một loại cây trồng vật nuôi nhất định nên gây
khó khăn cho công tác định giá bồi thƣờng.
- Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau:
+ Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của
ngƣời dân mà tâm lý, tập quán là ngại di chuyển chỗ ở.
+ Nguồn gốc sử dụng đất khác nhau qua nhiều thời kỳ với chế độ quản lý khác
nhau, cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà
trái phép diễn ra thƣờng xuyên.
+ Thiếu quỹ đất do xây dựng khu tái định cƣ cũng nhƣ chất lƣợng khu tái định
cƣ thấp chƣa đảm bảo đƣợc yêu cầu.
+ Dân cƣ một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào
các trục đƣờng giao thông của khu dân cƣ làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở khu
vực mới thì điều kiện kiếm sống bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển.
Từ các điểm trên cho thấy mỗi dự án khác nhau thì công tác GPMB đƣợc thực
hiện khác nhau.
1.1.2. Vai trò của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
- Bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất trƣớc hết là nhằm bảo đảm lợi ích công cộng
- Bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất nhằm bảo đảm giải quyết hài hòa lợi
ích của Nhà nƣớc và lợi ích của ngƣời bị thu hồi đất
- Bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ góp phần vào việc duy trì ổn định chính trị,
trật tự an toàn xã hội
1.2. Chính sách bồi thƣờng ở một số nƣớc trên thế giới
Đối với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới, đất đai là nguồn lực quan trọng
nhất, cơ bản của mọi hoạt động đời sống kinh tế - xã hội. Khi Nhà nƣớc thu hồi đất
phục vụ cho các mục đích của quốc gia đã làm thay đổi toàn bộ đời sống kinh tế của


5
hàng triệu hộ dân và ngƣời dân, ngƣời bị ảnh hƣởng không những không hạn chế về
số lƣợng mà còn có xu hƣớng ngày càng tăng. Đặc biệt, ở những nƣớc đang phát
triển, ngƣời dân chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp đó là vấn đề sống còn của họ.
Dƣới đây là một số kinh nghiệm quản lý đất đai của các nƣớc trên thế giới sẽ phần
nào giúp ích cho Việt Nam chúng ta, đặc biệt trong chính sách bồi thƣờng GPMB.
Ở Trung Quốc, có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thƣờng, hỗ
trợ, tái định cƣ là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng
nhƣ số lƣợng ngƣời bị ảnh hƣởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tƣ.
Nếu nhƣ việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phƣơng
án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nƣớc, tập thể và cá nhân, đảm
bảo cho những ngƣời bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so
với trƣớc khi bị thu hồi đất.
Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nƣớc thu hồi đất thì ngƣời
nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thƣờng. Ngƣời bị thu hồi đất đƣợc
thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thƣờng đất đai, tiền trợ cấp về tái định cƣ, tiền trợ
cấp bồi thƣờng hoa màu trên đất. Cách tính tiền bồi thƣờng đất đai và tiền trợ cấp
tái định cƣ căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lƣợng của đất đai những năm trƣớc đây
rồi nhân với hệ số. Tiền bồi thƣờng cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất đƣợc
tính theo giá cả hiện tại.
Mức bồi thƣờng cho giải tỏa mặt bằng đƣợc thực hiện theo nguyên tắc đảm
bảo cho ngƣời dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ. Việc quản lý giải
phóng mặt bằng đƣợc giao cho các cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phƣơng đảm
nhiệm. Tổ chức, cá nhân đƣợc quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một đơn
vị xây dựng giải tỏa mặt bằng.
Để giải quyết nhà ở cho ngƣời dân khi giải phóng mặt bằng, phƣơng thức chủ
yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau:
Một là, giá cả xây dựng chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ;
Hai là, giá đất tiêu chuẩn;
Ba là, trợ cấp về giá cả. Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thƣờng về nhà ở.


6
Việc bồi thƣờng nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thƣờng cho dân
ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông
thôn. Đối với nhà ở của ngƣời dân thành phố, nhà nƣớc bồi thƣờng bằng tiền là
chính, với mức giá do thị trƣờng bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian
để đánh giá, xác định giá. Với ngƣời dân nông thôn, nhà nƣớc thực hiện theo những
cách thức rất linh hoạt, theo đó, mỗi đối tƣợng khác nhau sẽ có cách bồi thƣờng
khác nhau: tiền bồi thƣờng về sử dụng đất đai; tiền bồi thƣờng về hoa màu; bồi
thƣờng tài sản tập thể.
Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cƣ, sở dĩ Trung Quốc có những
thành công nhất định trong công tác bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ là do thứ nhất,
đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động
tái định cƣ, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho ngƣời dân tái định cƣ, tạo
các nguồn lực sản xuất cho những ngƣời tái định cƣ. Thứ hai, năng lực thể chế của
các chính quyền địa phƣơng khá mạnh. Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn
toàn trong việc thực hiện chƣơng trình bồi thƣờng hỗ trợ tái định cƣ. Thứ ba, quyền
sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thƣờng hỗ trợ tái định cƣ có nhiều
thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn. Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng
hộ gia đình mà đƣợc cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua
của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng. Chính quyền thôn,
xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hƣởng.
Bên cạnh những thành công nhƣ vậy, chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định
cƣ của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc
làm; tốc độ tái định cƣ chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trƣớc
khi xây xong nhà tái định cƣ [10]
Ở Thái Lan, cũng giống nhƣ ở nhiều nƣớc khác trong khu vực châu Á, quá
trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị
trƣờng điều tiết. Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù
đƣợc tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến ngƣời dân; định giá đền bù.
Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án. Nếu một dự án mang tính
chiến lƣợc quốc gia thì nhà nƣớc đền bù với giá rất cao so với giá thị trƣờng. Nhìn
chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nƣớc hoặc cá nhân đầu tƣ đều đền bù với
mức cao hơn giá thị trƣờng. [10]


7
Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trƣớc, trƣớc tình trạng di dân ồ ạt
từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu
đất định cƣ trầm trọng trong thành phố. Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cƣ, chính
quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận. Việc đền bù
đƣợc thực hiện thông qua các công cụ chính sách nhƣ hỗ trợ tài chính, cho quyền
mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cƣ.
Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản lý,
đƣợc xây tại khu đất đƣợc thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5 km. Vào những
năm 70 của thế kỷ trƣớc, khi thị trƣờng bất động sản bùng nổ, hầu hết các hộ có
quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều
lần so với giá gốc. [10]
1.3. Chính sách bồi thƣờng GPMB khi nhà nƣớc thu hồi đất ở Việt Nam qua
các thời kỳ
1.3.1. Thời kỳ trước 1987
1.3.1.1. Hiến pháp 1946
Sau cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, lần đầu tiên nƣớc Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Hiến pháp vào năm 1946. Đến năm 1953, Nhà
nƣớc ta thực hiện cuộc cải cách ruộng đất và Luật cải cách ruộng đất đƣợc ban
hành. Một trong những mục tiêu đầu tiên của cuộc cải cách là: Thủ tiêu quyền
chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và đế quốc xâm lƣợc ở Việt Nam, xóa bỏ
chế độ phong kiến, chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, thực hiện chế độ sở
hữu ruộng đất của nông dân [11] , [13]. Sau đó, Đảng và Nhà nƣớc ta đã vận động
nông dân vào làm ăn tập thể, đồng thời Nhà nƣớc thành lập các nông trƣờng quốc
doanh, các trạm trại nông nghiệp - hình thức sở hữu tập thể [15].
1.3.1.2. Nghị định số 151-TTg
Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Nghị định số 151-TTg Ngày 14/4/1959, quy
định về thể lệ tạm thời trƣng dụng ruộng đất, là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan
đến việc bồi thƣờng và tái định cƣ ở Việt Nam, sau đó Ủy ban kế hoạch Nhà nƣớc
và Bộ Nội vụ ban hành thông tƣ liên bộ số 1424/TTg của Chính phủ quy định thể lệ
tạm thời về trƣng dụng ruộng đất để làm địa điểm xây dựng các công trình kiến thiết
cơ bản với nguyên tắc phải đảm bảo kịp thời và diện tích đủ cần thiết cho công trình
xây dựng kiến thiết cơ bản, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của


8
ngƣời có ruộng đất. Đất thuộc sở hữu tƣ nhân hoặc tập thể khi bị trƣng dụng thì
thuộc sở hữu của Nhà nƣớc. Về mức bồi thƣờng và cách tính bồi thƣờng theo Nghị
định 151/TTg:
- Về việc bồi thƣờng thiệt hại do lấy đất gây nên phải bồi thƣờng hai khoản: về
đất thì bồi thƣờng từ 1 đến 4 năm sản lƣợng thƣờng niên của ruộng đất bị trƣng thu.
- Đối với hoa màu thì đƣợc bồi thƣờng đúng mức.
- Đối với nhà cửa, vật kiến trúc và các công trình phục vụ sinh hoạt đƣợc giúp
đỡ xây dựng cái khác.
- Ngoài ra, mồ mả thì căn cứ vào tình hình cụ thể về phong tục tập quán của
địa phƣơng mà giúp cho họ một số tiền làm phí tổn di chuyển.
Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thƣờng thiệt hại trong nghị
định này là đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trƣng dụng đất đai trong những năm 1960.
Cách bồi thƣờng nhƣ vậy đƣợc thực hiện cho đến khi Hiến pháp 1980 ra đời.
1.3.2. Thời kỳ 1987 đến 1993
Hiến pháp 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, chính vì vậy việc thực
hiện bồi thƣờng về đất không đƣợc thực hiện mà chỉ thực hiện bồi thƣờng những tài
sản có trên đất hoặc những thiệt hại do việc thu hồi đất gây nên [13].
Luật Đất đai năm 1988 ban hành quy định về việc bồi thƣờng cũng cơ bản dựa
trên những điều quy định tại Hiến pháp 1980.
Ngày 31/5/1990 Hội đồng Bộ trƣởng ban hành quyết định số 186/HĐBT về
việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng
vào mục đích khác thì phải bồi thƣờng. Căn cứ để tính bồi thƣờng thiệt hại về đất
nông nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là diện tích, chất lƣợng và vị trí đất.
Mỗi hạng đất tại mỗi vị trí đều quy định giá tối đa, tối thiểu. UBND các tỉnh, thành
phố quy định cụ thể mức bồi thƣờng thiệt hại của địa phƣơng mình sát với giá đất
thực tế ở địa phƣơng nhƣng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức. Tổ
chức, cá nhân đƣợc Nhà nƣớc giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào
mục đích khác thì phải bồi thƣờng về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nƣớc.
Khoản tiền này đƣợc nộp vào ngân sách Nhà nƣớc và sử dụng vào việc khai hoang,
phục hóa, trồng rừng, cải tạo đất nông nghiệp, ổn định cuộc sống, định canh, định
cƣ cho vùng bị lấy đất.


9
Tại quyết định này, mức bồi thƣờng còn đƣợc phân biệt theo thời hạn sử dụng
đất lâu dài hay tạm thời quy định việc miễn giảm tiền bồi thƣờng đối với việc sử
dụng đất để xây dựng hệ thống đƣờng giao thông, thủy lợi…
1.3.3. Thời kỳ 1993 đến nay
1.3.3.1. Hiến pháp 1992
Hiến pháp 1992 (thay thế Hiến pháp 1980) đã quy định:
“ Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN” [14].
- Điều 17 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên
trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời và tài sản do Nhà
nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn
hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản
khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”.
- Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy
hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước
giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Tổ chức và cá nhân
có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển
quyền sử dụng đất Nhà nước giao theo quy định của pháp luật”.
- Điều 23 quy định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc
hữu hoá. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc
tổ chức theo thời giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định”.
- Điều 58 quy định về quyền sở hữu cá nhân: “Công dân có quyền sở hữu về
thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn
và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất
được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và điều 18. Nhà nước
bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” [14].
Những quy định trên đã tạo điều kiện củng cố quyền hạn riêng của Nhà nƣớc
trong việc thu hồi đất đai cho mục đích an ninh, quốc phòng và các lợi ích quốc gia.


10
1.3.3.2. Luật Đất đai 1993
Luật Đất đai 1993 có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 thay thế cho Luật đất đai 1988.
Đây là văn bản pháp luật quan trọng nhất đối với việc thu hồi đất và bồi
thƣờng thiệt hại khi Nhà nƣớc thu hồi đất. Luật đất đai quy định các loại đất sử
dụng, các nguyên tắc sử dụng từng loại đất, quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng
đất. Một thủ tục rất quan trọng và là cơ sở pháp lý cho ngƣời sử dụng đất là họ đƣợc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà. Chính điều này làm
căn cứ cho quyền đƣợc bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất.
- Điều 12 Luật đất đai 1993 đã quy định: “Nhà nước xác định giá các loại đất
để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất. Tính
giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất. Chính phủ quy định khung
giá các loại đất đối với từng vùng theo thời gian” [16].
- Điều 27 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất sử
dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì
người thu hồi đất được đền bù thiệt hại” [16].
Sau khi Luật đất đai 1993 đƣợc ban hành, Nhà nƣớc đã ban hành rất nhiều các
văn bản dƣới luật nhƣ Nghị định, Thông tƣ và các văn bản pháp quy khác về quản
lý đất đai nhằm cụ thể hoá các điều luật để thực hiện các văn bản đó, bao gồm:
- Nghị định 90/CP ngày 17/9/1994 quy định cụ thể các chính sách và phân biệt
chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để lập kế
hoạch bồi thƣờng GPMB theo quy định khi Nhà nƣớc thu hồi đất để sử dụng và
mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Xét về tính chất,
nội dung, Nghị định 90/CP đã đáp ứng đƣợc một số yêu cầu nhất định, so với các
văn bản trƣớc, Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể
hoá việc thực hiện chính sách bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất, việc bồi thƣờng
bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất…
- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất.
- Thông tƣ Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên bộ Tài chính - Xây dựng -
Tổng cục Địa chính - Ban vật giá Chính phủ hƣớng dẫn thi hành Nghị định 87/CP.
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998, thay thế Nghị định 90/CP nói
trên và quy định rõ phạm vi áp dụng, đối tƣợng phải bồi thƣờng, đối tƣợng đƣợc bồi


11
thƣờng, phạm vi bồi thƣờng, đặc biệt ngƣời có đất bị thu hồi có quyền đƣợc lựa
chọn một trong ba phƣơng án bồi thƣờng bằng đất, bằng tiền hoặc bằng đất và bằng
tiền. Trong đó có nhiều nội dung mới: Về phạm vi áp dụng; nguyên tắc để đƣợc
đền bù thiệt hại về đất (quy định về giấy tờ: hợp pháp, hợp lệ và được coi là hợp
lệ là vấn đề cốt yếu khẳng định thể nhân, pháp nhân có được đền bù hay không
được đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất); giá đất để tính đền bù thiệt hại,
chính sách hỗ trợ và tái định, công tác tổ chức thực hiện. Nghị định 22/1998/NĐ-CP
có những đóng góp nhất định đối với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nhiều
địa phƣơng, đặc biệt là khu vực đô thị [26].
1.3.3.3. Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1998
Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1998 đƣợc Quốc hội thông qua
ngày 02/12/1998. Về cơ bản, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 vẫn dựa trên nền tảng
cơ bản của Luật cũ, chỉ một số điều đƣợc bổ sung thêm cho phù hợp thực tế.
Tháng 10/1999, Cục quản lý Công sản - Bộ Tài chính đã tiến hành dự thảo lần
thứ nhất về sửa đổi bổ sung Nghị định 22/1998/NĐ-CP về việc bồi thƣòng thiệt hại
khi Nhà nƣớc thu hồi đất. Trong đó, một số điều cơ bản đã đƣợc đề nghị sửa đổi
nhƣ xác định mức đất để tính bồi thƣờng, giá bồi thƣờng, lập khu tái định cƣ, quyền
và nghĩa vụ của ngƣời bị thu hồi đất phải chuyển đến nơi ở mới, các chính sách hỗ
trợ và các điều kiện bắt buộc phải có của khu tái định cƣ, Hội đồng bồi thƣờng
GPMB và thẩm định phƣơng án bồi thƣờng GPMB [1].
- Thông tƣ 145/1998/TT-BTC của Bộ Tài chính hƣớng dẫn thi hành Nghị định
22/1998/NĐ-CP bao gồm các phƣơng pháp xác định hệ số K, nội dung và chế độ
quản lý, phƣơng án bồi thƣờng và một số nội dung khác.
- Văn bản số 4448/TC-QLCS ngày 04/9/1999 của Cục quản lý Công sản - Bộ
Tài chính hƣớng dẫn xử lý một số vƣớng mắc trong công tác bồi thƣờng GPMB.
1.3.3.4. Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 2001
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29/6/2001 quy định
cụ thể hơn về việc bồi thƣờng thiệt hại và giải phóng mặt bằng, cụ thể:
a- Trong trƣờng hợp cần thiết, Nhà nƣớc thu hồi đất đang sử dụng của ngƣời
sử dụng đất vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
thì ngƣời bị thu hồi đất đƣợc bồi thƣờng hoặc hỗ trợ. Việc bồi thƣờng hoặc hỗ trợ
theo quy định của Chính phủ [17].


12
b- Nhà nƣớc có chính sách để ổn định đời sống cho ngƣời có đất bị thu hồi.
Trong trƣờng hợp ngƣời bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì đƣợc mua nhà ở của
Nhà nƣớc hoặc đƣợc giao đất có thu tiền sử dụng đất để làm nhà ở. Trong trƣờng
hợp phƣơng án bồi thƣờng đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt, đƣợc
công bố công khai và có hiệu lực thi hành theo quy định của pháp luật mà ngƣời bị
thu hồi đất không thực hiện quyết định thu hồi thì cơ quan quyết định thu hồi đất có
quyền ra quyết định cƣỡng chế. Trong trƣờng hợp Chính phủ ra quyết định thu hồi
đất thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng ra quyết định cƣỡng chế [17].
c-Trong trƣờng hợp cộng đồng dân cƣ xây dựng công trình phục vụ lợi ích
công cộng của cộng đồng theo quy hoạch bằng vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà
nƣớc có hỗ trợ thì việc bồi thƣờng hoặc hỗ trợ cho ngƣời có đất đƣợc sử dụng để
xây dựng công trình do cộng đồng dân cƣ và ngƣời có đất đó thoả thuận [17].
Trong quá trình triển khai Nghị định 22/1998/NĐ-CP, thực tế cho thấy, sau
khi Nhà nƣớc thu hồi đất và thực hiện bồi thƣờng GPMB, ngƣời bị ảnh hƣởng gặp
nhiều khó khăn, đặc biệt là những ngƣời bị thu hồi hết đất sản xuất, phải chuyển
sang ngành nghề khác. Với giá trị đƣợc bồi thƣờng, ngƣời có đất bị thu hồi không
có khả năng tạo lập nơi ở mới cũng nhƣ không có khả năng đầu tƣ để chuyển sang
ngành nghề khác. Nhƣ vậy, dƣới tác động của cơ chế thị trƣờng cùng với số lƣợng
dự án gia tăng, công tác bồi thƣờng GPMB khi Nhà nƣớc thu hồi đất ngày càng trở
nên khó khăn, phức tạp, thực tiễn đòi hỏi phải có sự thay đổi về mặt chính sách, cơ
chế, năng lực thể chế trong công tác này. Đồng thời, Nhà nƣớc cần có chính sách
phù hợp về nhà ở, việc làm, lao động …để giải quyết những vấn đề có liên quan đến
đời sống, dân sinh, kinh tế cộng đồng và ổn định xã hội. Sau nhiều năm triển khai
thực hiện, quá trình của một số tổ chức quốc tế cho các dự án đầu tƣ phát triển (chủ
yếu là các dự án phát triển cơ sở hạ tầng). Nghị định 22/1998/NĐ-CP đã thể hiện
tính bất cập trong việc áp dụng thi hành và có nhiều quy định không phù hợp với
chính sách bồi thƣờng và TĐC của các tổ chức đó, phần nào hạn chế hiệu quả đầu
tƣ, tiến độ thực hiện và chính sách bồi thƣờng GPMB khi Nhà nƣớc thu hồi đất.
Cần thiết phải có một văn bản pháp luật mới thay thế Nghị định 22/1998/NĐ-CP về
chính sách bồi thƣờng GPMB và TĐC khi Nhà nƣớc thu hồi đất phục vụ cho các
nhu cầu sử dụng và lợi ích quốc gia.


13
1.3.3.5. Luật Đất đai 2003
Trên cơ sở tổng kết 10 năm thi hành Luật Đất đai và xuất phát từ yêu cầu của
giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ bẩy Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá IX đã
ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH-HĐH đất nƣớc. Nghị quyết này là định hƣớng rất quan trọng để
Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 4 thông qua Luật Đất đai mới vào ngày 26 tháng 11
năm 2003 [18].
Luật Đất đai năm 2003 là luật có phạm vi điều chỉnh bao quát nhất, thể hiện
đầy đủ nhất hơi thở của cuộc sống so với các Luật Đất đai đã ban hành trƣớc đó.
Luật có rất nhiều nội dung mới, trong đó đáng chú ý tập trung vào các vấn đề đang
đặt ra trong quản lý sử dụng đất đai sau:
a- Làm rõ nội dung quyền sở hữu toàn dân về đất đai với những quyền định
đoạt, quyền đƣợc hƣởng lợi cụ thể và vai trò của Nhà nƣớc với tƣ cách là ngƣời đại
diện chủ sở hữu;
b- Hoàn chỉnh chính sách đất đai đối với khu vực nông nghiệp phù hợp với
nền kinh tế thị trƣờng và tạo điều kiện đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH nông nghiệp
và nông thôn;
c- Coi trọng chính sách đất đai đối với khu vực công nghiệp và dịch vụ, tự tạo
ra sự chủ động về chuyển đổi cơ cấu sử dụng quỹ đất đáp ứng nhu cầu phát triển
công nghiệp và dịch vụ trong quá trình CNH-HĐH đất nƣớc;
d- Thiết lập sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xoá bỏ cơ bản sự khác
biệt giữa ngƣời nƣớc ngoài và ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài và thu hẹp
đáng kể sự phân biệt giữa nhà đầu tƣ trong nƣớc và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trong
việc tiếp cận đất đai, thực hiện quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất;
đ- Xoá bỏ bao cấp về đất đai trên cơ sở coi đất đai là nguồn vốn, nguồn nội lực
to lớn của đất nƣớc cần phải đƣợc định giá theo đúng quy luật của kinh tế thị trƣờng
và phải đƣợc đối xử nhƣ một loại hàng hoá có tính đặc thù trong quá trình giao dịch
bất động sản;
e- Khuyến khích phát triển các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất trên cơ
sở coi quyền sử dụng đất là tài sản của ngƣời sử dụng đất, hạn chế sự can thiệp về
hành chính không cần thiết trong thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhƣợng,
cho thuê, cho thuê lại, tặng cho các quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;
thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;


14
g- Khắc phục cơ bản những bất cập trong chính sách pháp luật về bồi thƣờng,
hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thông qua cơ chế giá đất bồi
thƣờng, chính sách tái định cƣ và hạn chế phạm vi dự án phải thu hồi đất;
h- Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai bằng việc
phân cấp toàn bộ các quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử
dụng đất cho chính quyền địa phƣơng; quy định cụ thể thủ tục và trình tự thực hiện
các thủ tục hành chính về quản lý và sử dụng đất;
i- Đổi mới công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai theo hƣớng phát
huy vai trò của toà án trong giải quyết các tranh chấp dân sự và các khiếu nại hành
chính về đất đai; khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm dẫn tới khiếu kiện kéo
dài vƣợt cấp.
Hiện nay, có rất nhiều các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, các khu công nghiệp,
khu thƣơng mại đang đƣợc thực hiện và trong tƣơng lai con số các dự án sẽ tăng lên
rất nhanh. Sau khi Luật đất đai 2003 đƣợc ban hành, Nhà nƣớc đã ban hành nhiều
các văn bản dƣới luật nhƣ Nghị định, Thông tƣ cụ thể hoá các điều luật về giá đất,
bồi thƣờng, hỗ trợ thu hồi đất, bao gồm:
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phƣơng pháp
xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Thông tƣ số 114/2004/TT-BTC ngày 26 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài
chính về hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm
2004 về phƣơng pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phƣơng
pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 12/03/2004 của Chính phủ về bồi thƣờng,
hỗ trợ và tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất.
- Thông tƣ số 116/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính về
hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính
phủ quy định về bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất.
- Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 về sửa đổi, bổ sung một số điều
của các Nghị định hƣớng dẫn thi hành luật đất đai và Nghị định 187/2004/NĐ-CP
về việc chuyển công ty Nhà nƣớc thành công ty Cổ phần.


15
- Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 12/03/2004 của Chính phủ về thu tiền sử
dụng đất.
- Thông tƣ 117/2004/TT-BTC ngày 12/07/2004 của Chính phủ về hƣớng dẫn
Nghị định 198/2004/NĐ-CP.
- Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 09/4/2008 Về sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử
dụng đất.
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định Bổ
sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thƣờng, hỗ trợ,
tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Thông tƣ liên tịch của bộ tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng số
14/2008/ TTLT-BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 hƣớng dẫn thực hiện
một số điều của nghị định số 84/2007/ NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của chính
phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi nhà
nƣớc thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Thông tƣ số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài
nguyên và Môi trƣờng hƣớng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về
việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng
đất, trình tự thủ tục bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất và giải
quyết khiếu nại về đất đai.
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung
về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ;
- Thông tƣ số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và
Môi trƣờng quy định chi tiết về bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ và trình tự, thủ tục
thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
- Thông tƣ 107/2007/TT-BTC ngày 07 tháng 9 năm 2007 Hƣớng dẫn về quản
lý thanh toán, quyết toán vốn đầu tƣ dự án giải phóng mặt bằng, tái định cƣ sử dụng
vốn ngân sách nhà nƣớc.


16
- Công văn số 11031/BTC-QLCS của Bộ Tài chính về việc giải đáp vƣớng
mắc trong thực hiện chính sách bồi thƣờng và tái định cƣ khi nhà nƣớc thu hồi đất.
- Công văn số 3869/BTC-QLCS của Bộ Tài chính về việc giải đáp vƣớng mắc
trong thực hiện chính sách bồi thƣờng hỗ trợ và tái định cƣ.
1.4. Tình hình thực hiện chính sách bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất ở
Việt Nam
Ở nƣớc ta, các quy định của pháp luật về bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ ngày
càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng nhƣ yêu cầu của các quy luật kinh
tế. Quan tâm tới lợi ích của những ngƣời bị thu hồi đất, Nghị định 197/2004/NĐ-CP
sau một thời gian thực hiện, đặc biệt là sau sự ra đời của NĐ 84/2007/NĐ-CP đã thể
hiện đƣợc tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật. Vì thế, công tác
bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ trong thời gian qua đã đạt đƣợc các kết quả khá khả
quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, đối tƣợng đƣợc bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ ngày càng đƣợc xác định
đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nƣớc, giúp cho công tác quản lý
đất đai của Nhà nƣớc đƣợc nâng cao, ngƣời nhận đền bù cũng thấy thỏa đáng.
Thứ hai, mức bồi thƣờng hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho ngƣời dân bị
thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất. Một số biện pháp hỗ trợ đã đƣợc bổ
sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện đƣợc tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà
nƣớc nhằm giúp cho ngƣời dân ổn định về đời sống và sản xuất.
Thứ ba, việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tƣ cần
đất với ngƣời sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính
trong việc thu hồi đất.
Thứ năm, trình tự thủ tục tiến hành bồi thƣờng hỗ trợ tái định cƣ đã giải quyết
đƣợc nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nƣớc có thẩm
quyền thực hiện công tác bồi thƣờng, tái định cƣ đạt hiệu quả.
Thứ sáu, các địa phƣơng bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai
năm 2003, các Nghị định hƣớng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hƣớng chính sách
của Đảng và Nhà nƣớc, tình hình thực tế tại địa phƣơng để ban hành các văn bản
pháp luật áp dụng cho địa phƣơng mình, làm cho công tác bồi thƣờng, hỗ trợ, tái

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×