Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu tác dụng điều trị rối loạn lipid máu của viên Cholestin

- 1 -
Đặt vấn đề
Rối loạn lipid máu đợc xác định khi có thay đổi có tính chất bệnh lý của
một hay nhiều thành phần lipid trong máu nh cholesterol, triglycerid... Vì lipid
không hoà tan trong trong huyết thanh, di chuyển trong máu dới dạng
lipoprotein, nên nhiều tác giả gọi một cách chính xác là chứng rối loạn
lipoprotein máu [16].
Rối loạn lipid máu đã đợc coi là một trong những yếu tố nguy cơ quan
trọng trong việc hình thành bệnh vữa xơ động mạch và là yếu tố nguy cơ quan
trọng nhất trong việc gây nên các tai biến của thể vữa xơ động mạch vành. Theo
tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới, ở các nớc phát triển, tử vong nhiều nhất là do
bệnh tim (32%) mà chủ yếu là do vữa xơ động mạch, rồi đến tai biến mạch máu
não (13%), nhiều hơn hẳn các loại bệnh khác [16], [17], [26].
ở nớc ta, bệnh vữa xơ động mạch với các biểu hiện lâm sàng nh suy vành,
đột tử, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não trớc đây ít gặp, đang có xu hớng tăng
nhanh theo nhịp độ phát triển của xã hội và theo dự báo sẽ trở thành một bệnh
đáng lo ngại cho sức khỏe của những ngời có tuổi. Ngoài bệnh vữa xơ động
mạch, rối loạn lipid máu cũng còn đợc coi là yếu tố nguy cơ quan trọng của một
số bệnh tim mạch khác nh tăng huyết áp, đái tháo đờng Giải quyết rối loạn
lipid máu đã trở thành một mục tiêu trong các biện pháp dự phòng tiên phát và
thứ phát của các bệnh đó [12], [16].

Hiện nay với những thiết bị hiện đại, các nhà nghiên cứu đã chứng minh đ-
ợc rằng điều trị chứng rối loạn lipid máu không những làm hạn chế đợc sự tiến
triển của các mảng xơ mạch, mà còn làm thoái triển các mảng vữa xơ ngăn
ngừa đợc các tai biến gây tử vong cao [16], [17], [34].
Y học hiện đại có nhiều loại thuốc điều trị rối loạn lipid máu có hiệu quả
nh: Nhựa trao đổi ion, acid nicotinic, fibrat, statin... Tuy nhiên thuốc còn có
- 2 -
một số các tác dụng phụ bất lợi nh: Tiêu cơ, rối loạn tiêu hoá, đau đầu, chóng
mặt, đỏ da, ngứa, nhịp tim nhanh... Hơn nữa giá thành của thuốc lại khá cao cha
phù hợp với điều kiện kinh tế của đa số bệnh nhân ở Việt Nam hiện nay [16],
[34], [47].
Y học cổ truyền Việt Nam và Trung Quốc đã có nhiều nghiên cứu về
chứng rối loạn lipid máu và nhận thấy chứng đàm thấp và chứng rối loạn lipid
máu có nhiều điểm tơng đồng. Vì vậy có thể sử dụng phơng pháp điều trị
chứng đàm thấp để điều trị chứng rối loạn lipid máu. Một số vị thuốc, bài thuốc
có nguồn gốc thảo mộc đã và đang đợc dùng phổ biến trên lâm sàng. Do thuốc
sẵn có, giá thành rẻ, ít độc tính nên có thể dùng kéo dài [17], [49].
Thuốc cholestin gồm những vị thuốc y học cổ truyền đợc bào chế dới dạng
viên nang, đã đợc dùng để điều trị cho bệnh nhân tăng cholesterol máu. Song
trên lâm sàng cha có một nghiên cứu đánh gía đầy đủ, khách quan khoa học về
tác dụng điều trị và tác dụng không mong muốn của thuốc. Vì vậy, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu tác dụng điều trị rối loạn lipid máu
của viên cholestin nhằm hai mục tiêu sau:
1. Đánh giá tác dụng viên cholestin lên một số chỉ số lâm sàng và cận
lâm sàng của chứng rối loạn lipid máu nguyên phát.
2. Theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc.
- 3 -
ChƯơng 1
Tổng quan tài liệu
1.1. Hội chứng rối loạn lipid máu
1.1.1. Đại c ơng về lipid
Lipid gồm nhiều loại khác nhau nhng có một số tính chất chung. Về lý
tính, các lipid có tỉ trọng nhẹ hơn nớc, không tan trong nớc, khi ở nguyên dạng
chỉ hoà tan trong các dung môi hữu cơ nh ether, chloroform, khi gắn với protein
trong huyết tơng để tạo thành lipoprotein. Về hoá tính, hầu hết lipid đều có acid
béo và alcol. Lipid có thể chia làm hai loại: lipid thuần và lipid tạp [2], [3], [9].
Acid béo là những acid carboxylic với chuỗi hydrocacbon có từ 4 đến 36
cacbon, bão hòa hoặc không bão hoà. Một số acid béo có nhánh hoặc vòng hoặc
nhóm chứa hydroxyl. Alcol phổ biến trong lipid là glycerol, alcol bậc cao,
aminoalcol và sterol. acid béo bão hoà (no) có nhiều trong mỡ động vật. acid
béo không bão hoà (không no) có nhiều trong dầu thực vật.
Lipid máu gồm 4 thành phần: cholesterol toàn phần (cholesterol tự do và
cholesterol este hoá), triglycerid, phospholipid và acid béo tự do. Trong cơ thể
lipid đợc phân bố thành 3 khu vực :
- Khu vực các lipid cấu trúc, gồm các lipid có ở các màng tế bào (màng tế
bào, bào tơng) chủ yếu là cholesterol, các lipid phức tạp nh phospholipid.
- Khu vực lipid dự trữ: Tạo nên lớp mỡ mà thành phần chủ yếu là
triglycerid, ở khu vực này luôn có quá trình sinh và thoái biến lipid.
- Khu vực lipid lu hành: Lipid đợc kết hợp với một loại protein gọi là
apoprotein (Apo) để chuyển thành dạng lipoprotein trong máu.
Lipoprotein hầu hết đợc tạo thành từ gan, vì hầu nh toàn bộ mỡ trong
máu: cholesterol, phospholipid, triglycerid do gan sản xuất trừ triglycerid của
chylomycron là do hấp thu từ ruột non. Gan cũng chính là nơi sản xuất Apo [2],
[3], [34].
- 4 -
1.1.2. Cấu trúc và thành phần của lipoprotein:
1.1.2.1. Cấu trúc lipoprotein:
Lipoprotein có dạng hình cầu đờng kính 100-500
o
A
. Cấu trúc chung của
lipoprotein gồm hai phần:
- Phần a nớc (phần vỏ) có apoprotein, cholesterol, phospholipid.
- Phần kỵ nớc (trung tâm) có cholesterol este hoá, triglycerid.
1.1.2.2. Thành phần của lipoprotein
Bằng phơng pháp điện di và siêu ly tâm ngời ta đã phân biệt đợc các thành
phần trong lipoprotein:
- Chylomycron là hạt vi thể dỡng chấp do tế bào niêm mạc ruột tạo nên từ
mỡ trong thức ăn, mang các triglycerid ngoại lai đổ vào mạch dỡng chấp nên
chylomycron có nhiều trong huyết thanh sau khi ăn, có thể làm đục huyết thanh
nhng lại có rất ít khi đói.
- Very low density lipoprotein (VLDL) là lipoprotein có tỷ trọng rất thấp,
chủ yếu do gan, một phần do ruột tổng hợp, mang các triglycerid nội sinh, nồng
độ trong huyết thanh khi đói cũng rất thấp.
- Intermediate density lipoprotein (IDL) là lipoprotein có tỷ trọng trung
gian còn gọi là các chất d (remnant) còn lại sau chuyển hoá VLDL.
- Low density lipoprotein (LDL) là lipoprotein có tỷ trọng thấp do gan
tổng hợp trong thành phần chỉ có 25% là protid, còn 75% là lipid, có chức năng
vận chuyển cholesterol từ máu đến mô, do vậy thờng gây lắng đọng ở thành
mạch. Acid béo bão hoà có tác dụng làm tăng LDL.
- High density lipoprotein (HDL) là lipoprotein có tỷ trọng cao, trong
thành phần chứa 50% protid, 50% lipid, giúp vận chuyển cholesterol từ tổ chức
đến tế bào gan, có tác dụng bảo vệ thành mạch. Do vậy lợng HDL thấp thì khả
năng bị vữa xơ động mạch càng nhiều hơn [3], [17], [26], [35].
- Các apoprotein: Dựa vào các cấu trúc của các acid amin, phân tử lợng và
chức năng các apo đợc sắp xếp thành các nhóm khác nhau theo thứ tự chữ cái
- 5 -
A, B, C, D, E. Trong mỗi nhóm lại đợc xếp thành dới nhóm gồm A
1
, A
2
, A
3
,
nhóm B gồm B
48
, B
100
, nhóm C gồm C
1
, C
2
, C
4
và nhóm E gồm E
2
, E
3
, E
4.
+ Apo A đựơc tổng hợp bởi gan và ruột, là thành phần chủ yếu trong HDL.
+ Apo B
48
sinh ra trong ruột chỉ nằm trong chylomycron.
+ Apo B
100
có mặt cả trong chylomycron, VLDL và LDL.
+ Apo C là thành phần chính trong VLDL.
+ Apo E là thành phần của chylomycron, VLDL, IDL và HDL.
+ Lipoprotein (a) gồm 1 LDL gắn với 1 phân tử apolipoprotein có liên
quan đến quá trình sinh huyết khối và sinh mảng vữa xơ.
Hình 1.1. Sơ đồ cấu trúc của lipoprotein
(Theo Turpin G. 1991) [49].
1.1.3. Chuyển hoá của lipoprotein
Theo hai con đờng ngoại sinh và nội sinh:
1.1.3.1. Chuyển hoá lipoprotein ngoại sinh
Con đờng này liên quan đến lipid do thức ăn đa vào. Triglycerid,
cholesterol, phospholipid từ thức ăn đợc hấp thu qua niêm mạc ruột non chuyển
thành chylomycron. Chylomycron đợc đa theo các bạch mạch để vào tuần hoàn,
tới mô mỡ và cơ, tại đó các triglycerid đợc tách ra nhờ enzym lipoprotein lipase
thành glycerol và acid béo, các acid béo đợc dự trữ hoặc đợc cơ sử dụng làm
nguồn cung cấp năng lợng. Quá trình này xảy ra liên tục làm cho chylomycron
Apoprotein
Phospholipid
Cholesterol tự do
CE = Cholesterol este
TG = Triglycerid
- 6 -
bị mất apo C (trả về cho HDL) và tạo thành chylomycron tàn d giàu cholesterol.
Chylomycron tàn d đợc gắn bắt ở tế bào gan nhờ các thụ thể đặc hiệu với apo
B
48
và apo E có trong thành phần chylomycron tàn d và có đời sống rất ngắn. ở
gan, cholesterol đợc chuyển thành acid mật và đào thải theo đờng mật xuống
ruột non, một phần cholesterol và triglycerid tham gia tạo VLDL. VLDL này
rời gan vào hệ tuần hoàn để bắt đầu con đờng vận chuyển hay chuyển hoá lipid nội
sinh (còn gọi là chuyển hoá lipid ở mạch máu).
1.1.3.2. Chuyển hoá lipoprotein nội sinh
Con đờng này liên quan đến lipid chủ yếu có nguồn gốc từ gan. VLDL
giàu triglycerid có các apoprotein là apo B
100
, apo E và apo C đợc tạo thành ở
gan (90%) và một phần ở ruột (10%) vào máu đến các mô ngoại vi. Tại đó
triglycerid bị tách ra do tác dụng của enzym lipoprotein lipase, đồng thời apo C
cũng đợc chuyển để tạo thành HDL chỉ còn lại apo B
100
và apo E làm cho kích
thớc của VLDL giảm dần. Một enzym khác cũng tác động đến cholesterol của
VLDL là enzym lecithin cholesterol acyl transferase từ gan vào huyết tơng,
enzym này xúc tác sự vận chuyển một acid béo từ lecithin để este hoá phân tử
cholesterol tạo thành CE. Nh vậy, VLDL sau khi giải phóng triglycerid, nhận
thêm CE và mất đi apo C, chuyển thành IDL. ở điều kiện bình thờng lecithin
cholesterol acyl transferase tạo ra 75-90% CE trong huyết tơng, phần CE còn lại
của huyết tơng do gan hoặc ruột sản xuất bởi enzym ACAT (acyl - Co A
cholesterol acyl transferase) của nội bào.
Chuyển hoá của IDL xảy ra rất nhanh một phần IDL bị gan giữ lại, phần
IDL còn lại trong tuần hoàn đợc tách apo E để tạo thành LDL. Các LDL đợc
hình thành với thành phần chủ yếu là cholesterol toàn phần (gồm chủ yếu là CE
và một phần nhỏ cholesterol tự do) giữ vai trò chính trong vận chuyển
cholesterol đến các tế bào gan và các tổ chức ngoại vi, qua sự nhận diện của các
thụ thể màng đối với apo B
100
của LDL. Các thụ thể LDL có ở nhiều loại tế bào,
- 7 -
đặc biệt ở tế bào gan. Sau khi gắn vào thụ thể, LDL đợc đa vào tế bào nhờ hiện
tợng nội nhập thực bào và sau đó nó bị thuỷ phân trong lysosom, các receptor
trở lại vị trí của chúng trên bề mặt màng tế bào. Tại tế bào, cholesterol tham gia
vào quá trình tạo hợp màng và quá trình tổng hợp hormon dẫn xuất steroid. Khi
apo B (kết hợp với LDL-c) tăng, phản ánh sự bài xuất kém của cholesterol và sự
ứ đọng cholesterol ở mô.
Các HDL không đồng nhất về kích thớc và tỷ trọng đợc bài tiết chủ yếu ở
gan và ruột, chúng đảm nhiệm việc vận chuyển cholesterol tự do, sau khi este
hoá, nhờ tác dụng của lecithin cholesterol acyl transferase mà apo A
1
là cofactor
chủ yếu. Cholesterol đợc vận chuyển đến gan bởi các HDL giàu apo E, chính nó
đã cho phép gắn chúng vào các receptor đặc hiệu. Sự gắn này có thể là trực tiếp
hoặc sau khi chuyển đổi từ HDL đến LDL và VLDL nhờ vào cholesterol
transfer protein (CETP): đó là quá trình "vận chuyển ngợc" của cholesterol. Khi
các trị số apo A (cùng với HDL-c) tăng, chứng tỏ sự chuyển hoá tốt và sự đào
thải tốt cholesterol, trị số này giảm chứng tỏ sự bài xuất cholesterol kém và sự
ứ đọng cholesterol ở mô.
ở ngời bình thờng, quá trình tổng hợp và thoái hoá lipid diễn ra cân bằng
nhau và phụ thuộc vào nhu cầu cơ thể, vì thế duy trì đợc sự ổn định về hàm lợng
lipid và lipoprotein trong máu. Khi có sự bất thờng, các kiểu rối loạn chuyển
hoá lipid sẽ xảy ra [2], [3], [14], [20], [22], [31].

- 8 -
Đờng ngoại sinh Đờng nội sinh
Hình 1.2. Chuyển hoá lipoprotein ngoại sinh
và chuyển hóa lipid nội sinh
1.1.4. Phân loại hội chứng rối loạn lipid máu:
Có hai loại:
- Hội chứng tăng lipid máu nguyên phát.
- Hội chứng tăng lipid máu thứ phát.
1.1.4.1. Hội chứng tăng lipid máu nguyên phát :
- Phân loại của Fredrickson
Năm 1965, Fredrickson dựa vào kỹ thuật điện di và siêu ly tâm phân loại
lipoprotein thành 5 typ; cách phân loại này nhanh chóng đợc chấp nhận, nhng
sau đó ngời ta đề nghị tách typ II ra làm typ IIa có tăng LDL đơn thuần và typ
IIb có tăng LDL và VLDL, cách phân loại này từ năm 1970 trở thành phân loại
quốc tế [16], [47].
- 9 -
Bảng phân loại các typ rối loạn lipoprotein máu (theo Fredickson)
Typ
I
Tăng
CT máu
dỡng
chấp
II
a
Tăng
CT máu
nguyên
phát
II
b
Tăng lipid
máu hỗn
hợp và gia
đình
III
Tăng
lipoprotein
máu có tỷ
trọng
trung bình
IV
Tăng
TG nội
sinh
V
Tăng CT
máu hỗn
hợp
Cholesterol
+ ++ ++ + BT/+ +
Triglycerid
+++ BT ++ ++ ++ +++
Lipoprotein
CM
+
LDL
+
LDL
VLDL +
IDL
+
VLDL
+
VLDL+
CM +
Chú thích : ( BT) bình thờng (++) tăng trung bình
( +) tăng nhẹ (+++) tăng cao
- Phân loại của De Gennes chia làm ba thể:
+ Hội chứng tăng cholesterol máu nguyên phát (vô căn): huyết thanh
khi đói trong, cholesterol máu tăng cao, có khi rất cao; triglycerid máu bình th-
ờng hoặc tăng nhẹ; tỷ số CT/ TG 2,5. Trên lâm sàng bệnh nhân có u vàng gân
hay u vàng da.
+ Hội chứng tăng triglycerid máu chủ yếu: huyết thanh khi đói có một
vòng đục nh sữa, phần dới trong, cholesterol máu bình thờng hoặc tăng nhẹ
triglycerid máu tăng rất cao, tỷ số TG /CT máu 2,5. Trên lâm sàng ít gặp hội
chứng này.
+ Hội chứng tăng lipid máu hỗn hợp: huyết thanh khi đói có thể trong
nhng thờng là đục, có thể đục đều hoặc có vòng đục, cholesterol máu tăng vừa
phải; triglycerid tăng nhiều hơn, tỷ số CT/ TG máu < 2,5.
Bảng phân loại này tiện sử dụng trên lâm sàng [13], [17], [47].
- 10 -
- Phân loại rối loạn lipid máu theo Hội tim mạch Việt Nam và theo
ATP III (2001).
Thành phần
lipoprotein
Hội tim
mạch
Phân loại lipoprotein theo ATP III (2001)
Thấp Tối u
Bình th-
ờng
Giới hạn
trên
Cao
CT (mmol/l) < 5,2 < 5,2 5,2- 6,2 > 6,2
TG (mmol/l)

2,3 < 1,7 1,7- 2,3 > 2,3
HDL-c (mmol/l)

0,9 < 1 > 1 > 1,6
LDL-c (mmol/l)

3,2 < 2,6 2,6 - 3,3 3,4
4,1
> 4,1
Apo A1(g/l) > 0,95 < 0,1 > 1,1
Apo B (g/l) < 1 < 0,9 > 0,9
1.1.4.2. Hội chứng tăng lipid máu thứ phá :
Gặp trong nhiều bệnh nh: đái tháo đờng, bệnh goutte, suy tuyến giáp
nguyên phát, hội chứng tắc mật, hội chứng thận h và suy thận mạn tính... Khi
dùng một số loại thuốc cũng gây tăng lipid máu: glucocorticoid, thuốc lợi tiểu,
thuốc hạ áp
1.1.5. Hội chứng rối loạn lipid máu và vữa xơ động mạch:
1.1.5.1. Thế nào là vữa xơ động mạch :
Theo định nghĩa của WHO (Tổ chức Y tế thế giới) Vữa xơ động mạch"
là những thay đổi nội mạc (intima) của những động mạch lớn và vừa với sự tích
tụ lipid, glucid phức hợp, máu, mô xơ và những lắng đọng vôi; dẫn đến biến đổi
lớp trung mạc (media). Sự thay đổi nội mạc nêu trên bao gồm một vùng hoại tử
giàu lipid, bao bọc bởi một vỏ xơ [13].
Vữa xơ động mạch là một bệnh trờng diễn, phát triển tiệm tiến với nhiều
đợt nặng lên, cứ tuần tiến tăng thêm mãi, khởi đầu từ rất sớm (thờng từ 20 tuổi),
ban đầu là quá trình thuận nghịch (cứ lắng đọng lipid hình thành vữa xơ rồi lại
tan biến đi, cứ tăng triển và thoái triển một cách động học). Nếu quá trình hình
- 11 -
thành lớn hơn quá trình thoái lui thì mảng vữa xơ ngày càng lớn lên. Bệnh cứ
tiềm ẩn nhiều năm, dấu hiệu lâm sàng chỉ xuất hiện nếu mảng xơ vữa hẹp nhiều
(>75%) lòng động mạch, hoặc nhằm đúng những vị trí xung yếu của động mạch
[3], [9], [13].
1.1.5.2. Cơ chế sinh vữa xơ động mạch:
Vữa xơ động mạch xuất hiện trên bề mặt động mạch do rối loạn thâm nhập
của lipid, nó làm thay đổi cấu trúc của thành động mạch. ở thành động mạch,
tất cả những phân tử lớn, có một ái lực mạnh với một số thành phần của
lipoprotein lu thông, nhất là với este của cholesterol (thành phần có nhiều trong
LDL). Các đại thực bào và các tế bào cơ trơn có thụ thể tiếp nhận LDL. Các
"LDL biến đổi" khi tiếp xúc với tế bào nội mạc không đợc thu nhận nữa, trừ các
đại thực bào và các tế bào cơ trơn thành mạch. ở những tế bào này có những
thụ thể đặc hiệu cho "LDL biến đổi", nhng lại không có khả năng tự điều hoà
cholesterol nên thu nhận tất cả những "LDL biến đổi" và trở thành các tế bào
bọt, tổn thơng sớm của vữa xơ động mạch và là điểm báo trớc những tổn thơng
cấp diễn hơn. Cholesterol tích tụ trong tế bào đến mức quá tải sẽ làm căng vỡ tế
bào. Tiếp theo sự chết của các tế bào, là sự thanh toán dọn dẹp chúng của những
tế bào có chức năng "làm sạch" các đại thực bào. Các tế bào này lại cũng bị chết
để lại sự ngổn ngang và nham nhở lòng động mạch, từ đó làm tăng sự kết tụ tiểu
cầu và sự rối loạn huyết động, dẫn đến sự dày lên, xơ cứng, làm hẹp lòng động
mạch dẫn đến các biến chứng nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não. Thuốc
lá và khẩu phần nhiều mỡ bảo hoà là những yếu tố đẩy nhanh thêm qúa trình
nhiểm mỡ và vữa hoá tự nhiên [2], [13], [15], [17].
1.1.5.3. Mối liên quan giữa tăng lipid máu và bệnh vữa xơ động mạch:
- 12 -
Từ thập kỷ 30 đã có 2 nghiên cứu độc lập của Muller và Thannhause cùng
Magendantz, phát hiện có mối tơng quan giữa tăng cholesterol máu và vữa xơ
động mạch.
Các công trình của Framingham khẳng định: chứng tăng cholesterol máu
là một trong những yếu tố đe dọa chính của bệnh vữa xơ động mạch.
Cholesterol là thành phần quan trọng nhất trong các lipid ứ đọng ở mảng vữa,
có mối tơng quan thuận giữa mức độ tiêu thụ mỡ bão hoà và nồng độ
cholesterol máu. Trong một quần thể nhất định nếu cholesterol máu trung bình
càng cao thì tần suất mắc bệnh vữa xơ động mạch và tai biến tim mạch càng lớn
[16], [17], [47].
Các nghiên cứu cho thấy mức độ cholesterol dù thấp cũng không loại trừ
đợc vữa xơ động mạch, nếu ở mức rất cao cũng cha thể kết luận là vữa xơ động
mạch nặng.
Quá 60 tuổi sự già hoá của tổ chức động mạch làm cho nó trở thành bệnh
lý, kém khả năng trao đổi chất, giảm tính thấm đối với các phân tử lớn, tạo điều
kiện thuận lợi cho sự lắng đọng lipid trong vữa xơ động mạch.
1.1.5.4. Mối liên quan giữa tăng lipid máu và tai biến mạch vành :
Nghiên cứu của Framingham cho thấy nếu tai biến mạch vành là 1 khi
cholesterol máu < 2 g/l, và tỉ lệ bệnh này tăng lên 2,25 đến 3,35 nếu cholesterol
tăng từ 2,4-2,5g/l đến >2,6g/l.
Nghiên cứu MRFIT (Multiple Risk Factor Intervention Trial) cho thấy
nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành tăng nhẹ khi khi cholesterol từ 1,4 lên 2g/l,
sau đó thì tăng nhanh gấp 3 lần khi cholesterol tăng 3g/l. Về điều trị, nghiên
cứu LRC (Lipid Research Clinic Coronary Primary Prevention Trial, 1984) theo
dõi 3.806 nam trong 7-10 năm cho thấy nếu làm giảm đợc 1% cholesterol thì
giảm đợc 2% nguy cơ mạch vành, nếu làm giảm đợc 20% LDL-c thì giảm đợc
40% nguy cơ đó, với cholesterol >1,8g/l thì cứ 0,1g sẽ tăng 5% tử vong chung
và 9% tử vong do tim mạch. Goul và cộng sự (1995) phân tích trên 35 nghiên
- 13 -
cứu trên 77.257 bệnh nhân đợc theo dõi trong 2-12 năm thấy cứ giảm 10%
cholesterol thì giảm 13% tử vong do bệnh mạch vành và giảm 10% tử vong
chung [13], [17], [49].
Cho đến nay, ngời ta đã xác định tăng cholesterol, tăng triglycerid, giảm
HLD-c, tăng lipoprotein (a) đều là những yếu tố nguy cơ độc lập, quan trọng
của bệnh vữa xơ động mạch và cũng đã khẳng định lợi ích của việc điều trị
chứng rối loạn lipid máu.
1.1.6. Điều trị hội chứng rối loạn lipid máu :
1.1.6.1. Chế độ ăn và luyện tập:
Trớc hết phải sử dụng các biện pháp không dùng thuốc để điều chỉnh các
thành phần lipid máu trong vòng 2-3 tháng.
- Chế độ ăn:
+ Giảm ăn mỡ động vật có chứa nhiều acid béo no, các acid này làm tăng
cholesterol máu, ăn dầu thực vật chứa nhiều acid béo không no.
+ Giảm ăn các thức ăn có nhiều cholesterol nh: óc, bầu dục, tim, gan,
trứng...
+ Ăn cá có nhiều acid béo không no nhóm omega-3, các acid béo này
làm giảm cholesterol máu.
+ Ăn tăng rau quả tơi, uống sữa đậu nành.
+ Hạn chế bia rợu, nhất là tăng triglycerid typ II
b
, IV, giảm glucid.
+ Giảm cân nếu thừa cân: đa BMI xuống dới 22 bằng chế độ giảm calo,
giảm cân có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu, làm giảm cholesterol máu
và triglycerid máu.
- Tăng cờng hoạt động thể lực: thể dục vừa sức, đi bộ, xoa bóp, dỡng sinh,
hoạt động thể lực làm tăng HDL-c.
- Lao động trí óc: cần điều độ, tránh stress, bỏ thuốc lá, nghỉ ngơi hợp lý
[13], [24], [34].
- 14 -
1.1.6.2. Thuốc điều trị rối loạn lipid máu:
Vì cholesterol và triglycerid là những thành phần chủ yếu thấy trong chứng
rối loạn lipid máu, nên xu hớng hiện nay là đi tìm những thuốc có khả năng làm
giảm đợc 2 thành phần đó. Làm giảm cholesterol và triglycerid sẽ làm giảm đ-
ợc LDL, VLDL là những lipoprotein dễ gây vữa xơ động mạchvà làm tăng HDL
là loại lipoprotein chống lại bệnh gâyvữa xơ động mạch.
Cho đến nay, các thuốc chính đã đợc dùng đều dựa trên các cơ chế:
- Làm giảm sự tái hấp thu acid mật bằng cách cắt chu trình ruột -gan của
cholesterol nh nhựa trao đổi ion.
- ức chế quá trình tiêu lipid ở tổ chức mỡ để làm giảm lợng acid béo cần
thiết cho gan tổng hợp VLDL nh acid nicotinic, fibrat.
- Làm tăng độ thanh thải VLDL và LDL nh fibrat.
- Làm giảm sự tổng hợp nội sinh cholesterol nh statin [17], [22], [34].
Các thuốc điều trị:
1. Nhóm nhựa trao đổi ion: cholestyramin và colestipol là nhựa liên kết
với acid mật để tăng đào thải acid này theo phân nh vậy cắt chu trình ruột- gan
của acid mật nên cholesterol đợc đào thải ra ngoài.
- Tính chất dợc lý: Làm giảm cholesterol và LDL
- Tác dụng phụ: Rối loạn tiêu hóa, rối loạn hấp thu một số thuốc hoặc
một số chất khi qua ruột, có thể gây tình trạng nhiểm toan máu.
- Liều dùng: Liều thờng dùng với cholestyramin là 16-24g/ngày. với
colestipol là 20-25g/ngày, chia 2 lần trớc bữa ăn.
- Chỉ định: Typ IIa
- Chống chỉ định: Khi có tắc đờng mật hoàn toàn, suy gan, táo bón nhiều, phụ
nữ có thai.
2. Acid niconitic (vitamin PP) là một vitamin nhóm B với liều cao 26g/
ngày làm giảm VLDL, giảm triglycerid... Với liều thấp chỉ gây dãn các tiểu
động mạch và mao mạch ở mặt, thân và các chi.
- 15 -
- Tác dụng phụ: Rối loạn tiêu hoá, bừng nóng mặt, đỏ da, ngứa, tăng
transaminase tạm thời, tăng glucose máu, tăng acid uric...
- Liều dùng: Dilexpal, viên 500mg, thông thờng 6 viên chia 3 lần trong
ngày, mỗi tháng uống 20 ngày.
- Chỉ định: Typ IIb, III và IV.
- Thận trọng: bệnh gan, đái tháo đờng, goutte. Không dùng cho phụ nữ
có thai và cho con bú.
3. Các acid béo không no omega-3: đợc chiết từ cá biển có tác dụng
giảm triglycerid và VLDL là chính. Thuốc ít tác dụng phụ. Liều dùng 1g x 3
lần/ngày.
4. Statin:
Biệt dợc gồm:
Atorvastatin : Lipidor, viên 10-20mg
Lovastatin : Mevacor, viên 20mg
Fluvastatin : Lescol, viên 40mg
Pravastatin : Pravachol, Elisor, viên 20mg
Simvastatin : Zocor, viên 5-10mg
Cơ chế tác dụng: Statin ức chế đặc hiệu và cạnh tranh tác dụng của men
hydroxy- metyl-glutaryl-CoA reductase ở khâu HMGCoA chuyển thành acid
mevalonic, cản trở quá trình sinh tồng hợp cholesterol trong tế bào. Do thiếu
cholesterol nội sinh, các thụ thể cho LDL đợc tăng tổng hợp để tiếp nhận thêm
LDL làm tăng thoái giáng LDL trong tế bào theo con đờng thụ thể dẫn đến
giảm LDL trong máu lu hành; statin còn ức chế gan tổng hợp B
100
. Nh vậy,
statin làm giảm cholesterol và LDL là chính.
- Tác dụng phụ: Rối loạn tiêu hoá, đau đầu, chóng mặt, nổi mẫn, dị cảm,
tăng transaminase, đau nhức cơ, yếu cơ.
- Liều dùng: tùy từng loại biệt dợc, ví dụ lipitor 10-20 mg/ngày.
- Chỉ định: Typ IIa, IIb.
- 16 -
- Chống chỉ định: Suy gan, suy thận, đang mắc các bệnh về cơ. Không
dùng cho phụ nữ có thai, cho con bú.
5. Fibrat:
Biệt dợc gồm:
Clofibrat : Lipavlon, viên 500mg
Benzafibrat : Bezalip, viên 200-400mg
Gemfibrozil : Lopid , viên 300mg
Fenofibrat : Lipanthyl, viên 300mg, 200M
Ciprofibrat : Modalim, viên 100mg
Vào trong cơ thể, các fibrat đợc chuyển thành các fibric và các chất
chuyển hoá có hoạt tính. Acid fibric liên kết mạnh với các albumin huyết tơng.
- Tác dụng phụ: đầy bụng, ỉa chảy buồn nôn, phát ban, nhức đầu chóng
mặt, đau cơ, enzym gan tăng bất thờng, tăng CPK.
- Liều dùng: benzafibrat 400-600 mg/ngày
fenofibrat 200-300 mg/ngày
gemfibrozil 900-1200mg/ngày
- Chỉ định : Typ IIa, IIb, III và IV.
Vấn đề kết hợp thuốc
Có thể dùng hai loại thuốc ở hai nhóm thuốc điều trị rối loạn lipid máu
khác nhau nếu thấy cần thiết. Việc kết hợp hai loại thuốc với liều thấp sẽ thay
thế cho việc dùng một loại với liều cao vì khó dung nạp. Trong một số trờng
hợp khi tăng quá cao cholesterol máu nên kết hợp hai loại thuốc. Sự kết hợp tốt
nhất là giữa statin và niacin.
Một số tình huống cụ thể
- Điều trị bệnh tăng triglycerid máu: Điều chỉnh chế độ ăn và sinh hoạt,
đặc biệt giảm trọng lợng, chế độ ăn ít tinh bột, mỡ và không uống rợu. Dùng
thuốc nên chọn niacin hoặc dẫn xuất fibrat. Khi triglycerid rất cao trong máu
cần đề phòng nguy cơ viêm tuỵ cấp.
- 17 -
- Điều trị bệnh nhân tăng lipid máu hổn hợp: Nên kết hợp niacin hoặc
một fibrat với một statin.
- Điều trị bệnh nhân giảm HDL-c: Loại bỏ các nguyên nhân nh hút thuốc
lá, béo phì, lời tập thể dục, đái tháo đờng không đợc khống chế, dùng chẹn bêta
giao cảm kéo dài. Có thể dùng niacin, statin hoặc gemfibrozil
- Tăng cholesterol máu đơn thuần: dùng statin là tốt nhất, sau đó là nhựa
gắn acid mật, niacin, fibrat.
- Tăng triglycerid đơn thuần hay tăng lipid hổn hợp dùng fibrat là thuốc
hàng đầu, sau đó là acid nicotic.
- Kiểm tra các chỉ số lipid cứ 2-3 tháng một lần và theo dõi tác dụng phụ
của thuốc [12], [16], [49].
1.2. Quan niệm của Y HọC Cổ TRUYềN về rối loạn lipid
máu
1.2.1. Chứng đàm thấp:
1.2.1.1. Quan niệm của y học cổ truyền về chứng đàm thấp:
Theo lý luận của y học cổ truyền, thủy thấp đàm ẩm là những sản phẩm
bệnh lý hình thành trong quá trình trao đổi thủy dịch trong cơ thể bị rối loạn.
Loại sản phẩm bệnh lý này vừa hình thành đã trở thành nhân tố gây bệnh mới
tác động đến cơ thể làm rối loạn chức năng tạng phủ dẫn đến các bệnh lý biến
hóa phức tạp. Thủy thấp đàm ẩm cùng nguồn gốc nhng sự lu chuyển khác nhau,
cũng có thể phân làm bốn nhng cũng có thể hợp làm một. Chúng đều là sản
phẩm bệnh lý hình thành từ tân dịch của cơ thể, trong quá trình vận chuyển bài
tiết gặp trở ngại đình lu lại trong cơ thể. Nói chung thấp tụ thành thủy, thủy tích
thành ẩm và ẩm ngng thành đàm. Do thủy thấp đàm ẩm đều do tân dịch đình lu
trong cơ thể mà hình thành nên trong nhiều trờng hợp thủy, thấp, đàm, ẩm
không thể phân biệt rạch ròi mà thờng gọi chung là đàm thấp, đàm ẩm,
thủy thấp, thủy ẩm...[5], [7], [24], [32].
- 18 -
Nguyên nhân phần nhiều liên quan đến phế, tỳ, thận. Khi công năng mất
điều hoà và có ảnh hởng qua lại lẫn nhau, nhất là tỳ dơng mất chức năng kiện
vận, tam tiêu khí hoá chớng ngại làm cho thuỷ dịch tích chứa lại là nguyên nhân
chủ yếu.
Do đàm ẩm là sản phẩm bệnh lý hình thành trong quá trình bệnh, nên
ngoại cảm lục dâm, nội thơng thất tình, lệ khí, ăn uống lao động an nhàn quá
mức đều dẫn đến hình thành đàm ẩm. Tuy nhiên đàm ẩm có hình thành hay
không còn liên quan trực tiếp với các chức năng của tạng phủ. Trong đó phế, tỳ,
thận, can, tam tiêu và bàng quang liên quan chặt chẻ với thủy dịch. Phế là thợng
nguồn của thủy chủ tuyên giáng, phân bố tân dịch, thông điều thủy đạo. Tỳ chủ
vận hóa thủy thấp. Thận dơng chủ chng hóa thủy dịch. Can khí giúp sơ tiết phân
bố thủy dịch. Nếu chức năng của các tạng phủ thất thờng đều sinh đàm ẩm. Sau
khi hình thành thấp gây khốn tỳ vị là chính, còn đàm theo khí thăng giáng bên
trong đến tạng phủ, bên ngoài đến cân cốt bì cơ không chỗ nào không đến, sau
đó biến thành các loại bệnh lý phức tạp. Trăm bệnh đều do đàm sinh ra, nên
chữa bệnh quá bán là chữa đàm [5], [6], [32].
Theo Lý Đông Viên Tỳ là nguồn sinh ra đàm, phế là nơi chứa đàm, nh
vậy tỳ vị không vận hành mới sinh ra đàm.
Vơng Tiết Trai nói: Tỳ thổ không đủ sức, khí bị h yếu, không vận chuyển
đợc, ăn kém tiêu hoá chậm sinh ra đàm.
Theo Trung y, chứng rối loạn lipid máu đợc chia làm 5 thể [11]:
- Đàm trọc ứ trở: ngời mập, nặng đầu, cảm giác đầy bụng, mạch hoạt.
- Tỳ thận dơng h: chóng mặt, mệt mỏi, tay chân uể oải, cảm giác đầy
bụng, buồn nôn, đi cầu phân lỏng hoặc sệt, rêu lỡi trắng dày, mạch hoạt.
- Can thận âm h: ngời gầy ốm, mệt mỏi, cảm giác nóng bứt rức trong ng-
ời, đau lng, mỏi gối, tiểu đêm, ngủ tâm phiền nhiệt, lỡi đỏ mạch trầm sác vô
lực.
- Âm h dơng cang: đau đầu, chóng mặt, ù tai, ngũ tâm phiền nhiệt.
- 19 -
- Khí trệ huyết ứ: đau nhói vùng ngực, đoản hơi, lỡi tím hoặc có điểm ứ
huyết, mạch huyền.
1.2.1.2. Nguyên nhân và cơ chế sinh đàm ẩm:
Các yếu tố gây bệnh trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho công năng của tạng
phủ bị rối loạn hoặc h tổn, trong đó liên quan nhiều đến tạng tỳ, thận, tâm, can
mà đặc biệt là tỳ, thận.
- Tỳ: là nguồn sinh ra đàm, tỳ khí h yếu công năng vận hóa thuỷ cốc kém,
khiến chất thanh khó thăng lên, chất trọc khó giáng xuống. Chất tinh vi của
thuỷ cốc không đợc vận hoá bình thờng tụ lại thành đàm. Mặc khác tỳ thổ suy
yếu không chế đợc thuỷ thấp khiến thuỷ thấp ngng đọng thành đàm
Tỳ h sinh đàm có thể do:
+ Ăn uống nhiều chất béo ngọt tổn hại tỳ vị, vận hoá thủy thấp rối loạn,
đàm thấp nội sinh.
+ Do tình chí: lo, nghĩ, giận dữ, làm tổn thơng tạng can tỳ, can mộc khắc
tỳ thổ làm tổn thơng tỳ vị, làm tỳ giảm hoặc mất khả năng vận hoá thuỷ cốc, tân
dịch tụ lại thành đàm ẩm.
+ Do ít vận động thể lực: nằm nhiều hại khí, ngồi nhiều hại cơ nhục. Th-
ơng khí dẫn đến khí h, thơng nhục dẫn đến tỳ h, tỳ khí h suy mà sinh đàm trệ.
+ Ngời già trên 60 tuổi tỳ khí h nhợc mất hoặc giảm chức năng vận hoá
thuỷ thấp hoặc thận dơng h không khai thông thủy thấp, làm thủy thấp đọng lại
sinh đàm trệ.
- Thận: là gốc của đàm, thận dơng h suy, hỏa không ôn ấm đợc thổ, thủy
thấp tân dịch không khí hoá đợc tràn lên thành đàm. Thận âm khuy tổn h hỏa ở
hạ tiêu chng bốc hun nấu tân dịch cũng tạo thành đàm.
- Phế: khí h suy mất khả năng thông điều thuỷ đạo, thủy dịch ngng lại
thành đàm hoặc phế âm bất túc, âm h hoả vợng, h hoả hun nấu tân dịch cũng tạo
- 20 -
thành đàm. Nh vậy: ngũ tạng h tổn đều có thể sinh đàm. Đàm khi sinh ra đi theo
khí và phân bố rất rộng, gây ra các chứng đầu thống, huyễn vựng, tâm quý... với
các biểu hiện lâm sàng tơng tự nh bệnh cảnh rối loạn lipid máu [6], [7], [32].
1.2.2. Sự t ơng đồng giữa chứng đàm thấp và chứng rối loạn lipid máu
Rối loạn lipid máu không có trong y văn của y học cổ truyền; tuy nhiên
các biểu hiện của tăng lipid máu và các chứng có liên quan đến vữa xơ động
mạch thờng gặp trong các bệnh lý mạch vành, bệnh lý mạch não và theo quan
điểm y học cổ truyền rất đa dạng chúng có thể gặp trong các chứng: trúng
phong, tý, ma mộc, tâm thống, hay tâm trớng, huyễn vựng và đôi khi không có
triệu chứng gì cả. Cho đến nay nhiều nhà chuyên môn vẫn quan niệm đàm ẩm
nh là một trong những yếu tố chính gây nên các triệu chứng trên [5], [6], [32].
Dựa trên nhiều nghiên cứu lâm sàng và cận lâm sàng, ngời ta thấy giữa
chứng rối loạn lipid máu và chứng đàm thấp có nhiều điểm tơng đồng:
- Yếu tố thể chất do tiên thiên quyết định, thờng là tiên thiên bất túc, yếu
tố này có thể hiểu tơng tự nh yếu tố di truyền của y học hiện đại
- Yếu tố ăn uống (ẩm thực) do ăn quá nhiều các chất cao lơng, thức ăn
ngọt béo làm tổn thơng tỳ vị, khiến vận hoá thất điều, đàm thấp nội sinh mà dẫn
đến bệnh tật. Yếu tố này tơng tự nh việc ăn quá nhiều thức ăn giàu mỡ động vật
chứa nhiều acid béo no theo y học hiện đại quan niệm.
- Yếu tố ít vận động thể lực: Sách Tố vấn thiên "Tuyên minh ngũ khí
luận", viết :"Cửu ngọa thơng khí, cửu toạ thơng nhục" (nằm nhiều hại khí, ngồi
nhiều hại cơ nhục). Thơng khí dẫn đến khí h, thơng nhục dẫn đến tỳ h, tỳ khí h
suy mà gây ra bệnh. Y học hiện đại đã chứng minh vận động tập thể lực làm
giảm LDL-c, tăng HDL-c giảm nguy cơ vữa xơ động mạch.
- Yếu tố tinh thần (thất tình): lo nghĩ hại tỳ, giận dữ hại can, can mộc v-
ợng khắc tỳ thổ làm tỳ vị rối loạn, h yếu, công năng vận hoá suy giảm, đàm trọc
ứ trệ kinh mạch mà sinh bệnh. Đây chính là yếu tố căng thẳng tinh thần (stress)
của y học hiện đại.
- 21 -
1.2.3. Điều trị chứng đàm thấp
Chứng đàm thấp và chứng rối loạn lipid máu có nhiều điểm tơng đồng. Vì
vậy chữa đàm thấp là một trong những biện pháp điều chỉnh rối loạn lipid máu
[5], [32].
1.2.3.1. Nguyên tắc trị liệu:
- Vì bệnh có đặc điểm "bản h tiêu thực" cho nên trong điều trị phải chú ý
cả tiêu lẫn bản.
- Phải chú trọng phép chữa đàm vì đàm trọc có vai trò quan trọng trong
cơ chế bệnh sinh.
- Trị đàm phải chú ý nguyên tắc "Trị đàm tiên trị khí, khí thuận đàm tự
tiêu và trong trị đàm "nhất thiết không nên vét sạch đàm đi" vì đàm vốn có sẵn
từ lúc sơ sinh và cũng là một vật để nuôi sống nữa (Hải Thợng Lãn Ông - Y
trung quan kiện) có nghĩa chỉ loại bỏ phần đàm d thừa mà thôi [45]. Ngoài ra
những bệnh do đàm gây ra dai dẵng còn gọi là ngoan đàm, tơng ứng với bệnh
lao hạch, bớu cổ...của y học hiện đại.
1.2.3.2. Phơng pháp điều trị đàm:
Có 3 phơng pháp: Hoá đàm, tiêu đàm và điều đàm. Bệnh nhẹ dùng hoá
đàm, bệnh nặng dùng tiêu đàm, đàm ở một chỗ không ra phải dùng phép điều
đàm. Vì đàm ở hội chứng rối loạn lipid máu là đàm vô hình, lu hành và ứ đọng
ở huyết mạch nên khi dùng phép hoá đàm để điều trị nguyên nhân sinh ra đàm,
làm cho đàm tự hết chứ không dùng đến phép tiêu và điều đàm.
Theo y học cổ truyền, chứng rối loạn lipid máu là một chứng do nội đàm
gây nên có đặc điểm là "bản h tiêu thực". Tuỳ theo thế bệnh cấp hay hoãn mà
lấy phù chính làm chủ, khứ tà là phụ, hoặc khứ tà làm chủ, phù chính là phụ
hoặc vừa phù chính vừa khứ tà, tiêu bản đồng trị. Bản h chủ yếu là tỳ thận h
- 22 -
tổn, tiêu thực chủ yếu là đàm trọc, huyết ứ. Trị bản phải chú ý bổ tỳ, ích
thận, trị tiêu phải chú ý các phép khứ đàm trừ thấp, thanh lý thông hạ, hoạt
huyết hóa ứ. Dựa vào nguyên nhân ngời ta chia đàm ra làm 5 loại: thấp đàm,
táo đàm, nhiệt đàm, phong đàm, hàn đàm. Từ đó tuỳ theo từng loại đàm mà có
pháp điều trị khác nhau [6], [45].
1.2.4. Tình hình nghiên cứu thuốc và ứng dụng thuốc y học cổ truyền điều
trị chứng rối loạn lipid máu
1.2.4.1. Các nghiên cứu ở Việt nam
- Nghiên cứu độc vị:
+ Ngu tất: Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Quang Hoan và cộng sự (1988)
nghiên cứu thực nghiệm trên thỏ, tác dụng hạ cholesterol và hạ huyết áp kéo dài
[37].
+ Ngu tất: Phạm Khuê và Bùi Thị Nguyệt (1995), làm giảm cholesterol ở
82,6% bệnh nhân có cholesterol máu cao sau hai tháng điều trị [27].
+ Nghệ vàng: Tiến hành thực nghiệm của Nguyễn Khang, Đặng Mai An.
Trên lâm sàng của Phạm Tử Dơng, Nguyễn Thế Khánh, Bùi Văn Hối, dùng cao
lỏng và viên nén nghệ với lợng tơng đơng với 10g nghệ tơi/ ngày trong một tháng
thấy giảm 11,7% cholesterol máu, 18,7% trị số burstein và 7,7% lipid toàn phần
[25].
+ Tỏi: Võ Hiền Hạnh, Lơng Thuý Quỳnh thấy có tác dụng làm giảm
cholesterol máu trên 75% số bệnh nhân, mức độ hạ từ 30-50% mg [19].
- Nghiên cứu bài thuốc:
+ Phan Việt Hà (1998), nghiên cứu tác dụng bài thuốc "Giáng chi ẩm" trong
điều trị hội chứng rối loạn lipid máu, kết quả cho thấy làm giảm 13,54 %
cholesterol, 32,67% triglycerid, 15,23 % LDL-c; tăng 17,07 % HDL-c [18].
- 23 -
+ Trần Viết Hoàng (1998), nghiên cứu tác dụng của bài thuốc THB 94
trong điều trị chứng rối loạn lipid máu thể đàm thấp, kết quả cho thấy giảm
11,5% cholesterol, 39% triglycerid, 19% LDL-c; tăng 11,5% HDL-c [23].
+ Đoàn Quốc Dũng (2001), nghiên cứu tác dụng điều chỉnh hội chứng rối loạn
lipid máu của bài thuốc "Nhị trần gia giảm", kết quả cho thấy có tác dụng làm giảm
18,4% cholesterol; 32,21% triglycerid; giảm 16,5% LDL-c và làm tăng 18,97%
HDL-c [14].
+ Vơng Kim Chi (2001), nghiên cứu tác dụng của dỡng sinh góp phần
điều chỉnh chứng rối loạn lipid máu, kết quả giảm 15,76% cholesterol; giảm
34,29% triglycerid; giảm LDL-c 13,77%; tăng 23,68% HDL-c [8].
+ Bùi Thị Mẫn (2004) Nghiên cứu tác dụng điều trị hội chứng rối loạn
lipid máu của viên BCK, kết quả cho thấy làm giảm 18,34% cholesterol; 27,7%
triglycerid; 18,3 % LDL-c; tăng 18,6 % HDL-C [36].
1.2.4. 2. Các nghiên cứu ở nớc ngoài: Chủ yếu của Trung quốc
Y học cổ truyền Trung Quốc đã có nhiều nghiên cứu lâm sàng về chứng
rối loạn lipid máu và đã chứng minh rằng thuốc y học cổ truyền có tác dụng t-
ơng đối tốt trong trị liệu, ít tác dụng không mong muốn. Ngoài ra nguồn dợc
liệu phong phú, dễ tìm.
- Phân loại nhóm thuốc điều trị theo từng thành phần của máu :
+ Nhóm hạ cholesterol: hà thủ ô, trạch tả, đại hoàng, tam thất, bồ hoàng,
đậu xanh, hồng hoa.
+ Nhóm làm giảm cholesterol và triglycerid: sơn tra, quyết minh tử, linh
chi, củ cốt khí.
+ Nhóm có tác dụng tăng HDL-c: tỏi, hà thủ ô...
- Nghiên cứu cơ chế tác dụng của thuốc y học cổ truyền làm hạ lipid máu.
- 24 -
+ ức chế sự hấp thu mỡ từ bên ngoài:
. Tăng cờng nhu động ruột, thúc đẩy sự bài tiết mỡ, giảm hấp thu: đại
hoàng, sinh hà thủ ô, thảo quyết minh, cốt khí.
. ức chế sự hoà tan của mỡ khi ăn, ức chế sự phân hủy của mỡ trong
ruột: đậu xanh, rong biển, bồ hoàng.
+ ức chế sự hợp thành của cholesterol và triglycerid
. Trạch tả ức chế hệ men làm cho tổng hợp cholesterol giảm.
. Nghệ ức chế các acid béo.
. Hà thủ ô làm giảm cholesterol trong gan.
+ ức chế phân bố mỡ
. Trạch tả ức chế sự tồn đọng trong động mạch, thúc đẩy vận chuyển và
bài tiết cholesterol, tăng HDL-c.
. Linh chi ức chế chất trung gian để chuyển hóa thành mỡ, làm giảm mỡ
trong máu.
- 25 -
1.3. Thuốc nghiên cứu
1.3.1. Thành phần thuốc nghiên cứu
Viên nang cholestin gồm các thảo dợc sau:
Hoè hoa
Nghệ
Ngu tất
Đây là những vị thuốc thờng dùng trên lâm sàng để điều trị chứng rối loạn
lipid máu, do thuốc có tác dụng lu thông huyết dịch, bền thành mạch, tránh xơ
vữa mạch máu.
* Hoè hoa: (sophora japonica), họ đậu (Fabaceae) [51].
- Bộ phận dùng: Nụ hoa đợc phơi hoặc sấy nhẹ đến khô (hoè mể).
- Thành phần hóa học :Giàu rutin, betulin, sophoradiol...
- Tác dụng dợc lý: Giảm tính thẩm thấu mao mạch, tác dụng hạ áp, hạ
cholesterol, chống kết tập tiểu cầu...
- Tính vị quy kinh: Vị đắng, tính mát, vào 2 kinh can và đại tràng.
- Công năng: Có tác dụng thanh nhiệt, lơng huyết, chỉ huyết.
- Liều dùng: 6-20 gam sắc nớc uống hoặc hảm nh chè.
* Ngu tất: (Achyranthes bidentata blume), họ dền (Amarantheceae) [52].
- Bộ phận dùng: Rễ thu hái khi phần trên mặt đất tàn lụi.
- Tác dụng dợc lý: Chống viêm, hạ cholesterol máu, hạ huyết áp...
- Tính vị quy kinh: Vị đắng chua, tính bình không độc vào kinh can, thận
- Công năng: Dạng sống có tác dụng hành huyết tán ứ, tiêu ung lợi thấp.
Dạng chín có tác dụng bổ can, thận, cờng gân cốt.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×