Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG THPT Ở HUYỆN THUỘC TP. CẦN THƠ HIỆN NAY

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH






Ngô Lam Thuần








THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG
NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN CỦA
HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG THPT Ở HUYỆN
THUỘC TP. CẦN THƠ HIỆN NAY









LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC









Thaønh phoá Hoà Chí Minh - 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH




Ngơ Lam Thuần








THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG
NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN CỦA
HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG THPT Ở HUYỆN
THUỘC TP. CẦN THƠ HIỆN NAY




Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05



LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC



NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐỒN VĂN ĐIỀU





Thành phố Hồ Chí Minh - 2009





MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mục tiêu chung của GD – ĐT là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài cho đất nước. Để đáp ứng yêu cầu biến đổi to lớn không ngừng xảy
ra trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá và XH. Hơn bao giờ hết,
trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay, với vai trò là người đào tạo con người mới,
đào tạo nhân lực cho đất nước, lực lượng chủ đạo trong sự nghiệp phát triển Văn
hoá – Giáo dục thì vai trò của người GV càng thêm quan trọng.
Bậc THPT, là bậc học cuối của GD phổ thông. Với chức năng giảng dạy và

GD HS, GV được xem là nhân tố quyết định chất lượng GD. Đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay, với nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành là thực hiện triển khai giảng
dạy theo chương trình dạy học mới, đòi hỏi GV phải có đủ trình độ NVSP đáp
ứng
yêu cầu mới.
Trong kế hoạch thực hiện chỉ thị 40-CT/TW vào ngày 15/6/2004 của Ban Bí
thư Trung ương và trong đề án thực hiện Nghị quyết số 09/2005/QĐ-TTg ngày
11/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ của ngành GD đã xác định mục tiêu chung
“Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL theo hướng chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng,
đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâ
ng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức,
lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trong giai đoạn công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Lâu nay ĐBSCL bị xem là "vùng trũng" về chất lượng GD. Ngoài những
nguyên nhân khách quan về điều kiện đi lại, trường lớp khó khăn, một nguyên nhân
chủ qua
n cũng được nhiều nhà quản lý nhắc tới: chất lượng GV chưa cao. Trong
cuộc họp giao ban cuộc vận động “hai không”, ký kết giao ước thi đua ngành GD
13 tỉnh, thành ĐBSCL Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân
thẳng thắn: “Số lượng và cơ cấu đội ngũ GV còn nhiều bất cập, chất lượng yếu kém,
nhất là tại các vùng sâu, vùng xa. Trong đó, yếu kém lớn nhất của đội ngũ nà
y là
phương pháp giảng dạy chưa đảm bảo yêu cầu học đi đôi với hành, chưa phát huy




tính chủ động và khuyến khích sự sáng tạo của HS”.
Thành phố Cần Thơ được xem là trung tâm Kinh tế - Văn hoá của ĐBSCL,
theo kế hoạch, phấn đấu đến năm 2010 trở thành thành phố loại I trực thuộc Trung
ương và đến năm 2020 cơ bản trở thành thành phố công nghiệp. Hiện tại, TP. Cần
Thơ còn một vài huyện vùng ven, sâu đang còn rất nhiều khó khăn trong việc phát
triển chất lượng GD. Nổi bậc trong đó là khó khăn về nâng cao tr
ình độ NVSP cho
GV. Yêu cầu cải thiện vấn đề này không chỉ là nhiệm vụ trọng tâm của ngành GD
Cần Thơ mà còn là nhu cầu của từng GV để làm tốt nhiệm vụ. Vì vậy, quan tâm
nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả cho hoạt động trên đang là yêu cầu bức xúc của
thực tiễn địa phương.
Công tác quản lý vấn đề trên của Hiệu trưởng trường THPT lâu nay đã được
quan tâm nghiên cứu. Tuy vậy,
việc nghiên cứu chỉ ở mức độ ít, còn mới mẻ so với
địa bàn vùng huyện ở Cần Thơ. Mặt khác, XH luôn có những yêu cầu mới đối với
GD nói chung và GV nói riêng nên việc nghiên cứu này vẫn còn tính thời sự. Từ
những lý do nêu trên, đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho
GV của Hiệu trưởng các trường THPT ở huyện thuộc TP. Cần Thơ hiện nay” được
thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho
GV của Hiệu trưởng t
rường THPT ở huyện thuộc TP. Cần Thơ hiện nay, đề ra biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động trên.
3. Khách thể - đối tượng
-
Đối tượng: Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV
của Hiệu trưởng các trường THPT ở huyện thuộc TP. Cần Thơ hiện nay.
-
Khách thể: Công tác quản lý của Hiệu Trưởng các trường THPT ở huyện
thuộc TP. Cần Thơ hiện nay.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV của Hiệu trưởng các
trường THPT ở các huyện thuộc TP. Cần Thơ trong những năm vừa qua bước đầu




đã đạt được một số kết quả, tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế như: còn
mang tính hình thức chưa đi sâu vào chất lượng, GV chưa chủ động được về thời
gian, chế độ và điều kiện bồi dưỡng chưa phù hợp…Muốn công tác này đạt hiệu
quả cao cần có những thay đổi được định hướng từ nghiên cứu thực tiễn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu để thiết lập cơ sở lý luận c
ho đề tài.
- Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV
của Hiệu trưởng các trường THPT ở huyện thuộc TP. Cần Thơ hiện nay.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng
NVSP cho GV của Hiệu trưởng các trường TH
PT ở huyện thuộc TP. Cần Thơ hiện
nay.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích và tổng hợp các văn bản, tài liệu, sách báo và các công trình nghiên
cứu liên quan đến đề tài để làm cơ sở lý luận cho đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.
1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng bằng bảng hỏi để thu thập thông tin về thực trạng công tác quản l
ý
hoạt động bồi dưỡng NVSP của Hiệu trưởng các trường THPT thuộc địa bàn nghiên
cứu.
6.2.
2. Phương pháp toán thống kê
Dùng để xử lý các kết quả nghiên cứu thu thập từ các phương pháp trên.
7. Giới hạn đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP
cho GV của Hiệu trưởng các trường THPT ở 02 huyện Vĩnh Thạnh và Thốt Nốt của
TP. Cần Thơ hiện na
y, cụ thể là: Trường THPT Thạnh An, Trường THPT Bán công
Thạnh An, Trường THPT Thốt Nốt, Trường THPT Bán công Thốt Nốt và Trường
THPT Trung An.






Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Một số tài liệu liên quan đến quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho
GV THPT trong nước
1.1.1.1. Sơ lược hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV trong nước
Từ năm 1993, Bộ GD - ĐT tổ chức các chương trình BDTX theo chu kỳ 3
năm cho GV THPT. Bộ GD - ĐT đã tổ chức được 3 chu kỳ, bắt đầu là chu kỳ
BDTX 1993 - 1996; chu kỳ BDTX 1997 - 2000 và chu kỳ BDTX 2001- 2004.
Tháng 5/2006 Bộ GD - ĐT đã sớm
xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GV dạy
lớp 10 theo CT – SGK mới theo quy trình 2 cấp: Bộ GD-ĐT giao cho các trường
(khoa) ĐHSP trực tiếp bồi dưỡng GV cốt cán các môn học của các địa phương và
các Sở GD - ĐT sử dụng đội ngũ GV cốt cán các môn học tổ chức bồi dưỡng cho
tất cả GV thực hiện CT – SGK mới.
Về nội dung bồi dưỡng GV, ngoài việc nắm vững CT – SG
K, còn chú ý bồi
dưỡng về đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá và sử dụng
thiết bị dạy học, phương pháp dạy các bài học có thí nghiệm, thực hành. Tuy nhiên,
trong đánh giá tình hình thực hiện phân ban THPT trong năm đầu triển khai đại trà
của Viện Chiến lược và Chương trình GD khi nhận định về các điều kiện thực hiện
dạy học phân hóa, phần chất lượng bồi dưỡng G
V có nêu: “còn một số bất cập
trong công tác bồi dưỡng GV như nội dung tập huấn chưa thực sự đáp ứng nhu cầu
của GV; phân phối chưa hợp lý giữa thời gian bồi dưỡng kiến thức chuyên môn với
thời gian giải quyết các thủ tục hành chính; một số GV cốt cán đi tập huấn về nhìn
chung chưa đủ năng lực để giải đáp đầy đủ các khúc mắc cho đồng nghiệp”[6,tr 34].
Ngày 8-10-2007, tại Kiên Giang, các Đại b
iểu GD của các tỉnh, thành
ĐBSCL đã tập trung thảo luận nhiều biện pháp triển khai sâu rộng cuộc vận động
“hai không”do Bộ GD- ĐT phát động. Trong đó, đổi mới phương pháp giảng dạy,
nâng chất đội ngũ GV được xem là khâu đột phá…Trước tình hình này, các địa




phương đã tìm lối đi cho riêng mình: Tỉnh Tiền Giang thực hiện chuẩn hóa GV theo
lộ trình: năm nay, sở yêu cầu GV bậc THPT ở Tiền Giang phải có chứng chỉ A tin
học. Năm sau, tỉnh sẽ tiếp tục yêu cầu bằng B ngoại ngữ, bên cạnh các giải pháp
chuẩn hóa toàn diện GV. Cần thơ, Cà Mau, Đồng Tháp khẩn trương bồi dưỡng giáo
viên theo hướng ưu tiên đào tạo vượt chuẩn, đào tạo GV sau đại học dù việc học
gặp không ít khó khăn. Bến Tre đang xâ
y dựng kế hoạch đào tạo sau đại học cho
cán bộ, GV. Củng cố toàn diện các trường THPT, nâng chất đội ngũ GV gắn với cải
cách GD theo hướng hiện đại. An Giang đào tạo theo hướng: GV phải có bản lĩnh tu
dưỡng để tự “chấn chỉnh” bản thân [11].
1.1.1.2. Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý hoạt động
bồi dưỡng
NVSP cho GV
Từ năm 1975 đề tài này chưa được quan tâm nghiên cứu có hệ thống. Rãi rác
có một vài nghiên cứu khoa học và một số bài viết liên quan đến công tác bồi dưỡng
GV:
Năm 1996, đề tài khoa học cấp Nhà nước “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ
nhân lực trong điều kiện mới” có đề cập đến vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội
ngũ nhân lực, trong đó có bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ GV.
Năm
1997, tác giả Nguyễn Trí, Vụ GV - Bộ GD - ĐT có đề cập đến vấn đề
tự học trong đào tạo, bồi dưỡng GV.
Năm 1999, Phạm Quang Huân có bài viết: “Nâng cao chất lượng tổ chức
hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV trường phổ thông” Tạp chí Phát triển Giáo
dục số 1.
Năm
2001, Nguyễn Thị Tươi, trường ĐHSP Qui Nhơn với bài viết “Về công
tác bồi dưỡng thường xuyên cho GV THPT”.
Năm 2002, trong Tạp Chí GD, tháng 11/2002, Trần Bá Hoành đã đề cập đến
vấn đề bồi dưỡng GV trong bài “Bồi dưỡng tại chỗ và bồi dưỡng từ xa”
Trong những năm gần đây thì có thể kể đến:
Đề tài Khoa học Công nghệ do Trung tâm nghiên cứu đào tạo bồi dưỡng GV
(Viện Khoa học GD Việt Nam) thực hiện tr
ong ba năm đã tiến hành khảo sát thực




trạng đội ngũ GV, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, từ đó nêu những vấn đề xây
dựng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu giai đoạn đổi mới hiện nay theo hướng: Cần đa
dạng hoá việc bồi dưỡng GV, coi trọng nhu cầu và hứng thú của người học, kết hợp
chặt chẽ với yêu cầu đổi mới GD; coi việc bồi dưỡng GV là trọng tâm, có ý nghĩa
quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả và chất lượng GD. Để thực hiện đư
ợc
điều này, cần có những chế độ và chính sách hợp lý đối với GV, có đầy đủ kinh phí.
Tổ chức tốt công tác thanh tra chuyên môn GD và công tác quản lý GD, trước hết là
ban hành chính sách đối với GV, xem xét lại thang lương ngành GD, chính sách thu
hút GV công tác ở vùng có khó khăn, tăng kinh phí bồi dưỡng GV...
“Phát triển chuyên môn - nghiệp vụ cho giảng viên đại học trong thời đại thông
tin” của tác giả Lưu X
uân Mới, Học viện Quản lý GD trong Tạp chí Khoa học GD,
số 23 tháng 8/2007 đã đề cập đến việc phát triển chuyên môn, nghiệp vụ cho người
GV thời hiện đại như là tất yếu khách quan và là chìa khóa then chốt để cải tiến chất
lượng dạy đại học và có xác định đến một số kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của GV
[32, tr. 41- 44].
Bùi Thị Loan trong bài viết “Về công tác bồi dưỡng GV THPT hiện nay” ở
tạp chí GD
số 176 đã đề cập đến thực trạng chất lượng và điều kiện của công tác
đào tạo bồi dưỡng GV hiện nay, có đề xuất các giải pháp là cần quan tâm bồi dưỡng
đội ngũ CBQL trường THPT về năng lực đánh giá, phân loại GV, trong đó chú ý
nhiều đến các kỹ năng phân loại năng lực GV, kỹ năng tác động đến GV, kỹ năng
huy động c
ác nguồn lực từ phía GV. Cần bồi dưỡng cho Hiệu trưởng năng lực thiết
kế nội dung, xây dựng chương trình bồi dưỡng GV, huấn luyện cho GV năng lực
nhận biết, hiểu đối tượng GD và kỹ năng cơ bản trong sử dụng công CNTT trong
quản lý chuyên môn [29, tr. 15-16].
Trong chuyên đề báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện quyết định số 09/2005/QĐ
– TTg ngày 11/01/2005 của chính phủ về “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo và
CBQL GD giai đoạn 2005 – 2010” của Sở GD – ĐT TP. Cần Thơ vào
tháng 02/ 2008. Trong phần giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đào
tạo, bồi dưỡng GV, CBQL GD, có đề xuất: việc xây dựng quy hoạch, hoàn thiện




mạng lưới, xác định rõ quy mô, nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo cần gắn với hoạt
động bồi dưỡng GV ở các cấp học, bậc học [12, tr. 35].
Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý GD của Võ Hoàng
Chương với đề tài: “Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
NVSP GV THCS huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai” đã đề xuất các giải pháp: công
tác bồi dưỡng G
V cần tiến hành một cách có hệ thống, bắt đầu từ đội ngũ GV hiện
có và bằng chính đội ngũ này làm cho nó tự thân vận động theo mục tiêu đã định
với sự hỗ trợ bằng một hệ thống biện pháp đồng bộ từ việc triển khai có hiệu quả
chương trình BDTX, chỉ đạo hiệu quả việc thực hiện đổi mới phương pháp, tự bồi
dưỡng, tổng kết đưa vào ứng dụng thực tiễn các sáng kiến kinh nghiệm. Gắn việc
bồi dưỡng với phong trào thi GV giỏi các cấp. Đẩy mạnh công tác thanh tra GV.
Chứng nhận lại trình độ nghề nghiệp và nâ
ng chuẩn GV. Có kế hoạch cụ thể sử
dụng công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ việc dạy. Đồng thời với những
biện pháp trên là sự đổi mới thực sự công tác quản l
ý về chế độ, chính sách đãi ngộ
GV trong tham gia bồi dưỡng, tự bồi dưỡng [18].
Dự án phát triển GV THPT và TCCN đã tiến hành đề tài “Một số kết quả về
khảo sát thực trạng hoạt động nghề nghiệp và đánh giá GV THPT”có nhận định:
nhìn chung phần lớn GV chưa nhận thức đầy đủ nhiệm vụ, chức năng của người
GV. Chỉ có 5,6% GV nhận thức đư
ợc 4 nhiệm vụ là dạy học, GD HS, giữ gìn phẩm
chất nhà giáo và phát triển chuyên môn nhưng không nêu được nhiệm vụ phối hợp
với các lực lượng trong và ngoài nhà trường và các chức năng XH khác. Còn đến
1/4 GV chỉ nắm được chương trình khối mình đang dạy. Hiểu biết về đặc điểm tâm
sinh lý của HS THPT rất hạn chế, có đến 1/5 không biết và đa phần GV chỉ có một
ý kiến về từng đặc điểm
riêng lẻ. Điều này sẽ là rào cản khi GV xử lý các tình
huống dạy học và GD HS. Về nội dung phát triển năng lực nghề nghiệp, chuyên
môn nghiệp vụ thì hầu hết GV đều đánh giá cao về các kỹ năng rút ra được qua dự
giờ, các tri thức cần thiết từ đọc sách, tài liệu. Các kỹ năng cần hoàn thiện cho GV
chiếm tỉ lệ cao nhất bao gồm 2 nhóm kỹ năng: kỹ năng lập kế hoạch tự bồi dưỡng,
kỹ năng dạy học hướng và
o người học, kỹ năng tổ chức và quản lý hoạt động học




của HS, kỹ năng hình thành năng lực tự đánh giá cho HS. Đối với các GVCN là kỹ
năng GD HS cá biệt, kỹ năng nghiên cứu tìm hiểu HS, tổ chức các hoạt động GD
ngoài giờ lên lớp và kỹ năng vận dụng đặc điểm tâm sinh lý HS vào tổ chức hoạt
động. Kế đến là các kỹ năng phối hợp các lực lượng khác trong GD HS và sau cùng
là các kỹ năng tự bồi dưỡng. Hình thức GV bồi dưỡng và tự bồi dưỡng phổ biến
nhất là tự học qua sách; trao đổi với đồng nghiệp; dự giờ…[8, tr. 56-59].
1.1.
2. Một số tài liệu về quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV ở nước
ngoài
 Thái lan
Từ bồi dưỡng tập trung chuyển sang đào tạo – bồi dưỡng dựa vào nhà
trường. Trước đây, chương trình đào tạo để phát triển nghề nghiệp GV đương
nhiệm thường đư
ợc tổ chức tập trung ở một thành phố. Các chương trình này
thường có chi phí cao, thời gian tập huấn ngắn, không được đánh giá, kiểm tra liên
tục và GV phải nghỉ dạy để tham gia. Để giải quyết những vấn đề trên, Bộ GD Thái
Lan đã đưa ra một chương trình mới, có hiệu quả và thích hợp để đào tạo và bồi
dưỡng GV đương nhiệm, được tiến hành ngay tại các cơ sở GD, gọi là đào tạo dựa
vào nhà trường (school
– based training).
Theo chương trình này, 4 dự án thí điểm đã được tiến hành, đó là: Dự án GV
Quốc gia; Dự án GV chủ chốt; Dự án nghiên cứu và triển khai các mẫu hình đào tạo
dựa vào nhà trường và Dự án hỗ trợ đào tạo dựa vào nhà trường. Các kết quả nghiên
cứu đã chứng minh rằng mô hình đào tạo này rất hiệu quả đối với GV nói riêng
cũng như đối với ngành sư phạm
nói chung, nó góp phần tạo nên những thành công
cho công cuộc cải cách học tập ở Thái Lan.
- Dự án GV chủ chốt :
Nhằm chọn lựa những GV có thể áp dụng thành công quan điểm lấy người
học làm trung tâm làm GV chủ chốt. Mỗi GV được trợ cấp 25.000 bạt để xây dựng
những mạng lưới (10 GV/ mạng lưới) trong 4 tháng để áp dụng các phương pháp
theo quan điểm lấy người học làm
trung tâm.
- Dự án GV Quốc gia (national teachers):




Nhằm chọn lựa được những GV có thể tiến hành nghiên cứu và triển khai
quá trình đổi mới dạy – học. Mỗi người được cấp 220.000 bạt người/năm để nghiên
cứu, triển khai và đào tạo khoảng 50 GV khác trong 3 năm.
Kết quả của 2 dự án cho thấy GV đã thay đổi được cách dạy, từ phương pháp
áp đặt chuyển sang phương pháp tích cực. Các GV chủ chốt và GV Quốc gia đã đào
tạo lại cho GV ở trường m
ình đáp ứng được những yêu cầu trong công tác dạy học
hằng ngày. Phương pháp đào tạo này tương tự phương pháp đào tạo GV đương
nhiệm ở các nước như Nhật Bản, Australia, New Zealand.
- Dự án nghiên cứu và triển khai các mẫu hình đào tạo dựa vào nhà trường: Văn
phòng Hội đồng GD chọn 10 hội đồng nhà trường và cấp kinh phí để họ tiến hành
triển khai theo mô hình đào tạo dựa và
o nhà trường. Kết quả cho thấy 10 mô hình
đều thành công, các GV rất tích cực và HS thì rất thích thú. Ưu điểm của mô hình
này là tiết kiệm được chi phí so với cách đào tạo tập trung.
- Dự án hỗ trợ đào tạo dựa vào nhà trường: nhằm phát triển GV đương nhiệm và
thúc đẩy quá trình cải cách dạy học được tiến hành vào năm 2003 – 2004 với mục
tiêu là lựa chọn 274 GV, mỗi GV này được cấp 25.000 bạt để đào
tạo các GV khác
trong trường mình hoặc trường lân cận. Để thành công Hiệu trưởng cần hỗ trợ và
tạo điều kiện cho các GV này và coi họ là những người đi đầu trong việc đổi mới
phương pháp dạy học.
 Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc việc bồi dưỡng GV đương nhiệm nhằm trang bị cho GV lý luận
và phương pháp luận về GD để nâng cao khả năng, hiệu quả giảng dạy trong lớp
học. Các chương trình bồi dưỡng được thiết kế riêng cho từng đối tượng: Hiệu
trưởng, P
hó hiệu trưởng, GV, cán bộ thư viện, GV điều dưỡng…Bồi dưỡng GV
thường có 2 loại: bồi dưỡng lấy chứng chỉ và bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ. Mỗi
chương trình bồi dưỡng thường kéo dài 30 ngày (180 giờ) hoặc lâu hơn. Chương
trình được phân loại phù hợp với mục đích bồi dưỡng, bao gồm: bồi dưỡng về soạn
thảo chương trình giảng dạy; đào
tạo số hóa thông tin, dữ liệu; bồi dưỡng chung;




bồi dưỡng NVSP…Những người thiết kế chương trình này sẽ quyết định nội dung
và thời gian cho mỗi khóa bồi dưỡng.
Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho GV thường chú ý đến kiến thức cập
nhật, kiến thức mới cũng như phương pháp giảng dạy của thời đại toàn cầu hóa.
Chương trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho GV được tiến hành một cách đều
đặn thông qua nhiều hình t
hức đào tạo khác nhau, GV có thể lựa chọn các trường
mà mình đến học, lựa chọn khóa đào tạo phù hợp với thời gian biểu của mình.
Ngoài ra, họ còn có thể theo học các khóa đào tạo từ xa hoặc các khóa học đặc biệt
do các viện khoa học tổ chức. Các chứng chỉ được cấp sau các khóa đào tạo đều
được sử dụng để xem xét trong quá trình thăng chức, lên lương, cũng như tiền
thưởng [21, tr. 60-61].
 Ph
áp
Trong tài liệu “Những đổi mới gần đây trong đào tạo, bồi dưỡng sử dụng
giáo viên trung học ở một số nước”, tạp chí TTKHGD số 76 tác giả Trần Bá Hoành
có nêu 49 nguyên tắc mới cho GD của Bộ GD quốc gia Pháp có đề cập vấn đề công
tác đào tạo bồi dưỡng thường xuyên GV: Mỗi GV được hưởng ít nhất 35 giờ cho
công tác đào tạo tiếp tục hàng năm, thực hiện ngoài giờ trực và giờ lên lớp. Tăng
cường làm
việc theo nhóm GV để chia sẻ và học hỏi lẫn nhau. Thời gian làm việc
của GV đảm bảo chuyển từ 18 xuống 15 giờ và đối với các thạc sĩ giảm từ 15 xuống
còn 14 giờ. Nhưng họ phải đảm bảo 4 giờ có mặt và hoạt động sư phạm trong nhà
trường (đối với thạc sĩ là 3 giờ) tức là 132 giờ một năm. GV chỉ có 15 giờ lên
lớp/tuần (15 giờ giảng dạy tương ứng với những giờ có mặt trước học sinh, kể cả
những công việc hướng dẫn học sinh làm bài tập hoặc thực hà
nh, không tính đến
những nhiệm vụ truyền thống như chuẩn bị bài, chấm bài và các cuộc gặp gỡ
PHHS. Chú trọng việc đào tạo bồi dưỡng các nhà quản lý GD.




1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1. Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, XH của 2 huyện Vĩnh
Thạnh và Thốt Nốt
Huyện Vĩnh Thạnh là
một huyện thuộc thành phố
Cần Thơ, được thành lập
ngày
2 Tháng 1 năm 2004 theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 2 tháng 1 năm
2004 của Chính phủ.
Phía đông giáp 2 huyện
Thốt Nốt và Cờ Đỏ; phía tây giáp tỉnh An Giang;
phía nam giáp tỉnh
Kiên Giang; phía bắc giáp huyện Thốt Nốt và tỉnh An Giang.
Diện tích: 413,39 km
2
. Dân số: 155.057 người.
Đơn vị hành chính:
02 thị trấn, 09 xã (Thị trấn Thạnh An, Vĩnh Thạnh, xã
Thạnh Mỹ, Vĩnh Trinh, Thạnh An, Thạnh Thắng, Thạnh Quới, Thạnh Phú, Thạnh
Lộc, Trung Hưng, Thạnh Tiến).
Huyện Vĩnh Thạnh có 41.029,27 ha diện tích tự nhi
ên với 162.759 nhân
khẩu (tháng 11 năm 2007). Mật độ 397 người/km
2
.
Vị trí địa lý - đặc điểm kinh tế
Cách trung tâm thành phố gần 80 km
về phía tây, Vĩnh Thạnh được coi là
huyện "vùng sâu, vùng xa" của thành phố Cần Thơ. Khi được tách ra từ huyện Thốt
Nốt vào đầu năm 2004, huyện vẫn còn 05 xã không có đường ôtô, 04 xã không có
chợ, 03 xã không có trụ sở làm việc. Nằm ở vùng trũng của tứ giác Long Xuyên,
huyện Vĩnh Thạnh thường xuyên chịu cảnh lụt lội nên kết cấu hạ tầng ngày một
xuống cấp. Kinh tế Vĩnh Thạnh c
hủ yếu dựa vào nông nghiệp theo hướng độc canh
cây lúa, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ mới chỉ ở dạng
sơ khai, tự phát và nhỏ lẻ.
Đời sống văn hóa -
xã hội
Với mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao đời sống văn hóa - xã hội
Vĩnh Thạnh đã tập trung xây dựng nhiều công trình trọng tâm,
nâng cấp và xây
dựng các tuyến giao thông nông thôn.
Các chính sách về y tế, giáo dục - đào tạo cũng được huyện đặc biệt quan
tâm triển khai thực hiện với phương châm đẩy mạnh XH hóa, huy động nguồn vốn




đóng góp của nhân dân xây dựng mạng lưới tổ chức khuyến học, thành lập trung
tâm học tập cộng đồng. Sau nhiều nỗ lực, năm 2004, Vĩnh Thạnh được công nhận
đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở; toàn huyện đã xây dựng
được 4 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 16%
(năm 2005), tỷ lệ hộ nghèo của huyện xuống còn 2,48% (năm
2004). Theo kế hoạch
dự kiến hoàn thành phổ cập giáo dục THPT vào năm 2010.
Huyện Thốt Nốt là một đơn vị hành c
hính trực thuộc thành phố
Cần Thơ.
The
o
Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02 Tháng 01 năm 2004 của Chính
phủ
, huyện Thốt Nốt được tách thành 2 huyện: Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh.
Huyện Thốt Nốt h
iện nay có 17.110,08 ha diện tích tự nhiên và 196.610 nhân
khẩu (năm 2007).
Về hành chính, quận gồm 01
thị trấn và 08 xã: Thị trấn Thốt Nốt, Thới
Thuận, Thuận An,Thạnh Hòa, Trung Nhứt, Trung Kiên, Thuận Hưng, Tân Hưng và
Tân Lộc.
Địa giới hành chính
Phía đông giáp quận Ô Môn; phía tây giáp huyện Vĩnh Thạnh và tỉnh An
Giang
; phía nam giáp huyện Vĩnh Thạnh, huyện Cờ Đỏ; phía bắc giáp tỉnh Đồng
Tháp
.
Định hướng phát triển đến năm 2010
Trong giai đoạn 2005 - 2010, mục tiêu mà Đảng bộ, chính quyền và nhâ
n
dân Thốt Nốt phấn đấu đạt được là xây dựng huyện đạt tiêu chí thị xã; tốc độ tăng
trưởng GD đạt bình quân 16 - 17%/năm; hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp -
thương mại, dịch vụ - nông nghiệp với tỷ lệ tương ứng 43,15% - 35,5% - 21,35%
(năm 2010); thu nhập bình quân đạt trên 800 USD/người/năm.
Để hoàn thành những mục tiêu đã đề ra, huyện Thốt Nốt đã lựa chọn thực
hiện những khâ
u đột phá sau:
-
Xây dựng kết cấu hạ tầng, trong đó tập trung vào hệ thống giao thông. Xây
dựng các khu đô thị mới gắn với trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và
trung tâm thương mại.




-
Phát triển nguồn nhân lực cả đội ngũ cán bộ quản lý và lao động có kỹ thuật
đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
-
Nông nghiệp huyện Thốt Nốt sẽ phát triển theo hướng nông nghiệp chất
lượng cao, nuôi trồng thuỷ sản; đẩy mạnh cơ giới hoá.
1.2.2. Yêu cầu phát triển GD - ĐT của 02 huyện Vĩnh Thạnh và Thốt Nốt
Huyện Vĩnh Thạnh và huyện Thốt Nốt đều là huyện có nền ki
nh tế nông
nghiệp cơ bản. Trong đường hướng phát triển, 2 huyện đã chọn lựa phát triển GD
hỗ trợ phát triển kinh tế theo hướng chuyển đổi cơ cấu,
phát triển nền nông nghiệp
chất lượng cao. Xác định được tầm quan trọng của GD, đặc biệt là GD THPT đối
với huyện nhà nên dưới sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Sở GD-ĐT, sự lãnh đạo
xuyên suốt của Huyện uỷ, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân của hai huyện đã
xây dựng đề án phát triển GD với những nội dung cơ bản như sau:
-
Phát triển quy mô GD đào tạo ở các cấp học cùng với việc nâng cao chất
lượng GD đáp ứng nhu cầu học tập, yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho
huyện.
-
Tăng cường cải thiện CSVC, tập trung xây dựng trường lớp đạt chuẩn quốc
gia theo khu vực khu dân cư tạo sự thuận lợi cho việc đến trường của HS.
-
Từng bước nâng chất lượng về trình độ đạt chuẩn, trên chuẩn cho đội ngũ
GV.
-
Quan tâm hỗ trợ cải thiện đời sống tinh thần, vật chất cho GV.













1.2.3. Một số thơng tin về GD THPT của 02 huyện Vĩnh Thạnh và Thốt Nốt
TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

Trình độ chuyên môn Thâm niên công tác KQû đánh giá GV HUYỆN
VĨNH
THẠNH
SỐ
LỚP
SỐ
GV
GV/
Lớp
CHƯA
ĐẠT
CHUẨN
ĐẠT
CHUẨN
VƯT
CHUẨN
<5 5-15 >15 Giỏi Khá TB
2006-
2007
105 162 1.54 3
1.9%
158
97.5%
1
0.6%
74
45.7%
56
34.6%
20
12.3%
79
48.8
83
51.2%

2007-
2008
107 170 1.59 5
2.9%
163
95.9%
2
1.2%
69
40.6%
72
42.3%
29
17.1%
98
57.6%
71
41.8%
1
0.6%

Trình độ chuyên môn Thâm niên công tác KQ đánh giá GV HUYỆN
THỐT
NỐT
SỐ
LỚP
SỐ
GV
GV/
Lớp
CHƯA
ĐẠT
CHUẨN
ĐẠT
CHUẨN
VƯT
CHUẨN
<5 5-15 >15 Giỏi Khá TB
2006-
2007

92 166 1.8 13
7.8%
153
92.2%
61
36.7%
93
56%
12
7.3%
120
72.3%
46
27.7%

2007-
2008

95 170 1.79 10
5.9%
157
92.4%
3
1.7%
38
22.4%
94
53.3
18
10.6%
121
71.2%
49
28.8%



Trình độ chuyên môn Thâm niên công tác Kết quả đánh giá GV Tổng
hợp
SỐ
LỚP
SỐ
GV
GV/
Lớp
CHƯA
ĐẠT
CHUẨN
ĐẠT
CHUẨN
VƯT
CHUẨN
<5 5-15 >15 Giỏi Khá TB
2006-
2007
197 328 1.66 16
4.9%
311
94.8%
1
0.3%
135
41.2
%
161
49%
32
9.8%
199
60.7
%
129
39.3%

2007-
2008
202 340 1.68 15
4.4%
320
94%
5
1.6%
107
31.5
%
164
48.2%
47
13.8%
219
64.4%
120
35.3%
1
0.3%

(Nguồn Sở GD-ĐT TP. Cần Thơ, 2008)







1.2.4. Một số thơng tin về hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV các trường
THPT của 02 huyện Vĩnh Thạnh và Thốt Nốt
TÌNH HÌNH BỒI DƯỢNG NVSP CHO GV THPT
(Nguồn: Trường THPT 02 huyện Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh)

HUYỆN
THỐT
NỐT
Số
GV
BDTX
chu kỳ
Thaysách
(lần/GV/
năm)
Dựchuyên đềdo
Sởtổchức
(lần/GV/năm)
Dự giờ rút
kinh
nghiệm
Chính
trò
Ngoại
Ngữ
CNTT Khác

2006-
2007

166

01/144/năm

04/135/năm
Dự 3t, dạy
1t/HK
100% GV
tham gia

1lần/
năm
Chuẩn
hóa:03
Sau
ĐH: 04

2007-
2008

170

01/160/năm

05/190/năm
Dự 3t, dạy
1t/HK
100% GV
tham gia

1lần/
năm
Chuẩn
hóa:12
Sau
ĐH: 10

HUYỆN
VĨNH
THẠNH
Số
GV
BDTX
chu kỳ
Thaysách
(lần/GV/
năm)
Dựchuyênđề
Sởtổchức
(lần/GV/năm)
Dự giờ rút
kinh nghiệm
Chính
trò
Ngoại
Ngữ
CNTT Khác
2006-
2007

162

01/152/năm

04/135/năm
Dự 4t, dạy
1t/HK
100% GV
tham gia

1lần/
năm
Chuẩnhóa
:
05
Sau
ĐH: 07

2007-
2008

170

01/164/năm

05/190/năm
Dự 4t, dạy
1t/HK
100% GV
tham gia

1lần/
năm
Chuẩn
hóa:14
Sau
ĐH: 12

1.3. Cơ sở lý luận của đề tài
1.3.1. Một số khái niệm
1.3.1.1. Quản lý
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo trong “Khoa học tổ chức và quản lý một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Thống kê, Hà Nội thì thuật ngữ “Quản lý” tiếng
Việt gốc Hán đã lột tả bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai q
trình tích hợp vào nhau. Q trình “quản” gồm sự co
i sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng




thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế “phát
triển”.
Từ điển GD học “Quản lý là hoạt động tác động có định hướng, có chủ đích
của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong
một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.

Nhà lý luận quản lý kinh tế A.Fayol: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức,
chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.
Ở Việt Nam, khái niệm này cũng được các nhà Khoa học GD nghiên cứu theo
nhiều cách khác nhau:
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo “Cơ sở của khoa học quản lý”, Nxb Chính trị
quốc gia Hà Nội thì “quản lý nếu ở tầm vĩ mô là: sự tác động liên tục có tổ chức, có
định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý)
lên khách thể (đối
tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, XH, kinh tế... bằng một hệ thống các
luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể
nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.
Tác giả Lê Hùng Lâm thì cho rằng “Quản lý là phải biết đào tạo, bồi dưỡng,
chia sẻ trách nhiệm
, quyền hạn và phải biết ủy quyền”[28].
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tác giả sử dụng định nghĩa của Lê
Hùng Lâm: “Quản lý là phải biết đào tạo, bồi dưỡng, chia sẻ trách nhiệm, quyền
hạn và phải biết ủy quyền” nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ
hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của mô
i
trường, làm cho tổ chức vận hành (hoạt động) có hiệu quả.
1.3.1.2. Các chức năng quản lý
Chức năng quản lý là các dạng hoạt động khác nhau của hoạt động quản l
ý,
thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục
tiêu quản lý.
Theo tác giả Trần Kiểm các chức năng quản lý bao gồm :




- Kế hoạch hóa : kế hoạch hóa là hành động đầu tiên của người quản lý, là việc
làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch. Trong quản lý, đây là căn cứ mang tính
pháp lý quy định hành động của cả tổ chức.
- Tổ chức: thực hiện chức năng này, người quản lý phải hình thành bộ máy, cơ
cấu các bộ phận (tùy theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công, phân
nhiệm cho cá nhân), quy định chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ giữa
chúng.
- Điều hành: (chỉ đạo, tổ chức thực hiện) là nhiệm vụ tiếp theo của người quản
lý. Đâ
y là khâu quan trọng tạo nên thành công của kế hoạch dự kiến. Chính khâu
này, đòi hỏi người quản lý phải vận dụng khéo léo các phương pháp và nghệ thuật
quản lý.
- Kiểm tra: nhằm đánh giá việc thực h
iện các mục tiêu đề ra. Điều cần lưu ý là
khi kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc
đối với mọi thành viên của tổ chức [26, tr. 79-80].



Kế hoạch hóa Kiểm tra
Tổ chức Điều hà
nh






Sơ đồ 1.1. Chu trình quản lý
The
o quan điểm quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management -
TQM), các chức năng quản lý bao gồm: P (Plan) Hoạch định - Thiết kế; D (Do)
Thực hiện; C (Check) Kiểm tra - Đánh giá; A (Action) Tác động - Cải tiến.
Trong đó c
hức năng Hoạch định - Thiết kế tương ứng với trạng thái ban đầu
của các yếu tố đầu vào. Chức năng Thực hiện, trong mối quan hệ tương tác các đối

Thông tin




tượng liên quan cùng thực hiện nội dung hoạt động đã được hoạch định, thiết kế
nhằm tạo ra sự biến đổi gia tăng giá trị cho đối tượng bị quản lý. Chức năng Kiểm
tra - Đánh giá các yếu tố đầu ra không chỉ nhằm làm rõ kết quả mà còn thu thập
những thông tin ngược cũng như nắm được mức độ hài lòng của “Khách hàng” và
các bên liên quan. Chức năng Tác động - Cải tiến sử dụng và phâ
n tích thông tin
của tất cả các giai đoạn, tìm ra những điểm không phù hợp với mục tiêu, chuẩn
mực. Từ đó tác động ngược trở lại nhằm cải tiến các hoạt động của từng giai đoạn
để đảm bảo mức chất lượng tốt hơn trong chu kỳ hoạt động sau [25, tr. 13].
Như vậy, dù xuất phát từ quan điểm nào thì bản chất của các chức năng
quản l
ý cũng bao gồm một chuỗi các hoạt động logic: lập kế hoạch làm căn cứ pháp
lý qui định hành động cho tổ chức. Tổ chức thực hiện bằng cách thiết lập cơ cấu tổ
chức và điều hành thực hiện kế hoạch cho phù hợp với qui luật, tiềm năng, cơ hội
của tổ chức. Kiểm tra tổng kết đá
nh giá thành tựu, rút ra những ưu điểm, hạn chế và
tìm nguyên nhân để cải tiến. Tách rời hoặc bỏ qua thực hiện không đầy đủ các chức
năng trên sẽ không đảm bảo được chất lượng và hiệu quả của công việc.
1.3.1.3. Bồi dưỡng
-
Bồi dưỡng: là làm cho tốt hơn [38, tr. 191].
-
Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất [33].
-
Bồi dưỡng theo nghĩa rộng là quá trình GD, đào tạo nhằm hình thành nhân
cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã
chọn. Theo nghĩa hẹp là trang bị thêm kiến thức, kĩ năng nhằm mục đích nâng cao
và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể. Thí dụ: bồi dưỡng kiến
thức lí luận, bồi dưỡng NVSP [24, tr. 30].
-
Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền tảng các loại trình độ đã được
đào tạo cơ bản từ trước. Hoạt động bồi dưỡng là việc làm thường xuyên, liên tục
cho mỗi GV, cấp học, ngành học, không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ để
thích ứng với đòi hỏi của nền tảng kinh tế XH. Nội dung bồi dưỡng được triển khai
ở các mức độ khác nhau, phù hợp cho từng đối tượng cụ thể. Bồi dưỡng với ý nghĩa
nâng cao nghề nghiệp.
Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu




nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng
nhu cầu lao động nghề nghiệp [23], [29, tr. 15].
Như vậy, về mặt quản lý có thể hiểu bồi dưỡng là quá trình tác động của chủ
thể GD đến đối tượng GD một cách thường xuyên trên nền tảng trình độ đã được
đào tạo, theo nhu cầu của cá nhân, tổ chức, theo yêu cầu phát triển của nghề nghiệp
và XH, làm
cho đối tượng được bồi dưỡng tăng thêm về năng lực hoạt động, phẩm
chất nghề nghiệp, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… phát triển theo chiều hướng tốt hơn.
1.3.1.4. Nghiệp vụ sư phạm
-
Nghiệp vụ là công việc chuyên môn của một nghề [33].
-
Nghiệp vụ: là công việc chuyên môn riêng của từng nghề [38, tr. 1199].
-
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Bộ GD - ĐT, Trung tâm Ngôn ngữ và VH
Việt Nam do Nguyễn Như Ý chủ biên xuất bản năm 1998 thì “Sư phạm” là khoa
học về GD và giảng dạy trong trường học. Còn theo Từ điển GD học của nhà xuất
bản Từ điển bách khoa năm 2001 thì “Sư phạm” là khoa học về GD mà đối tượng
nghiên cứu là quá trình GD con người, tìm tòi phát hiện những quy luật GD, những
con đường có hiệu quả để nâng chất lượng G
D, đặc biệt là sự can thiệp về mặt GD
của GV trong những tình huống GD thực.
-
Trong Dự án Việt - Bỉ “Hỗ trợ học từ xa”, NVSP của người GV hay nói hẹp
hơn là những kỹ năng sư phạm cơ bản của người GV bao gồm 4 kỹ năng cơ bản:
Phân tích chương trình; Soạn bài môn dạy (Thiết kế bài giảng); Thiết kế bài tập;
Đánh giá kết quả học tập môn dạy. Với quan điểm này, NVSP cơ bản của GV được
đề cập là những kỹ năng c
hủ yếu của hoạt động giảng dạy. Tuy nhiên, nghiệp vụ
của một người thầy ở trường phổ thông không chỉ là giúp HS lĩnh hội kiến thức mà
còn tổ chức các hoạt động GD đạo đức để GD HS, giúp HS hình thành và phát triển
nhân cách toàn diện, cho nên, NVSP chính của người GV, nếu toàn diện hơn, là
phải bao gồm cả nghiệp vụ GD HS [3, tr 3].
-
Theo các nhà Tâm lý học NVSP trong cấu trúc nhân cách của người thầy
giáo bao gồm các nghiệp vụ dạy học: thiết kế (giáo án, kế hoạch); nắm vững lựa
chọn tri thức; lựa chọn, phân loại, phối hợp phương pháp dạy học; nắm vững đối




tượng; khả năng ngôn ngữ, diễn đạt ý tưởng; sử dụng phương tiện dạy học; tổ chức,
quản lý HS; ứng xử phù hợp tình huống sư phạm; vận dụng hiệu quả phân hóa – cá
thể hóa; lôi cuốn thuyết phục HS học tập; kiểm tra đánh giá trình độ HS...Các
nghiệp vụ GD: xây dựng kế hoạch hoạt động GD; tổ chức, chỉ đạo hoạt động GD;
nắm vững đối tượng và G
D HS cá biệt; đánh giá, điều chỉnh hoạt động GD; thuyết
phục cảm hóa HS; vận động, lôi cuốn, phối hợp GD; xây dựng tập thể HS; giao tiếp,
ứng xử sư phạm…NVSP thống nhất biện chứng cùng với các thành tố trong cấu
trúc nhân cách của người GV là phẩm chất nghề nghiệp, năng lực sư phạm và tri
thức, kỹ năng kỹ xảo sư phạm.
Như vậy,
NVSP ở nhà trường phổ thông là công việc chuyên môn chuyên
biệt của GV với chức năng chính là giảng dạy, GD HS và công việc này phải được
thực hiện một cách khoa học, phù hợp với quy luật GD con người nhằm đảm bảo
chất lượng, hiệu quả trong việc phát triển toàn diện nhân cách của HS đáp ứng yêu
cầu đổi mới của XH.
1.3.1.5. Bồi dưỡng NVSP
Là quá trình bổ sung, cập nhật k
iến thức chuyên môn, liên quan và kỹ
năng, kỹ xảo sư phạm còn thiếu và mới để nâng cao trình độ NVSP cho GV.
Thực tế cho thấy nếu GV có nhân cách càng hoàn thiện bao nhiêu thì trình
độ NVSP càng vững vàng bấy nhiêu. Và do bồi dưỡng NVSP là một việc làm tất
yếu theo sau quá trình đào tạo. Bồi dưỡng và đào tạo có mối quan hệ biện chứng
hữu cơ với nhau. Bồi dưỡng NVSP cho GV còn được xem là hoạt động đào tạo lại,
bồi dưỡng thêm
nhân cách cho GV nên đây phải là việc làm thường xuyên của
CBQLGD ở nhà trường THPT.
1.3.1.6. Quản lý bồi dưỡng NVSP
Là quá trình nhà quản lý thực hiện chức năng quản lý tác động đến đối tượng
quản lý là GV nhằm giúp cho đối tượng được nâng cao trình độ NVSP đáp ứng mục
tiêu yêu cầu về lao động nghề nghiệp, nguyện vọng cá nhân và mục tiêu nâng cao
chất lượng GD của XH.





1.3.2. Hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV
1.3.2.1. Mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV
Nhằm nâng cao thường xuyên bản lĩnh chính trị, phẩm chất nhà giáo và năng
lực sư phạm của người GV giúp GV thực hiện tốt nhiệm vụ người thầy, đảm bảo
yêu cầu về chất lượng và hiệu quả hoạt động GD của nhà trường trong thời kỳ hội
nhập.
1.
3.2.2. Vai trò của GV trong trong việc nâng cao chất lượng GD hiện nay
Thực tiễn dạy học thật vô cùng đa dạng, nghề nghiệp của người thầy cũng
thật vô cùng sáng tạo. Ngạn ngữ cổ Hy Lạp có câu: “Dạy học không phải là chất
đầy vào một thùng rỗng mà là thắp sáng lên những ngọn lửa”. Và suy cho cùng
người thầy không chỉ là người dạy kiến thức, mà điều quan trọng và cốt lõi nhất là
dạy học trò tư duy, dạy học trò phương phá
p học. Ở tất cả các cấp học, các môn
học, các tình huống GD người thầy luôn là cầu nối quan trọng nhất để dẫn dắt,
khuyến khích nâng đỡ, uốn nắn, định hướng cho HS và là người tổ chức các tình
huống GD để HS tiếp cận, khám phá và sáng tạo [3, tr. 3].
Trong thời đại ngày nay, GV có vai trò XH rộng hơn nhiều so với chức năng
truyền đạt tri thức. Trước hết GV phải là nhà GD bằng c
hính nhân cách của mình
tác động tích cực đến sự hình thành nhân cách HS. Tác động GD của thầy cô giáo
đối với HS có vai trò to lớn như vậy nên trong bài nói chuyện với các thầy cô giáo
(Trường cấp II Quảng An - 1966), Tổng bí thư Lê Duẩn đã khẳng định: “Đảng ta và
nhân dân ta giao phó việc dạy dỗ con em của mình cho các đồng chí, cũng tức là
phó thác cho các đồng chí sứ mệnh đào tạo thế hệ tương lai cho dân tộc”. Vì vậy
GD dành cho GV giờ đây không chỉ giới hạn trong việc chuẩn bị cho người GV có
thể dạy được các môn học trong nhà trường.
GD dành cho GV cần chuẩn bị đầy đủ
cho họ có thể đảm nhiệm được sứ mệnh của nhà GD đó là xây dựng tính cách, thái
độ tích cực và tạo dựng các giá trị cho người học. Bởi vậy, người GV cần được
chuẩn bị không chỉ cho những giờ giảng bài trên lớp, mà còn cần được chuẩn bị cho
việc thực hiện các nhiệm vụ khác: hướng dẫn, tư vấn,
hướng nghiệp, tham gia thể




thao, tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Vì thế, có thể nói vai trò người GV sẽ là
nhân tố quyết định rất lớn đến chất lượng của nền GD [15, tr. 147].
1.3.2.3. Yêu cầu về trình độ NVSP
Nhiệm vụ của nhà giáo, theo Luật GD 2005, điều 72, bao gồm: “GD, giảng
dạy theo mục tiêu, nguyên lý GD, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình
GD; gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ
của nhà trường; giữ gìn phẩm c
hất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân
cách người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính
đáng của người học; không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất, đạo
đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy,
nêu gương tốt cho người học; các
nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật” [4],
[9, tr. 61].
Trong Hội nghị Quốc tế về GD thế kỷ XXI: tầm nhìn và hành động do
UNESCO tổ chức tại Paris (tháng 10/1998) có tổng kết 3 mô hình GD định hướng
phương thức đào tạo dựa trên công nghệ dạy học theo hướng tiến hóa:

Mô hình
Trung
tâm
Vai trò người
học
Công nghệ
Truyền thống
Người
dạy
Thụ động
Bảng,TV,
Radio
Thông tin
Người
học
Chủ động PC
Tri thức Nhóm Thích nghi
PC + mạng


Mô hình tri thức là mô hình dạy học hiện đại nhất hình thành từ khi xuất
hiện thành tựu quan trọng nhất của CNTT và truyền thông mới là thành tựu mạng
Internet vào năm 1993. Nước ta hiện nay đang diễn ra thời kỳ quá độ của mô hình
truyền thống sang mô hình thông tin. Tuy nhiên, về tổng thể chúng ta đang ở mức
thấp của mô hình truyền thống [32, tr. 42].




Trong bước ngoặc đi vào nền văn minh trí tuệ, hội nhập về GD cùng thế
giới. Với thực trạng nền GD Việt Nam hiện nay, đòi hỏi chúng ta cần có những đổi
mới phù hợp, mang tính đột phá để nâng cao chất lượng GD. Ở thế kỷ XXI, người
GV sẽ đảm nhận nhiều chức năng khó khăn và phức tạp hơn so với trước đây nên
để làm tốt được sứ mạng của m
ình, yêu cầu về NVSP của người GV sẽ là rất cao:
trước hết GV là nhà GD, nhà tổ chức, nhà khoa học và là nhà VH vừa có kiến thức
môn học sâu rộng, vừa có kỹ năng phong phú và có nghệ thuật sư phạm cao. Khi
giảng dạy, người GV phải thực hiện tốt vai trò kép đó là vừa đóng vai trò chủ đạo,
vừa là tác nhân trong dạy học. Với vai trò chủ đạo, GV sẽ lập kế hoạch, tổ chức
hoạt động dạy học, điều khiển quá trình nhận thức của n
gười học. Với vai trò là tác
nhân, GV tác động từ bên ngoài với tư cách là người cộng tác: khơi gợi hướng dẫn,
hỗ trợ tạo ra môi trường sư phạm tương tác thuận lợi; người dạy đi cùng người học
trong phương pháp học và chỉ cho họ con đường phải đi theo trong quá trình học
tập.
Dạy học ở trường THP
T, GV còn phải rèn luyện dần cho HS biết cách phát
hiện và giải quyết vấn đề, hướng dẫn HS tự học. Và trong vai trò mới, GV THPT
còn phải khuyến khích tính ham hiểu biết cho HS, rèn luyện khả năng độc lập khám
phá tri thức, tăng cường khả năng tổ chức và sử dụng kiến thức; giúp họ tìm kiếm
lựa chọn, xử lý nội dung để biến tri thức khoa học thành “sở hữu”
của mình, từ đó
tự mình sáng tạo ra nội dung mới, tạo điều kiện để họ có khả năng học lên cao, học
suốt đời qua tự học, tự GD. Vị trí của người GV sẽ có cơ hội tăng lên trong thời đại
thông tin vì họ phải làm chủ được môi trường công nghệ thông tin và truyền thông
mới, đồng thời phải chuẩn bị về mặt tâm lý do phải tổ chức, quản lý quá trình học
tập của HS phức tạp hơn, phải kết hợp với công nghệ mới bằng các phương phá
p đa
dạng [32, tr. 42].
Trong “Chiến lược phát triển GD” của UNESCO, xu hướng chung phát
triển GD thế kỷ XXI có nội dung: GV phải được đào tạo để trở thành những nhà
GD hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức. Yêu cầu NVSP của người GV
còn là phải làm tốt sứ mệnh của nhà GD để đào tạo H
S thành công dân gương mẫu.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×