Tải bản đầy đủ

Chuyên đề tốt nghiệp: Phát triển hoạt động cho vay mua nhà trả góp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng – Chi nhánh Hà Nội

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
MỤC LỤC
1
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
A/O Accountant Officer: Nhân viên quan hệ khách hàng cá
nhân
BĐS Bất động sản
CBTD Cán bộ tín dụng
CVTD Cho vay tiêu dùng
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TCTD Tổ chức tín dụng
TSBĐ Tài sản bảo đảm
VPBank Hà Nội Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng –
Chi nhánh Hà Nội
DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

2
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
3
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhà ở luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi tầng lớp dân cư, là một
nhu cầu cơ bản không thể thiếu đối với mỗi cá nhân, gia đình. Thị trường cho
vay mua nhà hiện nay ở nước ta rất tiềm năng nhưng các ngân hàng mới chỉ
khai thác được một phần rất nhỏ bởi vì những rào cản không ít từ chính sách
của Nhà nước, từ khâu tiếp thị và khả năng vốn của ngân hàng. Bởi vậy, việc
cho vay mua nhà của các ngân hàng thương mại hiện nay chưa có thể phát huy
hết khả năng thực sự của nó.
Cho vay mua nhà trả góp là một trong những hoạt động truyền thống
của VPBank. Những năm gần đây, nhu cầu nhà ở và đầu tư bất động sản trong
các tầng lớp dân cư tăng cao, cho vay mua nhà trả góp ra đời đã giúp giải
quyết nhiều khó khăn về tài chính cho khách hàng. Quá trình thực tập tại
VPBank Hà Nội đã giúp em có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn về hoạt động này vì
vậy em mạnh dạn lựa chọn đề tài báo cáo thực tập của mình là “Phát triển
hoạt động cho vay mua nhà trả góp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt
Nam Thịnh Vượng – Chi nhánh Hà Nội”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích “CHO
VAY MUA NHÀ TRẢ GÓP TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH
VƯỢNG – CHI NHÁNH HÀ NỘI”. Thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu
này sẽ đề ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
cho vay mua nhà trả góp cho VPBank Chị nhánh Hà Nội.
4
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
3. Phương pháp nghiên cứu
• Thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo hoạt động kinh doanh tại ngân
hàng.
• Dùng phương pháp thống kê, so sánh số tuyệt đối, tương đối qua các
năm


• Quan sát hoạt động cho vay mua nhà trả góp tại Ngân hàng, tham khảo
ý kiến cán bộ tín dụng tại cơ quan thực tập
• Tham khảo giáo trình, tạp chí tài chính, internet, đề tài khóa trước
4. Phạm vi nghiên cứu
• Đề tài được nghiên cứu tại VPBank Hà Nội
• Hoạt động cho vay mua nhà trả góp tại VPBank Hà Nội
• Thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến 2014
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết
tắt, danh mục bảng biểu, sơ đồ, phụ lục, nội dung chính của luận văn được
trình bày trong ba chương gồm trang, trong đó có 05 hình, 07 bảng, 01 sơ đồ.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY MUA
NHÀ TRẢ GÓP TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHO VAY MUA NHÀ TRẢ GÓP TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG
– CHI NHÁNH HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2011-2014
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO VAY MUA NHÀ TRẢ
GÓP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM THỊNH
VƯỢNG – CHI NHÁNH HÀ NỘI
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CHO
VAY MUA NHÀ TRẢ GÓP TRONG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
5
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
1.1. Khái quát cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm cho vay của Ngân hàng thương mại
Luật các tổ chức tín dụng 2010, Khoản 2 Điều 4 quy định: “Ngân hàng
là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân
hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các
loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách,
ngân hàng hợp tác xã”.
Cũng theo Luật này, tại Khoản 12 Điều 4 thì “Hoạt động ngân hàng là
việc kinh doanh và cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ:
nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Vì
vậy, hoạt động ngân hàng được chia thành hai mảng là huy động vốn và sử
dụng vốn. Trong hoạt động sử dụng vốn, cho vay được xem là nghiệp vụ
truyền thống, chiếm tỷ trọng cao nhất trong các nghiệp vụ của ngân hàng. Cho
vay tạo ra lợi nhuận và tạo nên các loại tài sản lớn đối với một ngân hàng.
Khoản 16 Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng nêu rõ: “Cho vay là hình thức cấp
tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một
khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định
theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
1.1.2. Đặc điểm cho vay của Ngân hàng thương mại
Thực chất cho vay của NHTM là việc ngân hàng cấp tiền cho khách
hàng - người đi vay với điều kiện sau một thời gian họ phải hoàn trả cho ngân
hàng khoản vay ban đầu cộng với tiền lãi theo một tỷ lệ nhất định gọi là lãi
suất của khoản vay theo như thoả thuận với ngân hàng trước khi vay. Thời hạn
cho vay là khoảng thời gian từ khi khách hàng nhận được vốn vay cho đến khi
họ phải hoàn trả hết vốn gốc và các điều kiện khác theo đúng cam kết với ngân
hàng.
Trong bảng tổng kết tài sản của các NHTM, cho vay luôn là khoản mục
chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng tài sản của ngân hàng và là khoản mục đem lại
6
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
thu nhập cao nhất cho ngân hàng. Nhưng do cho vay là khoản mục có tính
lỏng kém hơn so với các tài sản khác, xác suất vỡ nợ của các khoản vay cao
hơn nên rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục
các khoản cho vay. Chính vì vậy, để đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời
từ cho vay thì tất cả các NHTM đều phải đảm bảo được hai nguyên tắc cho
vay cơ bản sau:
– Thứ nhất, tiền vay phải được đảm bảo hoàn trả đúng hẹn cả vốn lẫn lãi. Đây là
nguyên tắc quan trọng hàng đầu để đảm bảo an toàn cho ngân hàng vì phần
lớn vốn của ngân hàng là nguồn vốn huy động (gồm tiền gửi của khách hàng
và các khoản vay mượn khác) từ khách hàng. Nếu các khoản cho vay không
hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh khoản
của ngân hàng. Do đó, ngân hàng luôn yêu cầu người đi vay thực hiện đúng
cam kết này.
– Thứ hai, khách hàng phải sử dụng vốn vay đúng mục đích như đã thoả thuận
với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quy định của
ngân hàng. Nguyên tắc này cũng nhằm giúp ngân hàng kiểm soát được phần
nào việc sử dụng vốn vay của khách hàng, tránh rủi ro đạo đức có thể xảy ra và
đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Nếu phát hiện khách hàng vi phạm nguyên tắc
này (rủi ro đạo đức), ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn và nếu khách
hàng không có tiền thì chuyển nợ quá hạn để đảm bảo an toàn.
Ngân hàng có thể cho vay bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, tiền có thể chuyển
tới tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách
hàng. Ngân hàng cũng thiết kế các loại hình cho vay phù hợp với khách hàng.
Ví dụ khách hàng vay mượn nhiều lần trong năm, vay món nhỏ, vay thời vụ,
vay xuất nhập khẩu,… Cho vay qua thẻ, qua mạng được phát triển mạnh cùng
với sự phát triển của công nghệ thông tin.
1.1.3. Phân loại cho vay của Ngân hàng thương mại
Các hình thức cho vay của Ngân hàng thương mại:
7
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
1.1.3.1 Cho vay thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay, qua đó ngân hàng cho phép người vay
được cho trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn
mức thấu chi.
Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về
thời gian và quy mô, ví dụ thu nhập đều đặn trong năm, song chi tiêu cao
trong vài tháng. Do vậy hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho
khách hàng trong quá trình thanh toán: chủ động, nhanh, kịp thời. Thấu chi là
hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, có thể cấp cho cả
doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong tháng , vài ngày trong năm dùng để
trả lương, thanh toán các khoản phải nộp, mua hàng,… Hình thức này nhìn
chung chi sử dụng đối với khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và
kỳ thu nhập ngắn.
Để được thấu chi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi
và thời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng). Trong quá
trình hoạt động, khách hàng có thể ký séc, lập ủy nhiệm chi,… vượt qua số dư
tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu chi). Ví dụ, ngân hàng cấp hạn
mức thấu chi hàng tháng trên thẻ ghi nợ, có thể 50 triệu đồng (hạn mức cứng),
hoặc 10 lần tháng lương của chủ thẻ (hạn mức động). Quy mô hạn mức dựa
trên việc nghiên cứu khách hàng (thu nhập đều đặn, ổn định). Nếu khách hàng
vay trong tháng và tháng sau trả hết nợ, hạn mức lại được lặp lạo (tuần hoàn).
1.1.3.2 Cho vay qua thẻ tín dụng
Cho vay qua thẻ phát triển nhanh, rộng khắp, là một hình thức dịch vụ
của ngân hàng bán lẻ/dịch vụ ngân hàng hiện đại. thẻ được cấp cho khách
hàng cá nhân – số lượng đông, nhu cầu dịch vụ tài chính lớn – với các tiện ích
thanh toán nhanh chóng, mọi lúc mọi nơi, sử dụng thuận tiện, chi phí rẻ.
8
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
Thẻ tín dụng là một hình thức của tín dụng hạn mức. Ngân hàng cấp
cho chủ thẻ hạn mức nhất định trong khoảng 1 đến vài tháng để phục vụ nhu
cầu chi tiêu. Quy mô hạn mức phụ thuộc vào nguồn thu nhập để trả nợ (ví dụ
tiền lương), hoặc tài sản đảm bảo. Nhìn chung thẻ tín dụng không được rút
tiền mặt tại ATM mà phải thanh toán chuyển khoản. Sau thời hạn nhất định,
chủ thẻ phải trả nợ cho ngân hàng, lúc đó hạn mức trên thẻ được lặp lại (hạn
mức tuần hoàn).
1.1.3.3. Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hóa. Doanh nghiệp thiếu vốn khi mua hàng ngân hàng sẽ cho vay và thu
nợ khi doanh nghiệp bán hàng.
Đầu năm hoặc quí, người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân
hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín
dung, các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Việc cho vay dựa
trên luân chuyển của hàng hóa nên ngân hàng và doanh nghiệp phải nghiên
cứu kế hoạch luân chuyển hàng hóa để dự đoán dòng tiền trong thời gian tới.
Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương
nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ
vay trả thường xuyên với ngân hàng. Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho
các khách hàng. Thủ tục vay chỉ cần thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay. Khách
hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người
cung cấp sẽ thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn. Nếu doanh nghiệp
gặp khó khăn trong tiêu thụ (hàng hóa tồn đọng…) thì ngân hàng sẽ gặp khó
khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay khồn được quy định rõ
ràng.
1.1.3.4. Cho vay trả góp
9
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
Cho vay trả góp là hình thức cho vay, theo đó ngân hàng yêu cầu khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả
góp thường được áp dụng đối với phần lớn các khoản tín dụng của ngân hàng,
đặc biệt các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng
lâu bền.
Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ
(thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án, hoặc từ thu nhập hàng
tháng của người tiêu dùng). Việc chia thành nhiều lần trả nợ (nhiều kỳ hạn nợ)
phù hợp với dòng tiền của khách hàng góp phần hạn chế sử dụng vốn sai mục
đích.
Cho vay trả góp có 2 hình thức tính lãi. Thứ nhất lãi tính trên dư nợ
giảm dần (gốc giảm đến đâu, lãi giảm đến đó) và lãi tính trên dư nợ đầu kỳ.
Với cách thứ nhất, khách hàng phải trả ngân hàng lãi suất ghi trên hợp đồng ;
với cách thứ hai, khách hàng trả lãi suất cao hơn trong hợp đồng. Tại nhiều
quốc gia, ngân hàng buộc phải ghi rõ cách tính lãi suất khi cho vay. Nhìn
chung, ngân hàng không ghi “cho vay trả góp” trong trường hợp tính lãi kiểu
thứ nhất. Kiểu tính lãi thứ hai (thường gọi là lãi trả góp) áp dụng cho khách
hàng vay món nhỏ, hoặc vay nóng (thời gian ngắn).
1.1.3.5. Cho vay gián tiếp
Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp. bên cạnh đó ngân
hàng cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp. Đây là hình thức cho vay
thông qua các tổ chức kinh tế - xã hội. Các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản
xuất, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ,… thường liên kết các
thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ
quyền lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xóa đói
giảm nghèo luôn được các tổ chức này rất quan tâm.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều
món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Trong trường hợp như
10
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
vậy, cho vay qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay (phân tích, giám
sát, thu nợ,…). Cho vay qua trung gian nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của ngân
hàng. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi
dụng vị thế của mình, để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các
thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng
kém chất lượng hoặc với giá đắt cho người vay vốn.
1.1.3.6. Mua giấy nợ
Ngân hàng mua giấy nợ của công ty (trái phiếu công ty), của chính phủ,
hoặc của tổ chức tài chính khác – là hình thức nhiều khi được gọi là tín dụng
gián tiếp hoặc tín dụng đa phương. Đây là hoạt động đầu tư vào chứng khoán
nợ của ngân hàng. Tuy nhiên do tính chất phải hoàn trả và rủi ro, ngân hàng
coi đây là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng.
Nhiều khách hàng sử dụng biện pháp huy động vốn bằng cách phát
hành trái phiếu, chủ yếu là trái phiếu trung và dài hạn, trả gốc một lần cuối kỳ.
Ngân hàng khó kiểm soát mục đích cũng như quá trình sử dụng vốn của doanh
nghiệp giống như cho vay trực tiếp song phương. Đây là hình thức cấp tín
dụng không có đảm bảo bằng tài sản (trừ khi trái phiếu được tổ chức có uy tín
bảo lãnh), vì vậy ngân hàng quan tâm tới uy tín, khả năng trả nợ của người
vay, lãi suất và tính thanh khoản của giấy nợ. Thông thường ngân hàng chỉ
nắm giữ trái phiếu chính phủ, các định chế tài chính và các doanh nghiệp lớn
có tên tuổi.
1.2. Khái quát hoạt động cho vay mua nhà trả góp của Ngân hàng thương
mại
1.2.1. Khái niệm cho vay mua nhà trả góp của Ngân hàng thương mại
Cho vay trả góp được quy định trong văn bản số 1627/2001/QĐ-NHNN
(Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng) như sau:” Khi
11
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
vay vốn tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay
phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong
thời hạn cho vay”. Do đó, ngân hàng và khách hàng có thể thoả thuận với
nhau về các phương thức hoàn trả sao cho phù hợp với khả năng trả nợ của
khách hàng.
Cho vay trả góp thường được áp dụng cho các khoản vay trung, dài
hạn, tài trợ cho tài sản cố định, có tính chất lâu bền. Theo quy định trên, với
phương thức trả góp, số tiền trả hàng kỳ có thể là cố định hoặc không cố định,
tuỳ theo thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng. Do đó, trong phương thức
trả góp sẽ có hai phương thức hoàn trả : đó là phương thức trả góp đều và
phương thức trả góp không đều. Với mỗi phương thức này sẽ có công thức
tính số tiền phải trả hàng kỳ khác nhau.
1.2.2. Đặc điểm hoạt động cho vay mua nhà trả góp
• Đặc điểm về khách hàng vay
Đối tượng vay chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình muốn mua nhà phục
vụ cho nhu cầu ở, sinh hoạt, mở rộng diện tích kinh doanh. Các đối tượng này
thường là các gia đình có nguồn thu nhập ổn định từ khá đến cao. Hiện nay có
rất nhiều gia đình trẻ muốn mua nhà bằng tiền vay trả góp. Họ thường là lao
động có chất lượng cao, tốt nghiệp đại học trở lên, làm việc tại công ty nước
ngoài, mức lương ổn định.
Cá nhân phải là công dân Việt Nam; có đầy đủ năng lực pháp luật và
năng lực hành vi dân sự; có hộ khẩu tại địa bàn có trụ sở chính hay chi nhánh
của ngân hàng; có thu nhập ổn định, khả năng bảo đảm trả tiền vay đúng hạn.
Một đặc điểm rất dễ nhận thấy của khách hàng cá nhân khi đến với
ngân hàng đó là họ rất kém nhạy cảm với lãi suất. Khách hàng cá nhân thường
quan tâm đến giá trị khoản tiền phải trả hàng tháng, hàng kỳ hơn là lãi suất của
khoản vay đó. Nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân cũng nhạy cảm theo
12
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
chu kỳ kinh tế, nhu cầu này sẽ tăng trong thời kỳ kinh tế mở rộng và giảm khi
nền kinh tế lâm và suy thoái, khủng hoảng.
• Đặc điểm về rủi ro của khoản vay
Rủi ro của hoạt động cho vay mua nhà trả góp là tương đối lớn. Trước
hết phải kể đến rủi ro chứa đựng trong tính chất của loại hình cho vay trả góp,
tiếp đến là những rủi ro từ phía bản thân loại hình cho vay mua nhà. Có thể
chia rủi ro ra thành 3 nhóm : rủi ro từ khách hàng vay vốn, rủi ro từ phía thị
trường, và rủi ro của bản thân ngân hàng.
Xuất phát từ phía khách hàng là rủi ro về khả năng không hoàn trả nợ
gốc và lãi cho ngân hàng. Rủi ro này thường hay xảy ra với đối tượng khách
hàng cá nhân. Rủi ro có thể xảy ra khi khách hàng gặp một trong các tình trạng:
thất nghiệp; vi phạm pháp luật ở mức độ hình sự; chết, mất tích, tai nạn (các
vấn đề liên quan đến sức khoẻ). Nguyên nhân của những rủi ro từ phía khách
hàng cá nhân rất khó kiểm soát hay dự đoán được do đối tượng khách hàng này
có số lượng lớn và nhu cầu thay đổi thường xuyên.
Rủi ro từ phía thị trường, trước hết là rủi ro chung của tình hình kinh tế,
chu kỳ kinh tế chung. Chu kỳ tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
khả năng phát triển loại hình cho vay mua nhà. Tiếp đó phải kể đến rủi ro từ
thị trường bất động sản (trong đó có thị trường nhà ở). Thị trường bất động sản
là thị trường mang tính chu kỳ, mỗi giai đoạn khủng hoảng sẽ kéo dài nhiều
năm, đặc biệt là với khoản vay mua nhà dùng để cho thuê, hoặc bán lại.
Rủi ro từ phía ngân hàng xuất phát trực tiếp từ các hoạt động của ngân
hàng đem lại, đặc biệt là rủi ro thanh khoản, khi mà không có đủ nguồn vốn
huy động cung cấp cho các khoản tín dụng mua nhà và rủi ro từ phía cơ cấu tỷ
lệ vốn huy động ngắn hạn với vốn huy động trung và dài hạn.
• Đặc điểm về lãi suất của món vay
13
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
Với thời gian cho vay dài, cho vay mua nhà trả góp có thể áp dụng lãi
suất thả nổi hoặc lãi suất cố định (trong những năm gần đây phổ biến là lãi
suất thả nổi). Lãi suất dành cho các khoản vay này tương đối cao so với các
món tín dụng khác. Lãi suất thả nổi được điều chỉnh theo một mức lãi suất cơ
sở (do NHTM lựa chọn) hoặc theo mức lãi suất cho vay mua nhà quốc gia.
Ngân hàng ký với khách hàng hợp đồng tín dụng có thể quy định mức lãi suất
năm đầu nhất định, những năm sau đó lấy một lãi suất làm cơ sở (thường là lãi
suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau) cộng với một mức lãi suất cố định.
Chính vì vậy, lãi suất của khoản vay mua nhà trả góp cung chứa đựng rất
nhiều rủi ro.
Nhưng nguy cơ rủi ro tăng lên cũng đồng thời giúp ngân hàng gia tăng
thêm lợi nhuận, một phần là do lãi suất của loại hình cho vay này cao hơn các
loại hình khác. Tuỳ vào từng giai đoạn chuyển đổi khác nhau của nền kinh tế
mà ngân hàng có những chính sách khuyến khích khác nhau vềloại hình cho
vay này.
• Đặc điểm về qui mô và thời hạn của khoản vay
Đối tượng tài trợ của các khoản vay là căn hộ, nhà, chi phí xây dựng
nhà cửa với giá trị lớn. Vì vậy quy mô của khoản vay mua nhà thường lớn
hơn rất nhiều so với quy mô trung bình của các khoản cho vay tiêu dùng trả
góp thông thường khác. Do đó khoản mục cho vay mua nhà trả góp sẽ đóng
một tỷ trọng đáng kể trong tín dụng của ngân hàng.
Khoản cho vay mua nhà trả góp thường có kỳ hạn dài từ 5 đến 30 năm,
do đó nó được xếp vào các khoản tín dụng trung và dài hạn trong danh mục
cho vay của ngân hàng. Tài sản nhà được coi là một trong những tài sản bền
lâu, mang tính chất đầu tư dài hạn, bên cạnh đó giá trị tương đối lớn.
1.2.3. Vai trò cho vay mua nhà trả góp của Ngân hàng thương mại
14
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
1.2.3.1. Đối với Ngân hàng thương mại
Trong tình hình cạnh tranh gay gắt hiện nay, các ngân hàng thương mại
đang đứng trước một thách thức không nhỏ là lợi nhuận đang có nguy cơ giảm
trong khi chi phí hoạt động ngày càng gia tăng.
Hoạt động cho vay mua nhà trả góp sẽ mang lại cho ngân hàng một
khoản lợi nhuận không nhỏ do nhu cầu mua nhà của người dân ngày càng cao.
Rủi ro của hoạt động này cũng nhiều do khoản tiền vay lớn và trong thời gian
dài. Tuy nhiên những rủi ro này sẽ được phân tán cho ngân hàng do số lượng
các món vay mua nhà trả góp tương đối lớn và tài sản đảm bảo cho khoản vay
lại chính là giá trị ngôi nhà. Thông qua việc cho vay mua nhà trả góp, ngân
hàng có thể mở rộng mối quan hệ với các công ty kinh doanh nhà đất. Đây là
một cơ hội tốt để ngân hàng có được một hệ thống thông tin phong phú và đa
dạng về khách hàng. Ngoài ra, cho vay mua nhà trả góp giúp ngân hàng mở
rộng mối quan hệ, nâng cao uy tín, tạo dựng hình ảnh của mình trong mắt
khách hàng.
1.2.3.2. Đối với khách hàng
Để ổn định cuộc sống thì nhà ở vẫn luôn là nhu cầu đầu tiên và cấp bách
của người dân. Đặc biệt, do quá trình đô thị hóa nhanh chóng, người dân đổ về
các thành phố lớn ngày càng đông, để đáp ứng nhu cầu này không ít những khu
chung cư hay những khu đô thị lớn đã ra đời. Tuy nhiên, do khoảng cách về mức
thu nhập hàng tháng của người lao động so với giá cả của đất đai, nhà cửa là rất
lớn nên hoạt động cho vay mua nhà trả góp là hoàn toàn tất yếu.
Với mức thu nhập thông thường từ lương tháng, để có đủ tiền mua nhà,
không ít gia đình sẽ phải mất một khoảng thời gian dài. Vậy, phải làm thế nào
để mua được một căn hộ khi chỉ có 20%-30% số tiền? Đó là vấn đề đặt ra đối
với những người muốn mua nhà.
15
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
Nhờ có dịch vụ này của các ngân hàng thương mại mà những gia đình
trẻ, những đối tượng có thu nhập ổn định nhưng chưa có đủ tiền mua nhà vẫn
có thể đạt được ước muốn của mình. Như vậy, thay vì sau một khoảng thời
gian dài tiết kiệm, mỗi tháng họ chỉ cần trích ra một phần thu nhập của gia
đình để tích lũy trả góp cho ngân hàng. Có được ngôi nhà ổn định, khách hàng
mới yên tâm lao động và làm việc, có động lực để tiếp tục sản xuất ra của cải
xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống.
1.2.3.3. Đối với nền kinh tế - xã hội
Trong thời gian hiện nay, thị trường bất động sản đang bước vào giai
đoạn hạ nhiệt thì dịch vụ cho vay mua nhà trả góp của các Ngân hàng thương
mại là một yếu tố quan trọng kích cầu thị trường bất động sản, đẩy mạnh giao
dịch. Các ngân hàng còn liên kết với các Công ty kinh doanh nhà và Công ty
bảo hiểm để cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tiện ích nhất, tạo thêm
công ăn việc làm cho người lao động. Từ đó giúp Nhà nước đạt được những
mục tiêu kinh tế - xã hội: giảm thất nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống cho
người dân,… Ngân hàng thương mại đã trở thành chiếc cầu nối giữa việc xây
dựng, mua bán nhà, … từ đó khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nhà đất, bất
động sản, góp phần vào sự phát triển chung của toàn nền kinh tế.
1.2.4. Quy trình cho vay mua nhà trả góp của Ngân hàng thương mại
• Quy trình cho vay thông thường
B1. Bên mua và bên bán ký Hợp đồng mua bán nhà, trả trước một số tiền, nợ
phần còn lại.
B2. Bên mua đến xin vay và được chấp thuận, ngân hàng làm thủ tục, giải
ngân. Người vay trả nốt tiền cho bên bán.
B3. Bên mua trả tiền cho ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng.
• Quy trình cho vay mua nhà thế chấp
16
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
B1. Bên mua và bên bán cùng mở tài khoản tại ngân hàng. Bên mua nộp số
tiền chênh lệch vào tài khoản.
B2. Bên mua, bên bán cùng nhân viên ngân hàng làm thủ tục mua bán nhà tại
phòng công chứng Nhà nước. Ngân hàng giữ giấy tờ hợp pháp của chủ sở hữu
căn nhà.
B3. Ký hợp đồng tín dụng giữa bên mua và Ngân hàng.
B4. Ngân hàng trả tiền cho bên bán.
B5. Bên mua thanh toán dần đều tiền cho Ngân hàng theo thỏa thuận.
1.3. Phát triển cho vay mua nhà trả góp của Ngân hàng thương mại
1.3.1. Quan điểm về phát triển cho vay mua ngà trả góp của Ngân hàng
thương mại
Vay trả góp là một yêu cầu tất yếu của xã hội hiện đại. Và vay mua nhà
trả góp cũng nằm trong số đó. Vì vậy các NHTM luôn mong muốn phát triển
hoạt động cho vay mua nhà trả góp này. Phát triển hoạt động cho vay mua nhà
được hiểu là việc ngân hàng thực hiện các biện pháp nhằm đáp ứng được nhu
cầu vay vốn ngày càng cao của khách hàng với chất lượng tốt nhất.
Sự phát triển trước hết đánh dấu bằng việc mở rộng quy mô và đối
tượng khách hàng vay, đồng thời ngân hàng cũng phải không ngừng hoàn
thiện dịch vụ vay trả góp và các hoạt động đi kèm để phục vụ nhu cầu của
khách một cách tốt nhất.
1.3.2. Chỉ tiêu phản ánh sự phát triển cho vay mua nhà trả góp của Ngân
hàng thương mại
Để đánh giá hiệu quả của việc mở rộng và phát triển hoạt động cho vay
mua nhà trả góp (hay cho vay mua nhà vì phần lớn các khoản vay mua nhà
theo hình thức trả góp) có thể căn cứ vào một số chỉ tiêu như sau:
17
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
∗ Các chỉ tiêu về qui mô
(1) Doanh số cho vay mua nhà
Chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp quy mô của một hoạt động, với số liện
cụ thể về lượng vốn của ngân hàng sử dụng cho hoạt động đó.
(2) Tỷ trọng dư nợ cho vay mua nhà trong tổng dư nợ cho vay tiêu dùng
Tỷ trọng dư nợ
cho vay mua nhà
trong tổng dư nợ
CVTD
=
Dư nợ cho vay mua nhà
x 100%
Dư nợ CVTD
(3) Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay mua nhà
Tốc độ tăng
trưởng dư nợ
cho vay mua
nhà
=
Dư nợ cho vay mua nhà kỳ này – kỳ
trước
x 100%
Dư nợ cho vay mua nhà kỳ trước
Chỉ tiêu này rất quan trọng đối với việc đánh giá mức độ phát triển của
hoạt động cho vay mua nhà vì nó cho biết mức gia tăng dư nợ cho vay mua
nhà qua các thời kỳ, giúp đánh giá hiệu quả của hoạt động cho vay mua nhà.
(4) Tỷ trọng dư nợ cho vay mua nhà trong tổng dư nợ
Tỷ trọng dư nợ
cho vay mua
nhà trong tổng
dư nợ
=
Dư nợ cho vay mua nhà
x 100%
Tổng dư nợ
∗ Chỉ tiêu về chất lượng
(5) Hệ số thu nợ
Hệ số thu nợ =
Doanh số thu nợ
x 100%
Doanh số cho vay
Hệ số này cho biết chất lượng của các hoạt động cho vay nói chung.
Việc mở rộng quy mô phải gắn liền với chất lượng tín dụng tốt (khả năng thu
nợ tốt) thì hoạt động đó mới coi là hiệu quả.
(6) Tỷ lệ nợ quá hạn
18
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
Tỷ lệ nợ quá hạn và hệ số thu nợ là 2 chỉ tiêu có liên quan mật thiết với
nhau. Khi hệ số thu nợ cao thì nợ quá hạn cũng sẽ được hạn chế bớt. Tại một
thời điểm nhất định, tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh chất lượng cũng như các rủi ro
của hoạt động tín dụng.
(7) Thu nhập, chi phí, lợi nhuận từ hoạt động cho vay mua nhà
– Thu nhập từ hoạt động cho vay mua nhà: Cho vay mua nhà mang lại nguồn
thu nhập đáng kể cho ngân hàng, bởi nó thường chiếm tỷ trọng khá lớn
trong hoạt động cho vay tiêu dùng, mà cho vay tiêu dùng được coi là hoạt
động mang lại nhiều nguồn thu nhất cho các ngân hàng bán lẻ. Bởi vậy, thu
nhập được coi là chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả của hoạt động cho
vay mua nhà nói riêng và các hoạt động cho vay nói chung. Có thể căn cứ
vào tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay mua nhà trên tổng thu nhập
hoặc thu nhập từ hoạt động cho vay mua nhà trên thu nhập từ hoạt động cho
vay tiêu dùng.
– Chi phí của hoạt động cho vay mua nhà: Thu nhập luôn luôn gắn liền với chi
phí, thu nhập từ hoạt động cao nhưng chi phí cho hoạt động đó cũng lớn thì
hoạt động kinh doanh không đạt hiệu quả. Do đó, bên cạnh việc đánh giá thu
nhập của hoạt động cho vay mua nhà cần xem xét chi phí cho hoạt động này
để có những bước điều chỉnh phù hợp mang lại hiệu quả tốt nhất.
– Sau khi xem xét thu nhập và chi phí từ hoạt động cho vay mua nhà kết hợp với
một số chỉ tiêu khác ta có thể tính được lợi nhuận từ hoạt động cho vay mua
nhà. Chỉ tiêu này cho biết phần đóng góp thực sự của hoạt động này trong hoạt
động cho vay nói chung của ngân hàng.
(8) Thị phần cho vay mua nhà trên thị trường
Đây là chỉ tiêu tương đối khó định lượng, tuy nhiên việc ước lượng gần
đúng dựa trên những khảo sát thị trường kỹ lưỡng có thể coi là nguồn thông
tin có giá trị cho việc đánh giá uy tín và chất lượng hoạt động cho vay mua
nhà của ngân hàng. Hầu hết các ngân hàng đều đang thực hiện thực hiện hoạt
động này và số lượng các ngân hàng trên thị trường tài chính Việt Nam cũng
rất lớn vì vậy một ngân hàng chiếm thị phần cho vay mua nhà từ 20% - 30%
so với toàn thị trường cũng có thể xem là một hoạt động hiệu quả.
19
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
1.3.3. Điều kiện đảm bảo sự phát triển cho vay mua nhà trả góp của Ngân
hàng thương mại
1.3.3.1. Nhóm nhân tố từ phía Ngân hàng
Sự phát triển hoạt động cho vay mua nhà trả góp của một Ngân hàng
thương mại phụ thuộc chủ yếu vào chính bản thân Ngân hàng đó. Trong đó,
định hướng phát triển của ngân hàng là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả
của hoạt đông này.
• Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng được coi là kim chỉ nam cho tất cả các hoạt động tín
dụng của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay mua nhà trả góp nói riêng.
Ngân hàng cần xây dựng chính sách tín dụng phù hợp với định hướng phát triển
của mình, chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố như: hạn mức cho vay đối với
khách hàng, lãi suất cho vay, mức lệ phí, thời hạn tín dụng, … Tất cả các yếu tố
đó tạo nên sự khác nhau giữa các ngân hàng thương mại cho sản phẩm cho vay
mua nhà trả góp. Từ dó quyết định sự thu hút đối với khách hàng.
• Quy trình cho vay mua nhà trả góp
Quy trình tín dụng quy định các bước cần thiết từ khâu lập hồ sơ xin
cấp tín dụng đến khâu quản lý và thu hồi nợ, nhằm đảm bảo thu hồi được cả
gốc và lãi của khoản tín dụng. Nó ảnh hưởng không nhỏ đến việc thu hút
khách hàng. Các bước trong quy trình tín dụng cần được kết hợp nhịp nhàng,
linh hoạt, nhanh gọn, gây được cảm tình với khách hàng mà vẫn đảm bảo nắm
được diễn biến của khoản tín dụng để có những can thiệp kịp thời đối với
những rủi ro có thể xảy ra.
• Cơ sở hạn tầng, trang thiết bị và đội ngũ nhân viên ngân hàng
Đây là những nhân tố phản ánh bộ mặt của ngân hàng. Cơ sở khang
trang, trang thiết bị hiện đại phản ánh vị thế của ngân hàng và tạo lòng tin nơi
20
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
khách hàng. Đội ngũ cán bộ nhân viên, đặc biệt là nhân viên tín dụng, những
người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng cần được đào tạo bài bản, năm vững
nghiệp vụ, am hiểu pháp luật, tận tình, chu đáo.
• Mạng lưới chi nhánh
Mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch, của ngân hàng
là nơi đầu tiên khách hàng đến tiếp xúc. Ngân hàng có mạng lưới chi nhánh
rộng lớn sẽ dễ dàng tiếp cận với nhiều đối tượng khách hàng. Từ đó nâng cao
được hoạt động cho vay mua nhà trả góp.
• Nguồn vốn
Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm vốn tự có và vốn huy động, trong
đó chủ yếu là vốn huy động. Để mở rộng cho vay mua nhà trả góp thì ngân
hàng phải có một số lượng vốn đủ lớn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Kết quả huy động vốn ảnh hưởng tới chính sách mở rộng hay thắt chặt của
ngân hàng.
Ngoài ra, cơ cấu vốn huy động cũng ảnh hưởng đến quy mô các khoản
cho vay mua nhà trả góp. Bởi nếu nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn thì
ngân hàng sẽ bị hạn chế trong hoạt động cho vay mua nhà trả góp. Do nguồn
vốn cho vay mua nhà trả góp là vốn trung vav dài hạn mà NHNN lại có quy
định tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngăn hạn mà các ngân hàng thương mại được
sử dụng cho vay trung và dài hạn (40%).
1.3.3.2. Nhóm nhân tố từ phía khách hàng
• Khả năng tài chính của khách hàng
Thẩm định năng lực tài chính của khách hàng là yếu tố quan trọng
trước khi ngân hàng quyết định cho vay. Năng lực tài chính của khách hàng
quyết định đến khả năng trả nợ ngân hàng. Với những khách hàng có thu nhập
21
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
khá và ổn định thì sẽ có khả năng đáp ứng những khoản thanh toán hằng
tháng, đảm bảo cho khoản vay.
• Đạo đức người vay.
Đạo đức người vay thể hiện ở năng lực pháp lý và độ tín nhiệm. Đây là
điều kiện tiên quyết để ngân hàng xem xét cho vay. Vì vậy, ngay cả những
khách hàng có thu nhập cao, ổn định thậm chí đưa ra những điều kiện đảm bảo
tốt nhưng chưa chắc đã có thiện chí trả nợ.
• Tài sản đảm bảo
Do khách hàng có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng do nhiều
nguyên nhân nên chính vì thế tài sản đảm bảo chính là nguồn trả nợ thứ hai
cho ngân hàng khi rủi ro xảy ra. Đối với cho vay mua nhà trả góp, tài sản đảm
bảo thường là chính ngôi nhà mới hình thành từ món vay hoặc các tài sản
khách có thể dùng để thế chấp. Ngân hàng cần có các biện pháp thẩm định và
quản lý tài sản đảm bảo chặt chẽ để kịp thời phát hiện xử lý các vấn đề phát
sinh như mất mát, hư hỏng, làm giảm giá trị,…
1.3.3.3. Nhóm nhân tố bên ngoài
• Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế bao gồm những yếu tố như tăng trưởng kinh tế,
chính sách kinh tế của quốc gia, chu kỳ kinh doanh… Bất kỳ sự thay đổi nào
của môi trường kinh tế đều gây ra sự biến động trong tất cả các lĩnh vực kinh
tế - chính trị - xã hội. Và hoạt động cho vay mua nhà trả góp cũng không là
ngoại lệ.
Khi nền kinh tế ở thời kỳ hưng thịnh, tốc độ phát triển cao và ổn định,
người dân yên tâm về mức thu nhập của họ trong tương lai, nhu cầu tiêu dùng
sẽ tăng lên, đặc biệt là nhu cầu về nhà ở. Do đó cho vay mua nhà trả góp cũng
có cơ hội phát triển. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào trạng thái suy thoái,
mất ổn định thì người dân chỉ muốn đảm bảo được cuộc sống ở mức bình
thường mà không nghĩ đến việc đi vay để thỏa mãn nhu cầu cao hơn.
22
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
• Môi trường văn hóa - xã hội
Mỗi các nhân, tổ chức đều hoạt động trong một môi trường văn hóa-xã
hội nhất định. Nó bao gồm các yếu tố như: tình trạng trật tự xã hội, thói quen,
tâm lý, trình độ học vấn, bản sắc dân tộc ( thể hiện qua những nét tính cách
tiêu biểu của người dân như niềm tin, tính cần cù, trung thực, … hay tính tằn
tiện, thích hưởng thụ,… ) hoặc các yếu tố về nơi ở, nơi làm việc,…Tất cả
những điều đó đều ảnh hưởng đến thói quen tiêu dùng của người dân. Thông
thường ở những nơi tập trung đông dân cư, trình độ dân trí cao, mức thu nhập
của người dân ổn định thì nhu cầu tiêu dùng lớn, hoạt động cho vay mua nhà
trả góp phát triển. Những nơi trình độ thấp, chủ yếu là lao động chân tay thì
chuyện đảm bảo vấn đề sinh hoạt hằng ngày là điều cần thiết hơn là tiêu dùng
những thứ xa sỉ như nhà cửa. Vì vậy hoạt động cho vay mua nhà trả góp sẽ
gặp khó khăn.
• Môi trường pháp lý
Bất kỳ một hoạt động kinh tế nào muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì
yếu tố đầu tiên quyết định đó là môi trường chính trị phải ổn định, an toàn và
bền vững vì đây chính là đầu não định hướng cho các đường lối chính sách
của nhà nước. Điều kiện đảm bảo cho sự phát triển hoạt động cho vay mua
nhà trả góp cũng không ngoại lệ. Chính trị tốt sẽ tạo một môi trường kinh
doanh lành mạnh, đồng thời gây dựng sự tin tưởng trong dân chúng, từ đó mà
người dân có thể yên tâm làm việc, mưu sinh và tiêu dùng trong cuộc sống.
Bên cạnh đó khi hệ thống pháp luật của quốc gia đảm bảo tính đầy đủ,
đồng bộ, không chồng chéo mâu thuẫn và ổn định cũng sẽ là động lực thúc
đẩy cho sự phát triển kinh tế. Đặc biệt hoạt động ngân hàng chịu sự điều tiết
rất nhiều bởi các quy định, văn bản của chính phủ, của ngân hàng nhà nước .
Do đó có thể thấy môi trường pháp luật thông thoáng, rõ ràng sẽ giúp các ngân
hàng hoạt động an toàn hiệu quả và là nền tảng cho hoạt động cho vay mua
nhà trả góp.
23
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
• Các đối thủ cạnh tranh
Hiện nay, trong thời kỳ hội nhập, không chỉ có các Ngân hàng thương
mại cung cấp dịch vụ cho vay mua nhà trả góp mà các tổ chức tài chính trung
gian trong và ngoài nước khác cũng tham gia vào lĩnh vực này như: công ty
tiêt kiệm bưu điện, các công ty bảo hiểm, các quỹ tín dụng,… tạo ra môi
trường cạnh tranh gay gắt. Chỉ những sản phẩm mang lại nhiều tiện ích, phù
hợp với khả năng của khách hàng mới được khách hàng đón nhận. Do đó,
ngân hàng cần tính toán và cân đối để đưa ra chính sách tín dụng hợp lý để mở
rộng hoạt động cho vay của mình.
24
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Lan
Hương
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHO VAY MUA NHÀ TRẢ
GÓP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT
NAM THỊNH VƯỢNG – CHI NHÁNH HÀ NỘI GIAI
ĐOẠN 2011-2014
Sau khi NHNN dỡ bỏ quy định về hạn chế cho vay lĩnh vực phi sản
xuất vào năm 2012, cộng với những biến chuyển trên thị trường bất động sản
ở các đô thị lớn, đến nay, mặt bằng lãi suất và giá nhà đã ở mức hợp lý hơn,
thuận lợi cho người mùa nhà. Bên cạnh đó, nhiều giải pháp của chính phủ hỗ
trợ thị trường bất động sản đang được triển khai cộng với nhu cầu nhà ở của
người dẫn không ngừng tăng. Hoạt động cho vay mua nhà đang được tất cả
các ngân hàng triển khai và được coi là một kênh quan trọng để đẩy mạnh tín
dụng, nhất là trong bối cảnh tín dụng cho vay doanh nghiệp đang bị nghẽn.
Nhận thức được điều này, VPBank đã tập trung hoàn thiện cơ chế cho vay,
triển khai danh mục đa dạng các gói sản phẩm nhằm đáp ứng một cách tốt
nhất nhu cầu của khách hàng và đón đầu xu hướng trở lại của thị trường bất
động sản.
Để có cái nhìn tổng quát về thực trạng hoạt động cho vay mua nhà tại
VPBank Hà Nội, nội dung chương 2 của báo cáo sẽ bao quát các vấn đề: thực
trạng hoạt động cho vay mua nhà tại Chi nhánh; đánh giá những ưu điểm và
vạch ra những nhược điểm còn tồn tại, cũng như những nguyên nhân của
những tồn tại trong hoạt động cho vay mua nhà tại Chi nhánh.
2.1. Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng – chi
nhánh Hà Nội
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Việt Nam
Thịnh Vượng – chi nhánh Hà Nội
Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (tên giao dịch
quốc tế là VPBank), tiền thân là Ngân hàng thương mại cổ phần Các doanh
25
SV: Mai Thị Cẩm Vân Lớp: Ngân hàng 53A

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×