Tải bản đầy đủ

pháp luật cạnh tranh - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn áp dụng cho Việt Nam


CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KHOA HỌC TRẺ KHOA KINH TẾ”
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
KHOA HỌC PHÁP LÝ
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I. VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ.
1. Nguồn gốc hình thành tập trung kinh tế.
1.1. Trên thế giới.
1.2. Ở việt nam.
2. Khái niệm tập trung kinh tế.
3. Một số hình thức tập trung kinh tế.
4. Tác động của tập trung kinh tế.
5. Tính cấp thiết của tập trung kinh tế.
CHƯƠNG II. HÀNH LANG PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG
KINH TẾ TẠI VIỆT NAM.
1. Quy định pháp lí về kiểm soát tập trung kinh tế
1.1. Khái niệm về tập trung kinh tế theo luật cạnh tranh và các và các văn bản pháp luật có
liên quan.

1.2. Các ngưỡng gây hạn chế cạnh tranh của tập trung kinh tế.
1.3. Thủ tục thông báo tập trung kinh tế
1.4. Chế tài
2. Cơ quan quản lí.
3. Đánh giá về môi trường pháp lí của hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam
CHƯƠNG III. THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG
KINH TẾ TẠI VIỆT NAM.
1. Những vấn đề bất cập khi áp dụng các quy phạm pháp luật về
hiện tượng tập trung kinh tế.
4
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
1.1.Nhưng vấn đề pháp luật còn để trống.
1.2. Những trở ngại khi tiến hành tập trung kinh tế tại việt nam.
2. Nhóm biện pháp thực hiện.
3. Một vài vụ kiểm soát tập trung kinh tế điển hình.
CHƯƠNG IV: ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
1. Môi trường pháp lý.
2. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động tập trung kinh tế.
3. Đối với cộng đồng doanh nghiệp.
PHỤ LỤC 1. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG MUA BÁN SÁP NHẬP DOANH
NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI TRONG NHỮNG NĂM QUA.
PHỤ LỤC 2. MẪU HỒ SƠ.
• Mẫu hồ sơ thông báo tập trung kinh tế
• Mẫu đơn đề nghị miễn trừ đối với vụ việc tập trung kinh tế
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Danh sách tài liệu
Danh sách bài báo trong tạp chí
TRANG WEB THAM KHẢO
5
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
Lời mở đầu.
Trong bối cảnh nền kinh tế việt nam hiện nay đang có những bước phát triển mạnh mẽ
và có những biến chuyển lớn, nhất là khi việt nam là thành viên của WTO cùng với sự tăng
trưởng nhanh chóng của các dự án đầu tư. Từ năm 2007 trở đi thì tốc độ tăng trưởng kinh tế
của Việt Nam phát triển rất nhanh. Đặc biệt trong lĩnh vực sáp nhập – mua lại doanh nghiệp
(M&A) ngày càng nở rộ. Năm 2008 là thời kì nền kinh tế thế giới bị suy thoái dẫn đến hàng
loạt các vụ (M&A) tăng lên nhanh chóng vì nó giải quyết được vấn đề tài chính của các
công ty sắp lâm vào tình trạng phá sản, giải thể. Nhưng bên cạnh đó thì các công ty có tìm
lực kinh tế mạnh tranh thủ thâu tóm và thống lĩnh thị trường bằng hình thức tập trung kinh
tế không lành mạnh gây hạn chế cạnh tranh. Các hoạt động tập trung kinh tế mặc dù đã


được nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh nhưng tập trung kinh tế vẫn được xem là khá mới
mẻ với Việt Nam nhất là các doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên sẽ rất
nguy hiểm khi các công ty có tiềm lực mạnh trên thế giới xâm nhập vào thị trường trong
nước gây lũng đoạn nền kinh tế. Trước những vấn đề đang xảy ra thì đề tài của chúng tôi
xin đề cập đến các vấn đề sau:
Đề tài nghiên cứu hướng tới người đọc hiểu được thế nào là tập trung kinh tế, giúp
người đọc có được cái nhìn tổng quan về quá trình hình thành phát triển và các hoạt động
tập trung kinh tế trên thực tiễn. Đồng thời đề tài cũng hướng tới những nhà lập pháp, giúp
tìm ra những khuyết điểm và sai sót trong những văn bản pháp luật về tập trung kinh tế và
đề xuất một số ý kiến đóng góp để khắc phục những nhược điểm trên, so sánh đối chiếu với
một số mô hình kiểm soát tập trung kinh tế trên thế giới để tìm ra điểm tiến bộ và hạn chế.
Đề tài còn hướng tới các doanh nghiệp giúp cho các doanh nghiệp biết được trình tự thủ tục
thực hiện hoạt động kinh doanh khi gặp phải lĩnh vực chịu sự kiểm soát của cơ quan quản lí
cạnh tranh, nguy cơ xấu tìm ẩn trong kinh doanh .
Đề tài tập trung nghiên cứu vào pháp luật cạnh tranh việt nam và các văn bản có liên
quan đến kiểm soát tập trung kinh tế tại việt nam. Đồng thời thu thập các bài viết số liệu có
liên quan đến tập trung kinh tế trong nước và ngoài nước, tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật
6
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
về tập trung kinh tế của một số nước trên thế giới để làm cơ sở cho việc phân tích và so
sánh các vấn đề tập trung kinh tế của việt nam hiện nay.
Đề tài dựa trên các tài liệu có sẵn trên thực tế cộng với các số liệu thu thập, áp dụng
tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của luật học như: phương pháp so sánh, đối chiếu,
tổng hợp, phân tích, đánh giá những vụ việc xảy ra trên thực tế…
Đề tài nhằm đóng góp thêm vào công trình nghiên cứu khoa học pháp luật để từ đó có
cái nhìn chi tiết hơn về tập trung kinh tế của việt nam trong giai đoạn hiện nay. Tìm ra
những thiếu sót về mặt pháp lí, điểm bất cập rườm rà trong hoạt động kiểm soát tập trung
kinh tế. Đề xuất những giải pháp hợp lí để góp phần bổ sung vào những vấn đề còn thiếu
sót trong luật cạnh tranh nhằm góp phần hoàn thiện và chặt chẽ hơn, giảm thiểu tối đa
những tác hại có thể xảy ra trong quá trình tập trung kinh tế.
7
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ
1. NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ.
1.1. TRÊN THẾ GIỚI.
Khi nền kinh tế thị trường bắt đầu phát triển mạnh trên thế giới, các công ty xuất hiện
ngày càng nhiều, pháp luật các nước cho các công ty được tự do kinh doanh, tự do lập hội,
tự do thỏa thuận, tự do cạnh tranh…Trong quá trình phát triển chung của nền kinh tế trong
nước và trên thế giới thì các công ty gặp không ít những khó khăn như: sự cạnh tranh
không lành mạnh giữa các công ty với nhau, những thời kì suy thoái nền kinh tế trên thế
giới điển hình là các cuộc suy thoái 1929-1933(tại Hoa Kì), suy thoái 1997-1999(xuất phát
tại Thái Lan)…làm cho các công ty vừa và nhỏ gặp điêu đứng, nhiều công ty dẫn đến phá
sản. Hiện tượng các công ty lớn ra sức thu gom các công ty gặp nạn hoặc các công ty liên
kết với nhau để vượt qua khó khăn và tăng cường khả năng cạnh tranh.Số lượng các công
ty giảm mạnh, tính cạnh tranh giảm xuống hình thành các công ty độc quyền, các tập đoàn,
quá trình tập trung kinh tế ngày càng mạnh mẽ(tích tụ tư bản cao) một số công ty độc quyền
và tập đoàn lớn làm lũng đoạn thị trường nền kinh tế suy giảm, xuất hiện ngày càng nhiều
hành vi cạnh tranh không lành mạnh tạo nên sự bất ổn cho nền kinh tế. Thấy được điều đó
một số nước đã ban hành một số điều luật nhằm kiểm soát tập trung kinh tế.
Giai đoạn đầu các quy định chủ yếu được cụ thể hóa trong bộ luật dân sự của các nước
như: Bộ luật dân sự Pháp(1804) điều 1382-1383,bộ luật dân sự Italia(1865) điều
1151,1152…
Sau đó cùng với sự phát triển đa dạng của thị trường, mức độ phức tạp ngày càng cao.
Muốn việc quản lí được tốt hơn nên các nước đã đẩy mạnh việc soạn thảo các văn bản, quy
định pháp luật nhằm hạn chế cạnh tranh không lành mạnh và chống độc quyền…
Hoa kì được xem là quốc gia có đạo luật chống độc quyền và hạn chế cạnh tranh hoàn
thiện, sớm nhất và mang lại hiệu rất lớn như: Đạo luật sharman(1890) nhằm chống lại một
số tập đoàn khổng lồ ở Hoa kì, đạo luật Robinson patman(1936)…
Sau hoa kì là hang loạt các nước châu âu(Anh,Pháp,Italia…),châu á(Nhật,Trung Quốc) lần
lượt ban hành pháp luật cạnh tranh nhằm kiểm soát tập trung kinh tế. “Đến nay theo thống
8
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
kê của hội nghị liên hợp quốc về thương mại vá phat triển(UNCTAD) trên thế giới (2003)
có khoản 100 quốc gia,vùng lãnh thổ có luật điều tiết cạnh tranh và chống độc quyền”.
1

1.2 TẠI VIỆT NAM.
Những lý thuyết về quản lí cạnh tranh và chống độc quyền được hình thành và phát
triển mạnh mẽ ở các nước tư bản chủ nghĩa nơi có nền kinh tế thị trường, các công ty được
tự do kinh doanh. Tại Việt Nam sau khi giành độc lập đến 1986 nhà nước chủ trương đưa
nền kinh tế việt nam theo hướng tập trung bao cấp, nơi mà chỉ tồn tại các loại hình kinh tế
nhà nước, hợp tác xã. Nhà nước độc quyền trong sản xuất kinh doanh vì thế pháp luật về
cạnh tranh chưa được hình thành. Việc đổi mới nền kinh tế từ tập trung kinh tế sang kinh tế
thị trường đã dần phát triển thêm nhiều mối quan hệ trong thương mại nhiều thành phần
kinh tế xuất hiện. Do muốn tạo lập một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
nên nhà nước tập trung tạo lập một một công cụ để quản lí thị trường các chế định về quản
lí kinh doanh, quản lí cạnh tranh được ra đời nhằm bảo vệ nền kinh tế được ổn định. Trong
những năm đầu đổi mới nền kinh tế pháp luật kinh tế chỉ tập trung vào các chế định khẳng
định quyền tự do kinh doanh như: Luật doanh nghiệp tư nhân, luật công ty 1990. Tiếp đến
là pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh ( pháp lệnh hợp đồng
kinh tế 1989).
Quyền tự do kinh doanh, tự do thỏa thuận ngày càng được thừa nhận đã tạo nên môi
trường cạnh tranh, việc cạnh tranh không còn mới mẻ. Đáp ứng yêu cầu nhà nước cần quản
lí nền kinh tế vì vậy đạo luật đầu tiên ghi nhận trực tiếp về quyền cạnh tranh của doanh
nhân là luật thương mại 1997 được quy định tại điều 8, điều 9. Nhưng luật thương mại
1997 chủ yếu quy định và điều chỉnh những hành vi thương mại của thương nhân nên các
quy định về cạnh tranh cũng không được dề cập đến nhiều và dần lắng xuống.
Sau đó nhiều nhiều văn bản pháp luật khác cũng đề cập đến hành vi cạnh tranh không
lành mạnh bị pháp luật cấm ví dụ: trong lĩnh vực quảng cáo, sở hữu trí tuệ, giá cả…Các văn
bản trên chủ yếu là chú trọng vào việc nhấn mạnh nhiệm vụ quản lí của nhà nước còn vấn
đề bảo vệ cạnh tranh lành mạnh thì đế cập chưa cao.
1
Nguồn: pháp luật cạnh tranh tại việt nam - nxb tư pháp hà nội 2006 - trang 69-77; kiểm soát tập trung
kinh tế kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn việt nam - Bộ công thương - trang 19-26.
9
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
Vào thập niên thứ hai của quá trình đổi mới nền kinh tế nhà nước đã đặt ra nhiệm vụ là
cần có một đạo luật về cạnh tranh nhằm đưa nền kinh tế theo kịp với các nước khác trên thế
giới, đẩy mạnh phát triển kinh tế đồng thời quản lí giám sát hoạt động cạnh tranh được lành
mạnh, bảo vệ các công ty…Ngày 03/12/2004 quốc hội đã thông qua luật cạnh tranh và có
hiệu lực ngày 01/7/2005. Được xem đây là đạo luật hoàn chỉnh nhất của Việt Nam về kiểm
soát tập trung kinh tế.
2

2. Khái niệm tập trung kinh tế.
Tập trung kinh tế tại viết nam được hiểu dưới ba góc độ cơ bản sau:
 Một là: với tính chất gắn liền với cấu trúc thị trường thì tập trung kinh tế được hiểu
là quá trình mà một số các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông
qua các hành vi sáp nhập, thông qua hành vi tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ
sở mở rộng năng lực sản xuất. Với cách tiếp cận này giúp làm rõ nguyên nhân và hậu quả
của tập trung kinh tế đối với cấu trúc thị trường cạnh tranh và cũng coi hiện tượng tích tụ là
một phần của tập trung kinh tế.
 Hai là: với tính chất là hành vi của doanh nghiệp thì tập trung kinh tế được hiểu là
sự tăng thêm tư bản do hợp nhất nhiều tư bản hay một tư bản này thu hút tư bản khác. Với
khái niệm này cho thấy được hình thức và bản chất của tập trung kinh tế.
 Ba là: dưới góc độ của pháp luật. Luật cạnh tranh 2004 không dưa ra khái niệm thế
nào là tập trung kinh tế mà chỉ đưa ra các trường hợp của tập trung kinh tế và coi đây là các
trường hợp gây hạn chế cạnh tranh được quy định tại điều 3 của luật cạnh tranh” sáp nhập
doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giũa các doanh
nghiêp, các trường hợp kác của quy định pháp luật”.
3. Một số hình thức tập trung kinh tế.
 Dựa vào mức độ liên kết, hành vi tập trung kinh tế được chia thành hai loại tập trung
kinh tế chặt chẽ (tổ hợp) và tập trung kinh tế không chặt chẽ.
 Hoạt động tập trung kinh tế chặt chẽ được hiểu là: Các doanh nghiệp có mối
liên hệ chặt chẽ, liên quan với nhau sẽ liên kết với nhau để tạo thành một thể thống nhất ví
2
Nguồn: pháp luật cạnh tranh tại việt nam - nxb tư pháp hà nội 2006 - trang 88-91
10
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
dụ: doanh nghiệp A chuyên sản xuất ra những sản phẩm mà doanh nghiệp B cần để làm
nguyên liệu tạo ra sản phẩm cho doanh nghiệp. Hoặc là những doanh nghiệp sản xuất theo
hướng chuyên môn hóa theo dây truyền …
 Hoạt động tập trung kinh tế không chặt chẽ được hiểu là: Việc các doanh
nghiệp tham gia vẫn là những chủ thể độc lập dưới góc độ pháp luật, song chúng chịu sự
chi phối bởi các doanh nghiệp khác. Bằng hành vi mua lại hoặc liên doanh, các doanh
nghiệp đã thiết lập được mối quan hệ với nhau thành liên minh hoặc nhóm doanh nghiệp
theo tập đoàn. Trong đó, bằng quyền của chủ sở hữu, các doanh nghiệp có thể chi phối các
doanh nghiệp mà nó có phần vốn góp hoặc cổ phần.
 Dựa vào vị trí các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong các cấp dộ kinh
doanh của ngành kinh tế - kĩ thuật thì được chia theo: chiều ngang,chiều dọc,chiều chéo
(dạng hỗn hợp hày theo tập đoàn)
 Tập trung kinh tế theo chiều ngang: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc
liên doanh của các doanh nghiệp trong cùng một thị trường liên quan (sản phẩm và địa lý).
Sự gia tăng tập trung theo chiều ngang đến một mức độ nhất định sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho việc phối hợp hành động giữa các doanh nghiệp và từ đó dẫn đến hạn chế cạnh tranh
theo giá và giảm động lực sáng tạo, gây bất lợi cho các đối thủ cạnh tranh và tiềm ẩn nguy
cơ gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
 Tập trung kinh tế theo chiều dọc: là sự hợp nhất, sáp nhập, mua lại hoặc liên
doanh giữa các doanh nghiệp có quan hệ người mua - người bán với nhau.
 Tập trung kinh tế theo chiều chéo (conglomerate): là sự hợp nhất, sáp nhập,
mua lại, liên doanh của các doanh nghiệp không cùng hoạt động trên một thị trường sản
phẩm đồng thời cũng không có mối quan hệ khách hàng với nhau. Mục tiêu của việc hợp
nhất này thường là nhằm phân tán rủi ro vào những thị trường khác nhau hoặc từ những lý
do chiến lược thị trường của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế.
Thực tế thấy rằng việc tập trung theo dạng tập đoàn cũng có tác động tiêu cực đến cạnh
tranh:
11
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
Các doanh nhiệp theo dạng tập đoàn có lợi thế cạnh tranh trong việc tiết kiệm chi
phí khi có nhu cầu tín dụng, bảo hiểm, quảng cáo…với tài chính hùng mạnh thì các tập
đoàn có thể gây ảnh hưởng đến chính trị.
Với nhiều hoạt động kinh doanh đa dạng trong nhiều ngành nghề lĩnh vực nên các
tập đoàn có thể phân tán các rủi ro khi đó các doanh nghiệp nhỏ chỉ kinh doanh một vài
ngành nghề sẽ gặp bất lợi khi có chung thị trường kinh doanh với các tập đoàn lớn.
Việc tập trung các doanh nghiệp thành một tập đoàn hùng mạnh trên thị trường sẽ
làm triệt tiêu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ khác, việc quản lí kiểm soát
kinh tế cũng gặp khó khăn.
3

4. Tác động của tập trung kinh tế.
Tác động của tập trung kinh tế được coi là một hiện tượng ,trào lưu từng diễn ra
trong lịch sử nhiều nước trên thế giới và kèm theo đó là tác động đến đời sống kinh tế xã
hội. Được nhìn nhận dưới hai góc độ:
 Dưới góc độ từ lợi ích doanh nghiệp tham gia
- Tập trung kinh tế xem là con đường ngắn nhất để các doanh nghiệp nâng cao khả
năng cạnh tranh bằng cách tích tụ nguồn lực và thị trường mà không tốn kém quá
nhiều thời gian.
- Tạo khả năng hợp tác sâu sắc trong kinh doanh thong qua các hành vi như mua
một phần cổ phần của nhau,liên doanh…Giúp các bên chia sẽ rủi ro cho nhau
- Tập trung kinh tế có thể là giải pháp hiệu quả cho các doanh nghiệp trong việc cơ
cấu lại hoạt động kinh doanh.
 Dưới góc độ của thị trường cạnh tranh
3
Nguồn: kiểm soát tập trung kinh tế kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn việt nam - Bộ công thương - trang
30-31
12
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
- Các nguồn lực được tập trung lại giúp kinh doanh hiệu quả hơn tránh tình trạng
manh mún nhỏ lẻ
- Việc tập trung kinh tế về cơ bản là không làm giảm sự cạnh tranh mà nó chỉ giúp
nâng cao tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
- Trong thị trưởng cạnh tranh thì tập trung kinh tế là hoạt động bình thường của
doanh nghiệp đồng thời giúp nâng cao tiềm lực kinh tế

5. Tính cấp thiết của tập trung kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường việc một hay nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị
trường có khả năng dẫn đến độc quyền và hạn chế cạnh tranh vì thế nhà nước cần có cơ chế
để kiểm soát quá trình này.
Với tính chất là một sinh hoạt kinh tế, tự do cạnh tranh tự nó có thể dẫn tới nguy cơ cản
trở hoặc tiêu hủy cạnh tranh.Nhà nước có thể lựa chọn nhiều phương cách để ứng xử với
hiện tượng này:
- Hoặc tin vào sự tự điều chỉnh của thị trường,tin vào sự hợp lý của quá trình tập trung
kinh tế hướng tới độc quyền mà chủ trương không can dự
- Hoặc can thiệp để tạo điều kiện cho cạnh tranh diễn ra bằng cách ngăn chặn độc
quyền,chia nhỏ doanh nghiệp độc quyền, cấm thỏa thuận để tạo vị thế thống lĩnh thị
trường
- Hoặc chấp nhận vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền của một số doanh nghiệp song
giám sát,ngăn ngừa sự lạm dụng vị trí đó
- Hoặc công hữu hóa doanh nghiệp có vị trí độc quyền, đặt chúng dưới sự quản lí của
các cơ quan nhà nước và định hướng hoạt động của chúng vì lợi ích chung.
13
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
CHƯƠNG II. HÀNH LANG PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
TẠI VIỆT NAM.
Với nền kinh tế thị trường non trẻ; cùng với sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập tổ
chức kinh tế thế giới WTO đã tạo cho nhà kinh doanh Việt Nam nhiều cơ hội phát triển
kinh tế nhưng cũng lắm thách thức. Như một lẽ tự nhiên nhà kinh doanh muốn doanh
nghiệp mình tồn tại và phát triển trên thị trường thì phải tìm cách nâng cao năng lực kinh
doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường . Một trong những cách tăng
thêm năng lực kinh doanh, khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp được các nhà kinh doanh
thực hiện phổ biến trong kinh doanh là tập trung các nguồn lực kinh tế lại với nhau. Tập
trung kinh tế là hiện tượng thuộc về quyền tự do của các nhà kinh doanh, theo các nguyên
lý của kinh tế thị trường mà ở đó quyền tự do khế ước, tự do lập hội... được pháp luật thừa
nhận và đảm bảo thực hiện. Điều này, ở nước ta được ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ luật
Dân sự và trong Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên tự do nào cũng cần có giới hạn. Tiếng gọi
của lợi nhuận nhiều khi đã làm cho các doanh nghiệp vô tình hay cố ý vượt qua biên giới
của quyền tự do đó. Và vào điểm giới hạn đó, pháp luật cạnh tranh xuất hiện đảm bảo cho
các doanh nghiệp sử dụng đến tận cùng những khả năng sẵn có của mình bằng những
phương thức chân chính. Chính vì thế hiểu biết về môi trường pháp lý là yếu tố quan trọng
giúp các nhà kinh doanh thực hiện tập trung kinh tế thành công, trong chương II này chúng
14
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
tôi mạn phép phân tích về hành lang pháp lý kiểm soát tập trung kinh tế trong hệ thống
pháp luật Việt Nam.
Dưới đây là bảng thống kê những văn bản luật và văn bản dưới luật quy định về tập
trung kinh tế.
STT Tên văn bản Điều khoản
Năm ban
hành
Bộ luật/ Luật
1 Bộ Luật Dân sự Điều 94, 95 2005
2 Luật Doanh nghiệp Điều 152, 153 2005
3 Luật Cạnh tranh Điều 16 đến 24 2004
4 Luật Đầu tư Điều 21, 25, 26 2005
5 Luật Chứng khoán Điều 29,32, 69 2006
Nghị định
6
Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15
tháng 9 năm 2005 của Chính phủ Quy
định chi tiết thi hành Luật Cạnh tranh
2005
7
Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30
tháng 9 năm 2005 của Chính phủ Quy
định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
cạnh tranh
2005
8
Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng
8 năm 2006 Về đăng ký kinh doanh
2006
9 Nghị định 101/2006/NĐ-CP ngày 21
tháng 9 năm 2006 của Chính phủ Quy
2006
15
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
định việc đăng ký lại, chuyển đổi và
đăng ký đổi Giấy chứng nhận đầu tư của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài theo quy định của Luật Doanh
nghiệp và Luật Đầu tư
10
Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22
tháng 9 năm 2006 của Chính phủ Quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Đầu tư
2006
11
Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày 05
tháng 9 năm 2007 của Chính phủ Hướng
dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật
Doanh nghiệp
2007
12
Các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực
chuyên ngành (tài chính, thuế, ngân hàng,
bảo hiểm, đất đai, bất động
sản, bưu chính viễn thông….)
Nguồn: Cục Quản lý cạnh tranh
1. Quy định pháp lí về kiểm soát tập trung kinh tế
1.1. Khái niệm về tập trung kinh tế theo luật cạnh tranh và các và các văn bản pháp
luật có liên quan.
Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam không thiết kế mô hình kiểm soát tập trung kinh tế
theo các dạng như các nước trên thế giới mà thiết kế theo các hình thức pháp lý của tập
16
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
trung kinh tế nhằm tạo cơ sở cho các quy định có liên quan. Theo Ðiều 16 Luật Cạnh tranh
do Quốc hội ban hành ngày 3/12/2004 và có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2005 thì: "Tập trung kinh
tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: (1) Sáp nhập doanh nghiệp; (2) Hợp nhất
doanh nghiệp; (3) Mua lại doanh nghiệp; (4) Liên doanh giữa các doanh nghiệp; và (5)
Các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật"
“ Tập trung kinh tế ” là khái niệm dùng để chỉ sự tích tụ, tập trung của doanh nghiệp
trên thị trường nhằm hình thành doanh nghiệp lớn hơn.
Luật cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới ngoài việc quy định các hình thức tập
trung kinh tế cơ bản như: sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh giữa các doanh nghiệp,
còn đưa ra các hình thức tập trung kinh tế khác thông qua việc kiểm soát hoặc chi phối hoạt
động của doanh nghiệp như:
• Một doanh nghiệp dành được quyền sở hữu hoặc quyền định đoạt cổ phần theo ủy
quyền ( gọi tắt là doanh nghiệp kiểm soát) của doanh nghiệp khác ( gọi tắt là doanh nghiệp
bị kiểm soát) đủ để chiếm được tên 50% quyền bỏ phiếu tại đại hội đồng cổ đông, Hội
đồng quản trị hoặc ở mức mà theo quy định của pháp luật và điều lệ của doanh nghiệp bị
kiểm soát đủ để doanh nghiệp kiểm soát chi phối các quyết định quan trọng của doanh
nghiệp bị kiểm soát.
• Thành viên trong ban giám đốc của một doanh nghiệp kiêm nhiệm thêm chức vụ
trong ban giám đốc của doanh nghiệp khác ( đối thủ cạnh tranh trên thị trường) và có ảnh
hưởng nhất định đến môi trường cạnh tranh. Ví dụ: việc kiêm nhiệm có thể dẫn tới việc
kiểm soát hành chính nếu quyết định cuả họ liên quan đến đầu tư và sản xuất, ảnh hưởng
đến việc xây dựng chiến lược chung của các doanh nghiệp về giá cả, về phân chia thị
trường và các hoạt động thông đồng khác; kiêm nhiệm chức vụ có thể tạo ra sự liên kết
theo chiều dọc giữa nhà cung cấp và khách hàng.
Cụ thể hơn, Điều 17 Luật Cạnh tranh đưa ra khái niệm pháp lý của các hình thức tập
trung kinh tế chủ yếu như sau:
17
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
o Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản,
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời
chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
o Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài
sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới,
đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.
o Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản
của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh
nghiệp bị mua lại.
o Liên doanh
4
giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau
góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh
nghiệp mới.
Các quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xác định các hình thức tập
trung kinh tế theo luật định, phân biệt với các hình thức tích tụ vốn khác.
Định nghĩa về hành vi sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp tại khoản 1, khoản 2 điều 17
Luật cạnh tranh về cơ bản là phù hợp với điều 94, điều 95 của Bộ luật Dân sự; điều 152 và
điều 153 Luật doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2005 xác định cụ thể việc
sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp được thực hiện ở những doanh nghiệp cùng loại. Do
vậy có thể hiểu các định nghĩa nêu trên một cách đầy đủ thông qua các quy định có liên
quan tại luật doanh nghiệp 2005.
4
Thông thường ở Việt Nam, cứ nói đến liên doanh là chúng ta nghĩ ngay đến liên doanh với nước ngoài vì
hình thức này được quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên thuật ngữ liên doanh
cũng xuất hiện ở một số văn bản khác như Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước... nhưng
không có định nghĩa cụ thể. Luật Cạnh tranh đã đưa ra khái niệm về liên doanh nhưng không nói đến quốc
tịch của các bên liên doanh, do đó có thể hiểu rằng việc liên doanh có thể tiến hành giữa các doanh nghiệp
Việt Nam với nhau hoặc giữa một hoặc nhiều doanh nghiệp Việt Nam với một hoặc nhiều doanh nghiệp
nước ngoài, miễn là có mục đích thành lập một doanh nghiệp mới.
18
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp
một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh
nghiệp mới.
 Hành vi liên doanh giữa các doanh nghiệp và hợp nhất doanh nghiệp cũng nhằm
mục đích tạo ra chủ thể pháp lý mới trên thị trường có sức mạnh kinh tế lớn hơn, song sự
khác biệt cơ bản giữa hai hành vi được thể hiện ở chỗ: đối với hành vi hợp nhất hợp nhất
doanh nghiệp, sau khi chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp để hình thành
doanh nghiệp mới thì sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất chấm đứt về mặt pháp lý.
Còn đối với hành vi liên doanh, các doanh nghiệp chỉ góp một phần tài sản, quyền, nghĩa
vụ và lợi ích hợp pháp của hình thành một doanh nghiệp mới, song các doanh nghiệp góp
vốn liên doanh vẫn tồn tại địa vị pháp lý của mình.
Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua một phần hoặc toàn bộ tài sản, cổ
phần của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối hoạt động một hoặc toàn bộ ngành
nghề của doanh nghiệp bị mua lại.
 Hành vi mua lại doanh nghiệp có sự khác biệt cơ bản với hành vi sáp nhập, hợp nhấp
hoặc liên doanh giữa các doanh nghiệp. Hành vi mua lại doanh nghiệp là việc doanh nghiệp
dùng sức mạnh tài chính để mua toàn bộ hoặc một phần tài sản, cổ phần của doanh nghiệp
khác và tài sản bị mua lại thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mua lại. sau khi mua lại
doanh nghiệp, doanh nghiệp bán tài sản không còn quyền tài sản như đối với doanh nghiệp
liên doanh, doanh nghiệp bị sáp nhập hay doanh nghiệp bị hợp nhất trong các trường hợp
liên doanh, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp mà tài sản được chuyển quyền sở hữu sang
doanh nghiệp mua lại, doanh nghiệp bị mua lại thường trở thành công ty con hoặc chi
nhánh của doanh nghiệp mua lại.
Hình dưới đây thể hiện vị trí của các quy định điều chỉnh về tập trung kinh tế trong khuôn khổ
pháp luật cạnh tranh:
19
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
Hình 2.1: Tập trung kinh tế trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh
Nguồn: cục quản lý cạnh tranh
Từ các quy định trên, có thể thấy:
20
Cạnh
tranh
không
lành
mạnh
Cạnh
tranh
không
lành
mạnh
Hạn
chế
cạnh
tranh
Hạn
chế
cạnh
tranh
LUẬT CẠNH TRANH
LUẬT CẠNH TRANH
Chỉ dẫn gây nhần lẫn
Chỉ dẫn gây nhần lẫn
Xâm phạm bí mật kinh doanh
Xâm phạm bí mật kinh doanh
Ép buộc trong kinh doanh
Ép buộc trong kinh doanh
Gièm pha doanh nghiệp khác
Gièm pha doanh nghiệp khác
Gây rối hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp khác
Gây rối hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp khác
Quảng các làm cạnh tranh không
lành mạnh
Quảng các làm cạnh tranh không
lành mạnh
Khuyến mãi nhằm cạnh tranh
không lành mạnh
Khuyến mãi nhằm cạnh tranh
không lành mạnh
Phân biệt đối xử của hiệp hội
Phân biệt đối xử của hiệp hội
Bán hàng đa cấp bất chính
Bán hàng đa cấp bất chính
Các hành vi khác
Các hành vi khác
Thảo thuận hạn chế
cạnh tranh
Thảo thuận hạn chế
cạnh tranh
Lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường. Lạm
dụng vị trí độc quyền
Lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường. Lạm
dụng vị trí độc quyền
Tập trung kinh tế
Tập trung kinh tế
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
Thứ nhất, về bản chất pháp lý, mua lại doanh nghiệp là hình thức tập trung kinh tế bằng
biện pháp thiết lập quan hệ sở hữu giữa doanh nghiệp mua lại và doanh nghiệp bị mua lại.
Việc mua lại không phải là quá trình thống nhất về tổ chức giữa hai doanh nghiệp nói trên. Sau
khi mua lại, doanh nghiệp nắm quyền sở hữu có thể thực hiện việc sáp nhập hoặc không.
Nếu thực hiện việc sáp nhập thì sự thống nhất về tổ chức là kết quả của hoạt động sáp nhập
và việc mua lại chỉ là tiền đề để có được quyết định sáp nhập. Khi các doanh nghiệp tham
gia đang hoạt động trên cùng thị trường liên quan thì việc mua lại đã làm cho quan hệ cạnh
tranh giữa họ không còn tồn tại. Các hình thức mua lại không bị coi là tập trung kinh tế bao
gồm: "Doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng mua lại doanh nghiệp khác nhằm mục đích
bán lại trong thời hạn dài nhất là 01 năm. Doanh nghiệp mua lại không thực hiện quyền
kiểm soát hoặc chi phối doanh nghiệp bị mua lại; hoặc Doanh nghiệp thực hiện quyền kiểm
soát/chi phối nhưng chỉ trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được mục đích bán lại". (Điều 35
Nghị định 116/2005)
Thứ hai, Về quyền chi phối hoặc kiểm soát doanh nghiệp bị mua lại, pháp luật cạnh tranh
quy định quyền kiểm soát hoặc chi phối được hiểu là trường hợp doanh nghiệp mua lại
dành được quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ chiếm được trên 50%
quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc ở mức mà theo quy định của
pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp mua lại chi phối
các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát nhằm thu được lợi ích
kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị kiểm soát
5
. Luật Doanh nghiệp năm 2005
không trực tiếp sử dụng thuật ngữ quyền chi phối hoặc kiểm soát doanh nghiệp khác mà sử
dụng quan hệ mẹ - con giữa các công ty để thể hiện mối quan hệ sở hữu được xác lập từ việc
mua lại hay góp vốn. Theo đó, một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
(a) Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành của công ty
đó;
(b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản
trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;
5
Điều 34 Nghị định 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 09 năm 2005.
21
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
(c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó
6
.
Về ý nghĩa pháp lý, quy định trong hai văn bản trên là tương đồng, song về căn cứ xác định
và giá trị ứng dụng lại có những khác biệt đáng kể. Luật Doanh nghiệp cơ bản dựa trên mức
vốn sở hữu hoặc giá trị quyền quyết định đến bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp
trong khi Luật Cạnh tranh đã quy đổi mức sở hữu thành giá trị của quyền biểu quyết trong bộ
máy quản lý để xác định. Mặt khác, Luật Doanh nghiệp còn sử dụng quyền quyết định đến
việc sửa đổi, bổ sung điều lệ làm một trong những trường hợp xác lập quan hệ mẹ - con, trong
khi Luật Cạnh tranh sử dụng quyền chi phối các chính sách tài chính, hoạt động của doanh
nghiệp bị mua lại làm căn cứ xác định.
Hành vi liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau
góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một
doanh nghiệp mới
7
. Liên doanh là dạng liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua việc cùng
tham gia thành lập một doanh nghiệp mới. Nói cách khác, sự tồn tại của doanh nghiệp mới tạo
nên mối liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia. Xét về bản chất, hoạt động liên doanh đồng
nghĩa với hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp,
Luật Hợp tác xã, Luật các Tổ chức tín dụng và Luật Đầu tư. Thế nên, ngoài các quy định của
Luật Cạnh tranh, hoạt động liên doanh còn chịu sự điều chỉnh bởi các quy định về đăng ký kinh
doanh, về thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư trong các văn bản nói trên.
1.2. Các ngưỡng gây hạn chế cạnh tranh của tập trung kinh tế.
Luật Cạnh tranh sử dụng thị phần làm cơ sở phân loại nhóm tập trung kinh tế và là tiêu chí
duy nhất để xác định cách thức xử lý. Những trường hợp tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp
của các doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan luôn làm hạn chế
cạnh tranh. Theo đó, việc tập trung kinh tế đã hình thành một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh
nghiệp nắm giữ đa số thị phần trên thị trường liên quan và làm cho các doanh nghiệp còn lại chỉ
là thiểu số trên thị trường. Điều này cho thấy sự thay đổi cơ bản, đột ngột trong tương quan
cạnh tranh và cấu trúc cạnh tranh trên thị trường. Do đó, những trường hợp trên luôn bị coi là
làm giảm, làm cản trở và sai lệch cạnh tranh một cách đáng kể. Đối với những trường hợp này,
doanh nghiệp bị cấm thực hiện tập trung kinh tế, trừ khi nếu doanh nghiệp sau khi thực hiện
tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật và có
6
Khoản 15 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005
7
Khoản 4 điều 17 Luật Cạnh tranh năm 2004
22
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
thể được xem xét miễn trừ:
(i) Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm
vào tình trạng phá sản (thẩm quyền xem xét quyết định thuộc về Bộ trưởng Bộ Thương mại -
nay là Bộ Công thương);
(ii) Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế
- xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ. (Do Thủ tướng Chính phủ quyết định) (điều 18, 19, 25
Luật Cạnh tranh).
Khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia chỉ chiếm dưới 30% trên thị trường
liên quan thì sự tập trung kinh tế chưa có khả năng tạo ra vị trí thống lĩnh cho doanh nghiệp
hình thành sau khi tập trung. Lúc này, việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh chỉ là các
biện pháp cơ cấu lại kinh doanh hoặc đầu tư vốn bình thường nên chưa chứa đựng những
nguy cơ đe dọa đến trật tự cạnh tranh trên thị trường.
Việc sử dụng yếu tố thị phần kết hợp
8
làm căn cứ để kiểm soát tập trung kinh tế cho thấy
Luật Cạnh tranh của Việt Nam chỉ kiểm soát các trường hợp tập trung kinh tế theo chiều
ngang. Vì vậy, việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh giữa các doanh nghiệp không
cùng thị trường liên quan thì không chịu sự kiểm soát của Luật Cạnh tranh.
Bên cạnh Luật Cạnh tranh, các văn bản luật khác cũng có những quy định liên quan đến tập
trung kinh tế như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật các Tổ chức tín dụng, Luật Chứng
khoán được tóm lược ở dưới đây.
1.3. Thủ tục thông báo tập trung kinh tế.
Luật Cạnh tranh quy định về thủ tục thông báo (từ Điều 20 đến Điều 26) trong đó đề cập
đến những vấn đề sau đây:
8
Khoản 6 điều 3 Luật cạnh tranh quy định: thị phần kết hợp là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các doanh
nghiệp tham gia vào tập trung kinh tế.
23
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
- Đối tượng áp dụng: Các trường hợp tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của các doanh
nghiệp tham gia chiếm từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp doanh
nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Trách nhiệm của các doanh nghiệp có liên quan: Các doanh nghiệp tham gia tập trung
kinh tế phải làm hồ sơ thông báo tập trung kinh tế theo điều 21 Luật Cạnh tranh để nộp cho cơ
quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về tính trung thực của hồ sơ. Hồ sơ thông báo việc
tập trung kinh tế cung cấp những thông tin cần thiết về tài chính, về sản phẩm, về thì phần của
doanh nghiệp trên thị trường liên quan trong hai năm liên tiếp gần nhất… làm cơ sở để cơ quan
có thẩm quyền phân tích, đánh giá vụ việc.
- Thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh: Cơ quan quản lý cạnh tranh có quyền kiểm
soát tập trung kinh tế bằng việc xem xét hồ sơ thông báo và trả lời thông báo tập trung kinh tế.
Nội dung trả lời thông báo tập trung kinh tế phải xác định tập trung kinh tế thuộc một
trong hai trường hợp sau:
(i) Tập trung kinh tế không thuộc trường hợp bị cấm; hoặc
(ii) Tập trung kinh tế bị cấm theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, lý do cấm
phải được nêu rõ trong văn bản trả lời.
- Quan hệ giữa thủ tục thông báo và các thủ tục khác có liên quan đến tập trung kinh tế.
Ngoài thủ tục thông báo, tùy từng hình thức tập trung kinh tế mà các doanh nghiệp tham gia có
thể phải thực hiện các thủ tục khác nếu được tiến hành tập trung kinh tế. Đối với hình thức
sáp nhập, hợp nhất, doanh nghiệp phải thực hiện thêm thủ tục tổ chức lại theo pháp luật về
doanh nghiệp; mua lại doanh nghiệp cần tiến hành thủ tục chuyển nhượng vốn, chuyển
nhượng cổ phần,…; hình thức liên doanh cần thực hiện việc đăng ký kinh doanh hoặc thủ tục đăng
ký đầu tư, thẩm tra đầu tư để thành lập doanh nghiệp mới theo pháp luật về doanh nghiệp hoặc
luật đầu tư. Về thời gian giữa thủ tục thông báo theo Luật Cạnh tranh và các thủ tục có liên quan
nói trên, thủ tục thông báo phải được thực hiện trước. Các doanh nghiệp chỉ được các thủ tục
khác sau khi cơ quan quản lý cạnh tranh trả lời bằng văn bản khẳng định việc tập trung kinh
24
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
tế không thuộc trường hợp bị cấm.
- Quy định về thời hạn trả lời thông báo tập trung kinh tế: 45 ngày kể từ ngày nhận được
đầy đủ hồ sơ, có thể gia hạn trong những trường hợp có nhiều tình tiết phức tạp theo quyết
định của thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh. Việc gia hạn không quá 02 lần, mỗi lần
không quá 30 ngày.
- Trách nhiệm đảm bảo tính trung thực của hồ sơ: Các doanh nghiệp nộp hồ sơ chịu trách
nhiệm này.
- Mẫu hồ sơ, giấy tờ ban hành kèm Quyết định 17/QĐ-QLCT của Cục QLCT về việc ban
hành một số mẫu giấy tờ theo quy định của Luật Cạnh tranh ban hành ngày 04/07/2006
(xem Phụ lục 1).
Quy trình và thủ tục xem xét miễn trừ đối với các vụ việc tập trung kinh tế được minh họa
như trong sơ đồ sau:
Hình 2.2: Thủ tục xem xét miễn trừ
25
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp
Chưa
đầy
đủ
hợp
lệ
Chưa
đầy
đủ
hợp
lệ
Hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ
Hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ
Cơ quan cạnh tranh
Cơ quan cạnh tranh
Các bên liên quan
Các bên liên quan
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp
Trả lời bằng văn bản
Trả lời bằng văn bản
Yêu cầu cung cấp thông
tin
Yêu cầu cung cấp thông
tin
Đầy
đủ
hợp
lệ
Đầy
đủ
hợp
lệ
Hồ sơ hợp lệ đầy đủ
Hồ sơ hợp lệ đầy đủ
Cơ quan cạnh tranh
Cơ quan cạnh tranh
Bộ trưởng Bộ thương
Bộ trưởng Bộ thương
Bộ trưởng Bộ thương
Bộ trưởng Bộ thương
Xin ý
kiến
các cơ
quan
liên
quan
Xin ý
kiến
các cơ
quan
liên
quan
Thủ tướng Chính phủ
Thủ tướng Chính phủ
Quyết định miễn trừ
Quyết định miễn trừ
Quyết định miễn trừ
Quyết định miễn trừ
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp
Thực hiện tập trung kinh tế(trường
hợp không bị cấm)
Thực hiện tập trung kinh tế(trường
hợp không bị cấm)
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
Nguồn: cục quản lý cạnh tranh.
1.4. Chế tài.
Việc xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế (tiến hành tập trung kinh tế trong những
trường hợp bị cấm hoặc tập trung kinh tế mà không thông báo khi thuộc những trường hợp phải
thông báo) được thực hiện theo quy trình tố tụng cạnh tranh, trong đó cơ quan quản lý cạnh
tranh có chức năng điều tra vụ việc và Hội đồng cạnh tranh có thẩm quyền xử lý hành vi vi
phạm bằng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính theo các quy định của Luật Cạnh
26
KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
tranh và Nghị định 120/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 09 năm 2005 về xử lý vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.
Các biện pháp xử phạt bao gồm: phạt tiền tùy theo hành vi vi phạm và mức độ nghiêm
trọng của hành vi. Theo đó, phạt tiền đến 5% tổng doanh thu trong năm tài chính trước khi tiến
hành tập trung kinh tế đối với sáp nhập, hợp nhất, mua lại liên doanh bị cấm; phạt tiền từ 5%
đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước khi tiến hành tập trung kinh tế đối với sáp
nhập, mua lại bị cấm trong trường hợp có dấu hiệu chèn ép, buộc doanh nghiệp khác phải
sáp nhập hoặc bán toàn bộ hoặc một phần tài sản; phạt tiền từ 5% đến 10% tổng doanh thu
trong năm tài chính trước khi tiến hành tập trung kinh tế đối với hợp nhất, liên doanh bị cấm
trong trường hợp làm tăng giá hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan một cách đáng kể;
phạt tiền từ 1% đến 3% tổng doanh thu trong năm tài chính trước khi tiến hành tập trung kinh
tế trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thông báo theo quy định của Luật Cạnh tranh.
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể bị buộc thực hiện chia tách các doanh nghiệp đã sáp nhập,
hợp nhất; bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bị buộc phải bán tài sản đã mua…
(Điều 25 đến điều 29 Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 09 năm 2005 về xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh).
2. Cơ quan quản lý.
Theo pháp luật cạnh tranh và pháp luật doanh nghiệp, việc kiểm soát các hành vi nhập, hợp
nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp có sự tham gia của các cơ quan là:
(i) Cơ quan quản lý cạnh tranh
9
có chức năng: Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế;
Thẩm định hồ sơ thông báo, hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ tập trung kinh tế; Thụ lý, tổ chức
điều tra vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh (gồm cả tập trung kinh tế) ;
(ii) Hội đồng cạnh tranh
10
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật như thực hiện tập trung
9
Cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh là Cục Quản lý Canh tranh được thành lập theo Nghị Định 06/2006/NĐ-
CP ngày 09/01/2006.
10
Hội đồng Cạnh tranh được thành lập theo Nghị Định 05/2006?NĐ-CP ngày 09/01/2006. Ngày 12/06/2006 theo đề
nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 843/2006/QĐ-TTg bổ nhiệm các
thành viên của Hội đồng Cạnh tranh. Chủ Tịch Hội đồng Cạnh tranh là ông Phan Thế Ruệ nguyên Thứ trưởng Bộ
Thương mại; 2 phó Chủ Tịch là các ông Đình Trung Tụng Thứ trưởng Bộ Tư pháp và Trương Chí Trung Thứ
Trưởng Bộ Tài chính cùng 8 vị Ủy viên Hội đồng. ngày 8/8/2008 Thủ tướng Chính phủ kí Quyết định số 1076/QĐ-
TTg cử ông Lê Danh Vĩnh Thứ trưởng Bộ Công thương kiêm nhiệm chức Chủ Tịch Hội đồng Cạnh tranh thay cho
27

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×