Tải bản đầy đủ

Bài giảng tâm lý học sư phạm phần 1


TRANG 1











BÀI GIẢNG

TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM














TRANG 2

MỤC TIÊU MÔN HỌC

Sau khi học xong môn học này, sinh viên có khả năng:

1. Hiểu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh học nghề, cơ sở tâm lý học của
việc tổ chức hoạt động dạy và học, phẩm chất và năng lực cơ bản của người
giáo viên.
2. Hiểu được cơ sở tâm lý học của việc tổ chức quá trình lao động hợp lý và
những vấn đề cơ bản của hoạt động dạy nghề.
3. Bước đầu vận dụng những hiểu biết trên vào hoạt động giảng dạy tại các
trường dạy nghề.


TRANG 3

MỤC LỤC

PHẦN I. TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI 4
CHƯƠNG I. NHẬP MÔN TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ 4
TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM 4
1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÂM LÝ HỌC LỨA
TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM 4
2. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TÂM LÝ HỌC
LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM 6
3. MỐI QUAN HỆ GIỮA TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI, TÂM LÝHỌC 13
4. Ý NGHĨA CỦA TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM 14
5. LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ THEO LỨA TUỔI 15
CÂU HỎI ÔN TẬP 31
CHƯƠNG II. TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI HỌC SINH 32
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 32


1. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ LỨA TUỔI HỌC
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 32
2. SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 35
3. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH CHỦ YỂU CỦA LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG 38
CÂU HỎI ÔN TẬP 43
CHƯƠNG III. TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI SINH VIÊN 44
1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN ẢHH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CỦA LỨA TUÔI
SINH VIÊN 44
2. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CƠ BẢN CỦA LỨA TUỔI SINH VIÊN 48
3. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH CHỦ YẾU CỦA LỨA TUỔI SINH VIÊN 52
CÂU HỎI ÔN TẬP 61
PHẦN II. TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG I. TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC Error! Bookmark not defined.
1. BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC Error! Bookmark not defined.
2. HÌNH THÀNH HOẠT ĐỘNG HỌC Error! Bookmark not defined.
3. CƠ SỞ TÂM LÝ HỌC CỦA VIỆC LĨNH HỘI TRI THỨC, CÁC PHƯƠNG THỨC
HÀNH ĐỘNG VÀ PHƯƠNG THỨC TƯ DUY Error! Bookmark not defined.
CÂU HỎI ÔN TẬP Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG II. TÂM LÝ HỌC NHÂN CÁCH NGƯỜI GIÁO VIÊN Error! Bookmark not
defined.
1. ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG CỦA NGHỀ DẠY HỌC Error! Bookmark not defined.
2. CẤU TRÚC NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN Error! Bookmark not defined.
3. MỘT SỐ PHẨM CHẤT NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN Error! Bookmark not
defined.
4. NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN Error! Bookmark not defined.
5. UY TÍN CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN Error! Bookmark not defined.
6. CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI GIÁO
VIÊN Error! Bookmark not defined.
CÂU HỎI ÔN TẬP Error! Bookmark not defined.

TRANG 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.

PHẦN I. TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI

CHƯƠNG I. NHẬP MÔN TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ
TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM

Trong hệ thống các khoa học sư phạm, cùng với Tâm lý học đại cương, Tâm
lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm là hai chuyên ngành tâm lý học trực tiếp góp
phần hình thành quan điểm sư phạm và bồi dưỡng trình độ kỹ năng nghiệp vụ sư
phạm cho sinh viên các trường sư phạm cũng như các trường có khoa sư phạm. Hai
chuyên ngành tâm lý học này gắn bó mật thiết với nhau, trong đó Tâm lý học lứa
tuổi (nay còn gọi là Tâm lý học phát triển) là cơ sở không thể thiếu được của Tâm lý
học sư phạm. Chính vì vậy, nhà giáo dục Nga K.D.Usinxki đã viết: “Các bạn hãy
nghiên cứu những quy luật của các hiện tượng tâm lý mà các bạn muốn điều khiển,
các bạn hãy hành động căn cứ trên những quy luật này và những hoàn cảnh mà các
bạn muốn vận dụng những quy luật này vào đó”
1
.
1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÂM LÝ
HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM
Trong lịch sử các khoa học về con người, Tâm lý học trở thành một khoa học
độc lập, tách ra khỏi Triết học từ năm 1879. Cũng từ đó, Tâm lý học lứa tuổi và Tâm
lý học sư phạm ra đời gắn liền với sự thâm nhập của các tư tưởng di truyền học.
Cùng với học thuyết tiến hóa, những thành tựu trong việc nghiên cứu hoạt động
phản xạ của con người do I.M.Xêtrênôp tiến hành đã khẳng định mối liên hệ qua lại
giữa các hiện tượng tâm lý và sinh lý, chỉ ra sự phát triển tâm lý gắn liền với cơ sở
sinh lý thần kinh và não bộ con người. Có thể nói, tư tưởng của S.Darwin,
I.M.Xêtrênôp đã góp phần làm rõ vấn đề về nguồn gốc phát triển tâm lý con người;

1
K.D.Usinxki. Tuyển tập. tập 8. Nhà xuất bản viện khoa học giáo dục nước cộng hòa liên bang Nga. 1950. trang 55 (tiếng
Nga).

TRANG 5

các con đường, quy luật, điều kiện và động lực của sự phát triển tâm lý; vai trò của
dạy học, giáo dục đối với sự hình thành và phát triển tâm lý con người, qua đó góp
phần thúc đẩy hai chuyên ngành Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm tại thời
điểm lúc đó phát triển mạnh mẽ hơn.
Cùng với những thành tựu trên, các công trình nghiên cứu dựa trên sự tích lũy
và tổng kết kinh nghiệm của những quan sát về sự phát triển tâm lý trẻ em và tâm lý
học giáo dục trẻ đã đặt nền móng cơ sở thực tiễn cho Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý
học sư phạm lúc bấy giờ. Những kết quả nghiên cứu trong Tâm lý học đại cương
như Quy luật tâm lý của Weber và Feisner, nghiên cứu Trí nhớ của Ebbinhauz,
nghiên cứu cảm giác và vận động trong tâm lý học của W.Wundt bắt đầu thâm
nhập vào Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm. Ngoài ra, những tác phẩm đầu
tiên về Tâm lý học sư phạm như Tâm lý học sư phạm của nhà giáo dục, nhà tâm lý
học Nga P.P.Karterev, Nói chuyện với các giáo viên về Tâm lý học của nhà tâm lý
học Mỹ W.James đã mở ra triển vọng cho sự phát triển của chuyên ngành này.
Năm 1906, ở Nga đã tổ chức Hội nghị Tâm lý học sư phạm lần thứ nhất tại
Peterburg. Tại hội nghị này, người ta kịch liệt phê phán tính lý luận sáo rỗng trong
Tâm lý học sư phạm và khẳng định phải có nghiên cứu thực nghiệm về Tâm lý học
lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm. Các nhà tâm lý học và giáo dục học cũng cho rắng,
cần phải chỉ ra nguồn gốc phát triển tâm lý trong quan hệ của nó với quá trình dạy
học.
Trong lịch sử hình thành và phát triển của Tâm lý học sư phạm và Tâm lý học
lứa tuổi phải kể đến sự ra đời của trường phái Nhi đồng học vào cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX. Trường phái này là sự kết hợp máy móc những quan điểm Tâm lý học,
Sinh lý học, Sinh vật học về sự phát triển tâm lý của trẻ em. Ở Liên Xô vào những
năm 20-30 của thế kỷ XX, trường phái Nhi đồng học có tham vọng giữ vai trò của
khoa học duy nhất macxit về trẻ em, coi sự tác động của hai nhân tố là môi trường
và di truyền quyết định trực tiếp sự phát triển tâm lý trẻ em. Họ coi Tâm lý học là
khoa học về các yếu tố chủ quan, còn Giáo dục học là kinh nghiệm chủ nghĩa.
Những quan điểm trên của trường phái Nhi đồng học đã có ảnh hưởng không tốt tới
Tâm lý học, Giáo dục học và hoạt động giảng dạy trong nhà trường nói chung. Điều

TRANG 6

này đã được nêu lên trong các phê phán có tính nguyên tắc nhiều luận điểm của
trường phái Nhi đồng học.
Quan điểm đúng đắn của N.K.Crupxcaia, A.X.Macarencô đã đặt cơ sở cho
việc nghiên cứu các vấn đề hình thành, phát triển nhân cách trẻ em trong giáo dục và
hoạt động tập thể. A.X.Macarencô đã khẳng định: “Nhà giáo dục hiểu biết học sinh
không phải trong quá trình nghiên cứu học sinh một cách thờ ơ mà trong chính quá
trình cùng làm việc với học sinh và trong chính sự giúp đỡ học sinh một cách tích
cực. Nhà giáo dục phải xem xét học sinh không phải như là đối tượng nghiên cứu,
mà là đối tượng giáo dục”
1
.
Lý luận về sự phát triển các chức năng tâm lý bậc cao của L.X.Vưgôtxki có ý
nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học
sư phạm. Ông cho rằng: “Mọi chức năng trong sự phát triển văn hóa của trẻ được
bộ lộ hai lần, trong hai phương diện: lần đầu tiên trong phương diện xã hội, sau đó
là phương diện tâm lý, đầu tiên giữa người này với người kia như là một phạm trù
tâm giao, rồi đến bên trong trẻ như một phạm trù tâm lý”
2
. Luận điểm này của
L.X.Vưgôtxki đã được các nhà tâm lý học thừa nhận và cụ thể hóa trong các công
trình nghiên cứu lý luận và thực nghiệm, góp phần xây dựng và phát triển Tâm lý
học lứa tuổi, Tâm lý học sư phạm có kết quả.
Sự trưởng thành của Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sự phạm gắn liền với
tên tuổi của nhiều nhà tâm lý học ở nhiều nước, đặc biệt là các nhà tâm lý học như
A.N.Lêônchiev, Đ.B.Encônhin, A.A.Liublinxcaia, J.Bruner, J.Piaget, H.Wallon,
P.Janet Ngày nay, Tâm lý học lứa tuổi được nghiên cứu với những quan điểm mới
về tâm lý học phát triển, nghiên cứu sự hình thành con người từ trong bào thai cho
đến suốt cuộc đời, gắn liền với nền văn hóa xã hội lịch sử và các tiến bộ xã hội của
nền văn minh nhân loại, của giáo dục hiện đại.


1
A.X.Macarencô. Toàn tập. Tập V. Trang 91 (Tiếng Nga)

2
L.X.Vưgôtxki. Sự phát triển chức năng tâm lý bậc cao. Tiếng Nga. M. 1960. Trang 197-198

TRANG 7

2. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TÂM
LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM
2.1. Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm là hai lĩnh vực tâm lý học gắn bó
chặt chẽ với nhau trong hoạt động sư phạm, hoạt động giáo dục. Đây là hai chuyên
ngành cơ bản, phát triển sớm nhất của khoa học tâm lý. Chúng có đối tượng nghiên
cứu xác định mặc dù chúng có chung khách thể là con người trong sự phát triển tâm
lý ở các giai đoạn phát triển của nó.
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học lứa tuổi
Tâm lý học lứa tuổi là khoa học nghiên cứu những đặc điểm tâm lý, các quy luật,
các điều kiện, động lực phát triển tâm lý theo lứa tuổi, những biến đổi của các quá
trình tâm lý, các phẩm chất tâm lý trong sự hình thành, phát triển nhân cách con
người.
Tâm lý học lứa tuổi không chỉ chú ý nghiên cứu đặc điểm tâm lý của cá nhân ở
các lứa tuổi khác nhau, các đặc điểm khác biệt về tâm lý con người trong phạm vi
cùng một lứa tuổi mà còn nghiên cứu khả năng lứa tuổi trong việc lĩnh hội tri thức,
phương thức hành động, các dạng hoạt động khác nhau của cá nhân đang được phát
triển. Các dấu hiệu đặc trưng cho sự phát triển tâm lý con người từ việc nảy sinh cái
mới, sự chuyển biến từ những phản ứng đơn giản đến những hành động phức tạp, từ
việc nắm ngôn ngữ đến sự hình thành ý thức, tự ý thức nhân cách của con người là
những cứ liệu để từ đó rút ra những đặc điểm tâm lý theo các giai đoạn lứa tuổi khác
nhau và rút ra những quy luật cơ bản về sự phát triển tâm lý con người.
Tâm lý học lứa tuổi bao gồm nhiều lĩnh vực nghiên cứu cụ thể với tư cách là
phân ngành của Tâm lý học phát triển. Cụ thể:
- Tâm lý học về đời sống thai nhi trọng bụng mẹ.
- Tâm lý học tuổi hài nhi.
- Tâm lý học tuổi mầm non.
- Tâm lý học lứa tuổi học sinh tiểu học.
- Tâm lý học lứa tuổi học sinh trung học cơ sở.
- Tâm lý học lứa tuổi học sinh trung học phổ thông.

TRANG 8

- Tâm lý học lứa tuổi sinh viên.
- Tâm lý học người trưởng thành.
- Tâm lý học người già.
- Tâm lý học trẻ em phát triển không bình thường (phát triển sớm hoặc chậm
phát triển ).
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học sư phạm
Tâm lý học sư phạm nghiên cứu các đặc điểm tâm lý, các quy luật tâm lý của
việc dạy học và giáo dục, nghiên cứu cơ sở tâm lý của quá trình lĩnh hội tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo, các phẩm chất trí tuệ và nhân cách người học. Đồng thời, tâm lý học
sư phạm cũng nghiên cứu các yếu tố tâm lý về phía người làm công tác giáo dục,
những vấn đề tâm lý của mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh cũng như quan hệ
qua lại giữa học sinh với nhau.
Ngoài ra, việc vạch ra nội dung tâm lý, cơ sở tâm lý của quá trình dạy học và
giáo dục của Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm còn tạo ra cơ sở khoa học cho việc xác
định nguyên tắc, hệ thống phương pháp, biện pháp tiến hành điều khiển quá trình
dạy học, giáo dục nhằm hình thành và phát triển trí tuệ, nhân cách người học tới mức
cao nhất, đem lại hiệu quả trong dạy học và giáo dục.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
2.2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu của Tâm lý học lứa tuổi
- Tâm lý học lứa tuổi chỉ ra các đặc điểm tâm lý của con người được hình thành
và phát triển trong từng giai đoạn lứa tuổi và trong suốt cuộc đời, những quy
luật hình thành và biểu hiện tâm lý của con người trong mỗi giai đoạn phát
triển tâm lý, chỉ ra các điều kiện, động lực của sự phát triển tâm lý.
- Tâm lý học lứa tuổi cung cấp cơ sở tâm lý lứa tuổi của việc vận dụng các
nguyên tắc, phương pháp, biện pháp dạy học và giáo dục phù hợp với đặc
điểm và quy luật tâm lý lứa tuổi, tổ chức hợp lý quá trình sư phạm nhằm mục
đích nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học và giáo dục.
- Tâm lý học lứa tuổi không những cung cấp cơ sở tâm lý cho giáo viên trong
hoạt động sư phạm mà còn giúp giáo viên, các nhà giáo dục có phương pháp
đối xử khéo léo với đồng nghiệp, học sinh và tự rèn luyện, tự hoàn thiện bản
thân.

TRANG 9

2.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của Tâm lý học sư phạm
Nhiệm vụ chung của Tâm lý học sư phạm là dựa trên những thành tựu của
Tâm lý học đại cương, Tâm lý học lứa tuổi để vạch ra cơ sở tâm lý học sư phạm cho
hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục và việc rèn luyện các phẩm chất, năng lực
cần thiết của người giáo viên. Cụ thể là:
- Chỉ ra các quy luật tâm lý của việc dạy học và giáo dục.
- Nghiên cứu những vấn đề tâm lý học của việc hình thành tri thức khoa học,
hình thành và phát triển kỹ năng, kỹ xảo và các phẩm chất đạo đức, nhân cách
của học sinh.
- Chỉ ra cơ sở tâm lý của việc điều khiển quá trình dạy học và giáo dục, tổ chức
họat động cho học sinh ở trên lớp và ngoài giờ học cũng như xây dựng mối
quan hệ giữa giáo viên với học sinh, giữa các học sinh với nhau, giữa nhà
trường với gia đình và các lực lượng giáo dục khác.
- Tâm lý học sư phạm nghiên cứu đặc trưng lao động sư phạm của giáo viên, hệ
thống phẩm chất, năng lực của người giáo viên, việc tự rèn luyện và hoàn
thiện nhân cách, năng lực nghề nghiệp của người giáo viên.
2.3. Phương pháp nghiên cứu của Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
Để nghiên cứu các đặc điểm tâm lý và sự phát triển tâm lý của con người
trong cuộc sống, trong dạy học và giáo dục cần phải sử dụng đồng bộ nhiều phương
pháp nghiên cứu khác nhau của khoa học tâm lý. Các phương pháp nghiên cứu của
Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm không nằm ngoài các phương pháp
nghiên cứu nói chung của Tâm lý học, trong đó có các phương pháp nghiên cứu cơ
bản sau:
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
- Phương pháp trắc nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Các phương pháp điều tra viết.
- Phương pháp trò chuyện.
-

TRANG 10
Trong các phương pháp trên, phương pháp nghiên cứu cơ bản của Tâm lý học
lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm là phương pháp quan sát và phương pháp thực
nghiệm.
2.3.1. Phương pháp quan sát.
Xuất phát từ việc những biểu hiện tâm lý của con người thường được thể hiện
qua lời nói, cử chỉ, hành vi và hoạt động nên trong Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý
học sư phạm quan sát được coi là phương pháp nghiên cứu cơ bản, đầu tiên.
Quan sát là quá trình tri giác, theo dõi có mục đích, có kế hoạch sự nảy sinh,
diễn biến và thể hiện tâm lý của trẻ qua hành vi bên ngoài trong điều kiên tự nhiên.
Nhà nghiên cứu cần ghi lại một cách nghiêm túc, khách quan những sự kiện thu
được. Kết quả quan sát tùy thuộc vào việc xác định rõ ràng mục đích, nội dung quan
sát và chuẩn bị chu đáo về mọi mặt cho sự quan sát.
Cần tổ chức việc quan sát đáp ứng được các yêu cầu và các nguyên tắc cơ bản
sau đây:
- Quan sát những biểu hiện tâm lý của học sinh trong điều kiện tự nhiên của
cuộc sống, nhất là trong hoạt động vui chơi, học tập, lao động và quan hệ giao
tiếp. Việc sử dụng kết quả của phương pháp quan sát không chỉ để giáo dục
học sinh mà quan trọng hơn là chính trong quá trình dạy học và giáo dục học
sinh, giáo viên vừa giáo dục, vừa nghiên cứu, vùa nghiên cứu vừa giáo dục,
hướng học sinh vào vùng phát triển gần nhất.
- Cần quan sát một cách có hệ thống xuất phát từ nguyên tắc về tính toàn vẹn
của nhân cách. Xem xét những biểu hiện tâm lý cụ thể của học sinh trong
những hoàn cảnh cụ thể, riêng biệt của nhân cách đang phát triển cũng như
những biểu hiện tâm lý cụ thể trong mối quan hệ với các mặt khác của nhân
cách.
- Quan sát phải đảm bảo tính khách quan. Việc ghi chép và rút ra những nhận
xét thu được từ những sự kiện quan sát được cần đảm bảo tính khách quan và
thận trọng, cần xác định những nguyên nhân gây ra những sự kiện quan sát
được, dự đoán xu thế biến đổi của chúng. Chẳng hạn, nhà tâm lý học người
Đức V.Stern đã dùng nhật ký quan sát về trẻ em để xây dựng giả thuyết của
mình về những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ. Hay

TRANG 11
nhà tâm lý học Thụy Sỹ J.Piaget dựa trên những tài liệu quan sát trẻ em, trong
đó có ba người con của ông để nêu lên sự phân chia các giai đoạn phát triển trí
tuệ của trẻ
Phương pháp quan sát có các ưu điểm sau:Tiến hành nhanh; Khâu chuẩn bị
không mất nhiều thời gian; Tài liệu thu được trực quan, đa dạng về tâm lý con
người song phương pháp này chỉ cho biết nhữn biểu hiện tâm lý ra hành vi bên
ngoài, nhà nghiên cứu khó hiểu chúng một cách chính xác, các tài liệu quan sát chỉ
được ghi lại dưới hình thức miêu tả. Vì vậy, khi sử dụng phương pháp quan sát, nhà
nghiên cứu phải phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác để nghiên cứu tâm lý
con người. Có như vậy, phương pháp quan sát mới có hiệu quả cao.
2.3.2. Phương pháp thực nghiệm
Trong Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, phương pháp thực nghiệm
có vai trò đặc biệt quan trọng.
Thực nghiệm là quá trình tác động vào con người một cách chủ động trong
những điều kiện đã được khống chế để gây ra ở đối tượng những biểu hiện cần
nghiên cứu một cách khách quan.
Trong Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, người ta thường sử dụng
các hình thức thực nghiệm tự nhiên và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm.
Thực nghiệm tự nhiên là loại thực nghiệm được diễn ra trong điều kiện bình
thường của cuộc sống, trong đó nhà nghiên cứu có thể chủ động gây ra các nhân tố
tác động thực nghiệm giúp cho việc khai thác, tìm hiểu các nội dung cần thực
nghiệm. Tùy theo mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, người ta chia thực nghiệm tự
nhiên thành thực nghiệm tự nhiên nhận định (nêu lên thực trạng của vấn đề nghiên
cứu ở một thời điểm cụ thể) và thực nghiệm tự nhiên hình thành còn gọi là thực
nghiệm giáo dục (nhà nghiên cứu chủ động tiến hành các tác động giáo dục nhằm
hình thành một số phẩm chất tâm lý nào đó ở người được thực nghiệm).
Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm là loại thực nghiệm được tiến hành dưới
điều kiện khống chế một cách nghiêm khắc các ảnh hưởng bên ngoài. Người làm thí
nghiệm tự tạo ra các điều kiện làm nảy sinh hay phát triển một nội dung tâm lý cần
nghiên cứu. Vì thế có thể tiến hành nghiên cứu tương đối chủ động hơn so với quan
sát và thực nghiệm tự nhiên.

TRANG 12
Tuy nhiên, dù thực nghiệm được tiến hành trong phòng thí nghiệm hay trong
điều kiện tự nhiên cũng khó có thể khống chế hoàn toàn ảnh hưởng của các yếu tố
chủ quan của người bị thực nghiệm, vì thế phải tiến hành thực nghiệm một số lần và
phối kết hợp đồng bộ với nhiều phương pháp nghiên cứu khác.
2.3.3. Phương pháp trắc nghiệm tâm lý (test)
Trong Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, người ta thường dùng test
để đo nghiệm các mức độ, trình độ phát triển tâm lý của con người.
Test là một phép đo luờng tâm lý đã được chuẩn hóa trên một số lượng người
đủ là đại diện tiêu biểu.
Khoa học tâm lý đã sử dụng một số test về trí tuệ, năng lực, nhân cách như:
- Test đo khả năng tâm vận động (Test Denver).
- Các test về trí tuệ: Gille, Binet-Simon, Wechsler, Raven
- Test về nhân cách: Eysenck, Murray, Rorschach
Test tâm lý có ưu điểm là đo trực tiếp các biểu hiện tâm lý qua việc giải các
bài test, tiến hành nhanh, đảm bảo lượng hóa, chuẩn hóa việc đo đạc. Song test tâm
lý chỉ cho biết kết quả, ít bộc lộ quá trình suy nghĩ của nghiệm thể để đi đến kết quả.
Test đòi hỏi phải chuẩn bị công phu, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật của một bộ test.
Vì vậy, cần sử dụng test như là một trong những phương pháp chẩn đoán tâm lý con
người ở một thời điểm nhất định.
2.3.4. Phương pháp điều tra
Là phương pháp dùng một số câu hỏi nhất loạt đặt ra cho một số lớn đối tượng
nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào đó, có thể trả
lời viết (thường là như vậy), nhưng cũng có thể trả lời miệng và có người ghi lại.
Câu hỏi dùng dể điều tra có thể là câu hỏi đóng (có nhiều đáp ánh sẵn để đối
tượng lựa chọn) hay câu hỏi mở để họ tự trả lời để điều tra thăm dò chung hau điều
tra chuyên đề đi sâu vào một khía cạnh.
Dùng phương pháp quan sát có thể trong một thời gian ngắn thu thập được
một số ý kiến lớn nhưng là ý kiến chủ quan. Để có tài liệu tương đối chính xác, cần
soạn kỹ bản hướng dẫn điều tra viên (người sẽ phổ biến bản câu hỏi cho các đối
tượng). Có như vậy, kết quả thu được sẽ có giá trị khoa học cao.
2.3.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

TRANG 13
Đây là phương pháp dựa vào các kết quả, sản phẩm (vật chất hay tinh thần)
của hoạt động do con người làm ra để nghiên cứu các chức năng tâm lý của con
người, bởi vì trong sản phẩm do con người làm ra có chứa đựng dấu vết tâm lý, ý
thức, nhân cách của con người.
Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp này cần chú ý tới các kết quả hoạt động
và các kết quả hoạt động này phải được xem xét trong mối liên hệ với những điều
kiện tiến hành hoạt động.
2.3.6. Phương pháp đàm thoại ( trò chuyện)
Đây là phương pháp đặt ra các câu hỏi cho đối tượng và dựa vào trả lời của họ
để trao đổi, hỏi thêm nhằm thu thập thông tin về vấn đề cần nghiên cứu.
Phương pháp đàm thoại có thể tiến hành trực tiếp hay gián tiếp tùy sự liên
quan của đối tượng với điều ta cần biết. Có thể đặt câu hỏi thẳng hay hỏi đường
vòng.
Muốn phương pháp đàm thoại có kết quả tốt, nhà nghiên cứu nên:
1. Xác định rõ mục đích, yêu cầu (vấn đề cần tìm hiểu).
2. Tìm hiểu trước một số đặc điểm về đối tượng đàm thoại.
3. Có kế hoạch trước để điều chỉnh câu chuyện theo mục đích đã dự định.
4. Nên linh hoạt trong việc điều chỉnh để câu chuyện vẫn giữ được lôgic, vừa
đáp ứng được yêu cầu của người nghiên cứu.
Trên đây là một số phương pháp cơ bản thường được dùng trong nghiên cứu
của Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm. Mỗi phương pháp nghiên cứu đều
có ưu điểm và hạn chế của nó, vì vậy muốn nghiên cứu chức năng tâm lý nào đó một
cách khách quan và khoa học đòi hỏi nhà nghiên cứu phải:
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu phù hợp với vấn đề nghiên cứu.
- Sử dụng phối hợp, đồng bộ các phương pháp nghiên cứu để có được kết
quả toàn diện, khách quan.

3. MỐI QUAN HỆ GIỮA TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI, TÂM LÝHỌC SƯ
PHẠM VỚI CÁC KHOA HỌC KHÁC
Khi nghiên cứu Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, cần sử dụng các
thành tựu của nhiều khoa học khác và đến lượt mình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý

TRANG 14
học sư phạm lại cung cấp những tài liệu có ý nghĩa quan trọng cho nhiều khoa học
khác.
 Với Triết học: Các luận điểm của Triết học duy vật biện chứng và Duy vật
lịch sử đã cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc nghiên cứu sự
phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách của con người trong hoạt động, giao tiếp
và trong các mối quan hệ xã hội. Ngược lại, các thành tựu trong việc nghiên
cứu tâm lý con người đóng góp không nhỏ cho triết học. Các nhà triết học đã
khẳng định: “Lịch sử phát triển trí tuệ của trẻ em là một trong những lĩnh vực
tri thức hợp thành lý luận nhận thức chung và phép biện chứng”.
 Với sinh lý học người: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm thường sử
dụng các kết quả nghiên cứu về giải phẫu sinh lý người và hoạt động thần
kinh cấp cao với tư cách là cơ sở khoa học tự nhiên của tâm lý học.
 Với Tâm lý học đại cương: Tâm lý học đại cương cung cấp các khái niệm cơ
bản, các quy luật cơ bản của việc hình thành và phát triển tâm lý con người
cho việc nghiên cứu Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm. Ngược lại,
nhờ những thành tựu của hai chuyên ngành tâm lý học này mà những khái
niệm của Tâm lý học đại cương trở nên phong phú, sâu sắc hơn.
 Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm gắn bó chặt chẽ với nhau, quy
định lẫn nhau, bổ sung cho nhau một cách biện chứng. Hai chuyên ngành Tâm
lý học này tạo thành một thể thống nhất, khó tách bạch. Việc phân ranh giới
giữa hai chuyên ngành này có tính tương đối. Cả Tâm lý học lứa tuổi và Tâm
lý học sư phạm đều nghiên cứu sự hình thành và phát triển tâm lý học trong
hoạt động sống, trong quá trình dạy học và giáo dục, cùng phục vụ đắc lực
cho sự phát triển của con người.
Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm cung cấp cơ sở lý luận cho các
khoa học giáo dục, đặc biệt là cho hoạt động dạy học và giáo dục học sinh.

4. Ý NGHĨA CỦA TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM
Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về
mặt lý luận, góp phần tích cực vào việc đấu tranh chống lại những quan điểm duy

TRANG 15
tâm, phản khoa học về sự nảy sinh, phát triển tâm lý con người, về nguồn gốc, động
lực, các điều kiện hình thành và phát triển tâm lý, khẳng định quan điểm duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử về sự phát triển tâm lý con người.
Tâm lý học lứa tuổi cung cấp cơ sở khoa học cho Tâm lý học sư phạm cũng
như các ngành Tâm lý học khác trong việc tổ chức quá trình dạy học, giáo dục, quá
trình hoạt động phù hợp với các đặc điểm tâm lý lứa tuổi, tuân theo các quy luật hình
thành, biểu hiện tâm lý, phát huy vai trò của các yếu tố tâm lý cho phù hợp với mục
đích, nội dung, phương pháp tổ chức hoạt động, đem lại hiệu quả về mặt công việc
và về quan hệ con người. Trong lĩnh vực giáo dục con người, Tâm lý học lứa tuổi và
Tâm lý học sư phạm có vai trò đặc biệt quan trọng.
Những hiểu biết về đặc điểm tâm lý lứa tuổi, về quy luật hình thành, phát triển
tâm lý trong dạy học và giáo dục giúp học sinh, giáo viên và mọi người ở mọi lứa
tuổi khác nhau có cơ sở trong việc khéo léo ứng xử, tự rèn luyện, tự hoàn thiện nhân
cách, xây dựng tốt các mối quan hệ giao lưu, quan hệ liên nhân cách, quan hệ xã hội.
Ngoài ra, Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm còn có nhiều ý nghĩa thực tiễn
đối với các mặt hoạt động khác của đời sống xã hội như quân sự, an ninh, thể thao, y
tế, sản xuất, kinh doanh

5. LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ THEO LỨA TUỔI
5.1. Vấn đề phát triển tâm lý
Trong tâm lý học, vấn đề phát triển tâm lý được xem xét theo nhiều phương
diện khác nhau. Có thể khái quát vấn đề phát triển tâm lý theo ba phương diện cơ
bản sau:
- Sự phát triển tâm lý trong giới động vật.
- Sự phát triển tâm lý trong lịch sử loài người và trong sự phát sinh cá thể
con người (từ trong bào thai cho đến khi tuổi già, trước khi chết).
- Sự phát triển tâm lý ở thế hệ trẻ (từ tuổi sơ sinh đến tuổi thanh niên).
Trong ba phương diện trên, phương diện thứ ba được nghiên cứu rộng rãi hơn.
Vậy thế nào là sự phát triển tâm lý ?
5.1.1. Phát triển là gì?

TRANG 16
Phát triển là quá trình biến đổi của sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao, từ đơn
giản tới phức tạp. Phát triển là quá trình tích lũy dần về số lượng dẫn đến sự thay đổi
về chất lượng, là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ, do sự đấu tranh giữa
các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng. Nói đến sự phát triển là
nói đến sự thay đổi chuyển hóa về chất, tạo nên một trình độ, một mức độ mới cao
hơn về chất so với cái cũ.
Khái niệm phát triển liên quan và có sự phân biệt với các khái niệm tăng trưởng,
chín muồi. Cụ thể:
- Tăng trưởng chủ yếu là sự gia tăng về mặt số lượng của sự vật, hiện tượng
như chiều cao, cân nặng
- Chín muồi được dùng để chỉ sự tăng trưởng đã đạt tới một độ nhất định.
Chẳng hạn, trước đây, khi nói tới sự chín muồi về mặt sinh học của nam và
nữ, cha ông ta thường nói nữ thập tam, nam thập lục (tuổi dậy thì ở nữ
thường là 13 trở đi, ở nam thường kà 16 trở đi). Tuy nhiên, ngày nay độ
chín muồi sinh dục ở nữ và nam có thể sớm hơn do điều kiện sống và sự
phát triển về mặt cơ thể thiếu niên diễn ra sớm hơn.
Mối quan hệ giữa tăng trưởng, chín muồi và trưởng thành là mối quan hệ biện
chứng có tính nhân quả: Sự tăng trưởng, chín muồi dẫn đến sự biến đổi về chất (phát
triển), chất lượng mới lại tạo tiền đề cho sự tăng trưởng và chín muồi ở mức cao
hơn.
5.1.2. Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển tâm lý
Dựa trên quan điểm triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các nhà tâm
lý học khoa học coi sự phát triển tâm lý gắn liền với sự xuất hiện những đặc điểm
tâm lý mới về chất, những cấu tạo tâm lý mới ở những giai đoạn lứa tuổi khác nhau.
Bất cứ mức độ nào của trình độ phát triển tâm lý đi trước cũng là sự chuẩn bị và
chuyển hóa cho trình độ sau cao hơn. Sự phát triển tâm lý diễn ra từ thấp tới cao,
theo từng giai đoạn như một quá trình, trong đó có những bước nhảy, những khủng
hoảng và những đột biến. Sự phát triển tâm lý trong từng giai đoạn lứa tuổi phụ
thuộc vào hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đó.
Khi đề cập tới sự phát triển tâm lý, nhà tâm lý học Nga A.N.Lêônchiev đã nêu
lên ba nguyên tắc cơ bản sau:

TRANG 17
- Sự phát triển tâm lý là quá trình lĩnh hội kinh nghiệm của loài người.
- Sự phát triển tâm lý là quá trình hình thành hệ thống các chức năng của
não.
- Sự phát triển tâm lý trước tiên là sự phát triển trí tuệ, thực chất là sự hình
thành các hành động trí tuệ.
Cụ thể hóa ba nguyên tắc về sự phát triển tâm lý trên đây, A.N.Lêônchiev đã
xem xét sự phát triển tâm lý của con người như là:
- Quá trình con người lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử, thể hiện qua việc
tiếp thu tri thức cũng như phương thức hoạt động. Đây là mặt cơ bản, chủ
yếu có tính chất quyết định đối với sự phát triển tâm lý.
- Quá trình phát triển các cơ chế tâm lý của việc vận dụng các phương thức
hoạt động và vốn tri thức đã tiếp thu được vào các hoạt động cụ thể trong
cuộc sống.
- Sự phát triển những thuộc tính chung của nhân cách, trong đó có các thuộc
tính chung có tác dụng quyết định nhất, đó là:
o Những thuộc tính chung của xu hướng nhân cách.
o Những đặc điểm, cấu trúc tâm lý trong hoạt động.
o Sự phát triển các cơ chế của ý thức.
Các chỉ số cơ bản của sự phát triển tâm lý: Theo quan điểm truyền thống, sự
phát triển tâm lý con người được đánh giá qua ba chỉ số cơ bản thể hiện ba mặt
của đời sống tâm lý con người. Đó là:
- Sự phát triển nhận thức: Chuyển từ sự phản ánh bề mặt của sự vật, hiện
tượng riêng lẻ tới nhận thức bản chất của chúng, vạch ra mối liên hệ, quan
hệ có tính quy luật, tới những tri thức có hệ thống.
- Sự phát triển tình cảm: Tình cảm ngày càng mở rộng phạm vi, phân hóa
phức tạp, có nội dung xã hội cao hơn, có cơ sở lý tính đầy đủ hơn.
- Nắm vững hệ thống những hành động, hoạt động: Sự phát triển tâm lý con
người biểu hiện trong những biến đổi về chất lượng của hành động, hoạt
động, từ không chủ định lên chủ định, từ không có ý thức lên có ý thức.
Các dạng hoạt động ngày càng phong phú về nội dung, trình độ, cấu trúc
và phương hướng.

TRANG 18
Ngày nay, theo quan điểm hiện đại, người ta có cách nhìn mới mẻ về sự phát
triển tâm lý của trẻ, xem xét hành vi, hoạt động của trẻ xuất hiện như thế nào, có thể
dự đoán được chiều hướng biến đổi và sự hình thành phát triển các hành vi, hoạt
động có tính quy luật theo sự biến đổi của thời gian. Đó là sự biến đổi về chất ở con
người. Liên quan chặt chẽ với khái niệm biến đổi về chất là việc tổ chức lại hành vi,
hoạt động trong sự phối hợp chặt chẽ giữa sự tổ chức và sử dụng khả năng phát triển
của trẻ. Quá trình phát triển bao gồm những biến đổi về chất và sự tổ chức lại hành
vi theo độ tuổi, diễn ra theo trình tự, mang tính chất tích lũy và có sự định hướng. Cụ
thể:
- Có trình tự tức là các biến đổi diễn ra theo một trình tự lôgíc.
- Có tích lũy tức là một phần nào đó bao gồm tất cả những gì đã có trước đó,
cộng thêm với mức độ cao hơn.
- Có định hướng tức là sự phát triển luôn hướng tới một trình độ mới, cao
hơn.
Sự phát triển tâm lý trẻ em không mang tính ngẫu nhiên mà diễn ra có quy luật.
Trong quá trình phát triển tâm lý của từng đứa trẻ có những điểm khác biệt, song bao
giờ cũng có nét chung, thống nhất cho mọi trẻ em. Tất cả trẻ em đều trải qua những
bước hoặc những giai đoạn phát triển nhất định. Trong một số trường hợp đặc biệt,
trẻ em có thể phát triển sớm, phát triển muộn hoặc phát triển không bình thường, đó
là những trường hợp có những sai lệch trong sự phát triển tâm lý. Về nhiều phương
diện, trẻ em ngày nay phát triển nhanh hơn so với trước đây. Điều này là do sự tiến
bộ của các phương tiện thông tin đại chúng, các phương tiện kỹ thuật hiện đại, người
lớn chú ý nhiều hơn tới việc dạy dỗ và tạo điều kiện cho trẻ em tiếp xúc với cuộc
sống mới.
5.1.3. Một số quan niệm chưa đúng về sự phát triển tâm lý
Quan điểm duy tâm nói chung xem sự phát triển tâm lý chỉ là sự chín muồi,
trưởng thành của các yếu tố sinh vật định sẵn từ trước trong gen di truyền. Sự phát
triển tâm lý chỉ là sự tăng lên hay giảm đi về mặt chất lượng của các hiện tượng tâm
lý như số lượng từ ngữ, khả năng nhớ, chú ý, tốc độ hình thành kỹ xảo chứ không
phải là sự chuyển biến về chất lượng. Sự phát triển tâm lý diễn ra một cách tự phát,

TRANG 19
không tuân theo quy luật và cũng không thể điều khiển được. Quan điểm chưa đúng
này được thể hiện cụ thể ở một số học thuyết sau:
 Thuyết tiền định:
Những người theo thuyết tiền định xem sự phát triển tâm lý là do các tiềm
năng sinh vật gây ra và con người có tiềm năng đó ngay từ khi mới ra đời. Mọi đặc
điểm tâm lý chung và có tính chất cá thể đều là tiền định (được quyết định trước),
đều có sẵn trong các cấu trúc sinh vật và sự phát triển chỉ là quá trình trưởng thành,
chín muồi của những thuộc tính đã có sẵn ngay từ đầu và được quyết định trước
bằng con đường di truyền này. Chẳng hạn, S.Freud coi động lực của sự phát triển
tâm lý là các bản năng; J. ĐiUây xem nhu cầu và các thuộc tính tâm lý được sắp đặt
sẵn trong gen.
Học thuyết này cũng cho rằng, các yếu tố di truyền quyết định giới hạn của
giáo dục. Môi trường chỉ là yếu tố điều chỉnh, yếu tố thể hiện, một nhân tố bất biến
nào đó ở trẻ. Nhà Tâm lý học người Mỹ E.Thorndike cho rằng: “Tự nhiên bạn cho
mỗi người một vốn nhất định, giáo dục cần phải làm bộc lộ vốn đó là vốn gì và phải
sử dụng nó bằng phương tiện tốt nhất” và “vốn tự nhiên” đó đặt ra giới hạn cho sự
phát triển, cho nên “một bộ phận học sinh tỏ ra không đạt được kết quả nào đó dù có
giảng dạy tốt, số khác lại toẻ ra có thành tích dù giảng dạy tồi”
1
.
Như vậy, với quan niệm như trên, vai trò của yếu tố giáo dục đã bị hạ thấp.
Giáo dục chỉ là nhân tố bên ngoài có khả năng tăng nhanh hoặc kìm hãm quá trình
bộc lộ những phẩm chất tự nhiên, bị chế ước bởi tính di truyền. Vì vậy, thuyết tiền
định đã có kết luận sư phạm sai lầm khi xem mọi sự can thiệp vào quá trình tự nhiên
của trẻ đều là sự tuỳ tiện không thể tha thứ được.
Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng những quan điểm của thuyết tiền định
về nguồn gốc của sự phát triển tâm lý còn có nhiều hạn chế. Kết quả nghiên cứu
thực nghiệm trên trẻ sinh đôi từ một trứng do các nhà tâm lý học Liên Xô (trước
đây) như V.V.Cônbannôpxki, A.R.Luria, A.N.Mirênôva và nhà tâm lý học người
Pháp R.Razjô đã chỉ ra rằng với cơ sở bẩm sinh giống nhau, tuỳ thuộc vào phương
pháp dạy học, các trẻ sinh đôi từ một trứng thể hiện những khả năng khác nhau về
năng lực.

1
Theo V.A. Cruchetxki, Những cơ sở tâm lý học sư phạm. Nxb giáo dục Hà Nội. T1. Tr31. 1980

TRANG 20
Trên thực tế, yếu tố bẩm sinh có vai trò quan trọng, được xem như tiền đề vật
chất của sự phát triển tâm lý con người, chúng không hoàn toàn định sẵn từ trước
mọi khả năng phát triển tâm lý. Trong cùng tiền đề vật chất như nhau, nhưng do sự
tác động của giáo dục, sự rèn luyện và mức độ tích cực hoạt động khác nhau, con
người khác nhau về sự phát triển tâm lý.
 Thuyết môi trường
Đối lập với thuyết tiền định, những người theo thuyết môi trường giải thích
sự phát triển tâm lý bằng tác động của môi trường tự nhiên, hoàn cảnh sống xung
quan con người. Họ xem môi trường là nhân tố quyết định sự phát triển tâm lý con
người.
Thuyết môi trường bắt nguồn từ nước Anh, họ coi trẻ em sinh ra như tờ giấy
trắng, như tấm gỗ mộc hoặc tấm bảng sạch sẽ, sự phát triển tâm lý hoàn toàn phụ
thuộc vào tác động bên ngoài, do vậy người lớn muốn vẽ lên tờ giấy cái gì thì nó nên
thế …
Chủ nghĩa Mac-Lênin đã khẳng định vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của
con người với tư cách là chủ thể hoạt động, coi hoàn cảnh, môi trường có vai trò
nhất đinh đối với sự phát triển tâm lý con người và con người không hoàn toàn lệ
thuộc vào hoàn cảnh. C.Mác nói: “Hoàn cảnh có tác dụng cải tạo con người trong
chừng mực, con người tác động đến hoàn cảnh”. Hoạt động của con người mà cơ
bản là hoạt động lao động đã cải tạo thế giới, sáng tạo ra thế giới và cải tạo chính
bản thân con người.
 Thuyết hội tụ hai yếu tố
Khi nghiên cứu sự phát triển tâm lý trẻ em, các nhà tâm lý học theo thuyết hội
tụ hai yếu tố tính tới tác động của cả hai yếu tố môi trường và di truyền. Ví dụ như
nhà di truyền học người Anh S.Auerbac cho rằng: “Trình độ phát triển trí tuệ, những
năng lực chuyên biệt, những phẩm chất cá nhân, tất cả những cái đó là kết quả của
sự tác động qua lại giữa yếu tố di truyền và yếu tố môi trường”. Nhà tâm lý học
người Đức V.Stecnơ và nhà tâm lý học người Mỹ Anataxi coi cả hai yếu tố di truyền
và môi trường cùng quyết định sự phát triển tâm lý con người. Họ quan niệm rằng,
cả hai yếu tố này hội tụ lại cùng quyết định một cách máy móc sự phát triển tâm lý,

TRANG 21
trong đó yếu tố di truyền giữ vai trò quyết định, môi trường chỉ là điều kiện để biến
những đặc điểm tâm lý đã được định sẵn trong gen di truyền thành hiện thực.
Thuyết hội tụ hai yếu tố cũng sai lầm không kém thuyết tiền định và thuyết
môi trường. Tính chất máy móc và siêu hình của các quan điểm trên đều đã bị phê
phán.
Tóm lại, mặc dù quan niệm của những người đại diện cho các thuyết trên có
vẻ khác nhau nhưng thực chất quan điểm của các tác giả đó đều có những sai lầm
giống nhau. Cụ thể:
- Các quan điểm trên đều thừa nhận đặc điểm tâm lý của con người hoặc là bất
biến, hoặc là tiền định, hoặc là do tiềm năng sinh vật di truyền quyết định,
hoặc là do ảnh hưởng của môi trường bất biến. Với quan niệm như vậy thì
trong trường hợp nào con em của tầng lớp có đặc quyền đặc lợi đều có trình
độ phá triển tâm lý hơn hẳn con em giai cấp bị bóc lột. Do vậy, sự bất bình
đẳng trong xã hội là tất nhiên và hợp lý.
- Các tác giả này đánh giá không đúng vai trò của yếu tố giáo dục. Họ xem xét
sự phát triển của trẻ em một cách tác rời và không phụ thuộc vào những điều
kiện cụ thể mà trong đó quá trình ấy diễn ra. Do vậy, họ đều đánh giá thấp vai
trò của yếu tố giáo dục, xem nhẹ nhân tố xã hội lịch sử.
- Cả ba trường phái trên đều phủ nhận tính tích cực hoạt động của từng cá nhân,
coi thường những mâu thuẫn biện chứng được hình thành trong quá trình phát
triển của cá nhân. Họ coi trẻ em như là một thực thể thụ động, tự nhiên, cam
chịu ảnh hưởng có tính chất quyết định của nhân tố di truyền và môi trường.
Họ không thấy được, con người là một thực thể xã hội tích cực, chủ động
trước tự nhiên, có thể cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân để phát triển nhân
cách. Vì phủ nhận tính tích cực hoạt động của con người nên họ không thể
giải thích tại sao trong những điệu kiện của cùng một môi trường xã hội lại
hình thành nên những nhân cách khác nhau về nhiều chỉ số, hoặc vì sao những
người giống nhau về ngoại hình nhưng thế giới nội tâm, nội dung và hình thức
hành vi lại được hình thành trong những môi trường xã hội khác nhau.
Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng, yếu tố bẩm sinh di truyền là những yếu tố
thể chất - tiền đề vật chất của tâm lý, không định sẵn tâm lý. Hoàn cảnh sống có vai

TRANG 22
trò quan trọng, nhưng hoàn cảnh xã hội, nền văn hoá xã hội quyết định tâm lý con
người, trong đó giáo dục là yếu tố chủ đạo, hoạt động của cá nhân mỗi người là yếu
tố trực tiếp quyết định sự phát triển tâm lý con người.
5.2. Điều kiện, quy luật và động lực của phát triển tâm lý
5.2.1. Điều kiện phát triển tâm lý
5.2.1.1. Điều kiện thể chất
Đặc điểm cơ thể, đặc điểm của các giác quan của hệ thần kinh được xem là
tiền đề vật chất, điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho việc hình thành một hoạt
động nào đó. Song các đặc điểm thể chất của con người không phải là nhân tố quyết
định, không phải là động lực của sự phát triển tâm lý.
5.2.1.2. Các điều kiện sống
Các điều kiện sống có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của con người,
nhưng chúng không quyết định trực tiếp đến sự phát triển tâm lý mà chúng tác động
thông qua mối quan hệ qua lại giữa con người với hoàn cảnh. Các ảnh hưởng bên
ngoài tác động gián tiếp đến sự phát triển tâm lý cá nhân thông qua những điều kiện
bên trong của con người, trong đó có kinh nghiệm riêng và vai trò chủ thể của cá
nhân.
Trong các nhân tố của cuộc sống, trước hết phải nói tới vai trò của vốn kinh
nghiệm xã hội, nền văn hoá xã hội, các mối quan hệ xã hội. C.Mác đã chỉ rõ: “Bản
chất của con người là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. Điều đó có nghĩa là
những đặc điểm tâm lý của cá nhân được quyết định bởi đặc điểm các mối quan hệ
xã hội mà cá nhân con người gia nhập vào đó với tư cách là thành viên của xã hội.
Quá trình phát triển tâm lý là quá trình con người lĩnh hội nền văn hóa xã hội, vốn
kinh nghiệm xã hội, quá trình con người tiếp nhận nền văn hoá theo con đường tự
phát và tự giác. Con đường tự giác được thể hiện qua giáo dục, đó là sự tác động có
mục đích, có kế hoạch, có phương pháp nhằm hình thành ở con người những phẩm
chất nhân cách, đáp ứng các yêu cầu của xã hội. Vì vậy, giáo dục là nhân tố chủ đạo,
quyết định sự phát triển tâm lý của con người.
5.2.1.3. Tính tích cực hoạt động của con người
Tính tích cực hoạt động của con người là nhân tố quyết định trực tiếp sự phát
triển tâm lý. Quá trình tác động qua lại giữa con người và môi trường được tiến hành

TRANG 23
thông qua chính hoạt động của con người trong môi trường đó. Hoạt động của con
người có tính mục đích, tính xã hội được xem là điều kiện quyết định sự phát triển
tâm lý.
5.2.2. Quy luật chung của sự phát triển tâm lý
5.2.2.1. Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý
Trong những điều kiện, thậm chí ngay trong những điều kiện thuận lợi nhất
của việc giáo dục thì những biểu hiện tâm lý, những chức năng tâm lý khác nhau …
cũng không thể phát triển ở mức độ như nhau. Có những thời kỳ tối ưu đối với sự
phát triển một hình thức hoạt động tâm lý nào đó. Chẳng hạn, giai đoạn thuận lợi
cho sự phát triển ngôn ngữ là thời kỳ từ 1 đến 5 tuổi, cho sự hình thành nhiều kỹ xảo
vận động là khoảng từ 6 đến 11 tuổi, cho sự hình thành tư duy toán học là giai đoạn
từ 15 - 20 tuổi.
Ngay trong sự phát triển cơ thể trẻ cũng thể hiện tính không đồng đều. Ví dụ,
chiều cao và trọng lượng của trẻ tăng nhanh trong 2 năm đầu sau khi sinh và trong
thời kỳ phát dục.
Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý còn thể hiện ở chỗ có sự khác
biệt về sự phát triển tâm lý giữa các cá nhân ngay trong cùng một độ tuổi. Các chức
năng tâm lý và ngay cả các nét tâm lý cá nhân của trẻ em khác nhau cũng không đạt
một mức độ như nhau (dù chúng ở cùng một độ tuổi).
5.2.2.2. Tính toàn vẹn của tâm lý
Cùng với sự phát triển, tâm lý con người có tính toàn vẹn, thống nhất và bền
vững. Sự phát triển tâm lý là sự chuyển biến dần các trạng thái tâm lý thành các đặc
điểm tâm lý cá nhân. Tâm lý trẻ nhỏ phần lớn là một tổ hợp thiếu hệ thống, những
tâm trạng rời rạc khác nhau. Sự phát triển thể hiện ở chỗ những tâm trạng đó dần
chuyển thành các nét nhân cách. Chẳng hạn, tâm trạng vui vẻ, thoải mái nảy sinh
trong quá trình lao động chung, phù hợp với lứa tuổi nếu được lặp lại thường xuyên
sẽ chuyển thành lòng yêu lao động.
Tính toàn vẹn của tâm lý phụ thuộc khá nhiều vào động cơ chỉ đạo hành vi
của trẻ. Cùng với giáo dục, cùng với sự mở rộng kinh nghiệm sống, những động cơ
hành vi của trẻ ngày càng trở nên tự giác, có ý nghĩa xã hội và ngày càng bộ lộ rõ
trong nhân cách của trẻ. Trẻ mẫu giáo thường hành động vì muốn thoả mãn một điều

TRANG 24
gì đó và động cơ thay đổi luôn trong một ngày. Nhưng thiếu niên và thanh niên
thường hành động do động cơ xã hội, do tinh thần nghĩa vụ, do sự phát triển toàn
diện của bản thân … thúc đẩy.
5.2.2.3. Tính mềm dảo và khả năng bù trừ
Hệ thần kinh của trẻ em rất mềm dẻo. Vì thể, dựa trên tính mềm dẻo của hệ
thần kinh mà tác động của giáo dục có thể làm thay đổi tâm lý trẻ em.
Tính mềm dẻo cũng tạo ra khả năng bù trừ. Khi mỗi chức năng tâm lý hoặc
sinh lý nào đó yếu hoặc thiếu thì những chức năng tâm lý khác được tăng cường
phát triển mạnh hơn để bù đắp hoạt động không đầy đủ của chức năng bị yếu hoặc bị
hỏng đó. Ví dụ, khuyết tật thị giác được bù đắp bằng sự phát triển mạnh mẽ hoạt
động thính giác, khứu giác; trí nhớ kém có thể được bù trừ bằng tính tổ chức cao,
tính chính xác trong hoạt động.
Trên đây là một số quy luật cơ bản của sự phát triển tâm lý trẻ em. Những quy
luật này chỉ mà một xu thế mà sự phát triển tâm lý của trẻ có thể xảy ra và chúng có
sau so với ảnh hưởng của môi trường (trong đó có giáo dục). Sự phát triển và ngay
cả tính độc đáo của những xu thế đó cũng phụ thuộc vào điều kiện sống của trẻ
(trước hết là giáo dục). Sự phát triển tâm lý của trẻ không tuân theo quy luật sinh
học, mà tuân theo quy luật xã hội. Dù bộ óc có tinh vi đến đâu đi chăng nữa nhưng
không sống trong xã hội loài người, không được hưởng sự giáo dục và dạy dỗ của
thế hệ trước thì trẻ cũng không thể trở thành nhân cách. Do vậy, nắm được các quy
luật nói trên, người lớn và các nhà giáo dục cần tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát
triển tâm lý của trẻ.
5.2.3. Động lực của sự phát triển tâm lý
Sự phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, giữa các mâu thuẫn bên
trong. Vì vậy, động lực của sự phát triển là sự nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết các
mâu thuẫn đó.
Trong sự phát triển tâm lý trẻ em thì đó là các mâu thuẫn biện chứng giữa cái
mới và cái cũ; giữa cái đang được nảy sinh, đang được khắc phục trong quá trình
dạy học và giáo dục; mâu thuẫn giữa nhu cầu mới nảy sinh do hoạt động và khả
năng thoả mãn chúng; mâu thuẫn giữa khả năng của trẻ đang được phát triển trong
những hình thức của các mối quan hệ đã được hình thành và các hình thức hoạt động

TRANG 25
cũ; mẫu thuẫn giữa những yêu cầu ngày càng tăng của xã hội, của tập thể, của người
lớn với trình độ phát triển tâm lý hiện tại của trẻ ….
Việc nảy sinh các mâu thuẫn và việc trẻ em tích cực giải quyết các mâu thuẫn
đó dưới sự hướng dẫn của người lớn làm cho tâm lý của trẻ được hình thành và phát
triển. Tất nhiên,sự phát triển tâm lý của trẻ không phẳng lặng mà đầy biến động
trong đó có những cuộc khủng hoảng và đột biến tạo ra sự nhảy vọt về chất trong
quá trình phát triển tâm lý của trẻ (khủng hoảng ở lứa tuổi lên ba, ở tuổi thiếu niên
14-15 tuổi …).
5.3. Dạy học và sự phát triển tâm lý
Quan niệm cho rằng dạy học có tác dụng phát triển học sinh đã được thể hiện
ở nhiều nhà giáo dục kiệt xuất như J.J.Rutxô, I.G.Pextalôzi, A. Đixtecvec, K. Đ.
Usinxki … Chẳng hạn, K.D. Usinxki cho rằng có hai cách tác động đến sự phát triển
trí tuệ học sinh, đó là:
- Qua quá trình thu nhận tri thức mà trí tuệ được rèn luyện.
- Hướng nhiều hơn vào chính bản thân sự phát triển, học sinh phải lĩnh hội một
tài liệu học tập nhất định. Con đường này dẫn đến hình thành tư duy lôgic.
Trong các quan điểm về mối quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ, có
nhiều quan điểm khác nhau, như tựu chung lại có ba loại quan điểm cơ bản sau:
- Phát triển trí tuệ là quá trình độc lập, có những quy luật riêng, không phụ
thuộc vào dạy học (Jêmx, J.Piaget …).
- Sự phát triển trí tuệ là kết quả tác động của nhiều yếu tố. Dạy học có vai trò
điều chỉnh mối liên hệ giữa các chức năng tâm lý (B.G.Ananhiev) …
- Dạy học là hình thức tất yếu bên trong và chung nhất quyết định sự phát triển
trí tuệ. Sự phát triển trí tuệ là qúa trình có bản chất xã hội lịch sử. Các giai
đoạn phát triển và các đặc điểm tâm lý cá nhân bị quy định bởi hệ thống tổ
chức và cách thức truyền đạt cho cá nhân kinh nghiệm xã hội (L.X.Vưgôtxki,
A.N.Lêônchiev).
Quan điểm cơ bản của L.X.Vưgôtxki là:
- Sự phát triển tâm lý của con người mang bản chất xã hội. Sự phát triển không
chỉ quy vào việc nắm tri thức, kỹ năng và sự phát triển diễn ra trong quá trình

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×