Tải bản đầy đủ

Tiểu luận QLNN ngạch chuyên viên "XỬ LÝ MẤT HOÁ ĐƠN TRỐN THUẾ"

Tiểu luận - Lớp bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành Thuế và BHXH năm 2013
LỜI MỞ ĐẦU

huế là nguồn thu chính của Nhà nước để điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy
sản xuất kinh doanh phát triển, khuyến khích đầu tư, xuất khẩu, bảo hộ
sản xuất trong nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thuế còn giữ vai trò điều
tiết thu nhập và thực hiện công bằng xã hội.
T
Trong cơ chế thị trường, dưới sự tác động mạnh mẽ của qui luật khách
quan đã làm cho nền kinh tế vận hành ngày càng sinh động, các thành phần kinh
tế cần có sự bình đẳng trước pháp luật, nhất là về nghĩa vụ thuế từ đó thúc đẩy sự
phát triển của Doanh nghiệp tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh sử
dụng tiến bộ khoa học, công nghệ hiện đại, mở rộng hợp tác kinh tế và giao lưu
quốc tế. Để đảm bảo vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ
nghĩa của Nhà nước, tạo môi trường thuận lợi cho họat động sản xuất kinh doanh
trong nước và đầu tư nước ngoài, tạo môi trường pháp lý minh bạch đồng thời
kiểm soát chặt chẽ mọi họat động của nền kinh tế thì hệ thống quản lý thuế phải
đảm bảo đa dạng, phù hợp với định hướng và thông lệ quốc tế để tiến đến hội
nhập quốc tế.
Mặc dù Nhà nước rất quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật thuế nhưng hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định dẫn đến

việc người nộp thuế dùng thủ đoạn lợi dụng kẻ hở để gian lận, trốn thuế gây tổn
thất cho Ngân sách nhà nước (NSNN).
Quá trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế đến nay, toàn ngành đã từng bước
thực hiện quy trình người nộp thuế tự kê khai - tự tính thuế và nộp thuế; Để quy trình vận
hành đúng hướng, tránh bị kẻ xấu lợi dụng thì điều quan trọng là cơ quan thuế phải tuyên
truyền và hướng dẫn người nộp thuế thực hiện đúng quy định chế độ sổ sách, kế toán mà
trọng tâm là hóa đơn chứng từ đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để đảm
bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm minh.
Công tác thanh tra kiểm tra đối tượng nộp thuế (ĐTNT) đã có tác dụng tích cực
trong việc ngăn chặn, răn đe các hành vi trốn thuế, gian lận thuế và chống thất thu cho
ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, thời gian qua hiệu quả của công tác thanh tra kiểm tra
chưa cao; Các hình thức thanh tra kiểm tra còn hạn chế, việc thanh tra kiểm tra chủ yếu
dựa vào kinh nghiệm chủ quan của cán bộ là chủ yếu. Do đó, chất lượng kiểm tra còn hạn
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 1 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
chế, chưa phát hiện và có biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi gian lận trong việc tính
thuế, kê khai thuế, gian lận thuế.
Ngành thuế từng bước cải cách chính sách thuế, không ngừng hoàn thiện để phù
hợp với sự phát triển của nền kinh tế và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu
vực và thế giới. Đến nay, cơ quan thuế đang được tổ chức theo chức năng kết hợp với việc
quản lý đối tượng nộp thuế. Trình độ chuyên môn, năng lực điều hành, phẩm chất đạo đức
của đội ngũ cán bộ thuế không ngừng được nâng lên thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng
bằng nhiều hình thức.
Chi cục Thuế huyện Chợ Gạo là đơn vị trực thuộc hệ thống ngành dọc. Chi cục
Thuế huyện Chợ Gạo chịu sự lãnh đạo song trùng của Cục thuế tỉnh Tiền Giang và Uỷ ban
nhân nhân huyện Chợ Gạo. Với chức năng, nhiệm vụ là quản lý và tổ chức thực hiện thu
thuế và một số khoản thu khác trên địa bàn huyện.
Trong quản lý các đối tượng nộp thuế thì quản lý thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh bao gồm các Doanh nghiệp tư nhân (DNTN), Công ty cổ phần (CTCP), Công ty
Trách nhiệm hữu hạn (TNHH), . . . là một trong những lĩnh vực tương đối phức tạp và
phát sinh nhiều quan hệ cần điều chỉnh. Trong đó cơ quan thuế thực hiện công việc quản
lý kể từ khi các đối tượng nộp thuế đã được cơ quan chức năng là Sở Kế hoạch – Đầu tư
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Quản lý hành chính thuế đối với thành phần kinh tế tư nhân được thực hiện theo
Luật thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng Cục
thuế. Trong công tác quản lý này thì quản lý cấp phát, theo dõi sữ dụng, báo cáo tình hình
sử dụng hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành là một công tác trọng tâm; bởi vì mọi nghiệp
vụ kinh tế phát sinh liên quan đến tình hình sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động của
doanh nghiệp đều được thể hiện thông qua hóa đơn, chứng từ và sổ sách kế toán.
Những năm qua, việc thực hiện luật thuế GTGT và TNDN ở nước ta đã từng bước
được ổn định, đi vào nề nếp, tuy nhiên qua quá trình thực hiện vẫn còn tồn tại một số bất
cập trong công tác quản lý kê khai khấu trừ thuế dẫn đến một số đối tượng xấu lợi dụng sơ
hở của chính sách, pháp luật thuế để chiếm đoạt tiền thuế, làm thất thoát ngân sách nhà
nước hàng nghìn tỷ đồng với các hành vi gian lận để được hoàn thuế và bán hàng không
xuất hoá đơn, Đây là vấn đề gây nhiều bức xúc cho toàn xã hội và là vấn đề cấp bách
cần ngăn chặn ngay của ngành Thuế.
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 2 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
Việc nghiên cứu vận dụng đưa các sắc thuế đi vào thực tế của địa phương là một
nhiệm vụ cấp bách cho ngành thuế cũng như chính quyền địa phương các cấp, làm sao để
pháp luật thuế được đảm bảo tính nghiêm minh trong quá trình thực hiện.
Là một cán bộ công chức ngành Thuế, tôi rất bức xúc trước thực trạng gian lận,
trốn thuế đã xảy ra trong thời gian qua và quyết tâm thể hiện vai trò trách nhiệm của mình
trong quá trình thực thi nhiệm vụ, đó cũng là lý do tôi chọn đề tài: “Xử lý mất hóa đơn –
trốn thuế tại Chi cục Thuế huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang”.
Quy trình quản lý, sử dụng hóa đơn được thực hiện theo:
- Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ quy định về việc in,
phát hành, sử dụng hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
- Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28 tháng 09 năm 2010 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ.
- Thông tư số 64/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 05 năm 2013 của Bộ Tài Chính
hướng dẫn thi hành Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính Phủ về hóa
đơn bán hàng cung ứng dịch vụ.
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 3 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
PHẦN NỘI DUNG
I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
Thực hiện Luật thuế Giá trị gia tăng và các Luật thuế mới, hóa đơn là căn cứ xác
nhận quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa, dịch vụ thanh toán, quyết toán, kê khai thuế,
khấu trừ thuế, hoàn thuế, xác định chi phí hợp lý khi tính thuế và để đảm bảo quyền lợi
cho người tiêu dùng theo qui định của pháp luật. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay ngành
Tài chính đã có nhiều biện pháp quản lý việc in, phát hành, quản lý sử dụng hóa đơn
nhưng việc quản lý còn nhiều hạn chế, trật tự kỷ cương trong công tác quản lý Tài chính,
thuế chưa thật nghiêm, nhất là trong kiểm soát chi tiêu tài chính, kê khai thuế, khấu trừ
thuế, hoàn thuế, đảm bảo công bằng xã hội trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho
ngân sách Nhà nước còn nhiều phức tạp và khiếm khuyết.
Trong quá trình quản lý thu thuế tại địa phương, Chi cục Thuế huyện Chợ Gạo
cũng đã gặp một số trường hợp xử lý vi phạm trong sử dụng hóa đơn, đòi hỏi cán bộ quản
lý phải vận dụng chính xác các văn bản qui phạm pháp luật, các quy trình, tình hình thực
tế, bản chất của sự việc để nhằm giải quyết sao cho không trái pháp luật, hợp lý và nhất là
không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, uy tín của cơ sở kinh doanh. Xử lý
vi phạm trong quản lý, sử dụng hóa đơn đối với Công ty cổ phần thực phẩm Hương Quê
Việt là một trong những trường hợp đó.
Công ty cổ phần thực phẩm Hương Quê Việt (CTCP TP Hương Quê Việt) được
thành lập theo:
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 4 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 1200758000 do Sở Kế hoạch – Đầu tư
Tỉnh Tiền Giang cấp;
- Vốn điều lệ : 3.000.000.000 đồng;
- Ngành nghề kinh doanh : Khai thác, nuôi trồng thuỷ sản;
- Giấy Chứng nhận đăng ký thuế số : 1200758000;
- Địa chỉ của Công ty tại: xã Phú Kiết , huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang;
- Tổng Giám đốc Công ty là Ông Trần Quang Minh.
Sự việc xảy ra vào ngày 01 tháng 6 năm 2013, CTCP TP Hương Quê Việt gửi tờ
khai thuế Giá trị gia tăng, báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn tháng 5/2013 đến Chi cục
Thuế huyện Chợ Gạo và gửi kèm bản báo cáo mất hóa đơn liên 2 (liên giao cho người
mua) của hóa đơn số 65221, quyển số 324; ký hiệu : NE/2013N, qua kiểm tra quyển hóa
đơn cán bộ thuế thấy hai liên còn lại (liên 1 và liên 3) của hóa đơn chưa có ghi gì còn trắng
và thời điểm báo mất vượt quá thời gian 5 ngày theo qui định nên sẽ bị lập biên bản để xử
phạt vi phạm hành chính.
Do vậy, cán bộ đội Hành chính bộ phận ấn chỉ Chi cục Thuế lập biên bản để xử lý
theo “Điều 22 Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính hướng
dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về
hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ “.
Ngày 05 tháng 6 năm 2013, căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đã lập ngày
01 tháng 6 năm 2013; Chi cục Thuế phát hành Thông báo mất hóa đơn, ấn chỉ số 89/TB-
CCT gửi Cục thuế tỉnh Tiền Giang; Chi cục Thuế các huyện và các cơ quan hữu quan
thông báo số hoá đơn trên không còn giá trị sử dụng.
Ngày 10 tháng 6 năm 2013, Chi cục Thuế đã ra Quyết định số: 74/QĐXP xử phạt
ông Trần Quang Minh, tổng giám đốc CTCP TP Hương Quê Việt số tiền 1.000.000 đồng.
Do vi phạm khoản 1, Điều 22 Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Chính
phủ về việc làm mất liên 2 hóa đơn chưa sử dụng “ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến
5.000.000 đồng đối với hành vi làm mất hóa đơn đã lập (liên giao cho người mua) để
hạch toán kế toán, kê khai thuế và thanh toán vốn ngân sách.”.
Sau đó vào ngày 20 tháng 6 năm 2013, Chi cục Thuế Huyện Chợ Gạo nhận được
phiếu yêu cầu xác minh hóa đơn số 91/TB-XM ngày 16 tháng 6 năm 2013 của Cục thuế
Tỉnh Vĩnh Long gửi đến yêu cầu xác minh hóa đơn Giá trị gia tăng số 65221, quyển số
324; ký hiệu : NE/2013N do CTCP TP Hương Quê Việt đóng dấu, địa chỉ xã Phú Kiết,
huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xuất bán cho DNTN Vạn Phát, địa chỉ huyện Châu
Thành, Tỉnh Vĩnh Long. Nội dung cần xác minh :
- Trị giá hàng bán: 400.000.000 đồng
- Thuế GTGT (5%): 20.000.000 đồng
- Tổng giá thanh toán: 420.000.000 đồng
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 5 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
- Ngày ghi hóa đơn: 16/5/2013
Sau khi xem xét, cán bộ phụ trách ấn chỉ và kiểm tra thuế nhận thấy đây là số hóa
đơn được CTCP TP Hương Quê Việt báo cáo là đã làm mất trước đó và đã bị Chi cục
Thuế Huyện Chợ Gạo xử lý vi phạm theo Quyết định số : 74/QĐXP ngày 10/06/2013.
Đến đây cán bộ kiểm tra nhận thấy sự việc trở nên khá phức tạp có dấu hiệu vi
phạm luật thuế nên Chi cục Thuế đã lập Đoàn đến kiểm tra CTCP TP Hương Quê Việt.
Ngày 25/06/2013, Đoàn kiểm tra xuống làm việc tại CTCP TP Hương Quê Việt. Sau khi
nghe đoàn kiểm tra thông báo tình hình về tờ hóa đơn mà Công ty báo mất nhưng lại được
DNTN Vạn Phát sử dụng kê khai khấu trừ thuế tại Cục thuế Tỉnh Vĩnh Long. Đoàn kiểm
tra yêu cầu ông Trần Quang Minh giải trình trường hợp này. Thấy không thể chối cải được
nên ông Trần Quang Minh đã thành thật khai nhận rằng : Do chủ DNTN Vạn Phát có quan
hệ quen biết với Ông nên đã xin một tờ hóa đơn để hợp thức hóa số hàng hóa đã mua trôi
nổi trên thị trường. Ông Trần Quang Minh đã cho DNTN Vạn Phát liên 2 tờ hóa đơn nêu
trên nhưng không ghi cụ thể mặt hàng, giá trị, số thuế, mà chỉ ký tên và đóng dấu của
Công ty ; còn nội dung thì do chủ DNTN Vạn Phát tự ghi vào.
Vì theo suy nghĩ của ông Trần Quang Minh nếu cơ quan thuế phát hiện mất tờ hóa
đơn này thì chắc cũng bị xử lý nhẹ vì theo ông lý do mất hóa đơn là do bất cẩn, quản lý
không chặt chẽ thì bị xử phạt hành chính không nhiều. Đoàn kiểm tra lập biên bản ghi
nhận tình hình trên và vì sai phạm của CTCP TP Hương Quê Việt có nhiều tình tiết liên
quan đến nhiều văn bản qui phạm pháp luật cũng như vấn đề đặt ra có thể xử lý theo nhiều
chiều hướng khác nhau; Hơn nữa vấn đề quản lý, sử dụng hóa đơn hiện nay đang là vấn đề
nóng bỏng, có liên quan đến tình hình chung của cả nước, đặc biệt là vấn đề lợi dụng hoàn
thuế, khấu trừ thuế để chiếm đoạt tiền của Nhà nước. Do vậy, đoàn kiểm tra đã báo cáo lên
Ban lãnh đạo Chi cục Thuế toàn bộ tình hình trên và xin ý kiến chỉ đạo để có hướng xử lý.
II. XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
 Hành vi cho hóa đơn của ông Trần Quang Minh và báo cáo mất với cơ quan thuế là
do không nắm rõ chế độ chính sách hay cố tình cho DNTN Vạn Phát để chiếm đoạt tiền
thuế Nhà nước và CTCP TP Hương Quê Việt có được lợi gì trong việc này.
 Mức độ vi phạm có thuộc thẩm quyền xử lý của Chi cục Thuế hay không ?
Giải quyết được hai vấn đề này sẽ giúp cho việc xử lý vi phạm sẽ chính xác, vừa
đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, vừa có tính giáo dục, thuyết phục người vi phạm
đồng thời ngăn chặn những sai phạm tương tự có thể xảy ra.
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 6 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
Theo nghị định Chính phủ về quản lý sử dụng hóa đơn thì CTCP TP Hương Quê
Việt đã vi phạm việc cho bán hoá đơn nhưng xét về tính chất và mức độ vi phạm chưa gây
hậu quả nghiêm trọng do hóa đơn còn trong thời gian xác minh chưa được sử dụng để cáo
báo thuế. CTCP TP Hương Quê Việt vi phạm các quy định về việc in, phát hành, sử dụng,
quản lý hoá đơn, việc xử lý vi phạm nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty trong quá
trình chấp hành Quyết định xử lý của cơ quan Thuế. Và Quyết định này được ban hành
trên cơ sở đúng pháp luật, đúng theo trình tự thẩm quyền xử phạt, đúng theo hành vi vi
phạm vừa bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước.
Đồng thời qua việc xử lý vi phạm của cơ quan thuế, các doanh nghiệp, tổ chức, cá
nhân kinh doanh thông suốt:
• Việc xử lý vi phạm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
• Đảm bảo sự công bằng và hài hoà giữa lợi ích người kinh doanh và ngân sách nhà
nước, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc quản lý hoạt động
kinh doanh của mình. Từ đó :
♦ Các doanh nghiệp không vi phạm các quy định về quản lý và sử dụng hóa đơn
♦ Không tiếp tay cho các tổ chức kinh doanh khác trốn thuế,
♦ Tin tưởng vào pháp luật và hướng giải quyết của cơ quan quản lý, hạn chế việc
khiếu nại, khiếu nại kéo dài, vượt cấp dẫn đến hao tốn về thời gian công sức, tiền của
Nhân dân và các cơ quan Nhà nước. Đặc biệt là ảnh hưởng đến uy tín của CBCC và cơ
quan nhà nước, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước về Doanh nghiệp và quản lý
nhà nước về Thuế trên địa bàn ở địa phương.
III. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
1) Nguyên nhân:
Sau khi xem xét diễn biến của sự việc, cộng với xác minh nhân thân của ông Trần
Quang Minh chủ CTCP TP Hương Quê Việt cũng như qua xem xét mục tiêu hoạt động
của Công ty, kết luận nguyên nhân đi đến sai phạm của ông Trần Quang Minh và CTCP
TP Hương Quê Việt có nguyên nhân khách quan song cũng có những nguyên nhân chủ
quan.
 Về mặt khách quan :
Trước hết là do ông Trần Quang Minh chưa nắm vững qui trình quản lý, sử dụng
hóa đơn cũng như hậu quả của hành vi cho hóa đơn khống. Vì nếu ông Trần Quang Minh
thực sự bán hóa đơn để thu lợi thì ông không dại gì để trống 2 liên còn lại mà ông sẽ ghi
nội dung giá trị hàng bán và số thuế thấp tới mức tối thiểu vì số tiền ông thực nhận sẽ bằng
số tiền bán hóa đơn trừ đi số thuế phản ánh trên các liên còn lại. Hơn nữa nếu là người có
tính toán gian lận, ông sẽ báo cáo ngay với Chi cục Thuế về việc tờ hóa đơn bị mất tại thời
điểm ông cho hóa đơn nhằm trốn trách nhiệm sau này. Mặt khác dựa vào sự thiếu hiểu biết
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 7 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
pháp luật của ông Trần Quang Minh cũng như mối quan hệ thân quen, DNTN Vạn Phát đã
đẩy ông Trần Quang Minh và CTCP TP Hương Quê Việt vào tình trạng vi phạm pháp luật.
 Về mặt chủ quan:
Mặc dù cho hóa đơn nhưng ông Trần Quang Minh lại ký khống và đóng dấu của Công
ty vào hóa đơn, chính hành vi này làm cho ông trở thành người tiếp tay cho DNTN Vạn
Phát trong việc chiếm đoạt tiền thuế. Bởi vì giữa ông và DNTN Vạn Phát không hề phát
sinh quan hệ mua bán hàng hóa như hóa đơn đã phản ảnh mà chỉ bằng cách ghi chép nội
dung trên hóa đơn do ông Trần Quang Minh cho, DNTN Vạn Phát đã nghiễm nhiên
chiếm đoạt tiền thuế Nhà nước. Một nguyên nhân nữa là kế toán của CTCP TP Hương
Quê Việt cũng chưa phát huy hết vai trò, chức năng của mình, quản lý sổ sách, hóa đơn
chứng từ chưa chặt chẽ nên đã không hề biết việc ông Trần Quang Minh cho hóa đơn.
2) Hậu quả:
Từ những nguyên nhân dẫn đến sai phạm trên, ông Trần Quang Minh và CTCP TP
Hương Quê Việt đã gây ra hậu quả như sau :
 Bản thân CTCP TP Hương Quê Việt và ông Trần Quang Minh vi phạm pháp luật,
lúc đầu chỉ là vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán nhưng sau đó, qua phát hiện thì
hành vi vi phạm này có thể chuyển thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
 CTCP TP Hương Quê Việt dù vô tình hay cố ý thì cũng đã tiếp tay cho DNTN
Vạn Phát chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước thông qua việc Doanh nghiệp này kê khai
khấu trừ thuế tháng 5/2013 là: 20.000.000 đồng.
 Nếu không có sự nhanh nhạy, sắc bén trong quản lý của Cục thuế Tỉnh Vĩnh Long
thì hành vi chiếm đoạt tiền thuế của DNTN Vạn Phát đã thực hiện trót lọt và mức độ sai
phạm của CTCP TP Hương Quê Việt sẽ nặng hơn.
 Mặc dù số tiền thuế chiếm đoạt không lớn nhưng nó đã góp phần vào tình trạng
lộn xộn hiện nay trong lĩnh vực thuế Giá trị gia tăng, đặc biệt là trường hợp hoàn thuế. Sai
phạm này có tính chất dây chuyền bởi vì DNTN Vạn Phát thực chất không mua lượng
hàng trị giá 400.000.000 đồng thì lấy đâu ra hàng để xuất; Nhưng để đối phó sự kiểm tra
cũng như cân đối trên sổ sách, DNTN Vạn Phát cũng phải xuất khống lượng hàng tương
đương để hợp thức hóa về mặt cân đối hàng hóa. Và chắc chắn sẽ có một cơ sở kinh
doanh nào đó nhận hóa đơn và lượng hàng khống này.
 Nếu không có phiếu yêu cầu xác minh hóa đơn của Cục thuế Tỉnh Vĩnh Long thì
hành vi vi phạm của CTCP TP Hương Quê Việt chỉ bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực kế toán (như Chi cục Thuế Huyện Chợ Gạo đã xử lý trước đó) thì sẽ tạo ra tiền lệ
nguy hiểm trong việc cho, mua bán hóa đơn khống một cách tùy tiện.
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 8 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
Từ những nhận định trên đây, vấn đề đặt ra là phải có một phương án giải quyết vi
phạm của CTCP TP Hương Quê Việt sao cho đúng pháp luật, hợp tình, hợp lý, phù hợp
với mức độ sai phạm cũng như hậu quả của nó.
IV. XÂY DỰNG, PHÂN TÍCH, LỰA CHỌN
PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
Qua vi phạm trên đây của CTCP TP Hương Quê Việt có thể đưa ra một số phương
án giải quyết như sau:
Trước hết phải thông báo kết quả xác minh cho Cục thuế Tỉnh Vĩnh Long nhằm vô
hiệu hóa đơn số 65221 do hóa đơn được viết khống nội dung, thực chất không phát sinh
quá trình mua bán hàng hóa giữa CTCP TP Hương Quê Việt và DNTN Vạn Phát. Như vậy
số thuế trên hóa đơn này không có giá trị kê khai khấu trừ, hoàn thuế, không được tính vào
chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế để tính thuế Thu nhập doanh nghiệp.
1) Đề xuất và phân tích phương án.
1.1/- Phương án 1:
- Xác định hành vi vi phạm của CTCP TP Hương Quê Việt là vi phạm hành chính
trong lĩnh vực thuế và đã có dấu hiệu khai man trốn thuế; thể hiện ở việc trên Tờ khai thuế
GTGT tháng: 05/2013, Công ty kê khai không phát sinh doanh thu nhưng có một hóa đơn
do Công ty quản lý lại thể hiện doanh thu 400.000.000 đồng và số thuế 20.000.000 đồng.
- Căn cứ vào Nghị định 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ Quy định về
xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, cụ thể
là khoản b, điều 6 qui định : “Phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi gian lận
thuế”.
- Hình thức xử phạt: Truy thu số thuế 20.000.000 đồng, thể hiện trên hóa đơn mà
DNTN Vạn Phát đã kê khai và xử phạt 01 lần thuế là 20.000.000 đồng, tổng cộng số tiền
truy thu và phạt là 40.000.000 đồng.
* Ưu điểm:
Nội dung xử phạt có tính toàn diện, ngăn chặn được những hành vi tương tự tại
Công ty. Thể hiện được yếu tố chống thất thu thuế cho ngân sách nhà nước, bởi vì sau khi
có kết quả xác minh từ Chi cục Thuế huyện Chợ Gạo, Cục thuế Tỉnh Vĩnh Long sẽ không
chấp nhận cho khấu trừ số thuế trên hóa đơn này; nhưng trong quá trình bán hàng, giá trị
hàng hóa không có thật này có thể được DNTN Vạn Phát xuất khống cho một đơn vị nào
đó. Lúc đó rất khó xác minh và sẽ xảy ra tình trạng chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước có
tính chất dây chuyền.
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 9 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
* Nhược điểm:
Tổng số tiền truy thu và phạt là 40.000.000 đồng là cao so với tình hình sản xuất
kinh doanh của CTCP TP Hương Quê Việt. Bởi vì do chủ trương của Nhà nước đã qui
hoạch đất nông nghiệp thành khu công nghiệp, khu dân cư và các công trình giao thông
nên diện tích trồng lúa, nuôi trồng thủy sản đã giảm đi đáng kể từ đó ảnh hưởng đến
nguyên liệu nông sản, thủy sản đầu vào cho Công ty và đã làm cho Công ty phải ngừng
hoạt động. Do đó tính khả khi của phương án này không cao và có thể CTCP TP Hương
Quê Việt không chấp hành thực hiện.
1.2/- Phương án 2 :
- Xác định hành vi vi phạm của CTCP TP Hương Quê Việt là vi phạm hành chính
trong lĩnh vực kế toán do việc cho hóa đơn của ông Trần Quang Minh là vô tình và cũng
không gây ra hậu quả nghiêm trọng do được phát hiện kịp thời.
- Căn cứ vào Nghị định 185/2004/NĐ-CP ngày 04/11/2004 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, cụ thể là khoản d, mục 3, điều 7 của Nghị định
này với nội dung : “Không lập chứng từ kế toán khi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh”
(mức xử phạt từ 5.000.000 đồng – đến 20.000.000 đồng)
- Mức xử phạt : 12.500.000 đồng ( Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng chẵn)
* Ưu điểm:
Xử lý theo phương án này dựa trên cơ sở hành vi vi phạm của CTCP TP Hương
Quê Việt là do vô tình nên chưa đến mức phải truy thu và phạt thuế, tức là có xem xét đến
tình tiết giảm nhẹ; chủ yếu là xử phạt về hành vi bảo quản, sử dụng chứng từ kế toán
không đúng qui định. Mức xử phạt tương đối phù hợp với khả năng tài chính của Doanh
nghiệp, nên có tính khả thi cao.
* Nhược điểm:
Nếu xử lý theo phương án này, thì nội dung xử phạt chưa có tính toàn diện, mới chỉ
chú trọng đến biểu hiện bên ngoài của hành vi sai phạm, chưa có tính ngăn ngừa hậu quả
tiềm ẩn. Hơn nữa, dù ít nhiều ông Trần Quang Minh cũng đã có tính toán để đối phó với
cơ quan thuế, vì ông đã có sự cân nhắc giữa hành vi cho hóa đơn với việc xử phạt của cơ
quan thuế nếu bị phát hiện, thể hiện ở việc “ nếu cơ quan thuế phát hiện mất tờ hóa đơn
này thì chắc chỉ bị xử lý nhẹ vì lý do mất hóa đơn là bất cẩn, quản lý không chặt chẽ” .
Hơn nữa, nếu không bị phát hiện thì hậu quả của sự việc này càng nghiêm trọng hơn như
đã phân tích ở trên.
1.3/- Phương án 3 :
- Xác định hành vi sai phạm của CTCP TP Hương Quê Việt là vi phạm về sử dụng hóa
đơn.
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 10 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
- Căn cứ vào điều 34, Nghị định 51/2010/NĐ - CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ về
phạt tiền đối với hành vi sử dụng hóa đơn khống.
- Mức xử phạt như sau :Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với
hành vi sử dụng hóa đơn lập khống
Như vậy giá trị trên liên 2 của số hóa đơn 65221 mà CTCP TP Hương Quê Việt đã cho
DNTN Vạn Hưng là 400.000.000 đồng, nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng, do được
phát hiện và ngăn chặn kịp thời; áp dụng mức phạt là 20.000.000 đồng. (Lấy mức thấp
nhất)
* Ưu điểm:
Xử lý theo phương án này dựa trên cơ sở hành vi vi phạm của CTCP TP Hương
Quê Việt là do vô tình nên chưa đến mức phải truy thu và phạt thuế, tức là có xem xét đến
tình tiết giảm nhẹ; chủ yếu là xử phạt về hành vi bảo quản, sử dụng chứng từ kế toán
không đúng qui định. Mức xử phạt tương đối phù hợp với khả năng tài chính của Công ty,
đồng thời cũng thể hiện sự chế tài đối với hậu quả tiềm tàng của sai phạm. Mức xử phạt
này tương đối phù hợp với khả năng của Công ty nên tính khả thi cao, đảm bảo việc thi
hành quyết định được nhanh chóng. Mặt khác việc xử lý theo phương án này đảm bảo
được nguyên tắc của pháp luật nước ta là phòng ngừa, ngăn chặn và nếu đã xãy ra vi phạm
thì xử lý nhằm làm cho đối tượng vi phạm nhận rõ sai phạm của mình để có hướng khắc
phục, sửa chữa.
* Nhược điểm:
Xử phạt theo phương án này có thể chưa có tính ngăn ngừa cao và nếu bản chất của
đối tượng vi phạm là cố ý thì có thể sẽ xãy ra tình trạng tương tự. Vì nếu tính toán thì thấy
ngay rằng, nếu hóa đơn xuất cho DNTN Vạn Phát không bị phát hiện thì NSNN bị mất đi
20.000.000 thuế khấu trừ.
Qua ba phương án trên, dựa trên các văn bản qui phạm pháp luật hiện hành về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, các Luật thuế; kết hợp với việc xem xét nhân
thân người vi phạm, đặc điểm, qui mô của CTCP TP Hương Quê Việt, đồng thời phân tích
các tình tiết của vụ việc, Tôi nhận thấy phương án 3 có tính khả thi nhất. Cụ thể là xử lý
sai phạm của CTCP TP Hương Quê Việt là vi phạm về hành vi cho hóa đơn và cơ sở pháp
lý để xử lý là Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ. CTCP TP
Hương Quê Việt phải nộp số tiền phạt là 20.000.000 đồng
2) Lựa chọn phương án.
Có rất nhiều phương án để đưa ra giải quyết nhưng cơ sở để lựa chọn phương án 3
là do phương án này có tính khả thi cao, xử lý đúng sai phạm của người vi phạm; đồng
thời còn thể hiện sự hợp lý trong việc chế tài bằng biện pháp tài chính với mức phạt phù
hợp với tình hình hoạt động, tình hình tài chính của doanh nghiệp. Hơn nữa quan điểm về
xác định nội dung của hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực kế toán là chính xác; bởi vì thực
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 11 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
chất chưa có cơ sở để xác định CTCP TP Hương Quê Việt có hành vi khai man trốn thuế
vì khi cho hóa đơn liên 2, ông Trần Quang Minh cũng chưa biết giá trị hàng, số thuế trên
hóa đơn này.
Giả sử nếu DNTN Vạn Phát đã được khấu trừ thuế GTGT trên hóa đơn này khi kê
khai thuế tại Cục thuế Tỉnh Vĩnh Long, lúc đó thì hành vi của ông Trần Quang Minh mới
gián tiếp trở thành khai man, trốn thuế. Nhưng do được phát hiện kịp thời nên sự việc trên
đã không xảy ra, do đó sai phạm trên chưa gây hậu quả nghiêm trọng. Tuy phương án 3
cũng còn có nhược điểm là có thể người vi phạm sẽ cảm thấy có lợi khi tính toán giữa số
tiền phạt và số tiền chiếm dụng được của Nhà nước, nhưng giả thuyết khó có thể xảy ra
trong thực tế vì hiện nay thông tin giữa các cơ quan thuế trong hệ thống ngành của cả nước
đã có những biện pháp, qui trình trao đổi thông tin nhằm hỗ trợ và nắm bắt kịp thời tình
hình khấu trừ thuế đối với những trường hợp có nghi ngờ thông qua xác minh hóa đơn.
Với những lập luận và phân tích trên đây, thì việc lựa chọn phương án 3 để xử lý
là hợp lý trong thực tế. Để phương án này được thực hiện, nhất thiết phải lập kế hoạch và
tổ chức thực hiện trong thời gian nhất định theo đúng qui định về công tác xử phạt vi phạm
hành chính.
V. KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN
Để thực hiện được phương án 3, tuân thủ các bước :
Bước 1 :
Hồ sơ sự việc sai phạm của ông Trần Quang Minh tổng giám đốc CTCP TP Hương
Quê Việt được chuyển giao cho Đội Kiểm tra thuế phải lập hồ sơ sự việc sai phạm của
CTCP TP Hương Quê Việt :
- Biên bản làm việc theo mẫu số 04;
- Biên bản vi phạm vi phạm hành chính.
Đội Hành chính lập thủ tục thông báo Hoá đơn không có giá trị sử dụng
Bước 2 :
Đội Kiểm tra đối chiếu hành vi vi phạm với các văn bản quy định về việc xử lý vi
phạm, chế tài, lập tờ trình đề xuất xử lý vi phạm. Đồng thời soạn thảo các Quyết định trình
Lãnh đạo xem xét
Bước 3 :
Đội Tổng hợp- Nghiệp vụ Dự toán thẩm định lại hồ sơ về thể thức văn bản, nội
dung vi phạm, mức độ xử lý, các quy định chế tài có ý kiến trình Lãnh đạo.
Bước 4 :
Lãnh đạo xem xét và ban hành Quyết định xử lý số: 23/QĐ-CCT về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán đối với CTCP TP Hương Quê Việt với nội dung:
- Nội dung vi phạm: “Vi phạm sử dụng hóa đơn”
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 12 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
Bước 5 :
Đội Kiểm tra thuế mời CTCP TP Hương Quê Việt đến làm việc về mức độ vi phạm
và xử lý của cơ quan, trao Quyết định cho người vi phạm ( Ông Trần Quang Minh), theo
dõi việc chấp hành Quyết định và lưu hồ sơ.
- Biện pháp chế tài: Ông Trần Quang Minh có trách nhiệm nộp số tiền phạt trên vào
ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước huyện Chợ Gạo trong vòng 10 ngày kể từ ngày
nhận được quyết định. Nếu không tự giác thực hiện, cơ quan thuế sẽ áp dụng các biện
pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật hiện hành.
Sau khi Quyết định đã thực hiện xong, Chi cục Thuế tiến hành họp cùng với các bộ
phận: Đội Hành Chính( bộ phận ấn chỉ), Đội Kiểm tra và Đội Tổng hợp- Nghiệp vụ hỗ trợ
để rút kinh nghiệm trong công tác quản lý đối tượng nộp thuế đặc biệt là quản lý cấp phát,
theo dõi sử dụng hóa đơn tại các cơ sở sản kinh doanh.
VI. KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
Trong quản lý, cấp phát, sử dụng hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành, thường
xuyên phát sinh những quan hệ giữa cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế. Trong những
quan hệ này thì xử lý vi phạm trong quản lý, sử dụng hóa đơn là một quan hệ phức tạp, nội
dung của nó có thể liên quan đến nhiều lĩnh vực mà nếu trong xử lý, cơ quan thuế không
nắm vững chế độ, chính sách cũng như sự vận dụng văn bản qui phạm pháp luật thì sẽ xử
lý không chính xác sự sai phạm. Bởi vì ranh giới giữa vi phạm hành chính trong lĩnh vực
kế toán và vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế là rất khó xác định. Từ vi phạm hành
chính trong lĩnh vực kế toán, nếu xuất hiện tình tiết khai man, trốn thuế thì sẽ chuyển
thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
Trong nội dung tiểu luận này, có thể qui mô của sai phạm chưa lớn, nhưng nội
dung sự việc là một trong những vấn đề nảy sinh thường xuyên trong quản lý, cấp phát, sử
dụng hóa đơn ; Đặc biệt là từ khi áp dụng Luật thuế Giá trị gia tăng và Luật thuế Thu
nhập doanh nghiệp. Hơn nữa, Luật doanh nghiệp hiện nay rất thông thoáng cộng với sự tác
động của kinh tế thị trường, những người sản xuất kinh doanh dễ bị lôi vào tình trạng vi
phạm pháp luật. Một trong những vi phạm phổ biến hiện nay là sử dụng hóa đơn không
hợp pháp để chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước.
Thông qua công tác quản lý thực tế và thực trạng hiện nay đối với việc quản lý sử
dụng hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành, bản thân tôi có một vài kiến nghị sau:
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 13 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
1) Kiến nghị:
 Trước hết Nhà nước cần nghiên cứu, bổ sung, ban hành chính sách, chế độ về quản
lý và sử dụng hóa đơn thật chặt chẽ phù hợp với yêu cầu hiện nay, đủ cơ sở pháp lý để
quản lý đối với toàn bộ nền kinh tế bằng quyền lực của Nhà nước. Những qui định về cấp
phát, quản lý, sử dụng hóa đơn, cần khuyến khích và mở rộng hơn nữa việc sử dụng hóa
đơn tự in của cơ sở kinh doanh. Việc này, vừa nâng cao trách nhiệm, vừa nâng cao tính
chủ động trong quản lý, sử dụng hóa đơn của cơ sở kinh doanh. Đồng thời hạn chế được
những tiêu cực có thể xãy ra do sử dụng hóa đơn không đúng qui định như hiện nay. Nếu
thực hiện phổ biến, sẽ giảm bớt khối lượng công tác kiểm tra, theo dõi quá trình sử dụng
hóa đơn của cơ sở kinh doanh; Khi đó, cơ quan chức năng chỉ quản lý quá trình sử dụng,
bảo quản, đảm bảo các yếu tố pháp lý khi lưu hành, sử dụng hóa đơn là việc của cơ sở
kinh doanh.
 Thực hiện việc tin học hóa công tác quản lý hóa đơn theo hướng nối mạng toàn
quốc. Công việc này có thể đòi hỏi nhiều nhân lực, tiền bạc; nhưng hiệu quả của nó mang
lại rất lớn. Nó sẽ giúp cho quá trình xác minh những hóa đơn có biểu hiện nghi vấn được
nhanh chóng, chính xác và chủ động hơn. Qua đó sẽ giúp cho cơ quan thuế tránh được tình
trạng bị cơ sở kinh doanh lợi dụng hóa đơn thật nhưng nội dung nghiệp vụ kinh tế giả để
chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước.
 Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục cho mọi người dân biết lợi ích của việc
mua bán hàng hóa phải có hóa đơn, nhằm hạn chế những tiêu cực xãy ra trong việc thực
hiện ghi chép sổ sách kế toán, góp phần đảm bảo thu thuế được chính xác, công bằng và
hiệu quả.
 Phải nâng cao trình độ cho những người làm công tác quản lý, công tác kế toán
thuộc thành phần kinh tế tư nhân nhằm giúp họ tránh được những sai sót, vi phạm trong
quá trình điều hành, thực hiện các nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước.
 Bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ công chức ngành thuế, đặc biệt là những người làm
công tác quản lý đối tượng nộp thuế, nhằm làm cho đội ngũ này có đầy đủ trình độ lý luận
pháp lý, trình độ thực tiễn để đấu tranh ngăn ngừa, xử lý có hiệu quả các vi phạm của cơ
sở kinh doanh theo đúng pháp luật và có tính thuyết phục cao.
 Phải xử lý nghiêm và triệt để các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế đến mức thấp
nhất những thiệt hại mà ngân sách nhà nước phải chịu do những đối tượng xấu dùng các
thủ đoạn khai thác các kẽ hở của luật pháp để chiếm đoạt tiền của Nhà nước và cũng là tài
sản của nhân dân.
2) Kết luận:
Cải cách thuế là quá trình nhằm làm cho chính sách thuế ngày càng khoa học, đơn
giản, thực sự đi vào cuộc sống, phù hợp với thông lệ quốc tế và khu vực, khuyết khích
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 14 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
phát triển sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tư, đồng thời cũng là quá trình áp dụng các
phương pháp quản lý thuế hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
Mục tiêu bao trùm của chiến lược cải cách thuế của nước ta đến năm 2010 là xây dựng
hệ thống chính sách thuế đồng bộ, hợp lý với nền kinh tế nhiều thành phần và xu hướng
hội nhập quốc tế, đồng thời hiện đại hoá công tác quản lý thuế ngang tầm với các nước
tiên tiến khu vực cả về quản lý, bộ máy và con người. Qúa trình này đòi hỏi mỗi cán bộ
thuế phải có tư duy mới, có đầy đủ kiến thức quản lý để đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi
mới của đất nước. Cải cách thuế trước tiên phải thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội theo
đường lối của Đảng và Nhà nước, đảm bảo tính công bằng xã hội trong chính sách thuế.
Muốn vậy mỗi cán bộ thuế phải ra sức học tập, nâng cao năng lực chuyên môn, kỷ năng
quản lý.
Thực hiện tốt công tác quản lý sử dụng hoá đơn chứng từ sẽ đảm bảo công bằng trong
nghĩa vụ nộp thuế. Nhà nước quản lý chặt chẽ các hoạt động kinh tế nhằm khuyến khích
đầu tư đúng hướng góp phần xây dựng và phát triển kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá -
hiện đại hoá.
Với nhận thức có hạn cộng với nội dung tình huống là một vấn đề mang tính thời sự
hiện nay, nên trong quá trình phân tích, đánh giá và đưa ra phương án xử lý có thể còn một
vài hạn chế cần phải điều chỉnh. Nhưng với vị trí công tác và nội dung công việc được
phân công, bản thân luôn cố gắng vận dụng cơ sở lý luận pháp lý vào thực tiễn nhằm định
hướng cho mọi hoạt động theo đúng pháp luật, có hiệu quả cao và đặc biệt là hiệu lực quản
lý Nhà nước đối với lĩnh vực công tác được không ngừng đổi mới và ngày một nâng cao.
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 15 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 Nghị định 185/2004/NĐ-CP ngày 04/11/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực kế toán.
 Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ Quy định về hóa đơn
bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ .
 Thông tư 64/2013/TT-BTC ngày 15/05/2013 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn
thi hành Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ.
 Nghị định 98/2007/NĐ-CP ngày 07/62/2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi
phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
 Thông tư 61/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện
xử lý vi phạm pháp luật về thuế.
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 16 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân
Tiểu luận - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch chuyên viên ngành thuế và BHXH năm 2013
 Thông tư 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện
Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ Quy định về hóa đơn bán
hàng hóa và cung ứng dịch vụ.
 Tài liệu bồi dưỡng kiến thức QLNN Phần I, Phần II, Phần III ngạch chuyên viên.
GVHD : ThS Vũ Mạnh Thông Trang 17 /17 HV: Nguyễn Thành Nhân

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×