Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu sự tác động của các yếu tố: giá dầu, công suất bình quân tàu thuyền, mùa vụ đến sản lượng khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ tháng 01/2007 đến tháng 11/2009

NỘI DUNG
Nội dung Tiểu luận gồm có các vấn đề chủ yếu sau:
Đặt vấn đề
Phần I: Cơ sở lý thuyết
I. Sản lượng thủy sản
II. Những yếu tố chính ảnh hưởng đến sản lượng khai thác hải sản
Phần II. Nghiên cứu thực nghiệm
I. Phương pháp thu thập số liệu thực hiện đề tài
II. Xây dựng mô hình
III. Kiểm định mức ý nghĩa của các hệ số hồi quy
IV. Kiểm định sự phù hợp của mô hình
V. Nhận định các giả thuyết
VI. Kiểm tra sự vi phạm các giả thiết hồi quy
Phần III. Kết luận
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có bờ biển dài trên 3.200km, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng
trên 1.150.000km
2
, theo số liệu điều tra của Viện Hải Dương học - Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, vùng biển đặc quyền kinh tế Việt Nam có trữ
lượng hải sản từ 3,5 - 4,1 triệu tấn, khả năng cho phép khai thác lên đến 1,5-

1,67 triệu tấn/năm.
Với lợi thế và tiềm năng đó nên ngành khai thác hải sản của Việt Nam đã
từng bước phát triển, từ một nghề khai thác quy mô nhỏ, kỹ thuật lạc hậu, đến
năm 2007 Việt Nam đã vươn lên hàng thứ 12 thế giới về năng lực tàu thuyền
khai thác hải sản. Khai thác hải sản đã mang lại nguồn nguyên liệu vô cùng lớn
cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.
Cũng như ngành khai thác hải sản cả nước, khai thác hải sản của thành
phố Đà Nẵng lại có những thuận lợi hơn. Do nằm ở vị trí trung độ của cả nước
có bờ biển dài trên 70km, hạ tầng kỹ thuật nghề cá được đầu tư, ngư dân lao
động có tay nghề cao... nên số lượng tàu thuyền cũng tăng đáng kể.
Hiện Đà Nẵng có 1978 chiếc tàu cá các loại, trong đó có khoảng 180 tàu
công suất lớn khai thác xa bờ. Sản lượng khai thác hải sản hằng năm khoảng từ
35.000 - 40.000 tấn.
Tuy nhiên nghề khai thác hải sản gặp rất nhiều rủi ro, kinh tế mang lại từ
nghề khai thác bất bênh, nên sản lượng khai thác không ổn định. Do bị tác động
bởi nhiều yếu tố như: công suất và cường lực khai thác, giá nhiên liệu, mùa vụ,
nguồn lợi, thời tiết, giá cả thị trường...
Khi đề cập đến sự ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến sản lượng khai thác
thủy sản nói chung, qua tìm hiểu thực tế tình hình khai thác thủy sản tại một số địa
bàn có hoạt động khai thác thủy sản mạnh như quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng,
qua nghiên cứu tài liệu tại Cục Thống kê thành phố, Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn và UBND quận Sơn Trà, nhóm chúng tôi nhận thấy có rất nhiều yếu tố
tác động đến sản lượng khai thác hải sản. Căn cứ vào các yếu tố chính yếu, có tính
đặc thù đối với hoạt động khai thác thủy sản, trong đề tài khiêm tốn này, nhóm
chúng tôi chỉ chọn một số yếu tố cơ bản để nghiên cứu và phân tích mối quan hệ của
chúng với sản lượng khai thác thủy sản.
Vì vậy, nhóm chúng tôi đã chọn đề tài: "Nghiên cứu sự tác động của các yếu
tố: giá dầu, công suất bình quân tàu thuyền, mùa vụ đến sản lượng khai thác thủy
sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ tháng 01/2007 đến tháng 11/2009".
2
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I. Sản lượng thủy sản:
Thủy sản là một trong những loại thực phẩm không thể thiếu cho cuộc
sống của loài người. Sản lượng thủy sản của một quốc gia hay một địa phương
tùy thuộc vào hai nguồn hoạt động chính của con người, đó là: khai thác, đánh
bắt từ biển, sông hồ tự nhiên và phát triển nuôi trồng. Ngày nay khoa học kỹ
thuật phát triển có thể cho phép con người sản xuất ra những thực phẩm mới
nhưng thực phẩm có nguồn gốc từ thủy sản vẫn không thể thiếu.
II. Những yếu tố chính ảnh hưởng đến sản lượng khai thác hải sản:
1. Số lượng tàu thuyền: Nếu giả định tại một vùng biển nhất định với các
điều nguồn lợi như nhau, tay nghề và kỹ thuật khai thác của lao động không có
sự khác biệt và các yếu tố khác ổn định, thì sản lượng thủy sản đánh bắt được
phụ thuộc lớn vào số lượng tàu thuyền ra khơi khai thác, nghĩa là tàu thuyền ra
khơi càng nhiều thì sản lượng mang lại càng lớn và ngược lại tàu thuyền càng ít
thì sản lượng khai thác càng ít.
2. Công suất tàu thuyền: Công suất tàu thuyền nói lên năng lực khai thác
thực tế của tàu thuyền. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi; với cùng số
lượng tàu đi đánh bắt, thì sản lượng đánh bắt lại phụ thuộc vào công suất trên
tàu thuyền. Nghĩa là tàu có công suất càng lớn thì sẽ khai thác được nhiều sản
lượng hơn tàu có công suất nhỏ.
3. Công suất bình quân tàu thuyền: Để tính năng lực khai thác thủy sản,
có thể dùng đến đại lượng công suất bình quân tàu thuyền, đó là tỷ số giữa tổng
công suất tàu thuyền với tổng số tàu thuyền.
4. Mùa vụ khai thác: Do đặc thù nghề biển bị tác động và chi phối hoàn
toàn vào yếu tố thời tiết và mùa vụ khai thác. Cho nên khi thời tiết tốt và đúng
thời điểm mùa vụ chính ngư dân tập trung ra khơi nhiều hơn thường lệ, đồng
thời tăng cường thời gian bám biển để khai thác nên lượng hải sản khai thác
được tăng lên. Ngược lại thời tiết xấu, không đúng mùa vụ ngư dân sẽ quyết
định cho tàu đậu bến, vì vậy sản lượng trong những thời điểm đó giảm đáng kể.
3
PHẦN II
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
I. Phương pháp thu thập số liệu thực hiện đề tài:
Nhóm đã tiến hành thu thập số liệu gồm 35 số liệu mẫu từ Niên giám
thống kê thành phố Đà Nẵng, số liệu ngành thủy sản từ tháng 01/2007 đến
tháng 11/2009.
Nhóm đã tiến hành chọn lọc thông tin, tiến hành hồi quy, kiểm định đa
cộng tuyến, tự tương quan, phương sai thay đổi dựa trên 35 mẫu quan sát thu
thập được.
Trong quá trình tiến hành thực hiện đề tài, nhóm đã sử dụng kiến thức
của môn kinh tế lượng cũng với sự hỗ trợ của các phần mềm như: MS Word,
MS Excel, SPSS để hoàn thành đề tài.
TT Tháng/năm SL(tấn) Gía dầu (đ/lít)
CsuấtBQ
(Cv/tàu) Mùa Vụ
1 Jan-07 2850 7550 39.4 0
2 Feb-07 2995 7550 40 0
3 Mar-07 3617 7550 40.7 1
4 Apr-07 3656 8100 41 1
5 May-07 3667 8100 41.3 1
6 Jun-07 3675 8100 41.6 1
7 Jul-07 3689 8500 41.9 1
8 Aug-07 3712 8500 41.2 1
9 Sep-07 3625 8500 40.5 1
10 Oct-07 2517 9100 38.6 0
11 Nov-07 2475 9100 36.8 0
12 Dec-07 3022 9100 39.7 0
13 Jan-08 2740 10500 37.7 0
14 Feb-08 2870 10500 39.6 0
15 Mar-08 3513 10500 40.3 1
16 Apr-08 3520 11500 40.4 1
17 May-08 3554 11500 40.5 1
18 Jun-08 3610 11500 40.7 1
19 Jul-08 3515 12500 40.3 1
20 Aug-08 3613 12500 40.6 1
21 Sep-08 3315 12500 40.1 1
22 Oct-08 1915 13200 27.8 0
4
23 Nov-08 2117 13200 29.8 0
24 Dec-08 2188 13200 30 0
25 Jan-09 2650 14000 36.7 0
26 Feb-09 2710 14000 37 0
27 Mar-09 3420 14000 40.2 1
28 Apr-09 3425 14700 40.3 1
29 May-09 3435 14700 40.3 1
30 Jun-09 3515 14700 40.4 1
31 Jul-09 3520 14700 40.4 1
32 Aug-09 3525 14700 40.5 1
33 Sep-09 2845 14700 37.3 1
34 Oct-09 1710 14700 25.5 0
35 Nov-09 1990 14700 28 0
II. Xây dựng mô hình:
1. Mô hình tổng thể:
Qua nghiên cứu tìm hiểu và thực tế được trình bày ở trên, nhóm đã xác
định mô hình kinh tế lượng cần nghiên cứu là:
Y
i
= β
1
+ β
2
X
2
+ β
3
X
3
+ β
4
X
4
+ U
i
Với :
Y
i
: Tổng sản lượng khai thác thủy sản - biến phụ thuộc
X
2
: Giá dầu - biến độc lập
X
3
: Công suất bình quân tàu thuyền - biến độc lập
X
4
: Yếu tố thời tiết - biến độc lập (X
4
= 1: Đúng mùa vụ ; X
4
= 0 : Không
đúng mùa vụ)
U
i
: Phần dư (số dư).
Mô hình trên sẽ nghiên cứu sự ảnh hưởng của các biến độc lập X
i
(i = 2,4)
tác động đến biến phụ thuộc Y như thế nào. Các giả thiết để ước lượng tuyến
tính, không chệch và có phương sai bé nhất.
2. Mô hình hồi quy mẫu:
Áp dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) cho bảng số liệu trên ta
được kết quả như sau:
β
1
_mu = - 59,521
β
2
_mu = - 0,015
5

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×