Tải bản đầy đủ

Phân tích hoạt động tín dụng của Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh qua 3 năm 2004-2006 theo thành phần kinh tế, ngành kinh tế và theo kỳ hạn (2).doc

CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU

1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Thực hiện chủ trương Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước đưa Việt
Nam chuyển từ một nước nông nghiệp trở thành một nước công nghiệp phát triển.
Vĩnh Long đẩy mạnh quá trình này theo hướng tăng tỷ trọng GDP ngành công
nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng GDP nông lâm ngư nghiệp trong cơ cấu GDP.
Định hướng phát triển kinh tế của tỉnh Vĩnh Long đến năm 2010 như sau: GDP
tăng bình quân đạt 7,5%/năm, cơ cấu ngành nông – ngư nghiệp 20-21%, cơ cấu
ngành dịch vụ 41-42%, giá trị sản lượng nông nghiệp tăng bình quân 4,8%/năm,
giá trị sản lượng công nghiệp tăng bình quân 13,1%/năm, giá trị dịch vụ tăng bình
quân 7,5%/năm, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 14-16%/năm.
Là một huyện đầu não của Vĩnh Long, Bình Minh được thiên nhiên ưu đãi
rất nhiều, khí hậu quanh năm điều hòa, đất đai màu mỡ, dân chúng sống đa số
bằng nông nghiệp. Bên cạnh sự phát triển về nông nghiệp, thì các ngành công
nghiệp, thương mại- dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển.
Trong giai đoạn hiện nay, một mặt nền kinh tế, cơ sở hạ tầng dần được cải
thiện, mặt khác, Luật Doanh nghiệp có hiệu lực cùng với các chính sách khuyến
khích đầu tư của Trung Ương và của Tỉnh nên ngày càng nhiều doanh nghiệp
được thành lập và mở rộng kinh doanh, nhu cầu về vốn cho nền kinh tế Tỉnh nhà

nói chung và huyện Bình Minh nói riêng không ngừng tăng lên. Tuy nhiên hiện
nay, thị trường vốn chưa phải là kênh phân bổ vốn một cách có hiệu quả của nền
kinh tế do đó vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế vẫn
phải dựa vào nguồn vốn tín dụng của hệ thống ngân hàng.
Trong bối cảnh nền kinh tế xã hội ngày nay, vấn đề huy động vốn trong xã
hội là rất nan giải cho các ngân hàng và vấn đề cho vay sao cho phù hợp, thiết
thực, đạt hiệu quả đồng thời đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh.
Để kinh doanh đạt hiệu quả mong muốn, hạn chế rủi ro xảy ra, ngân hàng phải
phân tích hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời dự đoán điều kiện kinh doanh
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 1 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
trong thời gian tới, vạch ra chiến lược phù hợp. Việc thường xuyên tiến hành phân
tích tình hình kinh doanh sẽ giúp cho các ngân hàng thương mại thấy rõ thực trạng
kinh doanh hiện tại, xác định đầy đủ và đúng đắn nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng
của các nhân tố đến tình hình hoạt động kinh doanh. Từ đó, có những giải pháp
hữu hiệu để nâng cao hiệu quả huy động vốn và hiệu quả hoạt động tín dụng. Đó
chính là lý do tôi chọn đề tài “Phân tích hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng
Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long chi nhánh Bình Minh”.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Phân tích hiệu quả tín dụng, từ đó đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả
tín dụng tại Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh trong ba năm
2004-2006.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Đề tài gồm có những mục tiêu cụ thể như sau:
- Phân tích hoạt động tín dụng của Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi
nhánh Bình Minh qua 3 năm 2004-2006 theo thành phần kinh tế, ngành kinh tế và
theo kỳ hạn.
- Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của chi nhánh Ngân hàng Phát triển
nhà ĐBSCL huyện Bình Minh.
- Đánh giá những khó khăn và thuận lợi trong hoạt động tín dụng của Ngân
hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh
- Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn và hiệu quả hoạt
động tín dụng.
- Đề xuất một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của
Ngân hàng.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 2 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1. Phạm vi không gian
Đề tài chủ yếu được thực hiện tại Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông
Cửu Long chi nhánh Bình Minh.


1.3.2. Phạm vi thời gian
Số liệu được sử dụng để phân tích là số liệu 3 năm 2004-2006.
1.3.3. Đối tượng nghiên cứu
Phân tích hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Phát triển nhà đồng
bằng sông Cửu Long chi nhánh Bình Minh.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 3 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
  

2.1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1. Các khái niệm về tín dụng
2.1.1.1. Khái niệm tín dụng
Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện
vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời
gian nhất định. Quan hệ này được thể hiện qua 3 đặc điểm cơ bản như sau:
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang
người khác.
- Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời.
- Khi hoàn lại giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một
lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức.
2.1.1.2. Chức năng của tín dụng
a) Chức năng phân phối lại tài nguyên
Tín dụng là sự chuyển nhượng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác, thông
qua sự chuyển nhượng này tín dụng góp phần phân phối lại tài nguyên, thể hiện ở
chỗ:
- Người cho vay có một số tài nguyên tạm thời chưa dùng đến, thông qua tín
dụng, số tài nguyên đó được phân phối lại cho người đi vay.
- Ngược lại, người đi vay cũng thông qua quan hệ tín dụng nhận được phần
tài nguyên phân phối lại.
b) Chức năng thúc đẩy lưu thông hàng hóa và phát triển sản xuất
Nhờ tín dụng mà quá trình chu chuyển tuần hoàn vốn trong từng đơn vị nói
riêng và trong toàn bộ nền kinh tế nói chung được thể hiện một cách bình thường
và liên tục.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 4 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
2.1.2. Phân loại tín dụng
2.1.2.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng
a) Tín dụng ngắn hạn
- Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm được xác định phù hợp với chu
kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng, loại tín dụng này
chiếm chủ yếu trong các ngân hàng thương mại. Tín dụng ngắn hạn thường được
dùng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và cho vay phục vụ nhu
cầu sinh hoạt cá nhân.
b) Tín dụng trung hạn
- Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 3 năm dùng để cho vay vốn mua sắm
tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình
nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
c) Tín dụng dài hạn
- Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm được sử dụng để cấp vốn cho xây
dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
2.1.2.2. Căn cứ vào đối tượng tín dụng.
a) Tín dụng vốn lưu động
- Là loại tín dụng cung cấp nhằm hình thành vốn lưu động như cho vay để dự
trữ hàng hóa, mua nguyên vật liệu cho sản xuất.
b) Tín dụng vốn cố định
- Là loại tín dụng cung cấp nhằm hình thành vốn cố định, loại tín dụng này
được thực hiện dưới hình thức cho vay trung và dài hạn. Tín dụng vốn cố định
thường được cấp phát phục vụ cho việc đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và
đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới.
2.1.2.3. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng
a) Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Là loại tín dụng cung cấp cho các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân để
tiến hành sản xuất kinh doanh.
b) Tín dụng tiêu dùng
- Là hình thức tín dụng cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 5 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
2.1.3.Các hình thức huy động vốn.
2.1.3.1 Vốn tiền gửi
a)Tiền gửi khách hàng
* Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán)
- Tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng có thể rút ra
bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho ngân hàng biết và ngân hàng phải
đáp ứng yêu cầu đó của khách hàng, khách hàng cũng có thể ký séc để thanh toán
nên gọi là tài khoản giao dịch.
- Ưu điểm: Loại tiền gửi này có lãi suất thấp nên làm giảm chi phí huy động
vốn của ngân hàng.
- Nhược điểm: Tài khoản tiền gửi này thường xuyên biến động nên ngân
hàng không chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này.
* Tiền gửi có kỳ hạn (tiền gửi định kỳ)
- Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ được rút ra trong
một thời gian nhất định. Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút ra khi đến hạn.
Tuy nhiên, do tính cạnh tranh và khuyến khích khách hàng gửi tiền cho nên ngân
hàng cho phép khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện khách hàng không được
hưởng lãi suất hoặc được trả lãi suất thấp hơn mức lãi suất có kỳ hạn khi rút tiền
đúng hạn. Điều này còn tùy thuộc vào chính sách huy động vốn của ngân hàng và
loại tiền gửi định kỳ.
- Ưu điểm: Đối với ngân hàng tiền gửi có kỳ hạn là số tiền có hẹn đến một
ngày nhất định mới trả lại cho khách hàng gửi tiền, điều này giúp cho ngân hàng
chủ động được nguồn vốn trong các thời kỳ để có kế hoạch cho vay, do đó việc sử
dụng nguồn này để cho vay rất hiệu quả.
- Nhược điểm: Lãi suất để huy động nguồn vốn này cao và tùy thuộc vào kỳ
hạn gửi và số tiền gửi của khách hàng.
b) Tiền gửi tiết kiệm
- Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi vào thì được ngân
hàng cấp cho một quyển sổ gọi là sổ tiết kiệm. Khách hàng có trách nhiệm quản lý
sổ và mang theo khi đến ngân hàng để giao dịch. Hiện nay một số ngân hàng đã bỏ
sổ tiết kiệm và thay vào đó là cung cấp cho khách hàng một bản kê khi lúc gửi tiền
đầu tiên và hàng tháng để phản ánh tất cả các số phát sinh.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 6 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
- Ưu điểm: Đây là nguồn vốn có tính ổn định và chiếm tỉ lệ khá cao, ngân
hàng không phải cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
- Nhược điểm: Do mục đích của loại tiền gửi này là để dành nên lãi suất cao.
Gồm 2 loại hình:
* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:
- Là loại tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng có thể gửi vào, lấy ra bất cứ lúc
nào không cần báo trước cho ngân hàng. Đối tượng gửi chủ yếu là những người
tiết kiệm, dành dụm hầu trang trãi những chi tiêu cần thiết đồng thời có một khoản
lãi góp phần vào việc chi tiêu hàng tháng. Ngoài ra, đối tượng gửi có thể là những
người thừa tiền nhàn rỗi muốn gửi vào ngân hàng để thu lợi tức đồng thời bảo đảm
an toàn hơn giữ tiền ở nhà.
* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
- Đây là loại hình cá nhân gửi tiền có sự thoả thuận về thời gian với ngân
hàng, chỉ rút tiền khi đến thời hạn thoả thuận. Còn trường hợp đặc biệt rút ra trước
thời hạn thì lãi suất thấp hơn. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn lớn hơn tiền gửi
tiết kiệm không kỳ hạn.
2.1.3.2. Vốn huy động thông qua các chứng từ có giá
a) Kỳ phiếu ngân hàng.
- Kỳ phiếu ngân hàng là loại chứng từ có giá được ngân hàng phát hành để
huy động tiết kiệm trong xã hội nhằm mục đích phục vụ cho việc kinh doanh trong
thời kỳ nhất định. Thời hạn của kỳ phiếu còn phụ thuộc vào chính sách huy động
vốn của ngân hàng, có thể là: 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, trên 12 tháng.
- Ưu điểm: Thời gian huy động nhanh, số tiền lớn.
- Khuyết điểm: Ngắn hạn và lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm.
b) Trái phiếu ngân hàng.
- Trái phiếu ngân hàng là công cụ huy động vốn dài hạn vào ngân hàng, nó là
một loại chứng khoán có thể dùng để mua bán trên thị trường chứng khoán. Ở
nước ta, trái phiếu có kỳ hạn trên một năm. Khi ngân hàng phát hành trái phiếu thì
ngân hàng có mục đích dùng số vốn đó để đầu tư vào các dự án mang tính chất dài
hạn như: đầu tư vào các công trình, dự án liên doanh, cho vay dài hạn…
- Đối với khách hàng, trái phiếu ngân hàng là một khoản đầu tư mang lại thu
nhập ổn định và ít rủi ro so với cổ phiếu doanh nghiệp.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 7 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
- Ưu điểm: Đối với ngân hàng vốn huy động từ trái phiếu lãi suất thấp và ổn
định trong thời gian dài. Do vậy ngân hàng có thể chủ động trong việc sử dụng
nguồn vốn này để cho vay trung và dài hạn.
- Nhược điểm: Do lãi suất thấp và thời gian dài nên rất khó thu hút khách
hàng.
2.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân
hàng.
Để thu hút được tiền gửi cũng như nâng cao hiệu quả huy động vốn thì ngân
hàng cần phải đảm bảo những yếu tố cơ bản sau:
- Uy tín cao: Thể hiện mức độ tin tưởng, sự tín nhiệm của khách hàng hiện
có dành cho ngân hàng.
- Chất lượng dịch vụ cao: Thể hiện qua sự hiện đại hóa công nghệ ngân
hàng, sự đa dạng về hình thức dịch vụ, chất lượng sản phẩm, phong cách giao tiếp
của nhân viên đối với khách hàng. Nhân viên hiểu được người gửi tiền muốn gì.
- Lãi suất kích thích: Trả cho người gửi tiền thỏa đáng, nếu không nói là tốt
hơn các ngân hàng khác.
- Điều kiện kinh tế xã hội: Trong điều kiện kinh tế tăng trưởng, trật tự xã
hội ổn định, người dân an tâm sản xuất dẫn đến thu nhập cũng như đời sống của
họ được nâng cao. Do đó, nhu cầu sử dụng những tiện ích của ngân hàng ngày
càng nhiều, cũng như an tâm gửi tiền vào ngân hàng góp phần làm tăng vốn huy
động của ngân hàng.
- Thu nhập của khách hàng: Đối với khách hàng là cá nhân thì thu nhập chủ
yếu từ sản xuất nông nghiệp, từ lương…còn khách hàng là tổ chức kinh tế thì thu
nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh…Nếu khách hàng có thu nhập khá và ổn
định thì nhu cầu gửi tiền hay thanh toán qua ngân hàng sẽ tăng, tạo điều kiện thuận
lợi cho công tác huy động vốn của ngân hàng.
- Thói quen chi tiêu – tiết kiệm của khách hàng: Đối với người dân ở vùng
nông thôn chi tiêu hàng ngày của họ chủ yếu dành cho thực phẩm, giáo dục và y
tế. Vì vậy, sau khi đã trừ đi những chi phí sinh hoạt hàng ngày số tiền còn lại họ có
thể mua vàng hay chơi hụi để tiết kiệm. Do đó, ngân hàng phải có kế hoạch huy
động vốn để tận dụng những nguồn vốn nhỏ lẻ trong từng hộ gia đình để bổ sung
nguồn vốn kinh doanh chi phí thấp cho mình.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 8 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
2.1.5. Nguồn vốn đi vay của các ngân hàng khác.
Nguồn vốn đi vay của các ngân hàng khác là nguồn vốn được hình thành bởi
các mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng
với Ngân hàng Nhà nước. Nguồn vốn đi vay bao gồm:
- Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng khác.
- Nguồn vốn vay của Ngân hàng Trung ương.
* Ưu điểm: Ngân hàng có thể vay số tiền lớn và nhanh.
* Nhược điểm: Khi vay vốn của Ngân hàng Trung Ương hoặc của các Tổ
chức tín dụng khác, các ngân hàng thương mại thường phải chịu chi phí lớn, do
Ngân hàng Trung Ương cho vay theo lãi suất chiết khấu, các Tổ chức tín dụng
khác cho vay theo lãi suất thị trường. Vì vậy, hiệu quả kinh tế mang lại từ việc sử
dụng nguồn vốn này đối với các ngân hàng thương mại không cao. Trong thực tế
nguồn vốn này cũng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh
doanh của các ngân hàng thương mại.
2.1.6. Một số vấn đề trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
2.1.6.1. Các nguyên tắc của tín dụng
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.
- Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn trên hợp đồng tín dụng.
2.1.6.2. Điều kiện vay vốn
Ngân hàng xem xét và quyết định cho khách hàng vay khi có đủ các điều
kiện sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo qui định của pháp luật.
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết.
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và phù
hợp với qui định của pháp luật.
- Thực hiện qui định về bảo đảm tiền vay theo qui định của chính phủ, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và hướng dẫn của Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL.
2.1.6.3. Lãi suất cho vay
a) Khái niệm.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 9 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
- Lãi suất cho vay là tỉ lệ phần trăm giữa số lợi tức thu được trong kỳ so với
số vốn cho vay phát ra trong một thời kỳ nhất định. Thông thường lãi suất tính cho
năm, quý, tháng.
- Mức lãi suất cho vay do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với
Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng. Ngân hàng có trách
nhiệm công bố công khai các mức lãi suất cho vay cho khách hàng biết.
- Lãi suất cho vay ưu đãi được áp dụng đối với khách hàng được ưu đãi về
lãi suất theo qui định của Chính Phủ, hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
- Trường hợp khoản vay bị chuyển nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn
theo mức qui định của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước không vượt quá 150% lãi
suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong
hợp đồng tín dụng.
2.1.7. Rủi ro tín dụng
a) Khái niệm rủi ro tín dụng
- Rủi ro tín dụng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện
được nghĩa vụ tài chính của mình đối với ngân hàng. Hay nói cách khác rủi ro tín
dụng là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do
nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho
ngân hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt
động và có thể làm cho ngân hàng bị phá sản
- Biểu hiện rủi ro: Nợ xấu ngày càng lớn, lãi chưa thu hồi ngày càng tăng.
Rủi ro tín dụng =
b) Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng
* Nguyên nhân từ khách hàng vay vốn
Rủi ro tín dụng biểu hiện ra bên ngoài là việc không hoàn thành nghĩa vụ trả
nợ, vốn bị ứ đọng khó có khả năng thu hồi, nợ quá hạn ngày càng lớn, các khoản
lãi chưa thu ngày càng gia tăng…. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là:
+ Đối với khách hàng là cá nhân:
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 10 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
Nợ xấu
Tổng dư nợ
X 100%
Khi các cá nhân vay vốn gặp phải các nguy cơ sau đây thường không trả nợ
cho ngân hàng đầy đủ cả vốn lẫn lãi như: thu nhập không ổn định; bị sa thảy, thất
nghiệp; bị tai nạn lao động; hỏa hoạn, lũ lụt; hoàn cảnh gia đình khó khăn; sử dụng
vốn sai mục đích; thiếu năng lực pháp lý.
+ Đối với khách hàng là doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp thường không trả được nợ vay của ngân hàng đầy đủ cả
gốc lẫn lãi khi gặp phải các trường hợp sau: Năng lực chuyên môn và uy tín của
người lãnh đạo đơn vị giảm thấp; khả năng tài chính của doanh nghiệp bị giảm do
lỗ lã trong kinh doanh; sử dụng vốn sai mục đích; thị trường cung cấp vật tư bị đột
biến; bị cạnh tranh và mất thị trường tiêu thụ; sự thay đổi trong chính sách Nhà
nước; những tai nạn bất ngờ: hỏa hoạn, động đất, công nhân đình công, chiến
tranh,…
* Nguyên nhân khách quan
- Tình hình trong nước:
Hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động rất nhạy cảm với biến động
của nền kinh tế - xã hội như:
+ Thứ nhất khi nền kinh tế bị suy thoái thường xuất hiện những doanh
nghiệp thua lỗ và phá sản từ đó các khoản tiền vay của ngân hàng không trả được
sẽ làm cho nợ quá hạn trong ngân hàng tăng lên nhanh chóng và tác động sâu sắc
đến tình hình kinh tế xã hội của quốc gia.
+ Thứ hai khi nền kinh tế có lạm phát cao và ngày càng gia tăng cũng có thể
dẫn đến rủi ro tín dụng vì người gởi tiền có tâm lý lo sợ rằng đồng tiền của mình
bị mất giá khi gởi trong ngân hàng. Trong khi đó thì người đi vay thì muốn gia
tăng nhu cầu vay vốn và tìm cách kéo dài thời hạn vay. Điều này sẽ gây ảnh hưởng
không nhỏ đến nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, làm cho những khoản đầu tư
của ngân hàng không hiệu quả và có thể dẫn đến nguy cơ ngân hàng bị phá sản.
- Tình hình thế giới:
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, mỗi quốc gia là một tế
bào của nền kinh tế thế giới. Hoạt động kinh tế của nước này có tác động và ảnh
hưởng đến nền kinh tế của nước khác. Sự xuất hiện các khu vực kinh tế và các khu
mậu dịch tự do như NAFTA, AFTA,… cho thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của các
nước trong khu vực cũng như thế giới đối với các nước thành viên. Chính vì vậy,
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 11 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
khi có sự biến động về kinh tế, chính trị, quân sự xảy ra ở bất kỳ nước nào sẽ ảnh
hưởng đến các nước khác trên thế giới, và sẽ dẫn đến biến động kinh tế trong nước
và tác động xấu đến ngân hàng.
2.1.8. Một số chỉ tiêu phản ánh hoạt động tín dụng của ngân hàng
2.1.8.1. Doanh số cho vay
a) Khái niệm.
- Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng cho khách
hàng vay trong một thời gian nhất định bao gồm vốn đã thu hồi hay chưa thu hồi.
b) Những nhân tố ảnh hưởng đến doanh số cho vay của ngân hàng.
Doanh số cho vay thể hiện được quy mô hoạt động tín dụng của ngân hàng
và chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố sau:
- Vốn huy động: Nếu như ngân hàng huy động vốn càng nhiều, đặt biệt là
vốn có kỳ hạn thì việc chủ động trong cho vay của ngân hàng càng cao.
- Nhu cầu vốn trong xã hội: Có cầu thì mới có cung, vì vậy khi khách hàng
có nhu cầu vay vốn cao đồng thời thỏa mãn yêu cầu vay vốn của ngân hàng thì
ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu vốn đó làm cho doanh số cho vay tăng.
- Điều kiện kinh tế xã hội: Như nói ở trên trong điều kiện kinh tế xã hội ổn
định và phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân được thuận lợi.
Do vậy, nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất rất cao cũng là nguyên nhân làm tăng
doanh số cho vay của ngân hàng.
- Uy tín của khách hàng: Đây là một yếu tố khó đánh giá, uy tín trong quan
hệ tín dụng không chỉ là sự sẵn lòng trả nợ mà còn là thái độ thực hiện các cam kết
trong hợp đồng tín dụng. Thông thường, ngân hàng đánh giá uy tính của khách
hàng thông qua hồ sơ quá khứ, phỏng vấn người vay, hiệu quả hoạt động kinh
doanh của khách hàng...
- Năng lực vay nợ của khách hàng:
Ngân hàng phải chắc rằng khách hàng đang giao dịch có thẩm quyền để yêu
cầu một khoản vay và tư cách pháp lý, tư cách thể nhân hoặc pháp nhân của khách
hàng để ký kết hợp đồng tín dụng. Đặc điểm này của khách hàng được gọi là năng
lực vay tiền.
Đối với khách hàng là công ty, ngân hàng cũng sẽ phải chắc rằng người đại
diện công ty vay vốn, có thẩm quyền đầy đủ để thương lượng khoản vay và ký kết
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 12 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
hợp đồng tín dụng nhân danh công ty. Một hợp đồng tín dụng được ký, nhưng
không đủ quyền về mặt pháp lý có thể dẫn đến nhiều rắc rối và tổn thất vốn đáng
kể cho ngân hàng.
- Vốn tự có của khách hàng: Đây là khoản mục mà ngân hàng đặc biệt quan
tâm, nó giúp cho ngân hàng đánh giá được khả năng tài chính và quy mô hoạt
động của khách hàng vay vốn. Nếu vốn tự có của khách hàng tham gia càng lớn,
điều đó làm cho khách hàng quan tâm nhiều hơn mục tiêu vay vốn làm cho dự án
sinh lời đúng theo kế hoạch.
- Tài sản thế chấp và cầm cố:
Đánh giá khía cạnh đảm bảo một khoản vay và cũng là căn cứ định giá để
quyết định mức cho vay đối với khách hàng. Tài sản làm đảm bảo phải dễ chuyển
nhượng, thông thường tài sản thế chấp, cầm cố là giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá, các loại động sản như xe, xà lan…
Song, đây là yếu tố sau cùng vì ngân hàng vẫn mong muốn rằng khoản cho
vay của ngân hàng được khách hàng hoàn trả bằng lợi nhuận của phương án vay
vốn. Việc thanh lý hay phát mãi tài sản thế chấp và cầm cố chỉ là giải pháp sau
cùng.
2.1.8.2. Doanh số thu nợ
a) Khái niệm
- Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng thu về được
khi đáo hạn vào một thời điểm nhất định nào đó.
b) Nhân tố ảnh hưởng đến doanh số thu nợ của ngân hàng
- Uy tín của khách hàng vay vốn: Uy tín của khách hàng thể hiện trong việc
thực hiện đúng như giao ước trong hợp đồng tín dụng và việc trả nợ đúng hạn.
- Điều kiện kinh tế xã hội:
+ Kinh tế tăng trưởng, thời tiết thuận lợi, giá cả nông sản tăng…nên sản xuất
đạt hiệu quả, kinh doanh có lời tạo điều kiện cho khách hàng trả nợ tốt. Ngược lại,
kinh tế suy thoái hoặc lạm phát, thời tiết bất thường, dịch bệnh...gây ảnh hưởng
đến hoạt động sản xuất của người dân làm hạn chế khả năng trả nợ của khách
hàng.
+ Điều kiện chính trị, xã hội cũng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách
hàng vay vốn nhưng nó thường vượt quá sự kiểm soát của người vay vốn, kể cả
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 13 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
người cho vay. Do vậy, cán bộ tín dụng của ngân hàng phải không ngừng cập nhật
thông tin và phân tích tình hình kinh tế xã hội trong và ngoài nước của từng ngành
nghề mà ngân hàng cho vay.
- Cán bộ tín dụng: Thể hiện ở khâu thẩm định, lựa chọn khách hàng của cán
bộ tín dụng, đồng thời thường xuyên đôn đốc khách hàng trả nợ.
2.1.8.3. Dư nợ
- Là chỉ tiêu phản ánh số nợ mà ngân hàng đã cho vay và chưa thu được vào
một thời điểm nhất định.
- Để xác định được dư nợ, ngân hàng sẽ so sánh giữa 2 chỉ tiêu doanh số cho
vay và doanh số thu nợ.
2.1.8.4. Nợ quá hạn
- Là chỉ tiêu phản ánh các khoản nợ đến hạn mà khách hàng không có khả
năng trả nợ cho ngân hàng và không có lý do chính đáng khi đó ngân hàng sẽ
chuyển từ tài khoản dư nợ sang tài khoản nợ quá hạn.
2.1.9. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng
2.1.9.1. Chỉ tiêu vốn huy động trên tổng nguồn vốn.
Tỷ số này nhằm đánh giá khả năng huy động vốn của ngân hàng. Đối với
ngân hàng thương mại nếu tỷ số này càng cao thì khả năng chủ động của ngân
hàng càng lớn.
2.1.9.2. Chỉ tiêu về vốn huy động có kỳ hạn trên tổng nguồn vốn.
Tỷ số này cho biết tính ổn định vững chắc của nguồn vốn huy động tại một tổ
chức tín dụng. Tỷ số này càng lớn thì nguồn vốn huy động càng ổn định.
2.1.9.3. Chỉ tiêu dư nợ trên tổng nguồn vốn
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 14 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
Vốn huy động/Tổng nguồn vốn
=
Vốn huy động
Tổng nguốn vốn
=
=
Vốn huy động có kỳ hạn/Tổng nguồn vốn
Vốn huy động có kỳ hạn
Tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này cho biết dư nợ trong cho vay chiếm bao nhiêu phần trăm (%)
trong tổng nguồn vốn sử dụng của ngân hàng
2.1.9.4. Chỉ tiêu dư nợ trên tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này xác định hiệu quả đầu tư của một đồng vốn huy động. Nó giúp
cho nhà quản trị phân tích, so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với nguồn vốn
huy động.
2.1.8.10. Chỉ tiêu nợ quá hạn trên dư nợ
2.1.9.5. Chỉ tiêu nợ quá hạn trên dư nợ
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả tín dụng và chất lượng
tín dụng. Nếu tỉ lệ này thấp thì chất lượng tín dụng cao và ngược lại.
2.1.9.6. Chỉ tiêu hệ số thu nợ
Đây là chỉ tiêu thể hiện mối quan hệ giữa doanh số thu nợ và doanh số cho
vay thể hiện qua biểu thức sau:

Chỉ số này phản ánh trong một kỳ kinh doanh từ một đồng doanh số cho vay
ngân hàng sẽ thu hồi được bao nhiêu đồng vốn.
2.1.9.7. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, phản
ánh số vốn đầu tư được quay vòng nhanh hay chậm. Nếu số lần vòng quay vốn tín
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 15 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
=
Dư nợ/Tổng nguồn vốn =
Dư nợ
Tổng nguồn vốn
X
100%
=
Dư nợ/Tổng vốn huy động =
Dư nợ
Tổng vốn huy động
X
100%
Nợ quá hạn/Dư nợ =
Nợ quá hạn
Dư nợ
X 100%
Vòng quay vốn tín dụng =
(lần)
Doanh số thu nợ
Dư nợ bình quân
Hệ số thu nợ =
Doanh số thu nợ
Doanh số cho vay
X 100%
dụng càng cao thì đồng vốn của ngân hàng quay càng nhanh, luân chuyển liên tục
đạt hiệu quả cao.
Trong đó dư nợ bình quân được tính như sau:

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở kiến thức học ở trường, kiến thức tích lũy trong thời gian thực tập
và qua sách báo, em sử dụng một số phương pháp sau đây trong việc nghiên cứu
đề tài:
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp thu thập số liệu từ báo cáo hoạt động kinh doanh của chi
nhánh, các số liệu phản ánh tình hình huy động tín dụng của Ngân hàng qua 3 năm
2004-2006.
2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp so sánh
+ So sánh tuyệt đối là kết quả của phép trừ giữa chỉ số kỳ phân tích so với kỳ
gốc của các chỉ tiêu kinh tế.
F = F
1
– F
0
+ So sánh tương đối là kết quả của phép chia giữa tỷ số các kỳ phân tích so
với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế.
F =
0
1
F
F
X 100 - 100
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 16 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
Dư nợ bình quân =
Dư nợ đầu kỳ + Dư nợ cuối kỳ
2
CHƯƠNG 3
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG CHI NHÁNH BÌNH MINH

3.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
3.1.1. Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long
Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long là Ngân hàng thương
mại Nhà nước được thành lập theo Quyết định số 796/TTg ngày 18/09/1997 của
Thủ tướng Chính phủ, vốn điều lệ là 800 tỷ đồng. Với mục tiêu là một Ngân hàng
thương mại hoạt động đa năng, vận hành theo cơ chế thị trường, Ngân hàng Phát
triển nhà đồng bằng sông Cửu Long được huy động mọi nguồn vốn và đầu tư
chuyên sâu vào lĩnh vực tín dụng trung, dài hạn, đặc biệt là đầu tư xây dựng, phát
triển nhà ở và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội.
- Tên giao dịch là Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long
- Tên quốc tế là HOUSING BANK OF MEKONG DELTA
- Tên viết tắt là MHB
Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long đi vào hoạt động từ
tháng 4/1998, đã có trụ sở chính đặt tại thành phố Hồ Chí Minh và một hệ thống
mạng lưới bao gồm 01 Sở giao dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh, 01 văn phòng đại
diện tại Hà Nội và hơn 130 chi nhánh, phòng giao dịch tại các vùng kinh tế trọng
điểm trên khắp cả nước.
Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long tự hào là:
 Một trong 6 Ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam về tổng tài sản
 Một trong những Ngân hàng an toàn nhất Việt Nam xét theo tiêu chí
quốc tế về an toàn hoạt động Ngân hàng.
3.1.2. Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long chi nhánh
Bình Minh.
3.1.2.1. Lịch sử hình thành
- Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh được thành lập
theo quyết định số 69/2002/QĐ - NHNN - KH của Tổng Giám Đốc Ngân hàng
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 17 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
Phát triển nhà ĐBSCL ngày 2/12/2002 nhằm phục vụ cho Tỉnh Vĩnh Long và
ĐBSCL.
- Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh là đơn vị phụ
thuộc, hoạt động theo điều lệ về tổ chức, theo qui chế và tổ chức hoạt động của chi
nhánh do Hội Đồng Quản Trị ban hành theo phân cấp ủy quyền của Thống Đốc
Ngân hàng.
- Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh là đại diện pháp
nhân hạch toán kinh tế phụ thuộc, có con dấu, có bảng cân đối kế toán, trụ sở đặt
tại 169/15 Ngô Quyền, Thị trấn Cái Vồn huyện Bình Minh.
3.1.2.2. Các hình thức tín dụng cung ứng
a) Nhận: Tiền gửi của các tổ chức kinh tế và cá nhân
b) Cho vay:
- Ngắn hạn, trung và dài hạn các đơn vị kinh tế và cá nhân.
- Xây dựng, mua, sữa chữa nhà ở.
- Các dự án sản xuất nông nghiệp, nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ.
- Đầu tư máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, nhà xưởng, phương tiện
vận tải thủy bộ, thi công công trình, mua sắm phương tiện tiêu dùng, hợp tác lao
động và các nhu cầu về đời sống.
- Tài trợ xuất - nhập khẩu.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 18 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
3.2. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÁC PHÒNG BAN
Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức các phòng ban Ngân hàng Phát triển nhà
ĐBSCL chi nhánh Bình Minh trong 3 năm 2004-2006
3.2.1. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
 Giám đốc: là người có nhiệm vụ điều hành hoạt động của Ngân hàng, trực
tiếp chỉ đạo phòng nghiệp vụ kinh doanh, phòng kiểm tra nội bộ, hướng dẫn và
giám sát thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ mà cấp trên đã giao. Có quyền
quyết định các vấn đề có liên quan đến việc tổ chức bổ nhiệm và miễn nhiệm,
khen thưởng hoặc kỷ luật cán bộ công nhân viên.
 Phó giám đốc: có nhiệm vụ hổ trợ cùng giám đốc trong các nghiệp vụ,
giám sát tình hình hoạt động của các phòng trực thuộc đơn vị, đôn đốc thực hiện
đúng qui chế đã đề ra, điều hành trực tiếp phòng kế toán Ngân quỹ, tổ chức hành
chánh và các công việc khác do Giám Đốc phân công.
 Tổ hành chánh thực hiện chức năng tổ chức hành chính lực lượng cán bộ
công nhân viên trong vấn đề tham gia tổ chức của đơn vị, lập các thủ tục cần thiết
trình lên Ban Giám Đốc, ra quyết định đề nghị khen thưởng hoặc kỷ luật nhân
viên.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 19 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
Giám đốc
Phó Giám đốc
Phòng nghiệp
vụ kinh doanh
Tổ kiểm tra
nội bộ
Phòng kế toán
ngân quỹ
Tổ hành chính
nhân sự
 Tổ kiểm tra: có nhiệm vụ kiểm tra giám sát việc chấp hành các chủ
trương chính sách của nhà nước về điều lệ hoạt động của Ngân hàng và công tác
tài chính của phòng ban.
 Phòng nghiệp vụ kinh doanh:
Với chức năng tổng hợp và cân đối nguồn vốn, vạch ra kế hoạch cho hoạt
động tín dụng.
 Có nhiệm vụ giao dịch trực tiếp với khách hàng.
 Kiểm tra giám sát các hồ sơ thủ tục vay vốn, các điều kiện vay vốn…
trình lên Ban Giám Đốc ký các hợp đồng tín dụng.
 Trực tiếp kiểm tra giám sát quá trình sử dụng vốn của khách hàng, kiểm
tra tài sản, bảo đảm nợ vay theo dõi việc thu lãi, thu nợ.
 Có nhiệm vụ cập nhật các thông tin, các thông báo từ Trung Ương, theo
dõi tình hình cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, nhu cầu cần thiết từ đó
trình lên Ban Giám Đốc có kế hoạch cụ thể.
 Phòng kế toán Ngân quỹ: có nhiệm vụ thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra
các nghiệp vụ về kế toán tài chính, kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong hạch
toán kế toán. Thực hiện các nghiệp vụ có liên quan đến quá trình thanh toán thu
chi theo yêu cầu của khách hàng, thực hiện mở tài khoản cho khách hàng, kế toán
các khoản thu chi trong ngày để lập lượng vốn hoạt động của Ngân hàng. Thường
xuyên theo dõi các tài khoản giao dịch với khách hàng, kiểm tra chứng từ khi có
phát sinh, có nhiệm vụ thông báo thu nợ, thu lãi của khách hàng, thu thập tổng hợp
số liệu phát sinh lên bảng cân đối nghiệp vụ và xử lý vốn để trình lên Ban Giám
Đốc.
3.3. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG PHÁT
TRIỂN NHÀ ĐBSCL CHI NHÁNH BÌNH MINH QUA 3 NĂM 2004-2006
Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá chất lượng kinh doanh của
các ngân hàng thương mại. Trong kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng thương mại
một mặt phải thỏa mãn những yêu cầu về lợi nhuận do ngân hàng đặt ra, một mặt
họ phải đối phó với những quy định chính sách của Ngân hàng Nhà Nước về tiền
tệ ngân hàng… Các ngân hàng luôn đặt ra vấn đề làm thế nào đạt được lợi nhuận
cao nhất nhưng mức độ rủi ro thấp nhất và vẫn đảm bảo chấp hành đúng những
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 20 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
quy định của Ngân hàng Nhà nước và thực hiện được kế hoạch kinh doanh của
ngân hàng mình.
Trong 3 năm 2004- 2006, nhất là kết quả đạt được trong năm 2006, đã thể
hiện rõ định hướng đúng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Phát triển nhà
ĐBSCL chi nhánh Bình Minh. Kết quả hoạt động kinh doanh được đánh giá trong
điều kiện môi trường kinh doanh diễn biến phức tạp, phải cạnh tranh với các ngân
hàng thương mại khác trên cùng địa bàn.
Bảng 1: BẢNG KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐBSCL HUYỆN BÌNH MINH
QUA 3 NĂM 2004-2006.
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
Chênh lệch
2005 so với 2004
Chênh lệch
2006 so với 2005
2004 2005 2006 Số tiền
Tốc độ
tăng
(%)
Số tiền
Tốc độ
tăng
(%)
Thu nhập 4.675 7.378 9.704 2.703 57,8 2.326 31,5
Chi phí 3.261 5.780 7.488 2.519 77,2 1.708 29,6
Lợi nhuận 1.414 1.598 2.216 184 13 618 38,7
Nguồn: Phòng nghiệp vụ kinh doanh Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh
Nhìn lại 3 năm qua, nền kinh tế gặp một số khó khăn, một số doanh nghiệp
kinh doanh kém hiệu quả, khách hàng gặp khó khăn về vốn sản xuất, sản xuất
nông nghiệp công nghệ lạc hậu, dịch bệnh, sản phẩm không phù hợp với thị trường
(chất lượng, an toàn, mẫu mã..), chịu sự cạnh tranh hàng ngoại… Mặc dù vậy,
Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL huyện Bình Minh đã có những chính sách tín
dụng sát thực, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, cá nhân tạo điều kiện cho
các đối tượng này mở rộng và phát triển sản xuất.
Kết quả hoạt động 3 năm qua, lợi nhuận của chi nhánh năm sau đều tăng
trưởng hơn năm trước thể hiện qua hình sau:
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 21 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
2004 2005 2006
Năm
Triệu đồng
Thu nhập
Chi phí
Lợi nhuận
Hình 2: Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng Phát triển
nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh
Lợi nhuận của Ngân hàng tăng trưởng liên tục qua các năm. Cụ thể, năm
2005 lợi nhuận đạt 1.598 triệu đồng tăng 184 triệu đồng so với năm 2004, tương
ứng với tốc độ tăng 13%. Sang năm 2006 con số này đạt đến 2.216 triệu đồng tăng
618 triệu đồng so với năm 2005, ứng với tốc độ tăng 38,7%. Sở dĩ có sự chênh
lệch về lợi nhuận giữa năm 2005 và năm 2006 là do năm 2005 tốc độ tăng chi phí
(77,2%) cao hơn tốc độ tăng thu nhập (57,8%). Do chi nhánh mới đi vào hoạt động
năm 2003 nên chưa thiết lập được mối quan hệ với khách hàng, để thu hút tiền gửi
Ngân hàng đã tăng lãi suất đầu vào làm cho phi phí tăng lên. Mặt khác, Bình Minh
là một huyện nông thôn nên vốn huy động không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay. Do
vậy, chi nhánh phải sử dụng vốn điều chuyển từ Hội sở điều này làm cho chi phí
năm 2005 tăng cao.

GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 22 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
CHƯƠNG 4
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
HUYỆN BÌNH MINH

4.1. PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
4.1.1. Đánh giá chung cơ cấu nguồn vốn.
Để đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển chung của nền kinh tế thì việc tạo
lập vốn cho ngân hàng là vấn đề quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng thương mại. Vốn không những giúp cho ngân hàng tổ chức
được mọi hoạt động kinh doanh, mà còn góp phần quan trọng trong việc đầu tư
phát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng cũng như sự phát
triển của nền kinh tế nói chung. Nguồn vốn hoạt động của ngân hàng tăng trưởng
vừa tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng đầu tư tín dụng vừa đáp ứng nhu cầu
vay vốn của các thành phần kinh tế và dân cư.
Đối với Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh nguồn vốn
hoạt động bao gồm vốn huy động và vốn điều chuyển từ Hội sở. Trong 3 năm
2004-2006, kinh tế Tỉnh Vĩnh Long nói chung và huyện Bình Minh nói riêng có sự
tăng trưởng nhanh tạo điều kiện thuận lợi trong công tác huy động vốn của chi
nhánh thể hiện qua bảng số liệu sau:
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 23 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 24 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
53330
85042
81389
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
80000
90000
2004 2005 2006
Năm
Triệu đồng
Vốn huy động
Vốn điều
chuyển
Tổng nguồn
vốn

Hình 3: Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh
Bình Minh qua 3 năm 2004-2006
Qua biều đồ ta thấy được nguồn vốn của Ngân hàng liên tục tăng, đến cuối
năm 2006 tổng nguồn vốn của chi nhánh đạt tới 85.042 triệu đồng. Sự tăng của
tổng nguồn vốn là do vốn huy động và vốn điều chuyển không ngừng tăng lên.
Mặc dù vốn huy động tăng qua các năm nhưng nó vẫn chiếm tỷ trọng thấp (dưới
24%) trong cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng. Trong 3 năm qua, kinh tế tăng
trưởng khá, đời sống văn hóa xã hội của các tầng lớp dân cư đi vào ổn định và dần
cải thiện, nhưng do nền kinh tế Tỉnh mang tính thuần nông làm cho tích lũy từ nội
bộ nền kinh tế còn thấp, hơn nữa sự chậm phát triển của công thương nghiệp trong
Tỉnh cũng là nguyên nhân làm cho mức huy động thấp. Do vậy, để đảm bảo nhu
cầu vay vốn của khách hàng thì Ngân hàng phải sử dụng vốn điều chuyển từ Hội
sở làm cho vốn điều hoà tăng mạnh vào năm 2005 là 56,8%. Tuy nhiên, sang năm
2006 con số này lại giảm xuống 2,3%. Điều này cho thấy để đảm bảo an toàn, hiệu
quả trong hoạt động, Ngân hàng đã từng bước cơ cấu lại nguồn vốn ngày càng hợp
lí hơn, tăng dần tỷ trọng vốn huy động và giảm dần tỷ trọng vốn vay.
Nhìn chung, hoạt động của chi nhánh Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL
huyện Bình Minh ngày càng phát triển thể hiện qua qui mô vốn hoạt động của
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 25 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×