Tải bản đầy đủ

đề cương QLNN về dân tộc, tôn giáo

Chương 1
1. Khái niệm tôn giáo, tín ngưỡng, mê tín dị đoan? Tại sao trong QLNN cần có sự
phân biệt 3 khái niệm trên.
a. Khái niệm
- Tôn giáo là sự sùng bái và sự thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc
các mối quan hệ của con người đối với thần linh.
VD: đạo phật, đạo công giáo, đạo tin lành, đạo hồi
- Tín ngưỡng là :
+Một niềm tin theo 1 tôn giáo nào đó.(theo từ điển tiếng việt)
VD: tín ngưỡng phồn thịnh,
- Mê tín dị đoan là những hiện tượng xã hội tiêu cực, khác với các chuẩn mực
xã hội, là những gì trái với lợi ích của xã hội, nó gây thiệt hại cho chính những người
tin theo mê muội.
VD: bói toán, gọi hồn
b. so sánh:
*Sự giống và khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo:
- Sự giống nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng
Một là, những người có tôn giáo (Phật giáo, Thiên chúa giáo, đạo Tin lành,…) và có sinh
hoạt tín ngưỡng dân gian (tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín
ngưỡng thờ Mẫu,…) đều tin vào những điều mà tôn giáo đó và các loại hình tín ngưỡng
đó truyền dạy, mặc dù họ không hề được trông thấy Chúa Trời, đức Phật hay cụ kỵ tổ tiên

hiện hình ra bằng xương bằng thịt và cũng không được nghe bằng chính giọng nói của
các đấng linh thiêng đó.
Sự giống nhau thứ hai giữa tôn giáo và tín ngưỡng là những tín điều của tôn giáo và tín
ngưỡng đều có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa các cá thể với nhau, giữa cá thể
với xã hội, với cộng đồng, giải quyết tốt các mối quan hệ trong gia đình trên cơ sở giáo lý
tôn giáo và noi theo tấm gương sáng của những đấng bậc được tôn thờ trong các tôn giáo,
các loại hình tín ngưỡng đó.

- Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng
Một là, nếu tôn giáo phải có đủ 4 yếu tố cấu thành, đó là: giáo chủ, giáo lý, giáo luật và
tín đồ, thì các loại hình tín ngưỡng dân gian không có 4 yếu tố đó. Giáo chủ là người sáng
lập ra tôn giáo ấy (Thích ca Mâu ni sáng lập ra đạo Phật, đức chúa Giê su sáng lập ra đạo
Công giáo, nhà tiên tri Mô ha mét sáng lập ra đạo Hồi,…); giáo lý là những lời dạy của
đức giáo chủ đối với tín đồ; giáo luật là những điều luật do giáo hội soạn thảo và ban
hành để duy trì nếp sống đạo trong tôn giáo đó; tín đồ là những người tự nguyện theo tôn
giáo đó
Hai là, nếu đối với tín đồ tôn giáo, một người, trong một thời điểm cụ thể, chỉ có thể có
một tôn giáo thì một người dân có thể đồng thời sinh hoạt ở nhiều tín ngưỡng khác nhau.
Chẳng hạn, người đàn ông vừa có tín ngưỡng thờ cụ kỵ tổ tiên, nhưng ngày mùng Một và
1
Rằm âm lịch hàng tháng, ông ta còn ra đình lễ Thánh. Cũng tương tự như vậy, một người
đàn bà vừa có tín ngưỡng thờ ông bà cha mẹ, nhưng ngày mùng Một và Rằm âm lịch
hàng tháng còn ra miếu, ra chùa làm lễ Mẫu,…
Ba là, nếu các tôn giáo đều có hệ thống kinh điển đầy đủ, đồ sộ thì các loại hình tín
ngưỡng chỉ có một số bài văn tế (đối với tín ngưỡng thờ thành hoàng), bài khấn (đối với
tín ngưỡng thờ tổ tiên và thờ Mẫu). Hệ thống kinh điển của tôn giáo là những bộ kinh,
luật, luận rất đồ sộ của Phật giáo; là bộ “Kinh thánh” và “Giáo luật” của đạo Công giáo;
là bộ kinh “Qur’an” của Hồi giáo,… Còn các cuốn “Gia phả” của các dòng họ và những
bài hát chầu văn mà những người cung văn hát trong các miếu thờ Mẫu không phải là
kinh điển.
Bốn là, nếu các tôn giáo đều có các giáo sĩ hành đạo chuyên nghiệp và theo nghề suốt
đời, thì trong các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian không có ai làm việc này một cách
chuyên nghiệp cả. Các tăng sĩ Phật giáo và các giáo sĩ đạo Công giáo đề là những người
làm việc chuyên nghiệp và hành đạo suốt đời (có thể có một vài ngoại lệ, nhưng số này
chiếm tỷ lệ rất ít). Còn trước đây, những ông Đám của làng có 1 năm ra đình làm việc thờ
Thánh, sau đó lại trở về nhà làm những công việc khác, và như vậy không phải là người
làm việc thờ Thánh chuyên nghiệp.
*Sự giống nhau và khác nhau giữa tín ngưỡng với mê tín dị đoan
-Sự giống nhau giữa tín ngưỡng với mê tín dị đoan
Giống như sự giống nhau giữa tôn giáo với tín ngưỡng dân gian, tức là đều tin vào những


điều mà mắt mình không trông rõ, tai mình không nghe thấy thân hình và giọng nói của
đấng thiêng liêng và của đối tượng thờ cúng; hạ là, những tín điều của tín ngững dân gian
và mê tín dị đoan đều có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa con người với con
người, giữa con người với xã hội, với cộng đồng, điều chỉnh hành vi ứng xử trong gia
đình trên cơ sở những tín điều mà người ta tin theo và noi theo tấm gương sáng của
những đấng bậc và những đối tượng tôn thờ trong các loại hình tín ngưỡng và trong mê
tín dị đoan.
Sự khác nhau giữa tín ngưỡng với mê tín dị đoan
Một là, xét về mục đích, nếu sinh hoạt tín ngưỡng có mục đích là thể hiện nhu cầu của
đời sống tinh thần, đời sống tâm linh thì người hoạt động mê tín dị đoan lấy mục đích
kiếm tiền là chính. Người hoạt động trong lĩnh vực này chỉ làm việc với khách hàng khi
có tiền.
Hai là, nếu trong lĩnh vực sinh hoạt tín ngưỡng không có ai làm việc chuyên nghiệp hay
bán chuyên nghiệp, thì những người hoạt động mê tín dị đoan hầu hết là hoạt động bán
chuyên nghiệp hoặc chuyên nghiệp. Nhiều người sống và gây dựng cơ nghiệp bằng nghề
này.
Ba là, nếu sinh hoạt tín ngưỡng có cơ sở thờ tự riêng (đình, từ đường, miếu,…) thì những
người hoạt động mê tín dị đoan thường phải lợi dụng một không gian nào đó của những
cơ sở thờ tự của tín ngưỡng dân gian để hành nghề hoặc hành nghề tại tư gia.

2
Bốn là, nếu những người có sinh hoạt tín ngưỡng thường sinh hoạt định kỳ tại cơ sở thờ
tự (ngày mùng Một, ngày Rằm âm lịch hàng tháng ra đình làm lễ Thánh; hàng năm đến
ngày giỗ bố mẹ ông bà, phải làm giỗ,…) thì những người hoạt động mê tín dị đoan hoạt
động không định kỳ, vì người đi xem bói chỉ gặp thầy bói khi trong nhà có việc bất
thường xảy ra (mất của, chết đuối, ốm đau, hỏa hoạn,…), còn bình thường, có lẽ họ
chẳng gặp thầy bói làm gì.
Năm là, nếu sinh hoạt tín ngưỡng được pháp luật bảo vệ, được xã hội thừa nhận thì hoạt
động mê tín dị đoan bị xã hội lên án, không đồng tình.
c.Trong QLNN cần có sự phân biệt giữa 3 khái niệm trên.:
- Do 3 khái niệm này có mối quan hệ mật thiết với nhau nên Cần phân biệt để tránh
mê tín dị đoan lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo hoạt động:
Trước hết, các nhà truyền giáo của các tôn giáo phải dựa vào tín ngưỡng bản địa để tuyên
truyền và thể hiện đức tin tôn giáo của mình. Về phía cộng đồng có đời sống tín ngưỡng
cũng học hỏi được một số điểm phù hợp của một số tôn giáo về nghi thức hành lễ, về
phẩm phục, về cách bài trí nơi thờ tự,…
Hai là, đối với hoạt động mê tín dị đoan, do không có cơ sở thờ tự chính thức, những
người hành nghề đã mượn cơ sở thờ tự của tôn giáo (chủ yếu là của Phật giáo) và cơ sở
thờ tự của tín ngưỡng dân gian để hành nghề. Cũng do hành nghề tại các cơ sở thờ tự tôn
giáo và tín ngưỡng dân gian mà trong một mức độ nào đó, “độ tin cậy” của họ đối với
khách hàng có thể được nâng cao
Ba là, một số tôn giáo và tín ngưỡng dân gian (tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ
Thành hoàng) dựa vào sự thiếu hiểu biết của người dân đã sử dụng một số thủ thuật của
nghề mê tín dị đoan để tăng thêm sự huyền bí của một số lễ thức ngoài tôn giáo và tín
ngưỡng (chẳng hạn, lễ thức xin âm dương, rút thẻ,…) mà tôn giáo, tín ngưỡng nào đó vay
mượn. Mặt khác, người hành nghề mê tín dị đoan cũng học được ở các pháp sư Phật giáo
một số thế tay bắt quyết để họ hành nghề trừ tà ma,…
Bốn là, những người hành nghề mê tín dị đoan hoạt động tại các cơ sở thờ tự tôn giáo và
cơ sở thờ tự tín ngưỡng dân gian sẽ dễ dàng tiếp cận được với số đông khách hàng, và
như vậy, nguồn lợi mà họ thu được sẽ nhiều hơn.
- Cần phân biệt để có những chính sách, các văn bản pháp luật điều chỉnh như: nếu là tín
ngưỡng, tôn giáo thì phát huy và có những chính sách điều chỉnh phù hợp còn nếu là mê
tín dị đoan thì cần bài trừ và có các hình phạt xử lý nghiêm minh
* Giải pháp:
- Tuyên truyền và giáo dục nhân dân triển khai thực hiện tốt pháp lệnh tôn giáo, thực hiện
quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo.
-Vận động, hướng dẫn các tôn giáo thực hiện hành đạo theo đúng quy định của pháp luật,
đoàn kết giữa các tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa đạo đức của tôn giáo phù hợp
3
với giai đoạn mới theo phương châm sống “Tốt đời, đẹp đạo”, tham gia các hoạt động từ
thiện, nhân đạo.
-Vận động nhân dân bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống về văn hóa, đạo đức,
lối sống tốt đẹp, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan.
-Nâng cao trình độ dân trí và hướng dẫn sâu rộng trong nhân dân về sự khác nhau của tôn
giáo và mê tín dị đoan. Cần có những hình thức xử phạt với những người hành nghề mê
tín dị đoan, tàng trữ mua bán các ấn phẩm mê tín dị đoan. Công an và cơ quan văn hóa
cần làm tốt nhiệm vụ quản lí của mình để giảm thiểu các hoạt động mê tín dị đoan, ngoài
ra ngành văn hóa thông tin cần có trách nhiệm xây dựng và hướng dẫn nhân dân những
nghi thức phù hợp trong tín ngưỡng.
-Phát động phong trào quần chúng rộng rãi, nêu cao vai trò làm chủ, ý thức tự giác của
nhân dân, xây dựng các tiêu chuẩn về nếp sống văn minh, gia đình văn hóa trong đó có
bài trừ mê tín dị đoan. Tóm lại, nếu có sự quản lí chặt chẽ của nhà nước kết hợp với ý
thức của nhân dân cùng với sự đồng lòng, đoàn kết thì mê tín dị đoan nhất định sẽ bị loại
bỏ.
- Cần phát huy những mặt tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo
2. Phân tích nguồn gốc hình thành nên tôn giáo?
a.Nguồn gốc kinh tế- xã hội của tôn giáo:
- Trong xã hội nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém con người
cảm thấy yếu đuối và bất lực với trước thien nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy họ đã gắn
cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực to lớn, thần thánh hóa những sức mạnh đó. Từ
đó họ xây dựng những biểu hiện tôn giáo để thờ cúng.
- khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng, con người cảm thấy bất lực trước
sức mạnh của thế lực giai cấp thống trị. Họ không giải thích được nguồn gốc của sự phân
hóa giai cấp và áp bức, bốc lột, tội ác tất cả họ quy về số phận và định mệnh. Từ đó họ
đã thần thánh hóa một số người thành những thần tượng có khả năng chi phối suy nghĩ và
hành động người khác mà sinh ra tôn giáo.
=>Sự yếu kém về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự bần cùng về kinh tế, áp
bức, bóc lột về chính trị , bất lực trước những bất công của xh là nguồn gốc sâu xa dẫn
đến sự ra đời của tôn giáo.
b.Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo:
Ở những giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội
và bản thân mình còn có giới hạn. Mặt khác, trong tự nhiên và xã hội có nhiều điều khoa
học chưa khám phá và giải thích được nên con người lại tìm đến tôn giáo.
Sự nhận thức của con người khi xa rời hiện thực, thiếu khách quan dễ rơi vào ảo
tưởng, thần thành hóa đối tượng.
c.Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:
4
Con người tìm đến tôn giáo như tìm đến niềm an ủi, chỗ dựa tinh thần, tôn giáo đã
có tác dụng giữ trạng thái thăng bằng, tâm tư, tình cảm của con người. Nó là quan niệm,
lòng tin, tình cảm của con người trước những sức mạnh của tự nhiên, những biến cố của
xã hội. Vì thế tôn giáo chỉ là hạnh phúc hư ảo, song người ta vẫn cần đến nó.
*Giải pháp:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách về tôn
giáo của Đảng và Nhà nước trong nhân dân.
- Giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc, làm
cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa xã hội, hăng hái thi đua xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có
công với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân; tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào
các dân tộc và đồng bào có đạo;đồng thời, tạo cơ sở để đấu tranh chống những tà đạo,
những hoạt động mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm hại đến lợi ích của Tổ quốc, dân
tộc và nhân dân.
- Tăng cường đầu tư và thực hiện có hiệu quả các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia,
đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn
hoá cho nhân dân các vùng khó khăn, đặc biệt quan tâm các vùng đông tín đồ tôn giáo
và vùng dân tộc miền núi còn nhiều khó khăn.
- Tăng cường cảnh giác cách mạng, xây dựng phương án cụ thể, chủ động đấu tranh làm
thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chia
rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
- Củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức làm công tác tôn giáo của Đảng, chính quyền, Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mô hình tổ
chức quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp; xây dựng quy chế phối hợp phát huy sức
mạnh và hiệu quả công tác.
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo
đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
- Quan tâm thoả đáng việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các
cấp. Cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải được bồi
dưỡng, huấn luyện để hiểu biết phong tục tập quán, tiếng nói của dân tộc nơi mình công
tác.
3. Tại sao nói đặc điểm tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng của
nước ta(Vai trò của tôn giáo)
Do tôn giáo có sự đồng hành lâu dài với con người trong lịch sử, nên có thể xem
nó như một phần tài sản văn hóa của nhân loại. Trong quá trình phát triển, lan truyền trên
bình điện thế giới, tôn giáo không chỉ đơn thuần chuyển tải niềm tin của con người, mà
còn có vai trò chuyển tải, hoà nhập văn hóa và văn minh, góp phải duy trì đạo đức xã hội
5
nơi trần thế. Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của con người. Với tư
cách một bộ phận của ý thức hệ, tôn giáo đã đem lại cho cộng đồng xã hội, cho mỗi khu
vực, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc những biểu hiện độc đáo thể hiện trong cách ứng xử, lối
sống, phong tục, tập quán, trong các yếu tố văn hóa vật chất cũng như tinh thần.
Điều dễ nhận thấy là, những hệ thống đạo đức của tôn giáo rất khác nhau về niềm
tin, rất xa nhau về địa lý vẫn có một mẫu số chung là nội dung khuyên thiện. Điểm mạnh
trong truyền thụ đạo đức tôn giáo là, ngoài những điều phù hợp với tình cảm đạo đức của
nhân dân, nó được thực hiện thông qua tình cảm tín ngưỡng, mềm tin vào giáo lý. Do đó,
tình cảm đạo đức tôn giáo được tín đồ tiếp thu, tạo thành đức tin thiêng liêng bên trong và
chi phối hành vi ứng xử của họ trong các quan hệ cộng đồng. Họat động hướng thiện của
con người được tôn giáo hóa sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, nhiệt thành hơn.
Là hình thức phản ánh đặc thù, phản ánh hư ảo thế giới hiện thực, tôn giáo đã góp
phần chế ngự các hành vi phi đạo đức. Do tuân thủ những điều răn dạy về đạo đức của
các tôn giáo, nhiều tín đồ đã sống và ứng xử đúng đạo lý, góp phần làm cho xã hội ngày
càng thuần khiết.
Đặc biệt, đạo đức tôn giáo được hình thành trên cơ sở niềm tin vào cái siêu nhiên
(Thượng đế, Chúa, Thánh Ala) và sau này, Đức Phật cũng được thiêng hóa, nên các tín đồ
thực hành đạo đức một cách rất tự nguyện, tự giác. Song, suy cho cùng, việc thực hiện
những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức ấy cũng là để phục vụ cho mềm tin siêu nhiên. Sự
đan xen giữa hy vọng và sợ hãi, giữa cái thực và cái thiêng đã mang lại cho tôn giáo khả
năng thuyết phục tín đồ khá mạnh mẽ. Trên thực tế, chúng ta thấy nhiều người cung tiến
rất nhiều tiền của vào việc xây dựng chùa chiền, làm từ thiện vốn là những tín đồ tôn
giáo.
Đạo đức tôn giáo hướng con người đến những giá trị nhân bản, góp phần tích cực
vào việc hoàn thiện đạo đức cá nhân. Bất kỳ tôn giáo nào cũng đề cập đến tình yêu. Tinh
thần "từ bi" trong Phật giáo không chỉ hướng đến con người, mà còn đến cả muôn vật, cỏ
cây Phật giáo kêu gọi lòng nhân đạo, yêu thương và bảo vệ sự sống. Đặc biệt, trong quan
hệ giữa con người với con người, Phật giáo muốn tình yêu thương ấy phải biến thành
hành động "bố thí", cứu giúp những người đau khổ hoặc "nhẫn nhục” để giữ gìn đoàn
kết.
Muốn giải thóat khỏi đau khổ, con người phải tự hoàn thiện đạo đức cá nhân, diệt
trừ tham, sân, si, xoá bỏ vô minh, chặt đứt cây "nghiệp" để vượt qua biển khổ luân hồi.
Đạo đức của Kitô giáo cũng đề cập đến tình yêu: yêu thương bản thân mình, yêu tha nhân
và yêu thiên nhiên, trong đó, yêu tha nhân là trọng tâm của quan niệm đạo đức về tình
yêu. Những chuẩn mực của đạo đức Kitô giáo giúp con người hoàn thiện đạo đức cá nhân
trong quan hệ với cộng đồng. Tình yêu tha nhân ở đây không đơn thuần là tình yêu trong
tâm tưởng mà được cụ thể hóa: cho kẻ đói ăn, cho kẻ rách mặc, chăm sóc người ốm đau,
bệnh họan, khuyên can người lầm lỗi Tóm lại, đây là những hành vi đạo đức rất cụ thể,
rất thiết thực khi trong xã hội còn nhiều cảnh khổ cần được cứu vớt, giúp đỡ.
6
Tuy nhiên, tình yêu, lòng từ bi mà đạo đức tôn giáo đề cập đến còn chung chung,
trừu tượng. Các tôn giáo đều muốn san bằng mọi bất công, mâu thuẫn trong xã hội bằng
đạo đức. ý tưởng đó dù tất đẹp, nhưng khó có thể hiện thực hóa trong cuộc sống trần thế.
Song, có thể nói, việc hoàn thiện đạo đức cá nhân mà đạo đức tôn giáo đề ra nhằm hướng
đến mục đích siêu nhiên, hướng đến chốn Thiên đường của Chúa hay cõi Niết bàn của
Phật, dẫu sao vẫn có những tác động tích cực đến đạo đức cá nhân và xã hội.
* Giải pháp
- Tuyên truyền và giáo dục nhân dân triển khai thực hiện tốt pháp lệnh tôn giáo, thực hiện
quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo.
-Vận động, hướng dẫn các tôn giáo thực hiện hành đạo theo đúng quy định của pháp luật,
đoàn kết giữa các tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa đạo đức của tôn giáo phù hợp
với giai đoạn mới theo phương châm sống “Tốt đời, đẹp đạo”, tham gia các hoạt động từ
thiện, nhân đạo.
-Vận động nhân dân bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống về văn hóa, đạo đức,
lối sống tốt đẹp, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan.
-Nâng cao trình độ dân trí và hướng dẫn sâu rộng trong nhân dân về sự khác nhau của tôn
giáo và mê tín dị đoan. Cần có những hình thức xử phạt với những người hành nghề mê
tín dị đoan, tàng trữ mua bán các ấn phẩm mê tín dị đoan. Công an và cơ quan văn hóa
cần làm tốt nhiệm vụ quản lí của mình để giảm thiểu các hoạt động mê tín dị đoan, ngoài
ra ngành văn hóa thông tin cần có trách nhiệm xây dựng và hướng dẫn nhân dân những
nghi thức phù hợp trong tín ngưỡng.
-Phát động phong trào quần chúng rộng rãi, nêu cao vai trò làm chủ, ý thức tự giác của
nhân dân, xây dựng các tiêu chuẩn về nếp sống văn minh, gia đình văn hóa trong đó có
bài trừ mê tín dị đoan. Tóm lại, nếu có sự quản lí chặt chẽ của nhà nước kết hợp với ý
thức của nhân dân cùng với sự đồng lòng, đoàn kết thì mê tín dị đoan nhất định sẽ bị loại
bỏ.
- Cần phát huy những mặt tích cực của tôn giáo
4. Xu thế hiện nay của các tôn giáo trên thế giới?Những xu thế đó tác động vào VN ?
Cã 4 xu híng chÝnh sau ®©y:
-ThÕ tôc ho¸:
+Hướng chủ yếu của xu thế này là những hành vi nhập thế của mọi tôn giáo bằng cách
tham gia vào những hoạt động trần tục phi tôn giáo như xã hội, đạo đức, giáo dục, y tế…
nhằm góp phần cứu nhân độ thế.
+Xu thế thế tục hóa cũng biểu hiện trong cuộc đấu tranh của bộ phận tiến bộ trong từng
tôn giáo muốn xóa bỏ những điểm lỗi thời trong giáo lý, những khắt khe trong giáo luật,
muốn tiến tới sự đoàn kết giữa các tín đồ các tôn giáo khác nhau.
7
+Xu th th tc húa biu hin vai trũ ca tụn giỏo b gim sỳt, c bit l cỏc nc
cụng nghip, nht l cỏc c dõn thnh th v tng lp thanh niờn. H cho rng cuc
sng bn thõn c quyt nh ch yu l l t thõn, ớt ph thuc v khụng ph thuc vo
thn linh.
+Xu th th tc húa cũn biu hin ch con ngi dng nh ra khi tụn giỏo. Mt s
tớn vn tin hnh nhng nghi l v cu xin, cú khi cũn hnh hng nhng li khụng
hn theo giỏo lý hay giỏo lut ó c nh sn.
+Xu th th tc húa cng cú mt trỏi, th hin rt rừ trong vic tham gia vo cỏc hot
ng chớnh tr ca mt s t chc tụn giỏo nhm bo v trc tip hay giỏn tip quyn li
ca cỏc th lc chớnh tr phn ng.
Vd: trong o pht cú 5 iu cm, nh cm: sỏt sinh, núi di, trm cp, ung ru, t
dõm cú s thay i: cho phộp cỏc pht t c ung ru nhng ko c say; Cho
phộp nhng ngi i theo o pht( tu ti gia) c phộp ly v nhng ko dk ngoi tỡnh.
+ o pht: theo quy lut vn ng khỏch quan ca tin trỡnh lch s xó hi, thỡ s bin
i ca Pht giỏo ng i, c bit l trong mi tng quan gia o v i ngy cng
i vo chiu sõu theo hng hũa hp, l iu khụng th trỏnh khi, nht l trong bi
cnh ton cu húa, hi nhp kinh t quc t. Th nhng, chỳng ta khụng th ph nhn
mt thc t ỏng bun l mt s c s th t v trong mt b phn Tng, Ni Pht t
ca Giỏo hi Pht giỏo Vit Nam hin nay, s bin i ny ang din ra theo xu hng
tiờu cc, nu khụng mun núi l chch hng vi mc tiờu tt p phc v o phỏp v
dõn tc. Cú th thy im ni bt l s gia tng cỏc yu t d oan trong l nghi Pht giỏo
cựng vi s sa sỳt v phm hnh ca mt b phn Tng, Ni, tớn . Nhiu nh chựa ang
l ni din ra cỏc hot ng mờ tớn d oan nh: ng búng, xúc th, búi toỏn; nhiu Tng
Ni khụng hnh o theo tụn ch Pht giỏo m ch lo toan, mu li v tin bc hay phm
trt.
-Dân tộc hoá
Là xu thế các tôn giáo quay về với những giá trị xã hội mang tính vùng miền đặc trng cho
mỗi dân tộc , xu thế này trong điều kiện hiện nay càng đợc nâng cao do các dân tộc có ý
thức về bản thân mình muốn tồn tại hay không là do giữ đợc bản sắc văn hoá của dân tộc
mình hay không?Bởi vậy dới giác độ văn hoá mà tôn giáo là một bộ phận của các dân tộc
có xu thế bảo vệ tôn giaó truyền thống của mình coi đó là một vũ khí chống lại sự đồng
hoá văn hoá dân tộc. Mt tụn giỏo mun du nhp vo nc s ti phi thay i sao cho
phự hp vi np sng dõn tc; giỏo lys, giỏo lut ca nc ú(Tụn vinh cỏc tụn giỏo bn
a)
-Xu thế đa dạng hoá tôn giáo:+ Là xu thế một tôn giáo chính nó phân ly thành những tôn
giáo nhỏ và hiện nay đây là hiện tợng phổ biến của tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới.
+ Trong những thập kỷ gần đây đã phát sinh hàng loạt các tôn giáo mới ( VN cú trờn 50
tụn giỏo mi). và đã đợc sự chấp nhận của các cộng đồng ngời và tồn tại nh một thực thể
khách quan trong đời sống tôn giáo của nhân loại. cần lu ý sự xuất hiện của các giáo phái
mới phi nhân tính, phản văn hoá, đã có nơ gây ra những hậu quả.
8
+ Xut hin nhiu tụn giỏo. ( VN cú 13 tụn giỏo ó c cụng nhn v 40 t chc tụn
giỏo)
-Xu thế các xung đột tôn giáo: đan xen voí xung đột dân tộc đây là xu thế mang tính toàn
cầu hóa, hiện đang xảy ra khắp nơi trên thế giới. Vì vậy đây là đây là một xu thế quan
trọng nhà nớc cần đặc biệt quan tâm.
-Các xu thế khác:
+Các tôn giáo lớn tìm cách hoà giải với nhau để phân chia lại khu vực ảnh hởng của mình
trên thế giới trên phạm vi toàn cầu trong thế kỷ mới.
+Phát huy vai trò của tôn giáo để giải quyết mối quan hệ các vấn đề toàn cầu.
+ Xuất hiện các Đảng phái chính trị mang màu sắc tôn giáo.
+Thực tế đời sống của xã hội loại ngời đang có chuyển biến sâu sắc trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội , việc nhận biết sự chuyển biến này rất cần thiết trong quản lý nhà nớc.
+Trong mt tụn giỏo hoc kt hp gia cỏc tụn giỏo phõn ly hoc hỡnh thnh cỏc tụn
giỏo mi.
+Phỏt huy nh hng ca tụn giỏo trong quỏ trỡnh gii quyt cỏc vn ton cu trong
quỏ trỡnh ton cu húa.
+Cỏc tụn giỏo a ra cỏc hc thuyt chớnh tr - xó hi v s xut hin cỏc ng phỏi chớnh
tr c thnh lp di ngn c tụn giỏo.
*Tỏc ng vo Vit Nam:
Hin nay, Vit Nam phi chu tỏc ng khụng nh ca xu hng ton cu hoỏ i vi mi
mt ca i sng xó hi, trong ú cú i sụng tụn giỏo . Trong thc t, s vn ng, bin
i v phỏt trin ca i sng tụn giỏo Vit Nam gn cht vi s vn ng ca tn ti
xó hi, gn cht vi xu hng ton cu hoỏ. iu ny c biu hin nhng xu th c
bn sau:
Th nht, xu th th tc hoỏ
Cú th núi, th tc hoỏ tụn giỏo gn cht vi s phỏt trin v tin b ca xó hi loi ngi
ng thi ngy nay õy l xu th ni tri chi phi i sng tụn giỏo th gii cng nh
Vit Nam. V c bn ni dung ca xu th th tc hoỏ c cỏc nh khoa hc thng nht
nhng im c bn sau: ú l nhng hnh vi nhp th ca mi tụn giỏo bng cỏch tham
gia vo nhng hot ng trn tc phi tụn giỏo (xó hi, o c, giỏo dc, y t ), nhm
gúp phn cu ngi ng loi, xu th th tc hoỏ cũn biu hin trong cuc u tranh ca
mt b phn tin b trong tng tụn giỏo mun xoỏ b nhng im li thi trong giỏo lý,
nhng kht khe trong giỏo lut, mun tin ti s on kt gia cỏc tớn tụn giỏo v
khụng tụn giỏo, xu th th tc hoỏ cũn biu hin ph bin cỏc nc cụng nghip, nht l
b phn c dõn thnh th v tng lp thanh niờn, vai trũ ca tụn giỏo b gim sỳt. S
quyt nh i sng bn thõn ch yu da vo i sng bn thõn, khụng, hay ớt ph thuc
vo ng siờu linh, xu th th tc hoỏ cũn biu hin ch con ngi ng nh ra khi
tụn giỏo nht inh, nhng li mt tõm thc tụn giỏo bng bc hay cỏi tụn giỏo.
Tht vy, nu hiu ni dung cp trờn l ni hm ca th tc hoỏ, thỡ trong i sng
tụn giỏo Vit Nam, xu th th tc hoỏ hay nhp th ó din ra t lõu song ch thy bc
9
lộ rõ ràng trong những năm gần đây. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử đặc thù, cộng với
đang trong tình trạng chuyển đổi của nền kinh tế - xã hội, nên xu thế thế tục hoá tôn giáo
của Việt Nam cũng khác với các nước khác, đặc biệt so với các nước phương Tây.
Nếu như xu thế thế tục hoá ở phương Tây, người dân ngày càng ít đi lễ ở nhà thờ, dù rằng
vẫn tin là có Chúa, có Đấng tối cao, vẫn nhận mình là tín đồ tôn giáo nào đó, thì ngược
lại ở Việt Nam số tín đồ tham gia sinh hoạt tôn giáo ở các nơi thờ tự ngày càng tăng, nếu
ở phương Tây có xu hướng dường như ra khỏi tôn giáo nhất định, nhưng trở lại tâm thức
tôn giáo bàng bạc, hay "cái tôn giáo", thì các tín đồ tôn giáo Việt Nam nói chung lại gắn
bó với tôn giáo cụ thể nhiều hơn và cũng khó đến với "cái tôn giáo". Nếu như người
phương Tây chú ý nhiều đến lý luận tôn giáo, phân tích những quan điểm lạc hậu, bảo thủ
của giáo lý tôn giáo nhằm yêu cầu khắc phục, hoặc có xu hướng đi vào suy tư thần học
mới bằng những chiêm nghiệm cá nhân, thì ở Việt Nam lại đơn giản hoá những vấn đề lý
luận, trọng thực hành nhiều hơn, thường vận dụng linh hoạt những giáo điều trong giáo lý
vào đời sống thực tiễn hàng ngày. Mặt khác, xu thế thế tục hoá trong các tôn giáo ở Việt
Nam còn được thể hiện ở các tôn giáo bên cạnh thực hiện việc đạo, họ còn thực hiện việc
đời, đó là tham gia hoạt động xã hội: chính trị, y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo ở tất cả
các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi giáo
Thứ hai, dân tộc hóa tôn giáo:
Các tôn giáo khi du nhập vào Việt nam đều phải có những thay đổi nhất định để
phù hợp với sự phát triển của đất nước
Ở VN: tín ngưỡng thờ cúng, tổ tiên luôn luôn được tôn vinh và được tôn vinh là
tôn giáo bản địa
Thứ ba, xu thế đa dạng hoá tôn giáo
Có thể nói, xu thế đa dạng hoá tôn giáo là hậu quả tất yếu của toàn cầu hoá. Bởi vì toàn
cầu hoá là quá trình mở rộng dần không gian lãnh thổ, nên con người không chỉ tiếp cận
với một/ các tôn giáo của dân tộc mình, mà còn biết tới tôn giáo khác, thậm chí không
phải tiếp thu một cách thụ động, mà còn chủ động tiếp thu với tính chất phê phán. Hậu
quả tất yếu của đa dạng hoá tôn giáo là, nếu như tôn giáo truyền thống nào không đáp
ứng được nhu cầu quần chúng (do hạn chế về giáo lý, nghi lễ ) thì sẽ bị thay thế bởi một
tôn giáo nào đó phù hợp hơn. Trong giai đoạn này, hiện tượng tín đồ khô đạo, nhạt đạo
nảy sinh, trường hợp trong một con người song hành nhiều tôn giáo. Lịch sử đã từng
chứng kiến sự tách ra của đạo Tin Lành từ Công giáo ở thế kỷ XVI, rồi Tin Lành lại phân
rẽ ra nhiều giáo phái, từ từng giáo phái lại tách ra thành các nhánh nhỏ và nhiều khi nó xa
lạ với giáo phái ban đầu. Xu thế này lý giải vì sao ở Châu Âu hiện nay số lượng tín đồ
của các tôn giáo khác đi theo Phật giáo khá nhiều. Đó là sự biểu hiện đa dạng hoá tôn
giáo.
Đối với Việt Nam, do đặc điểm về mặt địa lý, nên đặc điểm về tôn giáo không giống như
các nước châu âu, tính đa thần hay phiến thần dường như phổ biến. Thực tế cho thấy,
trong đời sống tôn giáo nổi lên tục thờ thần đá, thần cây, thần sông, nước, các nhiên thần
10
và cá nhân thần. Hiện tượng nhân cách hoá các nhiên thần không chỉ thấy ở những tên
các vị thần được phong: Cao Sơn, Tản Viên, Cao Lỗ, Phù Đổng, Thạch Quang, mà còn
thấy ở các hòn đá là những đối tượng thờ cúng phổ biến ở các nơi thờ các vị thành hoàng
hiện nay Các vị thần có nguồn gốc sông nước như: Long Đỗ, Linh Lang, Hoàng Lệ
Mật, Trương Hống, Trương Hát Các vị thần cây trú ngụ ở cây đa, cây gạo quen thuộc
ở khu vực đồng bằng Bắc bộ
Sự ra đời của nền sản xuất nông nghiệp kéo theo sự ra đời của các cộng đồng chính trị -
xã hội (lãnh thô): làng, xã bản, mường, đất nước , bên cạnh các cộng đồng huyết thống
(các dòng họ). Dưới góc độ tôn giáo, các tôn giáo tương ứng với quốc gia - dân tộc như:
đã nảy sinh đạo Tổ tiên theo nghĩa rộng tôn thờ các vị thần có công với cộng đồng từ gia
đình, dòng họ, làng bản, đất nước với các lễ thức nông nghiệp theo chu ký của sản xuất.
Phương thức canh tác nông nghiệp như vậy cũng xuất hiện ý niệm về trời, đất. Ông trời
đến với họ vừa cao xa, vừa gần gũi, trời có thể thưởng, phạt và luôn là đối tượng bảo hộ
khi con người gặp hoạn nạn, khó khăn.
Bên cạnh các hình thức đa dạng trong đời sống tôn giáo kể trên, ở các tộc người trong
cộng đồng quốc gia dân tộc tồn tại nhiều hình thức tôn giáo sơ khai: tô tem, ma thuật, phù
thuỷ tạo nên đời sống tôn giáo của người Việt vô cùng đa dạng và phong phú.
Sự đa dạng và phong phú trong đời sống tôn giáo của người Việt còn kể tới sự du nhập
của các tôn giáo lớn: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo Có thể nói, ba tôn giáo này truyền
vào Việt Nam rất sớm, song vẫn tồn tại hoà bình bên cạnh nhau suốt hơn 2000 năm lịch
sử đã trở thành một trong những yếu tố cốt yếu của nền văn hoá, đó là hiện tượng tam
giáo đồng nguyên. Chính sự xâm nhập, đan xen vào nhau tạo ra nét văn hoá của mỗi con
người. Trong con người Việt Nam vừa có cái duy lý của Nho giáo, vừa có cái tâm linh
của Phật giáo, vừa có cái siêu thoát của Lão giáo. Cũng chính sự kết hợp, bổ Bung của ba
tôn giáo đã làm phong phú thêm những lễ nghi, giáo lý, nghi thức thờ cúng trong hành vi
của mỗi tôn giáo, tồn tại trong làng xóm hay trong cộng đồng. Đó cũng là di sản văn hoá
để tiếp xúc với văn minh phương Tây, cũng như du nhập tôn giáo độc thần như Kitô giáo.
Khi đã du nhập đến lượt mình Kitô giáo cũng phải biến đổi ít nhiều để phù hợp với sự đa
dạng của các hình thức tôn giáo Việt Nam bằng nội dung hội nhập văn hoá của Công
đồng Vatican II (1962 - 1965).
Sự đa dạng tôn giáo lại được biểu hiện rõ ràng nhất trong đời sống thực hành tôn giáo.
Một tín đồ của một tôn giáo có thể tham gia nhiều hành vi sinh hoạt tôn giáo khác nhau.
Những người theo tôn giáo được coi là độc thần: Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo cũng
không ít người còn tham gia và sinh hoạt tôn giáo khác ở chùa, đền, các lễ hội tôn giáo.
Họ tin tưởng rằng, ngoài Chúa của họ thì các lực lượng siêu nhiên khác cũng sẽ mang lại
cho họ những điều tốt lành. Sự đan xen, lồng ghép tôn giáo, trong giáo lý, trong tâm thức
và thực hành tôn giáo xuất phát từ nhận thức giản đơn của cư dân nông nghiệp "có thờ có
thiêng, có kiêng có lành”.
11
Đối với việt Nam, hiện tượng tôn giáo mới có những đặc trưng điển hình, một mặt
xuất hiện muộn hơn nhiều so với thế giới, mặt khác, xuất hiện, tồn tại trong nền kinh tế
chậm phát triển và mang nặng tính chất sản xuất nông nghiệp, nên hiện tượng tôn giáo
mới chỉ là hiện tượng mang tính chất tôn giáo, nhưng lại lẻ tẻ và chưa thành một phong
trào rõ rệt như ở một số nước khác. Hơn nữa, những nhóm có tính chất tôn giáo ở đây
thường không chú ý tới việc thể chế hoá, mà lưu tâm đến tính cộng đồng, làm sao nhiều
người biết đến, ủng hộ, tham gia. Bên cạnh đó, hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam, một
mặt xuất hiện từ bên trong mang tính chất nội sinh, mặt khác được du nhập từ bên ngoài,
chưa được "tiêu hoá" hết, nên mang tính lộn xộn mà được biểu hiện từ ngay những tên
gọi, giáo lý, nghi lễ.
Theo số liệu khảo sát của một số đề tài nghiên cứu khoa học của Việt Nam, hiện nay ở
nước ta có khoảng 50 hiện tượng tôn giáo mới, trong đó có 8 hiện tượng xâm nhập từ
nước ngoài vào, còn lại 42 hiện tượng khác mới phát sinh từ trong nước: Thanh Hải vô
thượng sư, Tam Tổ thánh hiền, ô mô tô giáo, đạo Bahai, Long Hoa Di Lặc, Ngọc Phật Hồ
Chí Minh, Chân tu tâm kính, Đạo Chân Không, Vô Vi pháp
Như vậy có thể thấy, xu hướng đa dạng tôn giáo hiện nay ở nước ta là xu thế có tính nổi
trội. Bởi vì, một mặt do không gian xã hội được mở rộng, sự tiếp xúc văn hoá trong đó có
tôn giáo ngày càng gia tăng, mặt khác, sự đa dạng tôn giáo có ngay ở trong yếu tố lịch sử
văn hoá của dân tộc, đó là tính khoan dung trong văn hoá, đó là sự xuất phát của cư dân
nông nghiệp, đó là sự đa dạng tộc người trong quốc gia đa dân tộc. Chính các đặc trưng
này tạo xu thế đa dạng tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
Thứ tư, xung đột dân tộc đan xen với xung đột tôn giáo:
Trong lịch sử Việt nam chưa diễn ra xung đột gay gắt nào về dân tộc đn xen với
xung đột tôn giáo
*Giải pháp:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách về tôn
giáo của Đảng và Nhà nước trong nhân dân.
- Giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc, làm
cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa xã hội, hăng hái thi đua xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
-Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có
công với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân; tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào
các dân tộc và đồng bào có đạo, thông qua đó tăng cường sự đồng thuận giữa những
người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người không tín ngưỡng, tôn giáo; giữa những
người có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; đồng thời, tạo cơ sở để đấu tranh chống
những tà đạo, những hoạt động mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm hại đến lợi ích của
Tổ quốc, dân tộc và nhân dân
- Tăng cường đầu tư và thực hiện có hiệu quả các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia,
đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn
12
hoá cho nhân dân các vùng khó khăn, đặc biệt quan tâm các vùng đông tín đồ tôn giáo
và vùng dân tộc miền núi còn nhiều khó khăn.
- Tăng cường cảnh giác cách mạng, xây dựng phương án cụ thể, chủ động đấu tranh làm
thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chia
rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
- Củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức làm công tác tôn giáo của Đảng, chính quyền, Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mô hình tổ
chức quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp; xây dựng quy chế phối hợp phát huy sức
mạnh và hiệu quả công tác.
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo
đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
- Quan tâm thoả đáng việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các
cấp. Cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải được bồi
dưỡng, huấn luyện để hiểu biết phong tục tập quán, tiếng nói của dân tộc nơi mình công
tác.
CHƯƠNG 2:
Câu 1: tại sao nói Việt nam là một quốc gia đa tôn giáo?
*Nguyên nhân:
-Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi
trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập
các luồng văn hoá, các tôn giáo trên thế giới.
-Ở Việt Nam, do đặc điểm lịch sử liên tục bị xâm lược từ bên ngoài nên việc Lão giáo,
Nho giáo - những tôn giáo có nguồn gốc ở phía Bắc thâm nhập; Công giáo - một tôn giáo
gắn với văn minh Châu Âu vào truyền đạo và sau này đạo Tin lành đã khai thác điều kiện
chiến tranh ở miền Nam để truyền giáo thu hút người theo đạo là điều dễ hiểu.
-Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo,
Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin lành; có tôn
giáo được sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh
(có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo
sơ khai. Có những tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có những tôn giáo chưa ổn
định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.
-Việt Nam có lịch sử lâu đời và nền văn minh hình thành sớm, lại kề bên hai nền văn
minh lớn của loài người là Trung Hoa và Aán Độ, nên tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh hưởng
sâu đậm từ hai nền văn minh này.
-Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm, nhưng người có cộng lớn trong việc giúp
dân, cứu nước được cả cộng đồng tôn sùng và đời đời thờ phụng. Trong tâm thức của
người Việt luôn tiềm ẩn, chứa đựng đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”. Điều đó thể hiện rất
rõ trong đời sống, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của họ.
* Biểu hiện:
13
- Ước tính, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo,
trong đó có khoảng gần 20 triệu tín đồ của 6 tôn giáo đang hoạt động bình thường, Cụ
thể:
+ Phật giáo: Gần 10 triệu tín đồ (những người quy y Tam Bảo), có mặt hầu hết ở các
tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó tập trung đông nhất ở Hà Nội, Bắc Ninh, Nam
Định, Hải Phòng, Hải Dương, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định,
Khánh Hoà, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng, Sóc Trăng, Trà Vinh, thành phố Cần
Thơ
+ Thiên chúa giáo: Hơn 5,5 triệu tín đồ, có mặt ở 50 tỉnh, thành phố, trong đó có một số
tỉnh tập trung đông như Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Đà Nẵng, Kon Tum, Đắk Lắk, Khánh Hoà, Bình Thuận, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh,
Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang, thành phố Cần Thơ
+ Đạo Cao Đài: Hơn 2,4 triệu tín đồ có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ như Tây Ninh,
Long An, Bến Tre, TP Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên
Giang, Cà Mau, An Giang .
+Phật giáo Hoà Hảo: Gần 1,3 triệu tín đồ, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ
như: An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long.
+Đạo Tin lành: khoảng 1 triệu tín đồ, tập trung ở các tỉnh: Đà Nẵng, Quảng Nam, TP Hồ
Chí Minh, Bến Tre, Long An, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông, Bình Phước và
một số tỉnh phía Bắc.
+Hồi Giáo: Hơn 60 nghìn tín đồ, tập trung ở các tỉnh: An Giang, TP Hồ Chí Minh, Bình
Thuận, Ninh Thuận
- Ngoài 6 tôn giáo chính thức đang hoạt động bình thường, còn có một số nhóm tôn giáo
địa phương, hoặc mới được thành lập có liên quan đến Phật giáo, hoặc mới du nhập ở bên
ngoài vào như: Tịnh độ cư sỹ, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tổ Tiên Chính
giáo, Bàlamôn, Bahai và các hệ phái tin lành.
- Ở Việt Nam có một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số theo các tôn giáo. Hầu hết các
dân tộc thiểu số vẫn giữ tín ngưỡng nguyên thủy thờ đa thần với quan niệm vạn vật hữu
linh và thờ cúng theo phong tục tập quán truyền thống. Sau này, theo thời gian các tôn
giáo dần dần thâm nhập vào những vùng đồng bào các dân tộc thiểu số hình thành các
cộng đồng tôn giáo, cụ thể:
+ Cộng đồng dân tộc Khơme theo Phật giáo Nam tông. Hiện nay có 1.043.678 người
Khơme, 8.112 nhà sư và 433 ngôi chùa trong đồng bào Khơme.
+ Cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo. Có khoảng gần 100 nghìn người Chăm, trong
đó số người theo Hồi giáo chính thống (gọi là Chăm Ixlam) là 25.703 tín đồ, Hồi giáo
không chính thống (Chăm Bàni) là 39.228 tín đồ. Ngoài ra còn có hơn 30 nghìn người
theo đạo Bàlamôn (Bà Chăm). Hồi giáo chính thức truyền vào dân tộc Chăm từ thế kỷ
XVI. Cùng với thời gian, Hồi giáo đã góp phần quan trọng trong việc hình thành tâm lý,
đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, văn hóa của người Chăm.
+ Cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên theo Công giáo, Tin lành. Hiện nay ở khu
14
vực Tây Nguyên có gần 300 nghìn người dân tộc thiểu số theo Công giáo và gần 400
nghìn người theo đạo Tin lành.
+ Cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc một số theo Công giáo, Tin lành. Hiện nay ở Tây
Bắc có 38 nghìn người dân tộc thiểu số theo Công giáo; đặc biệt, khoảng 20 năm trở lại
đây có đến trên 100 nghìn người Mông theo đạo Tin lành dưới tên gọi Vàng Chứ và hơn
10 nghìn Dao theo đạo Tin lành dưới tên gọi Thìn Hùng.
*Yêu cầu trong công tác quản lý:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách về tôn
giáo của Đảng và Nhà nước trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là trong chức sắc,
chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo. Đi đôi với công tác tuyên truyền, cần quan
tâm phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các tôn
giáo.
- Giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc, làm
cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa xã hội, hăng hái thi đua xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có
công với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân; tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào
các dân tộc và đồng bào có đạo, thông qua đó tăng cường sự đồng thuận giữa những
người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người không tín ngưỡng, tôn giáo; giữa những
người có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; đồng thời, tạo cơ sở để đấu tranh chống
những tà đạo, những hoạt động mê tín dị đoan; chủ động đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ
đoạn của các thế lực thù địch phản động, lợi dụng chiêu bài tự do tín ngưỡng, tôn giáo,
nhân quyền để chống phá Nhà nước Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực
hiện âm mưu diễn biến hòa bình, gây mất ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Đối với
số đối tượng lợi dụng tôn giáo ngoan cố chống đối, làm tay sai cho địch cần điều tra làm
rõ, xử lý nghiêm minh.
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo
đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
- Quan tâm thoả đáng việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các
cấp. Cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải được bồi
dưỡng, huấn luyện để hiểu biết phong tục tập quán, tiếng nói của dân tộc nơi mình công
tác.
- đối với mỗi tín ngưỡng và tôn giáo cầnn có một chính sách cụ thể để điều chỉnh
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế cũng nh ư phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Pháp
luật về tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhà
nước Việt Nam. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo không những
tạo ra một hành lang pháp lý nhằm đảm bảo các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường
mà còn là công cụ hữu hiệu cho nhà nước thi hành chức năng của chủ thể quản lý
15
- Cần nhìn nhận tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của đồng bào có đạo, sinh hoạt
bình thường trong khuôn khổ pháp luật. Hướng dẫn, tạo diều kiện để các tôn giáo hoạt
động hợp pháp, động viên, khuyến khích chức sắc, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt
phương châm sống “Tốt đời, đẹp đạo” “Kính chúa yêu nước”, tham gia có hiệu quả các
phong trào ở địa phương.
- Mặt khác tạo điều kiện để hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường đúng pháp luật đồng
thời phát hiện, xử lý kịp thời các vi phạm của các tổ chức và cá nhân có liên quan đến
chính sách tín ngưỡng tôn giáo theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý. Kiểm
tra, hướng dẫn đôn đốc các địa phương các ngành chức năng thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước về tôn giáo. Xây dựng khối Đoàn kết dân tộc giữa đồng bào có đạo
và không có đạo.
Câu 2: Những đặc điểm cơ bản của hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta:
Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều thành phần dân tộc cũng là quốc gia đa tôn
giáo. Mỗi tôn giáo có lịch sử hình thành, du nhập, số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự,
vị trí, vai trò xã hội và đặc điểm khác nhau, đó là do nước ta nằ giữa ngã ba Đông Nam
Châu á, là nơi giao lưu giữa các luồng tư tưởng, văn hoá khác nhau, có địa hình phong
phú đa dạng, lại ở vùng nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên vừa ưu đãi vừa đe doạ cộng đồng
người sống ở đây. Do đó thường nãy sinh tâm lý sợ hãi, nhờ cậy vào lực lượng tự nhiên.
Việt Nam có lịch sử lâu đời và nền văn minh hình thành sớm, lại kề bên hai nền
văn minh lớn của loài người là Trung Hoa và Aán Độ, nên tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh
hưởng sâu đậm từ hai nền văn minh này.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm, nhưng người có cộng lớn trong việc
giúp dân, cứu nước được cả cộng đồng tôn sùng và đời đời thờ phụng. Trong tâm thức
của người Việt luôn tiềm ẩn, chứa đựng đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”. Điều đó thể hiện
rất rõ trong đời sống, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của họ.
Từ đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hoá đó đã tác động sâu sắc đến tín ngưỡng,
tôn giáo Việt Nam, làm cho tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam có những đặc điểm sau:
-Một là, Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác
nhau đang tồn tại.
Ước tính, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn
giáo, trong đó có khoảng gần 20 triệu tín đồ của 6 tôn giáo đang hoạt động bình thường,
Cụ thể:
+ Phật giáo: Gần 10 triệu tín đồ (những người quy y Tam Bảo),
+ Thiên chúa giáo: Hơn 5,5 triệu tín đồ, có mặt ở 50 tỉnh, thành phố
+ Đạo Cao Đài: Hơn 2,4 triệu tín đồ có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ
+Phật giáo Hoà Hảo: Gần 1,3 triệu tín đồ, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ
+Đạo Tin lành: khoảng 1 triệu tín đồ
+Hồi Giáo: Hơn 60 nghìn tín đồ
16
Ngoài 6 tôn giáo chính thức đang hoạt động bình thường, còn có một số nhóm tôn
giáo địa phương, hoặc mới được thành lập có liên quan đến Phật giáo, hoặc mới du nhập
ở bên ngoài vào như: Tịnh độ cư sỹ, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tổ Tiên
Chính giáo, Bàlamôn, Bahai và các hệ phái tin lành.
Ở Việt Nam có một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số theo các tôn giáo
+ Cộng đồng dân tộc Khơme theo Phật giáo Nam tông. Hiện nay có 1.043.678 người
Khơme, 8.112 nhà sư và 433 ngôi chùa trong đồng bào Khơme.
+ Cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo: số người theo Hồi giáo chính thống (gọi là
Chăm Ixlam) là 25.703 tín đồ, Hồi giáo không chính thống (Chăm Bàni) là 39.228 tín đồ.
Ngoài ra còn có hơn 30 nghìn người theo đạo Bàlamôn (Bà Chăm
+ Cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên theo Công giáo, Tin lành. Hiện nay ở khu
vực Tây Nguyên có gần 300 nghìn người dân tộc thiểu số theo Công giáo và gần 400
nghìn người theo đạo Tin lành.
+ Cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc một số theo Công giáo, Tin lành. Hiện nay ở Tây
Bắc có 38 nghìn người dân tộc thiểu số theo Công giáo; có đến trên 100 nghìn người
Mông theo đạo Tin lành dưới tên gọi Vàng Chứ và hơn 10 nghìn Dao theo đạo Tin lành
dưới tên gọi Thìn Hùng.
-Hai là, Tính đan xen, hoà đồng, khoan dung của tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam.
Điều đó được biểu hiện:
+Thứ nhất, sự dung hợp của đối tượng thờ phụng ở các nơi thờ tự: Chùa là nơi thờ Phật,
nhưng chùa đâu phải chỉ có Phật A Di Đà, Thích Ca Mâu Ni, Di Lặc, các vị La Hán, Bồ
Tát mà ở đấy, ta còn thấy các vị thánh, thần, tiên, mẫu của tôn giáo và tín ngưỡng bản
địa, hoặc những danh nhân văn hóa lịch sử. Hầu hết ngôi chùa Phật giáo có ban hoặc điện
Mẫu Tam phủ, Tứ phủ; không ít chùa thờ các danh nhân văn hóa, lịch sử, người có công
với cộng đồng, dân tộc, hoặc những người có công xây cất, tôn tạo ngôi chùa. Ở một số
chùa và đền khác, chúng ta cũng thường gặp các Đức Phật chung bệ thờ với đức Thánh
Tản Viên, bà Chúa Liễu Hạnh, thậm chí với Thần Độc cước, Tam Bành, Huyền Đàn, bà
Đà.
+Thứ hai, tam giáo đồng nguyên và đại đạo tam kỳ phổ độ: Tư tưởng về Tam giáo đồng
nguyên đã xuất hiện ở nước ta từ rất sớm. Vì vậy, không lấy gì làm lạ là nhiều sư tăng
thông thạo Nho học và có người còn giỏi về địa lý phong thủy của đạo Lão. Điển hình là
nhà sư Vạn Hạnh. Có thể nói, trí thức ngày xưa xuất thân từ giới tu hành và không ít
người tài ba được đào tạo tại nhà chùa. Không ít người vừa là sư tăng, vừa là đạo sĩ và
Nho sĩ. Họ không chỉ có lòng yêu nước nồng nàn, tự tôn dân tộc mà còn có học vấn uyên
bác về nhiều lĩnh vực; không chỉ thấu hiểu giáo lý của đạo mình theo; mà còn am tường
kinh điển, học thuyết của các tôn giáo, tín ngưỡng khác. Đại đạo tam kỳ phổ độ của Đạo
Cao Đài: "Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhất". Tam giáo là Nho, Thích, Đạo. Ngũ
chi là : Nhân Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo. Do vậy, Đạo Cao Đài là
một tôn giáo có tính dung hợp các tôn giáo lớn chủ yếu là Phật giáo, Đạo giáo, Nho
17
giáo và Kitô giáo. Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát sinh, sống
lương thiện, hòa đồng, làm lành lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ
tiên, và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem
sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng đế nơi Thiên giới và mục
tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi.
+Tôn giáo nào cũng dạy con người làm điều lành, tránh làm điều dữ; gạt điều dở, giữ
điều hay, hướng con người vươn tới chân, thiện, mỹ:Nếu Khổng giáo dạy con người về
nhân nghĩa, thì Đạo giáo giáo dục con người biết quý trọng và sống hài hòa với tự nhiên,
nếu Công giáo dạy con người ta bác ái thì đạo Phật dạy người ta về từ bi, hỷ xả vô ngã vị
tha, gạt bỏ tham, sân, si
+Thứ tư, Giáo lý của các tôn giáo lớn ở Việt Nam có không ít những điều khác biệt và
trong lịch sử đã xuất hiện những mâu thuẩn nhất định, nhưng nhìn chung, chưa có sự đối
đầu dẫn đến chiến tranh tôn giáo
-Ba là,tính trội của yếu tố nữ trong hệ thống tín ngưõng, tôn giáo ở Việt Nam.
- Nguyên nhân:
Lịch sử Việt Nam là lỉch sử chống ngoại xâm, người phụ nữ có vai trò quan trọng trong
xã hội không chỉ vì họ gánh vác công việc nặng nề thay chồng nuôi con ở hậu phương mà
còn xông pha trận mạc.
Ở nước ta, dù mẫu quyền được thay thế bởi phụ quyền từ lâu, nhưng tàn dư chế độ này
còn kéo dài dai dẵng đến tận ngày nay. Hơn nữa, ở một xứ sở thuộc nền văn minh nông
nghiệp trồng lúa nước, vốn coi trọng yếu tố âm-đất-mẹ, người mẹ biểu tượng cho ước
muốn phong đăng, phồn thực; hình tượng của sự sinh sôi, nãy nở, sự trường tôn của
giống nòi, sự bao dung của lòng đất. Vì vậy, một trong những đặc điểm đáng quan tâm
trong tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam là truyền thống tôn thờ yếu tố nữ.
-Biểu hiện:
Từ Bắc tới Nam ở Việt Nam, đâu đâu cũng có nơi thờ Nữ thần: Phật bà, Thánh
Mẫu…Đền thờ Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), bà chúa Liễu ở phủ Tây hồ (Hà Nội), bà Chúa
Đen(Tây Ninh), bà Chúa Xứ (An Giang) là những nơi thu hút nhiều người không phải chỉ
có giới nữ. Nhiều nơi như đình chùa, miếu, điện, thánh thất, nhà thờ là nơi chốn hương
hoa, oản quả nhằm thờ phụng những bậc thánh thần, tiên Phật của giới nữ. Có thể nói,
không ở đâu thần thánh mang dạng nữ lại phong phú đa dạng như ở Việt nam.Sự đa dạng
phong phú về nguồn gốc xuất thân,về vai trò cụ thể của từng vị nữ được thờ phụng nó
phản ánh nhu cầu nhiều vẻ của người phụ nữ ở thế giới hiện hữu. Có Mẫu là nhiên thần,
có Mẫu là nhân thần, có Mẫu tạo dựng nên giống nòi, lại có Mẫu có công dựng nước; có
Mẫu xuất hiện từ huyền thoại nhưng lại có Mẫu là con người lịch sử cụ thể. Có Mẫu xuất
thân từ gia đình quyền quí, có Mẫu được tôn vinh chỉ là người bình dân nghèo khổ, Mẫu
thì lo đuổi giặc giúp dân, có Mẫu lại chăm lo mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Phải
chăng sự hiện diện của nữ thần mọi nơi làm cho con người an tâm như sự có mặt của
người phụ nữ trong gia đình và xã hội?
-Bốn là, thần thánh hoá những người có công với gia đình, làng, nước.
18
-Nguyên nhân:
Con người Việt Nam vốn có yêu nước, trọng tình “uống nước, nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ
người trồng cây” nên tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam cũng thấm đượm tinh thần ấy. Từ
xưa, ở Việt Nam đã hình thành 3 cộng đồng gắn bó với nhau là gia đình, làng xóm và
quốc gia.
Gia đình là tế bào của xã hội, dù nghèo hay giàu, song nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên,
ông bà, cha mẹ-những người đã khuất.
Làng xóm có cơ cấu, thiết chế rất chặt chẽ. Mỗ làg có phong tục, lối sống riêng. Trong
phạm vi làng xã từ lâu đã hình thành tục thờ cúng thần địa phương và việc thờ cúng này
trở nên phổ biến ở nhiều tộc người.
Những người có công với gia đình làng xóm, đất nước đều được người Việt Nam tôn
vinh, sùng kính.
-Biểu hiện:
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có hai lớp chủ yếu là trong gia đình và ngoài dòng họ
nhằm củng cố và thắt chặt quan hệ huyết thống của gia đình hạt nhân và gia đình mở
rộng. Tuy vậy, thờ cúng tổ tiên còn được hiểu ở mức độ rộng hơn, đó là thờ những người
có công với làng xã, quê hương, được cộng đồng dân cư tôn vinh là thành hoàng.
Thành hoàng của người Việt rất phong phú và đa dạng. Hầu hết các vị được tôn vinh
thành hoàng là những người có công đánh giặc giữ nước hoặc cứu thế hộ dân, có vị khai
làng lập ấp, có người tạo nghề nghiệp mới, hoặc chính là tổ của một dòng họ. Có làng chỉ
phụng thờ một vị thành hoàng, nhưng cũng có thôn xóm thờ đến hai, ba thậm chí thờ cả
bảy, tám vị là thành hoàng.Không kể thân thế, sự nghiệp ra sao (giàu sang hay nghèo hèn,
quan lại hay thứ dân) nếu được làng xã tôn vinh là thành hoàng đều được cả dân làng
sùng kính. Trung tâm thờ cúng thành hoàng hay thần làng là ngôi đình. Đó là nơi tụ tập
dân làng để giải quyết cả việc đời lẫn việc đạo, từ việc vui chơi giải trí đến bàn luận lo
toan việc làng, nước.Tín ngưỡng thờ thành hoàng có sức quy tụ, lôi cuốn đối với cư dân
làng xã, không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh mà còn tạo sự đồng thuận trong đời sống thế
tục.
-Năm là, tín đồ các tôn giáo Việt Nam hầu hết là nông dân lao động.
Việt Nam là một nước xuất phát từ nền nông nghiệp lúa nước, nông dân chiếm đa
số trong tổng dân số của cả nước.Đời sống của những người nông dân còn gặp nhiều khó
khăn nên họ tìm đến tôn giáo như một món ăn tinh thần nhằm xoa dịu nỗi đau và mong
muốn được che chở, bảo vệ.Biểu hiện cụ thể:
+Số tín đồ là nông dân của Thiên chúa giáo chiếm đến 80-85%
+Số tín đồ là nông dân của Cao Đài, Phật giáo, Hòa Hảo: 95%
+Và của đạo Tin lành là 65%.
Là người lao động, người nông dân, tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam rất cần cù trong
lao động sản xuất và có tinh thần yêu nước. Trong các giai đoạn lịch sử, tín đồ các tôn
giáo cùng với các tầng lớp nhân dân làm nên những chiến thắng to lớn của dân tộc.Tín
19
đồ các tôn giáo Việt Nam đến với tôn giáo ở cấp độ tâm lý, tình cảm; hiểu giáo lý
không sâu sắc nhưng lại chăm chỉ thực hiện những nghi lễ tôn giáo và sinh hoạt cộng
đồng tín ngưõng một cách nhiệt tâm, ít sùng tín
-Sáu là, Một số tôn giáo bị các thế lực thù địch phản động trong và ngoài nước lợi
dụng vì mục đích chính trị.
Tôn giáo nào cũng có 2 mặt: nhân thức tư tưởng và chính trị. Chín vì vậy, tuy mức
độ có khác nhau, nhưng giai đoạn lịch sử nào thì các giai cấp thống trị, bóc lột vẫn chú ý
sử dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo.
Các thế lực trong và ngoài nước đang âm mưu sử dụng ngọn cờ nhân quyền gắn
với tôn giáo hong xóm xoá bỏ CNXH ở nước ta. Vì vậy, một mặt phải đáp ứng đúng như
cầu tín ngưỡng chính đáng của nhân dân, mặt khác phải luôn cảnh giác với âm mưu lợi
dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.
*Giải pháp;
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách về tôn
giáo của Đảng và Nhà nước trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là trong chức sắc,
chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo. Đi đôi với công tác tuyên truyền, cần quan
tâm phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các tôn
giáo.
- Giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc, làm
cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa xã hội, hăng hái thi đua xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có
công với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân; tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào
các dân tộc và đồng bào có đạo, thông qua đó tăng cường sự đồng thuận giữa những
người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người không tín ngưỡng, tôn giáo; giữa những
người có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; đồng thời, tạo cơ sở để đấu tranh chống
những tà đạo, những hoạt động mê tín dị đoan; chủ động đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ
đoạn của các thế lực thù địch phản động, lợi dụng chiêu bài tự do tín ngưỡng, tôn giáo,
nhân quyền để chống phá Nhà nước Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực
hiện âm mưu diễn biến hòa bình, gây mất ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Đối với
số đối tượng lợi dụng tôn giáo ngoan cố chống đối, làm tay sai cho địch cần điều tra làm
rõ, xử lý nghiêm minh.
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo
đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
- Quan tâm thoả đáng việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các
cấp. Cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải được bồi
dưỡng, huấn luyện để hiểu biết phong tục tập quán, tiếng nói của dân tộc nơi mình công
tác.
20
- đối với mỗi tín ngưỡng và tôn giáo cầnn có một chính sách cụ thể để điều chỉnh
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế cũng nh ư phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Pháp
luật về tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhà
nước Việt Nam. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo không những
tạo ra một hành lang pháp lý nhằm đảm bảo các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường
mà còn là công cụ hữu hiệu cho nhà nước thi hành chức năng của chủ thể quản lý
- Cần nhìn nhận tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của đồng bào có đạo, sinh hoạt
bình thường trong khuôn khổ pháp luật. Hướng dẫn, tạo diều kiện để các tôn giáo hoạt
động hợp pháp, động viên, khuyến khích chức sắc, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt
phương châm sống “Tốt đời, đẹp đạo” “Kính chúa yêu nước”, tham gia có hiệu quả các
phong trào ở địa phương.
- Mặt khác tạo điều kiện để hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường đúng pháp luật đồng
thời phát hiện, xử lý kịp thời các vi phạm của các tổ chức và cá nhân có liên quan đến
chính sách tín ngưỡng tôn giáo theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý. Kiểm
tra, hướng dẫn đôn đốc các địa phương các ngành chức năng thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước về tôn giáo. Xây dựng khối Đoàn kết dân tộc giữa đồng bào có đạo
và không có đạo.
Câu 3: Đạo Phật?
*Đặc điểm của Đạo Phật:
- Đạo Phật là đạo giải thoát, đạo giác ngộ chứ không phải là đạo cầu xin ban phước
- Về thế giới quan: Không quan niệm về thượng đế, thần linh; không đề cập vị thần sáng
tạo thế giới và con người.
- Về nhân sinh quan: Phật giáo đề cao vai trò của con người trong cuộc sống hiện thực;
giáo lý của Phật không là tối thiêng liêng chỉ là phương tiện giúp con người giải thoát
khổ đau
- Phật giáo ở Việt Nam có cả 2 hệ phái: Phật giáo Nam tông (Tiểu thừa, Nguyên thuỷ) và
Phật giáo Bắc tông (Đại thừa, Phát triển). Hệ phái Tiểu thừa được truyền từ Ấn Độ qua
Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia rồi vào Việt Nam nên cũng gọi là Phật
giáo “Namtruyền” hay “Nam tông”. Phái này chủ trương giữ nghiêm giới luật từ thời Đức
Phật tại thế (đó chính là tinh thần Nguyên thuỷ Phật giáo). Hệ phái Đại thừa từ Ấn Độ
truyền sang Trung Quốc rồi vào Việt Nam và Triều Tiên, Nhật Bản nên được gọi
là “Bắc truyền” hay “Bắc tông”. Hệ phái Phật giáo Phát triển chủ trương linh động trong
thực hiện giới luật, không câu nệ vào câu chữ trong kinh mà lựa chọn sự phù hợp, hữu
ích, có hiệu quả cho tu hành và đời sống xã hội.
-Dung hợp các tín ngưỡng truyền thống: Phật giáo Việt Nam dung hợp các tín ngưỡng
truyền thống của người Việt Nam: thờ cúng Tổ tiên, thờ Thần, thờ Mẫu nhưng Phật giáo
vẫn giữ vai trò chủ đạo để làm nên Đạo Phật Việt Nam. Điều này được thể hiện rất rõ
việc bài trí tượng thờ trên chính điện chùa Phật giáo. Trong đó, chư vị Phật được tôn trí ở
gian giữa là đại hùng bảo điện; chư vị thánh tổ của Lão giáo, Nho giáo, được an trí ở hai
21
bên. Ngoài ra, còn tôn trí cả tượng của các vị Thiên hoàng Ngọc đế, Thập điện Diêm
vương. Đặc biệt, trong khuôn viên thờ tự của chùa, nhất là các chùa ở vùng Bắc Bộ, luôn
có phủ Mẫu (cũng gọi là điện Mẫu) thờ chư vị thánh Mẫu và đức thánh Cha (Trần Hưng
Đạo hiển thánh). Nhiều trường hợp khác, trên gian phụ của chính điện chùa còn thờ cả
các vị có công khai mở, trùng tu, tôn tạo chùa.
- Gắn bó với dân tộc: Phật giáo du nhập vào Việt Nam trở thành một tôn giáo gắn bó
giữa đạo với đời, thể hiện tinh thần nhập thế. Phật giáo Việt Nam có truyền thống yêu
nước, gắn bó với dân tộc, đồng hành trong những giai đoạn thăng trầm của đất nước, góp
phần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Trong Phật giáo Việt Nam đã ghi
nhận hai trường hợp đặc biệt: Lý Công Uẩn – một vị sư xả pháp, xuất tu để ra đời làm
bậc quân vương khai mở triều đại nhà Lý, và Trần Nhân Tông – một vị hoàng đế từ bỏ
ngai vàng để vào núi ẩn tu trở thành một vị Tổ sư của Phật giáo đời Trần. Trong thời kỳ
hội nhập, Phật giáo luôn chia sẻ những khó khăn, hỗ trợ những người gặp hoàn cảnh
khốn khó, gặp thiên tai, địch họa để chung tay cùng đất nước góp phần ổn định xã hội,
xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội.
- Đoàn kết nội bộ: Phật giáo Việt Nam có tinh thần đoàn kết, gắn bó nội bộ. Tuy có nhiều
tông phái Phật giáo cùng tồn tại và phát triển, nhưng tất cả đều sinh hoạt trong một tổ
chức chung là Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Năm 1981, trải qua một năm vận động thống
nhất, 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo trên toàn quốc đã thống nhất thành lập tổ chức Giáo hội
Phật giáo Việt Nam. Trong Hiến chương của mình Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng
định “Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho tăng ni,
Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước”. Ngoài ra, Phật giáo Việt Nam còn đoàn kết với
các tầng lớp trong xã hội và đoàn kết với các tôn giáo bạn để chung tay xây dựng và phát
triển đất nước. Đây là điều chưa có một tổ chức Phật giáo nước ngoài nào có thể làm
được.
-Tính sơn môn, pháp phái: Du nhập vào Việt Nam, Phật giáo hình thành và phát triển
theo truyền thống của cư dân, phát triển như dòng họ thế tục. Việc quản lý, kỷ luật sư sãi
đều do Sơn môn, Pháp phái giải quyết. Giáo hội chung chỉ chủ trương và định hướng
những công tác Phật sự lớn và có tính tổng thể. Còn các hoạt động tôn giáo cụ thể như: tiếp
độ tăng ni, truyền thụ giới luật, trì giảng kinh điển, các nghi thức tôn giáo… đều mang tính
Sơn môn, Hệ phái, và do người đứng đầu Sơn môn, Hệ phái chỉ đạo thực hiện.
- Là thành tố tạo nên tính đặc trưng văn hóa: Văn hoá, đạo đức Phật giáo như quan điểm
“ở hiền gặp lành” “báo đáp tứ trọng ân” “người Phật tử hiếu hạnh” “hành thiện tránh ác”,
“từ bi cứu khổ”, “tôn trọng con người”, “bình đẳng tâm, không phân biệt đẳng cấp, sang
hèn”, “yêu chuộng hòa bình”… đã thấm đậm trong tâm tưởng mỗi con người Việt Nam
qua các thế hệ. Nó đã góp phần tạo dựng nên nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân
tộc. Mà ở đó, người ta không còn phân biệt đâu là đạo đức xã hội, đâu là đạo đức tôn giáo.
- Tổ chức của đạo Phật: không chặt chẽ; không có giáo quyền, không thống nhất cách tu
hành và dễ bị lợi dụng bởi các thế lực thù địch
- các tín đồ hiểu biết giáo lý, giáo luật hạn chế
22
- Đội ngũ chức sắc tham gia vào công việc Nhà nước như là đại biểu Quốc hội, thành
viên của UBMTTQ, là đại biểu HĐND
*Yêu cầu trong công tác quản lý:
-Các cơ quan chức năng, viện, trường đại học liên hệ chặt chẽ với Phật giáo để tổ chức
các khóa học, lớp học liên quan đến lĩnh vực truyền thông báo chí. Chỉ đạo Ban Giáo dục
Tăng Ni xây dựng chương trình đào tạo cho các Học viện Phật giáo Việt Nam đào tạo
ngành truyền thông báo chí Phật giáo ở trình độ đại học và trên đại học. Để đội ngũ làm
công tác truyền thông không những vững về chuyên môn nghiệp vụ mà còn hiểu biết sâu
kiến thức về kiến thức Phật học.
-Thường xuyên tổ chức các buổi diễn thuyết và tường thuật trực tiếp trên web để người
dân tiện theo dõi, như vậy thông tin sẽ đa chiều và sẽ có nhiều người có cơ hội tiếp cận
hơn với giáo lý nhà Phật
-Tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
công dân, bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động
theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo hộ không chỉ trong hoạt
động tôn giáo mà còn nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo trong mọi
quan hệ pháp luật, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo phát huy vai trò tích cực của
mình trong đời sống xã hội, trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói
chung, pháp luật về tôn giáo nói riêng cần có sự quan tâm điều chỉnh vấn đề này
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách về tôn
giáo của Đảng và Nhà nước đối với hệ thống chức sắc của Đạo phật
- Đẩy mạnh giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ
quốc, làm cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa xã hội, hăng hái
thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Tăng cường sự đồng thuận giữa những nhà tu hành và những người không tín ngưỡng,
tôn giáo; giữa những tín đồ của Đạo phật với những người có các tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau; đồng thời, tạo cơ sở để đấu tranh chống những tà đạo, những hoạt động mê
tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm hại đến lợi ích của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân.
- Đối với đội ngũ chức sắc tham gia vào công việc Nhà nước không chỉ là những người
am hiểu về giáo lý, giáo luật của Đạo phật mà cần phải hiểu biết và các chủ trương, chính
sách và pháp luật; đặc biệt cần quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức
chung cũng như kiến thức chuyên môn về quản lý Nhà nước đối với đội ngũ này
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo
đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
- Quan tâm thoả đáng việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các
cấp. Cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải được bồi
dưỡng, huấn luyện để hiểu biết phong tục tập quán, tiếng nói của dân tộc nơi mình công
tác.
23
- Cần quan tâm và sâu sát hơn đối với các hoạt động từ thiện, quyên góp của các nhà tu
hành để tránh tình trạng bị lợi dụng và xuất hiện hành vi vi phạm pháp luật như ở chùa
Bồ đề
Câu 4: Công giáo?
*các cách hiểu về công giáo
- Công giáo (Thiên Chúa giáo) là thuật ngữ dùng để chỉ Giáo hội Công giáo Rôma, đây là tôn
giáo thuộc Kitô giáo. Đạo Công giáo là một trong những tôn giáo có sỗ lượng tín đồ, giáo sĩ lớn
nhất thế giới.
-Công giáo được dùng với một số nghĩa như sau:
+Do ảnh hưởng lịch sử và hiện tại của Giáo hội Công giáo Rôma, "Công giáo" thường được
dùng để chỉ hệ thống niềm tin tôn giáo của giáo hội này.
+Trong cách dùng không chính thức, thuật ngữ này có thể được giới hạn thêm nữa để chỉ các
thành viên, truyền thống hay thần học của nghi lễ La Tinh thuộc Giáo hội Công giáo Rôma.
+Thuật ngữ này cũng được dùng để chỉ mọi giáo hội 'Công giáo về bản chất' qua việc họ tuyên
bố giữ niềm tin Công giáo và có tính tông truyền vì đã ở phía Công giáo trong cuộc Đại li giáo,
như Giáo hội Công giáo Cổ (tách khỏi Giáo hội Công giáo Rôma năm 1870) hay Giáo hội chính
thức của Anh.
+Nó lần đầu được dùng để phân biệt giáo hội Kitô giáo tiên khởi (Duy nhất, Thánh thiện, Công
giáo và Tông truyền) với các nhóm lạc giáo.
*Đặc điểm của công giáo:
-Công giáo có bốn đặc tính này là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền:
+Duy nhất: có nghĩa là Chúa Kitô chỉ thiết lập một Hội Thánh, các tín hữu đều tuyên
xưng một đức tin, cùng tham dự việc thờ phượng Thiên Chúa, cùng tuân phục Đức Giáo
Hoàng và hiệp nhất với nhau trong tình huynh đệ.
+Thánh thiện: muốn nói lên rằng chính Chúa Giêsu là Đấng thánh thiện, các chi thể ở
trong Chúa và qua Chúa được nên thánh và được cứu rỗi.
+Công giáo: nghĩa là nó hoàn toàn phổ quát chứ không dành riêng cho ai hoặc phân biệt
giai cấp, quốc gia hay chủng tộc nào. Do đặc tính này, Giáo hội Chúa phải có mặt ở khắp
nơi để loan truyền Tin mừng cứu độ cho mọi người …
+Tông Truyền: chỉ về sứ mạng đi rao giảng Tin mừng đã được Chúa Giêsu truyền cho
các tông đồ từ những bước khởi đầu, rồi các tông đồ lại truyền tiếp cho những người kế
vị và được Giáo hội gìn giữ tới nay và tới tận thế.
- Đạo Công Giáo xây dựng một giáo hội thống nhất, có cơ quan trung ương là Giáo Triều
Vatican và việc điều hành giáo hội chịu ảnh hưởng của cơ chế phong kiến, quyền lực tập
trung vào Giáo Hoàng
- Có hệ thống cơ cấu tổ chức không chặt chẽ, dễ bị lợi dụng
- Tham giao vào hoạt động nhân đạo từ thiện và nhân đạo
- số lượng tín đồ rải rác khắp cả nước
*Ảnh hưởng của Đạo Công giáo đối với văn hóa Việt Nam
24
- Trước hết, đạo Công giáo là cầu nối giao lưu giữa văn hoá Việt Nam và thế giới: Đạo
Công giáo ra đời từ Tiểu Á nhưng lại phát triển mạnh ở châu Âu nên khi vào Việt Nam,
nó cũng mang theo cả văn hoá, văn minh phương Tây vào theo. Trong số những nhà
truyền giáo buổi đầu, không ít người được đào tạo bài bản trong các dòng tu, học viện
phương Tây nên họ cũng là những nhà khoa học tinh thông nhiều lĩnh vực. Alexandre de
Rhodes (Đắc Lộ) năm 1627 đã mang biếu Chúa Trịnh chiếc đồng hồ chạy bằng bánh xe
và cuốn Kỷ hà nguyên bản của nhà toán học Euclide, đồng thời giảng giải cho Trịnh
Tráng nghe. Giáo sĩ Badinoti (người Ý) năm 1626 cũng được vời về phủ chúa để giảng
về thiên văn, địa lý và toán học. Các giáo sĩ Da Coxta, Langerloi đã mang vào Đàng
Trong phương pháp chữa bệnh theo lối Tây y nên được nhà chúa cho mở nhà thương
(bệnh viện).
- Công giáo với việc xây dựng chữ Quốc ngữ: Chữ Quốc ngữ là công trình tập thể của
nhiều giáo sĩ nước ngoài với sự cộng tác của người Việt. Dĩ nhiên mục đích của các nhà
truyền giáo lúc đầu là để truyền giáo được dễ dàng hơn nhưng nó lại phù hợp với tiến
trình phát triển và tinh thần độc lập, tự cường dân tộc nên các chí sĩ của phong trào Đông
kinh nghĩa thục coi đó là “một trong sáu phương kế để mở mang dân trí”
- Văn hoá Công giáo làm phong phú văn hoá Việt:Tôn giáo là một thành tố quan trọng
của văn hoá và bản thân tôn giáo cũng là văn hoá nên việc đạo Công giáo vào Việt Nam
đã làm phong phú cho văn hoá Việt không chỉ thêm một tôn giáo mới mà còn bổ sung rất
nhiều sắc thái mới khác nữa.Cả một kho tàng ca dao, tục ngữ Công giáo cũng đã được
lưu hành để phản ánh về phong tục, tập quán của cộng đoàn này. Ví dụ các câu ghi kinh
nghiệm sản xuất:- Lễ Rosa (7-10) thì tra hạt bí Lễ Các thánh (1-11) thì đánh bí ra Lễ
Các thánh gánh mạ đi gieo Lễ Sinh nhật (25-12) giật mạ đi cấy…
- Giáo lý Công giáo góp phần xây dựng lối sống lành mạnh trong xã hội:Cũng như nhiều
tôn giáo khác, đạo Công giáo cũng luôn buộc các tín hữu phải sống lành mạnh, hướng
thiện. Giáo lý Công giáo không chỉ cấm giáo dân làm điều ác mà cấm cả suy nghĩ không
lành mạnh, Đạo Công giáo cũng cổ vũ cho các hoạt động bác ái, từ thiện.
* Giải pháp
-Thường xuyên tổ chức các buổi diễn thuyết và tường thuật trực tiếp trên web để người
dân tiện theo dõi, như vậy thông tin sẽ đa chiều và sẽ có nhiều người có cơ hội tiếp cận
hơn với giáo lý của Công giáo
-Tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
công dân, bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động
theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo hộ không chỉ trong hoạt
động tôn giáo mà còn nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo trong mọi
quan hệ pháp luật, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo phát huy vai trò tích cực của
mình trong đời sống xã hội, trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói
chung, pháp luật về tôn giáo nói riêng cần có sự quan tâm điều chỉnh vấn đề này
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách về tôn
giáo của Đảng và Nhà nước đối với hệ thống chức sắc của Công giáo
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×