Tải bản đầy đủ

SKKN một số giải pháp đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới tại việt nam (VNEN)

1. PHẦN MỞ ĐẦU:
1.1. Lý do chọn đề tài.
1.1.1: Cơ sở lí luận:
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo
đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước.
Đất nước ta trong thời kì mở cửa, hội nhập và phát triển, công cuộc đổi mới
kinh tế xã hội đang diễn ra từng ngày, từng giờ trên khắp đất nước. đòi hỏi phải có
những lớp người lao động mới, có bản lĩnh, có năng lực, chủ động sáng tạo. Dám
nghĩ dám làm thích ứng được với thực tiễn xã hội luôn thay đổi và phát triển. Nhu
cầu này đòi hỏi ngành giáo dục phải có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình đất
nước.
Nhà trường không những cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học
một cách có hệ thống, mà còn rèn cho học sinh những kĩ năng, kĩ xảo, kĩ năng
sống cần thiết để hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cho mỗi học
sinh. Giáo dục Tiểu học là nền móng để đạt được mục tiêu trên.
Hiện nay, trong khi các nhà trường đang tích cực nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo, thì đa số giáo viên thường gặp những khó khăn vì tình trạng học
sinh lười học, ham chơi, học sinh không thuộc bài không chuẩn bị bài trước ở
nhà, nhút nhát, không tích cực tham gia thảo luận nhóm, cặp tình trạng này ảnh

hưởng không ít đến kết quả học tập của học sinh .
Mỗi cấp mang tính đặc thù riêng . Ở cấp Tiểu học , đây là cấp học nền tảng
của nền giáo dục phổ thông , cấp học đặt nền móng ban đầu về việc hình thành và
phát triển toàn diện về nhân, cách trí tuệ , kĩ năng lao động Nếu ở Tiểu học , các
em có được môi trường học tập , rèn luyện tốt được trang bị đầy đủ,chu đáo các tri
thức và khoa học tựnhiên, khoa học xã hội , biết yêu cuộc sống và hướng tới cái
đẹp thì sau này các em sẽ học tập tốt ở các cấp học trên, ứng xử tốt các mối quan
hệ xã hội , phát triển toàn diện.
1
Chúng ta thấy rằng để có được một sản phẩm tốt , ngoài việc cần một bàn
tay khéo léo , chăm chỉ và có trình độ cao của người thợ, cần có một môi trường
lao động chuyên nghiệp , chất lượng , cơ sở vật chất đảm bảo được yêu cầu sản
xuất, Còn để có những thế hệ học sinh có đủ đức, đủ tài phát triển toàn diện thì đòi
hỏi ngay từ bậc Tiểu học môi trường học tập sinh hoạt của các em phải đảm bảo tốt
, phù hợp với lứa tuổi tạo cho các em hứng thú, tích cực khi đến trường . Để nâng
cao chất lượng dạy học thì đòi hỏi người thầy phải tận tâm với nghề nghiệp và
thường xuyên học hỏi để đổi mới phương pháp dạy học
Tôi cứ băn khoăn mãi: “Làm thế nào để các em hứng thú học tập hơn?” “
Làm sao không dùng hình phạt mà học sinh có kết quả học tập tốt hơn?” “ Làm sao
các em có cảm giác, mỗi ngày đến trường là một niềm vui?” “ Làm sao học sinh
tự giác, tự tin, tự học, tự quản, tự trọng trong mô hình trường học VNEN”
1.1.2: Cơ sở thực tiễn:
Bắt đầu từ năm học 2008 – 2009 ngành giáo dục phát động phong trào thi
đua “ Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực ở Tiểu học”.Đây là tín
hiệu đáng mừng cho những ai quan tâm đến giáo dục,là bước tiến vượt bật của
ngành. Tạo điều kiện cho giáo viên làm việc trong bầu không khí tích cực đi vào
thực chất của chuyên môn, học sinh nhận thấy mình được tôn trọng, tìm được niềm
vui, sự tin tưởng, đoàn kết, tình bạn trong sáng, trân trọng tình thầy trò. GV giáo
dục tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước cho học sinh. Xây dựng nền
giáo dục lhiện đại giúp học sinh chủ động học tập. thân thiện với bạn bè, thầy cô
và với mọi người xung quanh hơn. Học sinh biết tích cực hoạt động trong học tập,
bước đầu rèn luyện kĩ năng sống đó là: Học để biết. Học để làm. Học để tự khẳng
định mình. Học để cùng chung sống.
Hiện nay đổi mới phương pháp dạy học còn nhận được sự cộng hưởng tích
cực từ cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và
sáng tạo”, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”,
trong đó có một nội dung rất quan trọng là Dạy và Học hiệu quả thông qua đổi mới
phương pháp dạy học của giáo viên và phương pháp học tập của học sinh. Việc đổi
mới phương pháp dạy học chỉ hiệu quả khi đề cao được trách nhiệm của đội ngũ
2
giáo viên trong mơi trường sư phạm thân thiện và phát huy được vai trò tích cực
học tập của học sinh.
Xác định rõ vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học trước
thực trạng còn khó khăn như: về cơ sở vật chất phục vụ dạy và học điều kiện làm
việc của thầy , điều kiện học tập của trò, sự quan tâm chăm chút của các lực lượng
xã hội đối với học sinh Bản thân tơi đã mạnh dạn áp dụng kinh nghiệm của mình
được đút rút trong thực tiễn dạy - học đưa lại hiệu quả thiết thực tơi nhận thấy : “
Đổi mới phương pháp dạy học theo mơ hình trường học mới VNEN ” là giải pháp
có tầm quan trọng quyết định đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục tồn diện
của nhà trường. Đây cũng chính là lý do tơi tìm tòi và áp dụng “ Một số giải pháp
đổi mới phương pháp dạy học theo mơ hình trường học mới tại Việt Nam
(VNEN)”.
1.2. Điểm mới của đề tài, sáng kiến, giải pháp.
Bản thân đã áp dụng phương pháp dạy học theo mơ hình trường học mới
(VNEN) vào q trình dạy học. Với mong muốn giúp học sinh phát huy tính tích
cực chủ động, sáng tạo trong học tập và rèn luyện một số kĩ năng cơ bản như : Kĩ
năng hợp tác; kĩ năng học nhóm; kĩ năng giao tiếp ngay từ bậc Tiểu học. Góp phần
cùng nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục tồn diện .
1.3. Phạm vi áp dụng đề tài:
Đề tài nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học nhằm mang lại hiệu quả
cao trong mơ hình trường học mới.
Đề tài này được thực hiện ở lớp 3D nơi tơi đang giảng dạy. Cụ thể tình
hình như sau:
+ Lớp 3D,Tổng số học sinh: 24 em .Trong đó: 10 nữ, 13 nam
+ Thời gian áp dụng từ : Từ tháng 9 năm 1012 đến ngày 15 tháng 5 năm
2014.
2. PHẦN NỘI DUNG.
3
2.1. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ĐỔI MỚI PPDH THEO MÔ HÌNH
VNEN.
Trường tôi đang công tác đóng trên địa bàn của một xã thuộc vùng nông
thôn, nguồn thu nhập chủ yếu của người dân từ nông nghiệp, một số ít buôn bán
nhỏ , đời sống kinh tế xã hội tuy đã có nhiều cải thiện nhưng vẫn chưa thoát được
nghèo khó, trình độ văn hóa , nhận thức của nhân dân không đồng đều thì việc học
của học sinh nơi đây vẫn là một điều hết sức trăn trở.
- Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đã được đặt ra đối với tất cả các cấp
học trong hệ thống giáo dục . Đặc biệt, khi chúng ta tiến hành đổi mới chương
trình và sách giáo khoa thì vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đã trở thành một
yêu cầu cấp thiết. Phong trào đổi mới phương pháp dạy học đã diễn ra rộng khắp
trong ngành giáo dục toàn quốc. Tuy nhiên việc đổi mới phương pháp dạy học theo
mô hình trường học mới (VNEN) đang thử nghiệm chưa được thực hiện một cách
đồng bộ ở các trường học, cấp học, các vùng miền trong cả nước.
- Việc sử dụng phối hợp các PPDH, các kỹ thuật dạy học để phát huy tính
tích cực, sáng tạo của học sinh còn hạn chế. Việc gắn nội dung dạy học với các
tình huống thực tiễn cũng như để giải quyết các chủ đề phức hợp của thực tiễn
chưa được chú trọng.
- Kiểu dạy học phổ biến trong nhiều môn học hiện nay vẫn là giáo viên
truyền thụ những nội dung được trình bày trong SGK, học sinh nghe và ghi nhớ
một cách thụ động.
Xem xét thực trạng đổi mới phương pháp dạy học tôi thấy có những thuận
lợi và khó khăn sau:
a. Thuận lợi:
- Môi trường giáo dục nhà trường đảm bảo, dân chủ, thân thiện, đổi mới các
hoạt động giáo dục, đủ các điều kiện cho việc triển khai chủ trương thực hiện việc
làm đổi mới của nhà trường.
- Nhà trường đã chỉ đạo tốt công tác bồi dưỡng giáo viên theo hướng tự học,
tự bồi dưỡng, tự làm đồ dùng dạy học, chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp
qua sinh hoạt chuyên môn tại tổ, trường. Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng tài
4
liệu Hướng dẫn học tập để tự học, tự đánh giá; tổ chức cho học sinh hoạt động
khám phá, phát hiện kiến thức, kĩ năng mới thông qua quá trình học tập mang tính
hợp tác. Giáo viên chỉ hỗ trợ và hướng dẫn học sinh khi cần thiết.
- Nhà trường đã tạo được sự gắn kết chặt chẽ với phụ huynh và cộng đồng
nhằm phát huy vai trò tích cực của phụ huynh và cộng đồng tham gia cùng nhà
trường trong hoạt động giáo dục học sinh với các hình thức hoạt động phù hợp
như: thực hiện xây dựng bản đồ cộng đồng, Tổ chức Hội đồng tự quản của học
sinh; Xây dựng góc học tập và thư viện lớp học/hướng dẫn đồ dùng tự làm….
b. Khó khăn:
- Trường học được xây dựng kiên cố ,nhưng chưa được trang bị đầy đủ như
các thiết bị đồ dùng dạy học cho tất các môn học, phòng ngoại ngữ, phòng nghệ
thuật còn thiếu nhiều phương tiện dạy học giúp học sinh tích cực, tự giác học tập
- Trường học ở xa nhà học sinh, học sinh còn nhỏ, đi lại còn khó khăn, nhất
là lúc trời mưa.
- Địa phương còn nhiều khó khăn lớp có nhiều gia đình HS thuộc diên hộ
nghèo, cận nghèo.
- Phần lớn cho mẹ các em đi làm xa nhà, trình độ học vấn thấp, có học sinh
do cha mẹ đi vắng nên các em phải ở với ông bà vì thế các em chưa được quan
tâm đúng mức đến việc học.
- Các em học sinh tiểu học còn nhỏ, còn ham chơi, chưa ý thức hết được tầm
quan trọng của việc học tập, chưa tự giác học tập.
- Không đủ đồ dùng học tập cho các hoạt động của nhóm, cặp đôi dẫn đến
tình trạng học sinh không đủ đồ dùng để thao tác, các nhóm trưởng chưa nắm được
cách điều hành nhóm nguyên nhân dẫn đến tình trạng HS chưa tích cực, chưa tạo
được sự thân thiện
Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm học 2013 - 2014
Môn
Tổng
số
HS
Số
HS
dự
Giỏi Khá TB Yếu
SL % SL % SL % SL %
5
KT
Toán 24 24 6 25 8 33.3 9 37.5 1 4.2
T Việt 24 24 5 20.8 8 33.3 10 41.7 1 4.2
2.2. CÁC GIẢI PHÁP:
Ngay từ đầu năm học 9/2012 -5/2014 trường chúng tôi đã vận dụng
phương pháp dạy học theo mô hình VNEN. Tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài và
có những giải pháp như sau:
2.2.1. Giải pháp 1 : Xâydựng lớp học thân thiện.
a/.Tăng cường công tác trang trí lớp học :
Mỗi ngày đến trường, đến lớp là một ngày vui, bản thân các em thêm yêu
trường yêu lớp, gắn bó với ngôi nhà chung đó. Việc trang trí lớp học thân thiện là
một sự sáng tạo phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh nó tạo cho các em nhận
thức về cái đẹp và có ý thức gìn giữ trường lớp của mình sạch đẹp, góp thêm cho
lớp học một luồng không khí thân thiện, thoải mái, sinh động, hăng say trong giờ
học, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Vận dụng theo cách thức tổ chức của mô
hình trường học mới VNEN, lớp tôi tạo nên các góc thân thiện sau :
- Hộp thư vui kết tinh bè bạn” “Ngôi nhà yêu thương 3D” – nơi hội tụ
những cảm xúc của các thành viên trong lớp. Ngay lập tức, góc nhỏ đáng yêu ấy
tạo nên hiệu ứng sôi nổi tới các bạn học sinh. Mỗt buổi sáng, những lá thư với
dòng chữ còn hơi nguệch ngoạc nhưng chất chứa bao tình cảm sâu lắng, những
mảnh giấy nhỏ bé, rồi cả hình vẽ ngộ nghĩnh đáng yêu về bạn bè trong lớp, những
bức ảnh ghi lại khoảnh khắc của lớp lần lượt xuất hiện trên tường ngôi nhà.
- Hòm thư điều em muốn nói: Mục đích nhằm giúp cho học sinh có cơ hội
bày tỏ ý kiến, những điều em không tiện nói trước lớp, những ý kiến, những chia
sẽ về cuộc sống, hoàn cảnh gia đình, về tâm sinh lý….Giúp cho học sinh bày tỏ tất
cả những vướng mắc trong cuộc sống và trong học tập, các em viết một bức thư
6
nhỏ và gửi vào hòm thư của lớp. cuối mỗi tuần GV sẽ mở hòm thư phân loại và có
cách xử lý cho từng vấn đề học sinh đặt ra, có thể phối hợp với gia đình, nhà
trường, địa phương để có cách giảo quyết tế nhị và có hiệu quả nhất.
- Góc cộng đồng: Giáo viên và học sinh sưu tầm, giới thiệu về văn hóa lịch
sử của địa phương, dân tộc, các tác phẩm thơ ca hò vè, trò chơi dân gian….Các sản
phẩm của địa làm ra. Chính hoạt động này kích thích các em hứng thú tìm tòi, sưu
tầm, giới thiệu và qua đó cũng sẽ giúp các em thêm yêu văn hóa, lịch sử truyền
thống một cách tự nhiên, bền vững.
- Góc thư viện: Là tủ sách thân thiện có sự đóng góp của phụ huynh, học
sinh , giáo viên, có sự giúp đỡ của nhà trường và địa phương tạo điều kiện cho các
em ham đọc sách, mở rộng hiểu biết, phát triển khả năng đọc cho các em. Rèn kĩ
năng sống có trách nhiệm, có ý thức bảo quản tài sản chung, có thói quen sống
gọn gàng, ngăn nắp. Ngoài việc đọc sách tăng thêm vốn tri thức, học sinh còn tham
gia các hoạt động giới thiệu quyển sách của em do giáo viên phụ trách lớp hướng
dẫn, giúp các em tự tin hơn, diễn đạt tốt hơn. Đây là một trong những kĩ năng sống
rất cần thiết cho sau này.
- Cây hoa học tập, bảng đo tiến độ, phản ánh rõ ràng, chính xác, công khai
kết quả học tập của mỗi nhóm,cá nhân học sinh sau mỗi hoạt động, Việc tuyên
dương cá nhân, nhóm trong mỗi giờ chào cờ đầu tuần kích thích học sinh tích cực,
tự giác học tập để đạt được kết quả cao hơn.
Giáo viên luôn thân thiện, gần gũi với học sinh, những lời nhắc nhở nhẹ
nhàng của giáo viên sẽ đạt được kết quả cao. Viết câu nhắc nhở hòm hỉnh như:
“Cho tôi xin rác !” được dán trước mặt thùng rác nơi HS dễ thấy. Hay câu:. “Tắt
đèn, tắt quạt khi không cần thiết bạn nhé ! ” Các khẩu hiệu trong lớp mang ý
nghĩa quan trọng mang tính giáo dục cao ví dụ: “ Dạy tốt - học tốt”, “mỗi ngày đến
trường là một niềm vui”, nội qui học sinh , Năm điều Bác Hồ dạy”, Xây dựng
đủ các góc học tập, các bảng, biểu mẫu đúng qui định của lớp VNEN.
b/Thành lập ban hội đồng tự quản.
Đây là mô hình không những đổi mới về tổ chức lớp học, về trang trí lớp mà
quá trình dạy học cũng được đổi mới từ dạy - học cả lớp sang dạy - học theo nhóm.
7
Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh. Lấy học sinh làm trung tâm trong các hoạt động dạy học
giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức và tạo mọi điều kiện tốt nhất để mọi học sinh
được tham gia vào quá trình học tập.
Ngoài ra mô hình trường Tiểu học kiểu mới giúp học sinh rèn phương pháp
tự học, tự giác, tự quản, tự trọng, tự tin, tự đánh giá, tự hợp tác, tự rèn luyện kỹ
năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui
hứng thú học tập cho học sinh.
Hội đồng tự quản học sinh là một biện pháp giáo dục nhằm thúc đẩy sự phát
triển về đạo đức, tình cảm và xã hội của học sinh thông qua những kinh nghiệm
hoạt động thực tế của các em trong nhà trường và mối quan hệ với những người
xung quanh.
Cách lập hội đồng tự quản của học sinh theo sơ đồ sau:
Sự thay đổi của tổ chức lớp học theo mô hình VNEN với Hội đồng
tự quản học sinh đã thay đổi căn bản vai trò, nhiệm vụ của học sinh trong
tổ chức của mình; thể hiện được tính tự chủ, tự giác, phát huy sáng tạo và
tôn trọng ý kiến của các em nhiều hơn. Nhóm là một phận gắn kết cơ bản
xuyên suốt cả quá trình, do vậy có điều kiện để rèn luyện các kĩ năng và
hợp tác của nhóm.
c/ Phát huy vai trò của một nhóm trưởng:
HĐTQHS
PHÓ CT HĐTQ
PHÓ CT HĐTQ
BAN
HỌC TÂP
CHỦ TỊCH HĐTQ
BAN
ĐỐI NGOẠI
BAN
SỨC KHỎE
VỆ SINH
BAN
VĂN NGHỆ
TDTT
BAN
THƯ VIỆN
BAN
QUYỀN LỢI
HỌC SINH
8
Học theo mô hình VNEN, bàn ghế sẽ được sắp xếp cho học sinh ngồi đối
diện nhau. HS tự thảo luận, tự tìm khúc mắc và tự đưa ra phương án giải quyết.
Mỗi nhóm có 4 học sinh, ngồi quây tròn theo mô hình sau.



Ưu điểm của phương pháp học nhóm được phát huy rất rõ nét trong học nhóm theo
mô hình VNEN, tất cả học sinh trong nhóm đều được luân phiên nhau làm nhóm
trưởng, hướng dẫn các bạn trong nhóm để điều hành các hoạt động do giáo viên
yêu cầu và không có một bất cứ học sinh nào ngoài cuộc, không một học sinh nào
ngồi chơi.
Tuy nhiên để tiết học dạy theo mô hình VNEN thành công hay không thì
phụ thuộc rất nhiều vào các nhóm trưởng. Và công việc chính của nhóm trưởng đó
là: Thay giáo viên điều hành các bạn hoạt động nhóm. Xác định được mục tiêu của
hoạt động nhóm. Phân công nhiệm vụ cho công bằng giữa các thành viên trong
nhóm.
9
các thành viên trong
nhóm.
Thành
viên 3
Nhóm
trưởng
Thành
viên 1
Thành
viên 2
Một điều quan trọng nữa đó là nhóm trưởng phải biết tự mình làm thế nào để
huy động được sự tham gia của mọi thành viên vào giải quyết nhiệm vụ nhóm và
phải tạo ra những tương tác đa chiều giữa các thành viên trong nhóm. Hướng dẫn
các bạn biết cách tìm kiếm hỗ trợ và giải quyết được một số khó khăn gặp phải.
Biết quản lí và sử dụng thời gian hiệu quả, biết sử dụng và bảo quản tài liệu
học tập. Biết tổ chức và quản lí công việc. Biết giơ thẻ khi đã hoàn thành công việc
và biết giơ thẻ cứu trợ khi không tự giải quyết được công việc.
Cách 1: Vào cuối hoặc đầu mỗi buổi học giáo viên cần mời các nhóm trưởng ngồi
lại tạo thành một nhóm và hướng dẫn các em cụ thể từng bước một.
Ví dụ: Sau khi đã ghi xong đề bài nhóm trưởng điều khiển các bạn đọc mục tiêu:
- Nhóm trưởng nói to đủ cho cả nhóm nghe (Mời các bạn đọc mục tiêu. Bạn nào
đọc xong thì giơ tay lên)
- Nhóm trưởng nói: Mình mời bạn A đọc mục tiêu thứ nhất
- Mời bạn B đọc mục tiêu thứ hai….
(Sau khi các bạn trong nhóm mình đọc xong thì giơ thẻ hoàn thành lên để giáo
viên biết đến kiểm tra).
Cách 2: Đối với những nhóm còn yếu, nhóm trưởng làm việc còn lúng túng. Vì
vậy, người giáo viên phải là người “làm mẫu” và đóng vai trò là một nhóm trưởng
chứ không phải vai trò là một người giáo viên.
Ví dụ: Bài “Ôn tập bảng nhân và bảng chia” ( tài liệu toán lớp 3 trang 15)
Bài tập 1: Ôn tập bảng nhân, bảng chia 2,3,4,5
Câu a: Yêu cầu trong tài liệu là : Em đố bạn đọc bảng nhân, chẳng hạn bảng
nhân 2, em nghe bạn đọc và sửa lỗi nếu có cho bạn.
- Nhóm trưởng ( tức giáo viên làm mẫu) làm việc như sau:
+ Mời các bạn thảo luận theo nhóm 2: Bạn A với bạn B là một nhóm, bạn C với
bạn D là một nhóm….
+ Các nhóm hãy tự đố nhau đọc bảng nhân, chẳng hạn bảng nhân 2, nghe bạn đọc
và sửa lỗi nếu có cho bạn.
+ Sau khi các nhóm làm xong, nhóm trưởng điều khiến đặt câu hỏi và đố bạn trong
nhóm trả lời, sau đó mời bạn khác nhận xét và cuối cùng đi đến ý kiến thống nhất
10
chung cả nhóm . Giơ thẻ hoàn thành báo để cô giáo viên kiểm tra. Hoặc trong các
bài khác ngoài nội dung câu hỏi sách giáo khoa khi đã hoàn thành nhóm trưởng
phải biết nêu thêm một số câu hỏi để kiểm tra xem các thành viên trong nhóm có
nắm được kiến thức hay không.
Cách 3: Giáo viên chọn ra một số học sinh học giỏi, nhanh nhẹn trong học tập xếp
cho các em này ngồi vào một nhóm để giáo viên huấn luyện khi học sinh đã biết
việc và biết cách điều hành nhóm rồi thì chia các bạn này đến mỗi nhóm mỗi bạn
làm nhóm trưởng các nhóm.
Cách 4: Hoặc có thể cho nhóm làm tốt làm mẫu thảo luận một hoạt động nào đó
và các nhóm còn lại chú ý để học tập theo. GV cũng không quên động viên, tuyên
dương kịp thời các nhóm làm tốt .
- Một điều nữa cần phải lưu ý đó là vị trí đứng của giáo viên khi các nhóm thảo
luận cũng hết sức quan trọng. Qua kinh nghiệm giảng dạy, tôi nhận thấy giáo viên
nên bao quát lớp, vừa đánh giá đúng nhóm nào làm nhanh nhất, chậm nhất, nhóm
nào giơ thẻ hoàn thành lên trước hay lên sau hay nhóm nào giơ thẻ cần cứu trợ, để
từ đó giáo viên kịp thời đến kiểm tra hay giúp đỡ.
d/ Xây dựng tập thể lớp đoàn kết, hòa đồng trong giờ giải lao:
Muốn xây dựng được mối đoàn kết giữa các bạn trong lớp với nhau, thì vai
trò của hội đồng tự quản cũng không kém phần quan trọng đặc biệt là ban văn nghệ
của lớp. Ban văn nghệ dưới sự hướng dẫn của GV, vào giờ ra chơi ban văn nghệ tự
tổ chức, tự khởi xướng ra các hoạt động, các trò chơi và tôi cũng cùng tham gia
chơi với học sinh. Trước khi chơi, GV thường đưa ra những giải thưởng thú vị,
giải nhất có thể là gói bánh, gói kẹo, hộp phấn…. để kích thích tinh thần chơi của
các em.
Ví dụ: Trò chơi “Kéo co” không chỉ đòi hỏi sức mạnh, sự khéo léo mà còn đòi hỏi
tinh thần đoàn kết cao. Nếu như không có sự hợp tác - đoàn kết cao thì chắc chắn
sẽ thua cuộc.
Qua trò chơi, GV vừa giúp ban văn nghệ thêm mạnh dạn, tự tin, rèn luyện thêm kỹ
năng điều hành lớp vui chơi, văn nghệ, vừa giúp các em thể hiện sự đoàn kết, hợp
tác, giúp đỡ nhau để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thông qua những giờ
11
giải trí thú vị ấy, HS càng thân thiết, quý mến nhau hơn và chắc chắn rằng các em
sẽ sẵn sàng giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc
sống.
Qua một thời gian áp dụng phương pháp trên, bản thân tôi nhận thấy công tác
tự quản trong lớp học mang lại những lợi ích cụ thể, sát thực như sau:
- Nền nếp lớp học ngày một tốt hơn, có quy củ hơn. Học sinh tự giác trong việc tự
học, trình bày bài trong vở.
- Kỹ năng giao tiếp của các em trôi chảy, lưu loát hơn; các em tự tin hơn trong
giao tiếp, học tập…
- Học sinh ý thức được tinh thần trách nhiệm trong các hoạt động, phong trào thi
đua của lớp; tinh thần đoàn kết, kĩ năng hợp tác và khả năng làm việc theo nhóm
hiệu quả cao hơn.
Như vậy xây dựng lớp học tự quản là việc làm cần thiết của bất cứ giáo viên
nào, người giáo viên cần chủ động đóng vai trò là người cố vấn, hướng dẫn, điều
khiển từ xa trợ giúp học sinh nuôi dưỡng ý thức, tạo dựng môi trường tự quản. Bởi
vì chỉ có học sinh, chính các em chứ không phải ai khác mới là người có quyền lợi
và trách nhiệm gắn bó, xây dựng, điểm tô cho lớp học - ngôi nhà thứ hai của mình
trở lên thân thiện, gần gũi và đẹp hơn trong mắt mọi người.Học theo nhóm là chủ
yếu; học ở ngoài lớp học.
2.2.2.Giải pháp 2: Đổi mới phương pháp dạy của giáo viên
a/ Người giáo viên phải hiểu đổi mới phương pháp dạy học theo mô
hình VNEN là như thế nào?
Phương pháp dạy học theo mô hình VNEN là phương pháp dạy học lấy học
sinh làm trung tâm vừa là giá đỡ, vừa là trụ cột chi phối các hoạt động sư phạm
trong nhà trường VNEN. Tổ chức lớp học không chỉ phù hợp với phương pháp của
VNEN mà còn tạo ra môi trường sư phạm thân thiện, dân chủ, hợp tác giữa các
thành viên trong trường và với cộng đồng. Mô hình VNEN sẽ tạo điều kiện cho
giáo viên và học sinh phát huy tốt nhất các năng lực cá nhân và giá trị đích thực
của các em.
12
Kiểu cấu trúc bài học được khuyến khích sử dụng trong mô hình VNEN, đó
là tổ chức dạy học người ta thường khuyến khích sử dụng quy trình thông qua các
hoạt động trải nghiệm, khám phá, phát hiện của HS chúng gồm 5 bước chủ yếu
sau:
Gợi động cơ, tạo hứng thú Trải nghiệm Phân tích, khám phá,rút ra
bài học Thực hành,vận dụng.
Để làm tốt 5 bước này, đòi hỏi bản thân người giáo viên phải tự thiết kế, đạo
diễn các hoạt động học tập để giúp HS tự phát hiện kiến thức, phân tích kiến thức
và sử dụng kiến thức.
Chẳng hạn: Bước 1: Tạo hứng thú cho học sinh
Muốn không khí lớp học vui tươi, kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của
học sinh về chủ đề sẽ học. Thì giáo viên phải nghiên cứu thật kỹ tài liệu để lựa
chọn hình thức sao cho phù hợp, có thể là: đặt câu hỏi, câu đố vui, kể chuyện, một
tình huống, tổ chức trò chơi hoặc sử dụng các hình thức khác…
Ví dụ : Bài 5: Ôn tập các bảng nhân và bảng chia ( tài liệu Toán lớp 3 trang 15)
Trước khi vào tiết học, GV tổ chức HS chơi trò chơi “Kết bạn”. Các em sẽ biết nếu
“kết 4” mà lớp mình có 24 bạn thì sẽ thành lập được 6 nhóm, nếu “kết 5” thì lớp
mình sẽ thành lập được 4 nhóm còn dư 4 bạn ( bạn bị dư sẽ bị phạt) …Thông qua
trò chơi, HS sẽ cảm thấy trò chơi mà mình vừa được tham gia rất gần gũi với bản
thân, không chỉ thế trò chơi còn kích thích tính tò mò, khơi dậy hứng thú trong học
tập giúp các em muốn tiếp tục được trải nghiệm kiến thức mới.
b/ Đổi mới phương pháp dạy của giáo viên:
- Tăng cường việc sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học, các kỹ
thuật dạy học để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, gắn nội dung dạy
học với các tình huống thực tiễn cũng như để giải quyết các chủ đề phức hợp của
thực tiễn.
- Trước tiên mỗi giáo viên phải nắm chắc các phương pháp dạy học tích
cực và các kỹ thuật dạy học tích cực được áp dụng rộng rãi ở nhiều vùng miền và
đã mang lại kết quả cao đó là :
13
- Các phương pháp dạy học tích cực :
+ Vấn đáp
+ Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề.
+ Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ.
+ Phương pháp trường hợp
- Các kỹ thuật dạy học tích cực :
+ Lắng nghe tích cực
+ Phản hồi tích cực
+ Kỹ thuật mảnh ghép
+ Kỹ thuật ổ bi
+ Kỹ thuật công não
+ Kỹ thuật sơ đồ tư duy
Trao đổi với đồng nghiệm, chuyên môn để tuỳ theo theo môn, bài, lớp nào
hay phần mà ứng dụng phương pháp dạy học nào, kỹ thuật dạy học nào cho phù
hợp đặc biệt gắn bài học với thực tế cuộc sống để học sinh nhớ lâu, không bị gò ép.
Vai trò của giáo viên phải thay đổi từ truyền thụ, giảng giải thậm
chi là làm thay chuyển sang hướng dẫn, trợ giúp phù hợp, đúng thời
điểm. Từ chỗ học sinh tiếp thu thụ động đến để cho học sinh tự tìm kiếm
qua tài liệu, thảo luận nhóm cũng là một quá trình điều chỉnh của bản
thân người học.
Mỗi giáo viên phải tự học, tự bồi dưỡng để biết cách khai thác những yếu tố
tích cực của các phương pháp dạy học truyền thống một cách phù hợp và có hiệu
quả, đồng thời đưa các quan điểm, mô hình dạy học hiện đại , tạo điều kiện cần
thiết để giáo viên có thể thực hiện được sự chuyển biến về các hoạt động dạy và
học, chuyển từ lối truyền thụ kiến thức một chiều sang việc tổ chức các hoạt động
tự lập, tự khám phá, tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành năng lực tự học, năng lực
sáng tạo của học sinh, đổi mới các hình thức tổ chức dạy học. Bồi dưỡng năng lực
14
tổ chức dạy học theo nhiều hình thức đa dạng, khuyến khích và tạo điều kiện thuận
lợi (cả tinh thần và vật chất) cho giáo viên và học sinh để tổ chức một cách hiệu
quả các hoạt động dạy học. Cụ thể như sau :
* Tổ chức dạy học phân hoá theo năng lực của học sinh dựa trên tài liệu
hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng.
- Tài liệu chuẩn kiến thức giúp cho giáo viên chủ động lượng kiến
thức cho bài dạy.
- Phân loại học sinh theo năng lực thông qua kết quả học tập.
- GV cùng bộ môn phải thống nhất lượng kiến thức qui định theo
chuẩn kiến thức kỹ năng nhiều, không đủ thời gian thực hiện đề xuất nhà
trường cắt giảm.
- Cần kiểm tra và bổ sung một số phần, bài còn thiếu trong chuẩn
kiến thức so với qui định của chương trình của bộ.
* Sử dụng sách giáo khoa hợp lý khi giảng bài trên lớp, khắc phục dạy học
theo lối đọc, chép:
- Sử dụng sách giáo khoa làm phương tiện dạy học.
- Cần khai thác đầy đủ nội dung sách giáo khoa và cập nhật thêm
kiến thức , các nội dung tích hợp và các địa chỉ tích hợp.
* Sử dụng hợp lý công nghệ thông tin trong các bài giảng, khai thác tối đa
thiết bị dạy học.
- Cần sử dụng, khai thác công nghệ thông tin làm phương tiện dạy
học.
- Ứng dụng công nghệ thông tin giúp cho tiết dạy thêm sôi động, thu
hút sự tập trung của học sinh.
- Giáo viên thật sự phải có kiến thức về ứng dụng công nghệ, sử
dụng thành thạo máy, nếu không sẽ phản tác dụng khi thực hiện.
15
Giáo viên phải nghiên cứu thật kỹ tài liệu để đổi mới phương pháp dạy học
và tại sao chúng ta lại phải nghiên cứu kỹ tài liệu là vì:
+ Bản chất của tài liệu là một bản thiết kế “3 trong 1” dùng cho học sinh và
dùng cho cả giáo viên trong trường Tiểu học thực hiện theo mô hình trường học
mới EN. Với học sinh, đây là tài liệu hướng dẫn các em tự học để đạt mục tiêu của
từng bài, tiến tới đạt mục tiêu của năm học. Với giáo viên , đây là một bản thiết kế
để giáo viên dựa vào đó biết cách tổ chức các hoạt động học tập cho HS, biết cách
kiểm tra, biết cách đánh giá kết quả học tập của học sinh, biết tự kiểm soát việc
dạy học của chính mình.
+ Giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài để lường trước những tình huống phát
sinh nhằm giúp các em tìm tòi, khám phá bài học.
+ Thông qua tài liệu, căn cứ vào trình độ học sinh của lớp mình, căn cứ vào
điều kiện đồ dùng dạy học, lớp học và độ khó của từng yêu cầu bài tập. Giáo viên
chủ động thay thế, bổ sung hoặc điều chỉnh số lượng bài tập, thay đổi câu hỏi sao
cho ngắn gọn, đơn giản hơn. Muốn làm được điều đó, giáo viên phải nắm được
trình độ cụ thể của học sinh, hiểu được các yêu cầu, chỉ dẫn hoạt động của tài liệu
để kịp thời có những thay đổi điều chình phù hợp.
Ví dụ: Bài 4B: Người mẹ ( tài liệu Tiếng Việt 3 trang 49) ở HĐ3: Chơi điền chữ -
giải câu đố ( logo nhóm 6)
GV có thể thay thế hình thức khác như: chia lớp thành 3 đội chơi trò chơi “Tiếp
sức” ghi nhanh chữ d hay r vào chỗ trống.
Để dạy học theo mô hình VNEN đạt hiệu quả thì giáo viên phải phối kết
hợp chặt chẽ với phụ huynh cùng tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường
Ngoài ra, bản thân mỗi giáo viên phải có quyển sổ dự kiến kế hoạch dạy học ghi
lại những thành công hoặc những khó khăn vướng mắc khi thực hiện các bước dạy
học trên lớp.
- Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng, tự chủ, linh hoạt trong phương pháp dạy
học. Tích cực tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề
của tổ của trường để học tập về đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần
VNEN.
16
- Trong sinh hoạt tổ chuyên môn kịp thời đưa ra những khó khăn, vướng
mắc như: biện pháp để học sinh học nhóm tốt, biện pháp để giúp em nhóm trưởng
có thể điều khiển tốt các hoạt động học tập của nhóm, hoặc biện pháp về đổi mới
phương pháp dạy học của một hoạt động nào đó ở một bài dạy cụ thể… trong tổ sẽ
cùng nhau thảo luận để tìm ra cách giải quyết tốt nhất.
- Thường xuyên tự học hỏi qua sách báo, thông tin đại chúng, qua đồng
nghiệp thông qua các tiết học tốt, chuyên đề, thao giảng, tự tìm kiếm những thông
tin trên mạng nhằm nâng cao tay nghề, tìm ra phương pháp giảng dạy cho phù hợp
với đối tượng học sinh.
- Hàng năm, bản thân đều đăng kí một định hướng đổi mới trong năm học có
thể nhân rộng làm tài liệu tham khảo cho các đồng nghiệp.
2.2.3. Biện pháp 3: Đổi mới về cách học của học sinh.
- Học sinh tự học, tự làm việc với tài liệu hướng dẫn học (thay sách
giáo khoa - đồ dùng học tập); quá trình chiếm lĩnh kiến thức được khởi
đầu bằng việc học sinh đọc và viết tên bài học, tiếp đến là việc đọc mục
tiêu bài học - đây là việc đầu tiên của HS phải biết mình làm cái gì trong
bài học này. Hoạt động cơ bản là quá trình tự trải nghiệm nghiên cứu tài
liệu, bắt đầu từ cá nhân và trao đổi trong nhóm. Trình tự bài học đến báo
cáo kết quả học tập của cá nhân và nhóm thể hiện tính độc lập tương đối
của cá nhân và nhóm.
- Học sinh phải có nhận thức tự giác về mục đích học tập và tự lực , tích cực
thực hiện mục đích đó bằng hành động của chính mình.
- Học sinh được học tập theo khả năng và nhịp độ của riêng mình phù hợp
với trình độ nhận thức của cá nhân học sinh . Vì vậy , kế hoạch dạy học cần được
bố trí một cách linh hoạt .
- Có sự chỉ đạo , hướng dẫn khéo léo , hợp lý của giáo viên hoặc của người
hướng dẫn.
17
- Mỗi học sinh được giao nhiệm vụ và mục tiêu học tập cụ thể , nhưng luôn
có thể tự điều chỉnh hoạt động của chính mình để việc học phù hợp với nhịp độ
tiếp thu của bản thân.
- Phát huy tác dụng tích cực của hình thức dạy học theo nhóm, theo cặp .
Học sinh trong từng nhóm cùng trao đổi , bàn bạc , để hoàn thiện nhiệm vụ được
giao . Giáo viên chỉ tập trung cho học sinh để giảng giải khi cần nhận xét , đánh
giá chung hoặc hướng dẫn hoạt động cho toàn lớp.
- Hoạt động tự học của học sinh vừa rèn luyện tính độc lập tích cực của học
sinh, đồng thời thúc đẩy sự tham gia hợp tác , tăng cường ý thức tập thể của học
sinh .
- Việc học tập tích cực trong nhóm cũng hình thành cho các em kĩ
năng lắng nghe, kĩ năng ra quyết định… trước khi đưa ra vấn đề, tạo sự
tương tác thân thiện giữa các bạn cùng nhóm, luôn có thái độ hỗ trợ,
tương trợ lẫn nhau. Tăng cường tính tích cực, chủ động, linh hoạt hơn và
học sinh thật sự tham gia vào quá trình chiếm lĩnh kiến thức.
- Phát huy tốt vai trò nhóm trưởng để điều hành nhóm mình hoạt
động học theo sách hướng dẫn học .Thể hiện được vai trò của cá nhân và
nhóm học sinh trong quá trình tự đánh giá kết quả của mình.
Tiến trình tự học của học sinh được tổ chức thông qua các hoạt động chủ
yếu sau :
+ Hoạt động khởi động.
+ Nhận biết tên, mục tiêu của bài học.
+ Hoạt động cơ bản.
+ Đánh giá tiến độ ( Sau khi kết thúc hoạt động cơ bản )
+ Hoạt động thực hành.
+ Tự đánh giá ( có sự giúp đỡ của thầy/ cô giáo ) sau khi kết thúc bài học.
18
+ Liên hệ và ứng dụng kiến thức đã học vào cuộc sống thực tế hằng ngày
( tại gia đình và địa phương ) của học sinh .
- Tuy nhiên để học sinh dễ nhớ , dễ vận dụng và thuận tiện cho giáo viên
trong tổ chức trong hoạt động tự học ,học sinh thực hiện 10 bước học tập sau :
Với hình thức học nhóm trong quá trình học tập, học sinh có nhiều
cơ hội độc lập suy nghĩ, bộc lộ ý kiến riêng khi làm việc cá nhân và có
nhiều cơ hội phát huy năng lực hợp tác khi học nhóm, được tranh luận, tự
đánh giá bản thân và đánh giá các bạn. Học sinh đã quen với học nhóm;
tự điều khiển hoạt động trong nhóm từ đó đã giúp học sinh có ý thức để
chủ động trong học tập. Học sinh đã thể hiện được khả năng của mình khi
điều khiển và có thể hướng dẫn các bạn khác học, giúp cho việc tổ chức
19
hng dn luụn ch l ca cụ giỏo nh trc õy. Mt iu d nhn thy,
ú l hc sinh ó mnh dn, linh hot v sỏng to hn trong hc tp, t
duy c lp, hp tỏc phỏt hin chim lnh kin thc bi hc.
3. PHN KT LUN:
3.1. í ngha ca sỏng kin:
Xut phỏt t thc tin ca a phng v nh trng, bn thõn ó bit vn
dng khộo lộo, phự hp cỏc gii phỏp thc hin i mi phng phỏp dy hc.
Mc dự vic ỏp dng nhng sỏng kin thi gian cha nhiu, song ó mang li kt
qu thit thc. Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài, bản thân tôi nhận thấy:
i mi phng phỏp dy hc l mt trong nhng yờu cu cn thit, phự hp vi
yờu cu ca giỏo dc hin i.
Mc tiờu t ra l mi mt giỏo viờn phi tỡm tũi, nghiờn cu nm vng
chng trỡnh dy hc. Mt khỏc phi cú kh nng tip cn, s dng i mi thng
xuyờn, nhm ỏp ng yờu cu cao v hiu qu, cht lng giỏo dc.
Bit cỏch khai thỏc nhng yu t tớch cc ca cỏc phng phỏp dy hc
truyn thng mt cỏch phự hp v cú hiu qu, ng thi a cỏc quan im, mụ
hỡnh dy hc hin i , to iu kin cn thit giỏo viờn cú th thc hin c
s chuyn bin v cỏc hot ng dy v hc, chuyn t li truyn th kin thc
mt chiu sang vic t chc cỏc hot ng t lp, t khỏm phỏ, t chim lnh tri
thc, hỡnh thnh nng lc t hc, nng lc sỏng to ca hc sinh, i mi cỏc hỡnh
thc t chc dy hc.
Giỏo viờn ó thay i t truyn th, ging gii thm chớ l lm thay
chuyn sang hng dn, tr giỳp phự hp, ỳng thi im. T ch hc
sinh tip thu th ng n cho hc sinh t tỡm kim qua ti liu, tho
lun nhúm cng l mt quỏ trỡnh iu chnh ca bn thõn ngi hc.
3.2 Kt qu t c.
Qua quỏ trỡnh thc hin kt qu t c trong nm hc 2013 - 2014 nh
sau:
20
Môn
Tổng
số
HS
Số
HS
dự
KT
Giỏi Khá TB Yếu
SL % SL % SL % SL %
Học
kì 1 Toán 24 24 10 42 10 42 4 16 0
T Việt 24 24 12 42 9 37.5 3 20.5 0
Cả
năm Toán 24 24 12 50 9 37.5 3 20.5 0
T Việt 24 24 14 58.3 7 21.2 3 20.5 0
3.3. Kiến nghị, đề xuất:
Với các cấp quản lý giáo dục :
- Tăng cường đầu tư hơn nữa cho nhà trường về cơ sở vật chất như: (Phòng
học, bàn ghế hai chỗ ngồi , màn hình tinh thể lỏng).
- Cần tổ chức sinh hoạt chuyên môn cấp cụm trường với các trường dạy thí
điểm VNEN để tạo mối quan hệ chia sẻ, học tập lẫn nhau.
21
Thc hin ti ny, chỳng tụi mong mun gúp mt phn a ra thc trng
i mi phng phỏp dy hc : nhng thun li, khú khn. Qua ú ra mt s
bin phỏp nhm i mi phng phỏp dy hc cú hiu qu
Mặc dù rất cố gắng nhng do kinh nghiệm và trình độ bản thân còn hạn chế
nên chc chn vn cũn nhiu thiu sút. Tụi mong rng s c cỏc ng nghip,
quý lónh o giỳp , gúp ý bn sỏng kin hon thin hn, tng bc nõng cao
cht lng giỏo dc ton din .
Tài liệu tham khảo
1. T chc lp hc theo mụ hỡnh trng hc mi - NXBGDVN
2. Ti liu tp hun : Dy hc theo mụ hỡnh trng hc mi , Tp 1 - NXBGDVN
3. Ti liu tp hun : Dy hc theo mụ hỡnh trng hc mi , Tp 2 - NXBGDVN
4. Cỏc phng phỏp dy hc hiu qu. - NXBDGVN.
5. Sỏch hng dn hc Ting Vit lp 3 . Tp 1A - 2B.
6. Sỏch hng dn hc Toỏn lp 3 . Tp 2A - 2B.
7. Hỏi đáp về đổi mới PPDH ở Tiểu học NXBGH .
22
trang
1. PhÇn më ®Çu
1.1. Lý do chọn đề tài.
1
1.2. Điểm mới của đề tài, sáng kiến, giải pháp.
2
23
1.3. Phạm vi áp dụng đề tài:
2
2. Phần nội dung .
3
2.1.Thực trạng của việc đổi mới PP dạy học theo mô hình VNEN.
3
2.2. Các giải pháp .
4
2.2.1. Giải pháp 1 : Xâydựng lớp học thân thiện.
4
2.2.2.Giải pháp 2: Đổi mới phương pháp dạy của giáo viên
9
2.2.3. Biện pháp 3: Đổi mới về cách học của học sinh.
12
3. Phần kết luận:
14
3.1. Ý nghĩa của sáng kiến:
14
3.2 Kết quả đạt được.
14
3.3. Kiến nghị, đề xuất:
15
Tài liệu tham khảo
16

24

25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×