Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm vật lý 10, 11, 12: KÍCH THÍCH SỰ HỨNG THÚ CỦA HỌC SINH QUA VIỆC GIẢI LOẠI BÀI TOÁN VẬT LÝ ĐỊNH TÍNH

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH
TRƯỜNG THPT

Mã số:…………………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
KÍCH THÍCH SỰ HỨNG THÚ CỦA
HỌC SINH QUA VIỆC GIẢI LOẠI BÀI
TOÁN VẬT LÝ ĐỊNH TÍNH
GV thực hiện:
Lĩnh vực nghiên cứu: 
Quản lý giáo dục 
Phương pháp dạy học bộ môn : LÝ 
Phương pháp giáo dục: …………. 
Lĩnh vực khác: ………… 

Đính kèm: Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác 
Năm học 2013 – 2014.

CHUYÊN ĐỀ NÀY GỒM CÓ CÁC PHẦN SAU ĐÂY:
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG
THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
IV. KẾT LUẬN
Phần 1: MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài:
Nói đến giải Toán Vật lý, các em học sinh (HS) thường nghĩ đến việc
tìm cách vận dụng những công thức vật lý để lập các phương trình và giải
chúng để tìm ra những con số gọi là đáp số của bài toán. Cứ như thế, việc giải
toán vật lý rốt cuộc trở thành một thứ toán ứng dụng, quy về những thủ thuật
và kỹ thuật lập phương trình, giải phương trình ứng với các kiểu, loại bài toán
vật lý khác nhau. HS giải toán vật lý dần dần quên rằng vật lý học đóng vai trò
ngày càng quan trọng đối với công nghệ và sản xuất, đồng thời cũng giúp hiểu
nhiều hiện tượng thường gặp trong thiên nhiên và đời sống.
Trong chuyên đề này, tôi mong muốn hướng HS giải toán vật lý đến
mục đích hiểu bản chất vật lý học hơn là chỉ nhằm đến đáp số bài toán. Các
em sẽ khám phá ra rằng: vật lý học là những điều đang xảy ra trong thế giới
xung quanh các em. Nó nói về các màu sắc trong một cầu vồng, về ánh sáng
lóng lánh và tính cứng rắn của một viên kim cương. Nó có liên quan đến các
việc đi bộ, chạy, đi xe đạp, lái ô tô và cả việc điều khiển một con tàu vũ trụ.
Các nguyên lí vật lý hiện diện rõ ràng trong các đồ chơi, trong các trò đấu
bóng, trong các nhạc cụ và cả trong cả những máy phát điện khổng lồ,…
Xuất phát từ ý nghĩa và thực tế đó, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “
Kích thích sự hứng thú của học sinh qua việc giải loại bài toán vật lý định
tính” nhằm giúp các HS giải toán vật lý hiểu sâu hơn các hiện tượng vật lý
đang xảy ra trong thiên nhiên quanh ta, trong các đối tượng công nghệ của nền
văn minh mà ta đang sử dụng.
II.Phương pháp nghiên cứu và những thuận lợi, khó khăn:
-Phương pháp nghiên cứu tài liệu: đọc các sách giáo khoa phổ thông (SGK),
các sách đại học, sách tham khảo.
-Phương pháp thống kê: chọn các hiện tượng có trong chương trình phổ thông
và gần gũi với đời sống hằng ngày.
-Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy và
thực tế đời sống.
1)Thuận lợi:
Tài liệu SGK mới đã được biên soạn theo tinh thần phát huy tính tích cực của
HS, có nhiều hình ảnh minh hoạ cho các vấn đề nêu trong bài học.
2)Khó khăn:
Ở trường học chưa có quỹ thời gian dành riêng cho việc hướng dẫn HS những
kỹ năng vá phương pháp học tập hiệu quả. Chúng ta chỉ mới chú trọng đến sự
truyền thụ kiến thức cho HS mà không để ý rằng đằng sau đó là ít nhiều có sự
đam mê, sáng tạo môn vật lý của các em HS góp phần vào sự tiến bộ của khoa
học và công nghệ, và có thể các em tìm được cho mình một nghề nghiệp có
vận dụng các kết quả của Vật lý học!
Phần 2: NỘI DUNG
I.Cơ sở lý luận:
Nhà trường THPT ngày nay sử dụng chủ yếu các bài tập vật lý định
lượng, giãi quyết các câu hỏi (vấn đề) đặt ra bằng các phép tính toán khi giải
các phương trình. Việc dạy HS nhận diện các kiểu, loại bài toán vật lý khác
nhau và cách thức vận dụng các công thức vật lý cho từng kiểu, loại toán đó,
má quên phần lớn vấn đề ý nghĩa đích thực của việc giải toán vật lý là làm
sáng tỏ bản chất vật lý của các hiện tượng mô tả trong các đề toán nói riêng và
các hiện tượng thực xảy ra trong đời sống.
Trong khi đó thì từ lâu người ta đã biết các bài toán giáo khoa về vật lý
không chỉ gồm những bài toán định lượng. Còn có nhiều loại bài toán vật lý
khác tuỳ theo cách phân loại chúng. Ví dụ như: nếu phân loại theo nội dung đề
toán thì có bài toán vật lý có nội dung chỉ để luyện tập, bài toán vật lý có nội
dung thực tế đời sống, bài toán vật lý có nội dung kỹ thuật – sản xuất, … Hoặc
nếu phân loại theo cách thức giải toán thí có: bài toán vật lý định tính (hay bài
tập định tính, hoặc đơn giản là câu hỏi), bài toán thí nghiệm, bài toán định
lượng, …chỉ thông qua việc giải nhiều loại bài toán vật lý, cả định tính, thí
nghiệm và định lượng với những nội dung phong phú, đa dạng thì các em HS
mới có điều kiện nắm vững thực chất của các tri thức vật lý trong các biểu
hiện thực tế vô cùng phức tạp của chúng. Như thế, không những các em hiểu
rõ các khái niệm và định luật vật lý mà còn có dịp học được cách tiếp cận
khoa học vật lý vá nâng cao được hứng thú đối với môn học.
Bài tập định tính là loại bài tập được đưa ra với nhiều tên gọi khác
nhau: “câu hỏi thực hành, câu hỏi để lĩnh hội, bài tập logic, bài tập miệng, câu
hỏi định tính, câu hỏi kiểm tra, …”. Sự đa dạng trong cách gọi chứng tỏ loại
bài tập này có những ưu điểm về phương pháp ở nhiều mặt, bởi vì mỗi một tên
gọi khác nhau đều phản ánh một khía cạnh nào đó của ưu điểm.
Bài tập định tính có thể sử dụng trong tất cả các giai đoạn học tập môn
học, từ bước đặt vấn đề để bắt đầu nghiên cứu một đề mục cho đến bước
nghiên cứu giải quyết vấn đề, bước vận dụng để củng cố, luyện tập, ôn tập
hoặc mở rộng, đào sâu tri thức hoặc thực hành… Tuỳ theo mục đích sử dụng
có thể xây dựng với nội dung thích hợp. Trong phạm vi chuyên đề này, tôi chỉ
có thể nêu ra một số dạng bài toán vật lý định tính của Lớp 10
Bài tập định tính vật lý nói chung đề cập đến một hiện tượng vật lý xảy
ra trong tự nhiên và kỹ thuật mà khía cạnh vật lý thường bị che lấp bởi những
chi tiết thực luôn hiện diện kèm theo hiện tượng trong diễn biến phức tạp của
nó. Việc giải các bài toán định tính cũng hướng vào sự phát hiện bản chất vật
lý của vấn đề giống như trường hợp giải toán định lượng nhưng do không phải
quan tâm đến các phép tính mà đôi khi dễ làm lệch hướng suy nghĩ khi giải
toán, nên người giải toán định tính vật lý có điều kiện tập trung tư tưởng để
phân tích điều kiện bài toán và vận dụng kiến thức, kỹ năng đã biết về vật lý
mà đi tới được kết luận cuối cùng.
II.Nội dung đề tài:
1)Phần: ĐỘNG HỌC
Ví dụ 1: Một truyện dân gian có kể rằng: khi chết một phú ông đã để lại cho
con mình một hũ vàng chôn trong một khu vườn rộng và một mảnh giấy vẽ sơ
đồ trong đó chỉ rõ: đi về phía Đông 12 bước chân sau đó rẽ phải 8 bước chân,
đào sâu 1m. Hỏi với chỉ dẫn này, người con có tìm được hũ vàng không? Vì
sao?
 Không tìm được vì không có vật làm mốc.
Ví dụ 2: Một cảnh sát giao thông nhận thấy một chiếc ô tô du lịch đang phóng
quá nhanh trên quốc lộ. Đúng lúc chiếc xe du lịch chạy ngang hàng một chiếc
xe tải chạy chậm trên đường thì người cảnh sát ra lệnh cho cả hai xe dừng lại
và lập biên bản. Người lái xe du lịch bào chữa rằng: “xe du lịch chạy ngang
hàng chiếc xe tải, có nghĩa là hai xe có tốc độ như nhau”.
Lời bào chữa đó có đúng không? Hãy dùng đồ thị toạ độ của chuyển
động với giả định hai xe cùng chuyển động đều để bác bỏ lập luận của người
lái xe du lịch.

 Lời bào chữa là sai. Hai xe có cùng vị trí (cùng toạ độ x) chứ không
có cùng vận tốc. Điều này thể hiện rất rõ trên đồ thị toạ độ của xe du lịch (I)
và của xe tải (II).
Độ dốc của (I) – tốc độ của xe du lịch lớn hơn của (II) – tốc độ của xe
tải (H 1.1)
t
O
t
x
II
I
O
H1.1
Ví dụ 3: Trên (H 1.2) cho đồ thị vận tốc của ba chuyển động. Có thể thể nói gì
về mỗi chuyển động đó?
Đồ thị I là đường thẳng song song trục Ot cho biết chuyển động là
thẳng đều. Đồ thị II là đường thẳng hợp trục Ov một góc nhọn và hướng theo
chiều dương cho biết chuyển động là nhanh dần đều. Đồ thị III song song trục
Ov cho biết tại một thời điểm vật có thể đạt mọi giá trị của vận tốc nên đây là
một chuyển động không có thực.
Ví dụ 4: Một người lái xe đang chạy trên quốc lộ với tốc độ 50 km/h thì nhìn
qua kính chiếu hậu thấy một chiếc xe đua sắp xửa vượt qua xe mình.
Anh ta muốn xác định tốc độ của chiếc xe đua nên đã làm như sau.
Đúng lúc hai chiếc xe chạy ngang nhau thì anh ta bắt đấu đếm từ 1, 2, … cho
đến khi chiếc xe đua chạy đến một cái mốc dễ nhận thấy trên đường nào đó.
Ví dụ anh ta đếm được 100 khi xe đua chạy ngang một cây cột đèn bên đường.
Anh ta tiếp tục đếm được 30 nữa cho đến lúc xe anh ta cũng chạy ngang cây
cột đèn đó. Anh ta lập tức tính ra được tốc độ của chiếc xe đua:
V
đua
= (130 / 100) . 50 km/h = 65 km/h
t
v
II
I
O
H1.2
III
Bạn nghĩ sao về kết quả tính được này? Giả sử cả hai xe cùng chuyển
động với vận tốc không đổi và anh lái xe đếm rất đều đặn. Nếu anh ta đếm
thật chậm rãi thì kết quả có khác không?
 Cách tính toán của anh lái xe dựa trên hiểu biết vật lý về mối quan hệ
giữa quãng đường đi được với vận tốc và thời gian s = v.t. Do quãng đường đi
được của hai xe là như nhau cho nên v ~ 1 /t cần để đi hết một quãng đường.
v
đua
. t
đua
= v
xe
. t
xe
hay v
đua
.
xe
đua
t
v
t
 
= =
 ÷
 

130
.50 / 65 /
100
km h km h
 
=
 ÷
 
Ta thấy kết quả tính v
đua
chỉ phụ thuộc tỉ số t
xe
/ t
đua
, không kể thời gian
tính bằng đơn vị nào: 130
lần đếm
/ 100
lần đếm
, hay 130s / 100s hay 130 phút / 100
phút cũng đều không ảnh hưởng đến kết quả!
Ví dụ 5: Thí nghiệm khảo sát sự rơi của vật
Bạn hãy thả rơi một quyển sổ tay và một tờ giấy có kích thước phẳng
bằng nó, từ cùng một độ cao. Vật nào rơi nhanh hơn?
Bạn hãy đặt tờ giấy bên dưới quyển sổ rồi thả rơi chúng. Vật nào rơi
nhanh hơn? Điều gì khiến cho chúng rơi khác so với lần thí nghiệm trước?
Bây giờ bạn đặt tờ giấy lên trên quyển sổ rồi thả rơi chúng. Nhớ đặt tờ
giấy thật khít với kích thước quyển sổ. Vật nào rơi nhanh hơn? Bạn nghĩ gì
qua kết quả quan sát này?
Bạn vo tròn tờ giấy càng nhỏ càng tốt rồi thả rơi nó cùng lúc với quyển
sổ tay. Vật nào rơi nhanh hơn? Có thể kết luận như thế nào về sự rơi của các
vật?
 Lần thí nghiệm thứ 1: quyển sổ tay rơi nhanh hơn
Lần thí nghiệm thứ 2: tờ giấy rơi cùng lúc với quyển sổ tay. Bạn có thể nghĩ,
nguyên nhân của hiện tượng này là lực ép của quyển sổ tay đè lên tờ giấy.
Lần thí nghiệm thứ 3: cho thấy lực ép không phải là nguyên nhân chính vì tờ
giấy không chịu lực ép của quyển sổ nhưng vẫn rơi cùng lúc với quyển sổ.
Phải nghĩ tới một nguyên nhân khác.
Lần thí nghiệm thứ 4 cho thấy: nguyên nhân khác đó nằm ở trong chính môi
trường rơi của các vật: sức cản của không khí.
Ví dụ 6: Bạn đang chạy xe máy ngang đằng sau một xe tải và xe của bạn có
cùng vận tốc của xe tải. Đột nhiên xe tải tăng tốc và một bọc hàng không buộc
rơi từ thùng xe tải xuống đường. Hỏi nếu bạn không hãm xe máy hoặc không
lái tránh sang một bên thì xe máy của bạn có húc phải bọc hàng đó trước khi
nó rơi chạm đất hay không? Coi rằng bọc hàng rơi thẳng ngay trước mũi xe
của bạn.
 Bọc hàng rơi từ một xe tải đang chạy trên đườngvẫn tiếp tục tham gia
chuyển động theo quán tính cùng với xe tải. Xe máy chạy an toàn phía sau xe
tải không thể húc vào bọc hàng chừng nào bọc hàng còn chưa rơi tới mặt đất
chẳng khác gì lúc bọc hàng còn ở trên thùng xe tải. Chỉ khi bọc hàng đã chạm
đất và nằm yên tại đó thì nguy cơ va vào xe máy mới xảy ra nếu người đi xe
máy không né tránh nó trên mặt đường.
Ví dụ 7: Để các tia nước từ các bánh xe đạp không thể bắn vào người đi xe,
phía trên bánh xe người ta gắn những cái chắn bùn, khi đó phải gắn những
cái chắn bùn như thế nào?
 Gắn những cái chắn bùn sao cho mép dưới cắt đường tiếp tuyến đi
qua điểm thấp nhất của bàn đạp với bánh trước xe đạp.
2)Phần: ĐỘNG LỰC HỌC
Ví dụ 1: Khi xe buýt đột ngột chuyển bánh, hành khách ngồi trên xe thường bị
ngật đầu về phía sau đến mức đôi khi sái cổ. Giải thích tại sao như vậy? Nếu
hành khách chú ý tựa đầu vào cái giá đỡ đầu ở lưng ghế ngồi thì có thể tránh
bớt được hiện tượng bất lợi này không? Tại sao?
 Phần thân người di chuyển cùng với ghế ngồi trong khi đầu còn chưa
kịp di chuyển do quán tính. Cái giá đỡ đầu gắn liền với ghế ngồi đã ngăn cản
sự chậm trễ trong thay đổi trạng thái đứng yên của phần đầu.
Ví dụ 2: Con chó săn to khỏe và chạy nhanh hơn con thỏ. Tuy thế, nhiều
khi con thỏ bị chó săn rượt đuổi vẫn thoát nạn nhờ vận dụng “ chiến thuật “
luôn luôn đột ngột thay đổi hướng chạy làm chó săn lỡ đà. Điều này trong vật
lí được giải thích ra sao ?
 Sự khác nhau về khối lượng (hay mức quán tính) đã đưa đến sự khác
nhau về mức độ thay đổi trạng thái chuyển động. Con thỏ có khối lượng nhỏ
hơn chó săn nên dễ dàng thay đổi chuyển động hơn về hướng và độ lớn của
vận tốc. Do đó, khi thỏ đột thay đổi vận tốc thì chó săn không kịp thay đổi
chuyển động và bị lỡ đà.
􀂁Mức quán tính càng nhỏ thì mức độ thay đổi chuyển động càng nhanh
và ngược lại.
Ví dụ 3: Sau khi đo nhiệt độ cơ thể người bằng ống cặp sốt (nhiệt kế). Ta
thường thấy bác sĩ vẩy mạnh chiếc ống cặp sốt làm cho thuỷ ngân trong ống
tụt xuống. Cách làm trên dựa trên cơ sở vật lý nào? Hãy giải thích?
 Dựa vào quán tính. Khi vẩy mạnh ống cặp sốt cả ống và thuỷ ngân
bên trong đều chuyển động. Khi ống dừng lại đột ngột, theo quán tính, thuỷ
ngân bên trong vẫn muốn duy trì vận tốc cũ, kết quả là thuỷ ngân sẽ tụt xuống.
Ví dụ 4: Có một câu chuyện đùa như sau:
“Một con ngựa được học định luật III Newton bèn từ chối không kéo xe
nữa. Nó nói: “Tôi có ráng sức kéo xe bao nhiêu cũng là vô ích, bởi vì tôi kéo
cái xe với lực bằng nào thì cái xe cũng kéo lại tôi với lực bằng nấy. Hai lực
bằng nhau về độ lớn và ngược nhau về hướng sẽ là lực cân bằng nên tôi và xe
đều không nhúc nhích!”
Bạn có thể giải đáp câu chuyện này không?
 Lực ngựa kéo xe và lực xe kéo ngựa đặt vào hai vật khác nhau nên
không thể cân bằng lẫn nhau. Lực làm cả ngựa lẫn xe di chuyển chính là lực
ma sát giữa chân ngựa và mặt đất khi nó ráng sức đẩy mặt đất để tiến lên.
Ví dụ 5: Một hành khách đi trên xe buýt cho biết, lúc đầu xe còn ít khách khi
qua chỗ đường xấu, xe bị “dồng” (xóc) nhiều làm người ngồi trên xe rất khó
chịu. Nhưng khi xe đã đông khách, lại thấy êm hơn kể cả khi đi qua những
chỗ đường xấu. Cảm giác ấy có đúng không? Hãy giải thích?
 Càng đông khách khối lượng xe và người càng lớn, gia tốc
F
a
m
 
=
 ÷
 

xe thu được khi tương tác với đường (chỗ đường xấu xe bị xóc) sẽ nhỏ, sự
thay đổi vận tốc theo phương thẳng đứng của xe rất bé nên người ngồi trên xe
có cảm giác êm hơn.
Ví dụ 6: Để kéo một cái ô tô bị sa lầy, một người đề nghị tất cả hành khách
trên xe xúm nhau buộc dây vào xe và cùng kéo sợi dây để trực tiếp đưa xe ra
khỏi chỗ lầy.
Anh lái xe lại đề nghị một cách làm khác: buộc một đầu dây thừng vào
xe và buộc đầu dây còn lại vào cái cây hoặc một cái cọc thật chắc bên đường.
Sau đó vài người cùng nắm vào khoảng giữa sợi dây và kéo sợi dây theo
phương vuông góc với đường nối giữa xe và cây. Anh lái xe còn nói, khoảng
cách từ xe đến cây để buộc dây thừng càng dài thì việc kéo xe sa lầy càng dễ
dàng.
Bạn có tán thành ý kiến anh lái xe này không. Giải thích tại sao?

H 1.3
 Giải pháp kéo xe khỏi chỗ lầy của anh lái xe được mô tả trong H 1.3
Ví dụ 7: Trong trò xiếc mô tô bay, người biểu diễn phải đi mô tô trên thành
thẳng đứng của một “thùng gỗ” hình trụ. Có thật là quá nguy hiểm không? Bí
mật của sự thành công trong trò xiếc này là cái gì: sự liều mạng hay quy luật
tất yếu của vật lý?
 Bí mật của sự thành công là phải đi mô tô với vận tốc đủ lớn tạo ra
gia tốc hướng tâm cần thiết, duy trì áp lực của xe lên thành gỗ. Được như vậy
xe sẽ không bao giờ bị rơi xuống. Đó là quy luật, tuy nhiên cũng cần một chút
can đảm của người biểu diễn.
cây
Dây thừng
Lực kéo
xe
Ví dụ 8: Những người làm xiếc khi đi trên dây thường cầm trên tay một cái
sào dài theo phương vuông góc (hoặc gần như vuông góc) với dây. Cái sào
này có tác dụng gì? Cân bằng của người làm xiếc trên dây là cân bằng bền
hay không bền?
 Muốn cân bằng trên dây, trọng tâm của người và sào phải nằm trên
đường thẳng đứng đi qua điểm tiếp xúc của chân và dây. Cái sào giúp cho
người trên dây dễ điều chỉnh vị trí trọng tâm hơn. Cân bằng của người trên
dây là cân bằng không bền (giữ cho cân bằng không bền trong một thời gian
lâu chính là sự hấp dẫn của trò xiếc).
Ví dụ 9: Các nhà khoa học đang lo ngại vì tháp nghiêng Pisa (Ý) đang có xu
hướng nghiêng dần và có thể bị đổ. Hãy giải thích nguyên nhân có thể làm đổ
tháp?
 Nguyên nhân: Trọng tâm “rơi” khỏi mặt chân đế thì tháp nghiêng sẽ
bị đổ.
3)Phần: CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN
Ví dụ 1: Để bảo đảm an toàn cho người đi xe trong trường hợp chẳng may xe
gặp tai nạn, ngày nay trên các xe ô tô người ta thường lắp đặt cái túi khí tự
động bơm đầy và bật lên che đỡ phía trước mặt của người lái xe cũng như
trước mỗi hành khách.
Hãy giải thích tác dụng của túi khí bằng cách vận dụng hiểu biết về
chuyển hoá năng lượng. Có thể giải thích bằng hiêu biết về động lượng hay
không?
Mỗi cách lí giải trên nhấn mạnh đến yếu tố nào đảm bảo giảm bớt rủi
ro khi gặp tai nạn?
 Động năng của người ngồi trên xe chuyển thành thế năng đàn hồi của
túi khí bơm căng. Đoạn đường tác dụng gia tăng làm giảm bớt lực va chạm.
Ví dụ 2: Người ta thường nói: "Không thể tự nắm tóc mình mà nhấc mình lên
được". Câu nói đó có cơ sở khoa học không? Hãy giải thích?
 Theo định luật bảo toàn động lượng thì nội lực chỉ làm cho các vật
riêng biệt trong hệ trao đổi xung lượng cho nhau mà không gây ra gia tốc
chuyển động cho hệ nên câu nói trên là hoàn toàn có cơ sở khoa học. Bản chất
vật lý của câu nói đó là định luật bảo toàn động lượng.
Ví dụ 3: Một khí cầu có mang một cái thang dây, dưới thang đang có một
người đu. Đang ở trạng thái đứng yên trên không trung, khí cầu có dịch
chuyển không nếu ngươi đu từ từ leo lên thang?
 Hệ người và khí cầu đang ở trạng thái đứng yên. Người từ từ leo thang
thì hệ chỉ xuất hiện nội lực mà không có nội lực tác dụng nên xung lượng của
hệ được bảo toàn. Do đó, khối tâm của hệ không thay đổi nên khi người leo
lên thì khí cầu sẽ hạ xuống. Vậy trong một hệ kín thì tọa độ khối tâm của hệ
cũng là một đại lượng bảo toàn.
Ví dụ 4: Một người làm xiếc nằm trên mặt đất rồi cho đặt lên ngực mình một
tảng đá to. Sau đó, cho người khác lấy búa tạ đập vào tảng đá. Khi tảng đá vỡ
ra, người làm xiếc vẫn đứng dậy vui cười chào khán giả. Điều gì đã giúp anh
ta thoát khỏi "mối nguy hiểm " nêu trên?
 Theo định luật bảo toàn động lượng, sau va chạm vật có khối lượng
càng lớn thì biến thiên động lượng càng nhỏ (tức ít bị chấn động). Tảng đá đặt
trên ngực sẽ có tác dụng giảm chấn động, đá càng to thì càng an toàn.
�Va chạm giữa các vật luôn kèm theo sự truyền chuyển động, nó phụ
thuộc vào sự chênh lệch khối lượng giữa hai vật.
Ví dụ 5: Một nhà du hành vũ trụ ra ngoài không gian vũ trụ, sau khi làm việc,
họ muốn trở lại con tàu của mình. Làm thế nào có thể di chuyển về phía con
tàu, khi mà trong không gian vũ trụ không có vật nào có thể đạp chân lên đó
mà đẩy cả. Hãy tìm phương án giúp các nhà du hành vũ trụ?
 Nhà du hành vũ trụ ném về phía trước một vật gì đó để cơ thể người
chuyển động theo hướng ngược lại.
Ví dụ 6: Để có thể tung người lên cao, các diễn viên xiếc đã làm như sau: một
diễn viên đứng ở đầu một tấm ván đặt trên giá đỡ, đầu kia của tấm ván được
nâng lên cao, một diễn viên khác nhảy dậm lên đầu đã nâng cao đó. Kết quả
là diễn viên thực hiện được cú tung người lên cao. Hãy giải thích cơ sở của
cách làm trên?
 Thế năng của người thứ hai biến thành năng lượng biến dạng đàn hồi
của tấm ván và sau đó chuyển thành động năng của người thứ nhất.
Ví dụ 8: Để nước từ trong miệng ống có thể phun ra xa hơn người ta thường
bịt miệng ống chỉ để một lỗ nhỏ cho nước phun ra. Hãy giải thích cơ sở của
cách làm trên?
 Giảm tiết diện để tăng vận tốc
Ví dụ 9: Quan sát một đoàn tàu đang chạy với vận tốc lớn, thấy những mảnh
giấy vụn ở hai bên bị hút vào tàu. Ở các nhà ga người ta thường hay yêu cầu
khách đi tàu đứng cách xa đường sắt khi tàu đang tiến vào ga. Hãy giải thích
hiện tượng?
 Khi tàu chạy, nó kéo theo cả dòng không khí, dòng không khí chuyển
động giữa người và xe lửa gây một áp suất nhỏ hơn so với áp suất của không
khí khi đứng yên. Hiệu áp suất này gây ra một lực đẩy có xu hướng kéo ta về
phía đoàn tàu. Tình trạng của các mẩu giấy vụn là tương tự.
Ví dụ 10: Vì sao trong các bến cảng, các tàu bè đậu thường treo những lốp xe
ô tô cũ ở hai bên thành tàu?
 Vì giữa hai tàu luôn có những dòng nước chảy tạo ra áp suất nhỏ giữa
hai tàu làm chúng “hút” lại gần nhau và có thể va chạm nhau.
4)Phần: VẬT LÝ PHÂN TỬ VÀ NHIỆT HỌC
Ví dụ 1: Mùi thơm của nước hoa thoảng bay trong không khí dần tan biến
mất. Khói từ các ống khói lúc đầu khi mới thoát ra khỏi ống thì đậm đặc sau
đó cũng dần tan biến trong không khí. Hãy giải thích tại sao có những hiện
tượng trên?
 các phân tử luôn chuyển động hỗn loạn không ngừng. Trong quá
trình chuyển động, phân tử của các chất tự hoà lẫn vào nhau gây ra hiện tượng
khuếch tán. Nước hoa thoảng bay, khói tan dần là kết quả của hiện tượng
khuếch tán.
Ví dụ 2: Một người thợ mộc sau khi đánh vecni vào một số chân giường, sau
một thời gian, người thợ mộc phát hiện thấy những chân giường chưa được
đánh vecni bị nứt nẻ (rạn chân chim), còn những chân giường đã được đánh
vecni thì không bị như thế. Hãy giải thích tại sao?
 Vecni sẽ làm nước trong gỗ khó bốc hơi. Chân giường đã được đánh
vecni sẽ “tươi” lâu hơn khó bị nứt nẻ do bị khô đi.
Ví dụ 3: Khi pha nước chanh, người ta thường làm cho đường tan trong nước
rồi mới bỏ đá lạnh vào. Vì sao không bỏ đá lạnh vào trước rồi bỏ đường sau?
Hãy giải thích?
 Nhiệt độ càng cao, các phân tử chuyển động càng nhanh nên dễ hoà
tan hơn. Nếu bỏ đá vào trước, nhiệt độ của nước hạ thấp làm quá trình hoà tan
của đường diễn ra chậm hơn.
Ví dụ 4: Khi chế tạo bóng đèn điện (bóng đèn tròn) người ta phải nạp đầy đủ
khí trơ ở nhiệt độ và áp suất thấp vào bóng. Vì sao phải làm như vậy?
 Để khi đèn sáng, nhiệt độ tăng, áp suất của khí trơ không vượt quá áp
suất không khí, làm cho bóng đèn không bị nổ, vỡ.
Ví dụ 5: Ngồi gần những chiếc bếp than đang cháy, ta thường nghe những
tiếng lách tách cùng với những tia lửa bắn ra. Tại sao vậy?
 Khi đun, nhiệt độ tăng, không khí trong các thớ của than nở ra làm
nứt các cục than tạo ra tiếng lách tách, các hạt than bị bắn ra từ sự nứt của
than.
Ví dụ 6: Khi dùng phương pháp “giác” để hút máu độc trong cơ thể ra, người
ta dùng một cốc sát trùng, đốt một mẩu bông tẩm cồn, bỏ vào cốc rồi úp
miệng cốc lên da. Khi đó cốc sẽ bám chặt vào da, máu độc sẽ bị hút ra từ một
vết cắt nhỏ trên da. Hãy giải thích tại sao như vậy?
 Khi đốt bông tẩm cồ thả vào cốc, nhiệt độ trong cốc tăng, đẩy các
phân tử khí ra ngoài cốc để tăng thể tích khí. Khi úp cốc lên da cũng là lúc lửa
tắt, do mật độ khong khí trong cốc (kín) thấp, máu độc từ trong cơ thể bị hút
ra ngoài (vào trong cốc)
Ví dụ 7: Hãy chỉ rõ các quá trình biến đổi của một lượng khí được mô tả trên
hình H 1.4?
v
p
(3
)
O
H1.4
(1
)
(2
)
 (1)  (2): đẳng nhiệt, thể tích khí tăng, áp suất giảm
(2)  (3): đẳng áp, thể tích khí giảm, nhiệt độ giảm
(3)  (4): đẳng tích, áp suất tăng, nhiệt độ tăng.
Phần 3: KẾT LUẬN

Qua thời gian tôi vận dụng loại hình bài tập định tính đan xen trong lúc trình
bày nội dung lý thuyết hoặc bổ trợ cho những bài tập định lượng, tôi thấy HS
dễ tiếp thu kiến thức hơn, theo dỗi bài chăm chú hơn và nhiều khi đưa ra
những câu trả lời rất lý thú và tôi nhận thấy tiết học của tôi không quá căng
thẳng. Qua đó cũng nhận thấy ít nhiều sự thích thú tìm tòi, ham hiểu biết của
các em, giúp tôi có đủ sự tự tin để truyền đạt kiến thức cho các em. Tôi rút ra
được một điều quan trọng là để tiết học vật lý được nhẹ nhàng:
+Cần cô đọng kiến thức
+Cần vận dụng linh hoạt, hài hoà các phương pháp, hình thức giảng
dạy khác nhau kết hợp với ngôn ngữ phù hợp để giảm bớt sự căng thẳng trong
các giờ học, giảm bớt sự uể oải của HS nhất là ở các tiết cuối của buổi học (có
thể biểu diễn thí nghiệm, kể chuyện lịch sử vật lý, giải thích hiện tượng,…)
Không những thế giáo viên cần không ngừng nâng cao chuyên môn,
giải đáp thoả đáng những thắc mắc của HS mới làm HS tin tưởng hơn vào sự
dẫn dắt của người thấy.
Dựa vào kết quả thực hiện nà những kiến thức tâm lý học cũng như yêu
cầu về việc giảng dạy vật lý ở trường THPT tôi cho rằng giải pháp mà tôi đưa
ra là tương đối hợp lý và hiệu quả.
Đề xuất:
-Sử dụng các bài toán vật lý định tính để tiến hành các buổi xêmina học tập.
-Sử dụng các bài toán vật lý định tính để xây dựng tình huống có vấn đề.
-Sử dụng các bài toán vật lý định tính để củng cố phát triển phương pháp tự
học.
-Sưu tầm, phân loại và nghiên cứu các bài toán vật lý định tính để xây dựng
kho tư liệu giảng dạy.
-Mở rộng và phát triển đề tài ở các lĩnh vực khác của vật lý như: Điện học,
Quang học,…để tạo nên một chỉnh thể thống nhất vầ việc xác định bản chất
của các bài toán vật lý định tính.
Tuy nhiên do còn thiếu kinh nghiệm và khả năng có hạn, nên chắc chắn
đề tài này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Rất mong sự đóng góp
ý kiến của quý Thầy Cô và các đồng nghiệp. Và hy vọng rằng đề tài này sẽ là
tài liệu hữu ích giúp các em HS yêu thích môn Vật lý hơn.
, ngày… tháng … năm 2014
Người soạn

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Vật lý vui quyển I-II (IA.I.PE-REN-MAN – Nhà xuất bản Giáo Dục)
2.Cơ học vui (IA.I.PE-REN-MAN – Nhà xuất bản Giáo Dục)
3.Bài tập định tính và câu hỏi thực tế VẬT LÝ 10 (Vũ Thanh Khiết (chủ
biên)-Nguyễn Thanh Hải – Nhà xuất bản Giáo Dục)
4.Sách giáo khoa Vật Lý 10 cơ bản

MỤC LỤC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG THUẬN
LỢI, KHÓ KHĂN
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
IV. KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×