Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động ở tỉnh Bắc Ninh

1
Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề lao động, việc làm, thất nghiệp luôn là vấn đê quan tâm hàng đầu
của mọi quốc gia nói chung và mọi địa phương nói riêng trong tất cả các giai
đoạn phát triển của thời đại, bởi vậy để thúc đẩy nền kinh tế phát triển đồng
thời để phù hợp với thời kì hội nhập kinh tế quôc tế hiện nay, Bắc Ninh cũng
như các địa phương khác trong cả nước đã và đang dành sự quan tâm đặc biệt
cho vấn đề lao động ,việc làm ở địa phương. Để giải quyết việc làm cho lao
động ở địa phương, Bắc Ninh đã đề ra không ít các giải pháp như: phát triển
các làng nghề thủ công, xây dựng và mở rộng khu công nghiệp,... và một
trong những biện pháp hữu hiệu đã và đang được Bắc Ninh đẩy mạnh đó là
xuất khẩu lao động.
Đất nước bước vào thời kỳ mới thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế mà dấu
mốc cho thời kỳ mới này là sự kiện Việt Nam tổ chức thành công hội nghị cấp
cao APEC ( 11/2006) và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
thương mại thế giới (WTO), trong hoàn cảnh đó đặt ra không ít những khó
khăn và thách thức cho nền kinh tế Việt Nam đặc biệt cho lực lượng lao động
Việt Nam. Lao động dồi dào là một trong những điểm mạnh mà cũng là điểm
yếu của chúng ta. Mở cửa hội nhập là cơ hội tốt để tìm việc làm tốt hơn cho
những lao động trẻ có trình độ nhưng cũng là thách thức lớn khi số lượng lao

động không lành nghề, lao động thủ công vẫn còn chiếm tỷ lệ cao trong số
người thuộc độ tuổi lao động. Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để giải quyết
việc làm cho số lao động này và câu trả lời là: xuất khẩu lao động.
Tuy nhiên, xuất khẩu lao động không chỉ đơn giản là đưa lao động đi làm
việc ở nước ngoài rồi bỏ phóng họ mà phải là cả một quá trình quản lý đòi hỏi
phải được quan tâm và có những biện pháp hữu hiệu để công tác xuất khẩu lao
động đạt hiệu quả. Chính từ thực tế đó kết hợp với những kết quả thu được
trong thời gian thực tập nghiên cứu tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
tỉnh Bắc Ninh, người viết quyết định chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm
hoàn thiện quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động ở tỉnh Bắc Ninh” để
làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Mục đích nghiên cứu đề tài:
− Tìm hiểu, nghiên cứu từ đó hệ thống được những vấn đề lý luận về
công tác xuất khẩu lao động và quản lý Nhà nước về công tác xuất khẩu lao
động.
− Đánh giá được thực trạng chung của công tác xuất khẩu lao động và
quản lý Nhà nước về công tác này trong những năm gần đây của nước ta.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
1
2
Luận văn tốt nghiệp
− Từ thực trạng của tỉnh Bắc Ninh rút ra được những thế mạnh cần phải
phát huy và những thực tế bất cập trong công tác xuất khẩu và quản lý Nhà
nước về xuất khẩu lao động của tỉnh cũng từ đó tìm hiểu, phân tích được
nguyên nhân của những bất cập để đề ra được những biện pháp giải quyết hữu
hiệu nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước vê xuất khẩu lao động của địa
phương nhằm đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh.
− Hoàn thiện công tác quản lý của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp xuất
khẩu lao động và từ bản thân người lao động để công tác xuất khẩu lao động
của tỉnh Bắc Ninh ngày càng hiệu quả và thực sự trở thành động lực thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế địa phương nói riêng và của nước ta nói chung.
− Sử dụng phương pháp đánh giá kết hợp với phương pháp phân tích tổng
hợp cộng với việc vận dụng những cơ sở lý luận đã được trang bị trong nhà
trường để tìm nguyên nhân, bản chất của vấn đề nghiên cứu từ đó đề ra những
giải pháp phù hợp với thực tế của tỉnh Bắc Ninh.
Ngoài ra trong quá trình thực tập và nghiên cứu tìm tòi, người viết cũng có
nhiệm vụ nữa là rút ra được những kinh nghiệm thực tế cho bản thân không
chỉ trong quá trình nghiên cứu khoa học mà còn cả trong quá trình làm việc cọ
sát với thực tế để hoàn thiện cũng như nâng cao kiến thức cho bản thân.
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về vấn đề xuất khẩu lao động trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian từ năm 2001 đến nay và những phương
hướng nhiệm vụ của năm 2007 cũng như trong thời gian tới.Và để đáp ứng
được những yêu cầu nhiệm vụ chủ yếu của đề tài thì luận văn tốt nghiệp này
cần có những nội dung chính sau:
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT
KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TỈNH BẮC NINH.
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TỈNH BẮC NINH.
Do kiến thức và trình độ của bản thân còn nhiều hạn chế nên bài viết
không thể tránh khỏi có những sai sót, mong quý thầy cô và bạn đọc thông
cảm! Để hoàn thành được bài viết này, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ
của lãmh đạo và cán bộ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian thực tập và đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo
Đoàn Thị Thu Hà. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
2
3
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT
KHẨU LAO ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
1.1. XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
1.1.1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm của xuất khẩu lao động
1.1.1.1. Khái niệm
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu lao động, dưới đây là một
số các khái niệm cơ bản về xuất khẩu lao động.
Khái niệm thứ nhất là:
Phát triển hợp tác quốc tế trong việc tổ chức đưa người lao động và chuyên
gia Việt nam ( trừ những cán bộ, công chức được quy định tại pháp lệnh cán
bộ, công chức đi thực hiện nhiệm vụ, công vụ ở nước ngoài do sự phân công
của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền) đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là
một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết
việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động,
tăng nguồn thu cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác giữa nước ta với
các nước trên thế giới.
1
Khái niệm thứ hai về xuất khẩu lao động được ghi trong chỉ thị số 41 –
CT/TW ngày 29/9/1998 của Bộ chính trị như sau:
Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế- xã hội góp phần
phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình
độ tay nghề cho người lao động, tăng thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường
quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước.
Một khái niệm nữa của xuất khẩu lao động là:
Xuất khẩu lao động là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là
một bộ phận của kinh tế đối ngoại, hàng hoá đem xuất khẩu là sức lao động
của con người, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài. Nói cách khác
xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung ứng lao
động cho người nước ngoài, mà đối tượng của nó là con người.
2
1 Điều 1- Nghị định số 152/1999/NĐ – CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ
2 Bản tin lao động thị trường số 6/2006 – Vài nét về xuất khẩu lao động ở Việt Nam –tr.1, GS.TS Đặng Đình
Đào.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
3
4
Luận văn tốt nghiệp
Như vậy xuất khẩu lao động là một hoạt động xuất khẩu đặc biệt trong đó
hàng hoá được giao bán là sức lao động của con người, chính vì vậy nhà nước,
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng như chính bản thân người lao động
cần phải hết sức chú ý tới hoạt động này, nó không chỉ mang lại thu nhập cao
cho người lao động mà còn đóng một vai trò rất lớn trong sự phát triển của
mỗi quốc gia.
1.1.1.2. Vai trò của xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình
phát triển của mỗi quốc gia đặc biệt là những nước có nền kinh tế chậm và
đang phát triển như Việt Nam.
Trước hết, xuất khẩu lao động có một vai trò đặc biệt trong việc giải quyết
việc làm và ổn định thị trường lao động. Đối với các quốc gia có nền kinh tế
chưa phát triển khối lượng việc làm tạo ra trong xã hội là rất hạn chế so với
khối lượng lao đông trong độ tuổi rất dồi dào của họ bởi vậy thất nghiệp và
giải quyết việc làm luôn là vấn đề đau đầu của các nhà lãnh đạo quốc gia.
Ở Việt Nam, hiện nay có khoảng 400.000 lao động và chuyên gia làm việc
tại trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề,mỗi năm
tăng thêm khoảng trên dưới 70.000 người riêng năm 2006 Việt Nam đã đưa
được 78.885 lao động đi làm việc ở nước ngoài.
(Nguồn: http:// www.thanhnienonline.com.vn – tác giả Ngọc Minh, ngày 27/4/2005)
Với những con số ấn tượng trên chúng ta có thể nhận thấy rằng xuất khẩu
lao động đã giải quyết được việc làm cho một khối lượng lớn lao động, tỷ lệ
lao động xuất khẩu lao động trong tổng số lao động được giải quyết việc làm
giai đoạn 2001 – 2005 khoảng 3,42 %.
(Nguồn:Bản tin thị trường lao động số 8/2006-Một số vấn đề về xuất khẩu lao động
2000-2005 – tr 9, CN. Nguyễn Văn Dư.)
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
4
5
Luận văn tốt nghiệp
Tuy chưa phải là một con số cao song con số đó cũng cho thấy rằng xuất
khẩu lao động đã góp một phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm cho nước
ta trong thời gian qua.Còn đối với các quốc gia nhập khẩu lao động thì việc
nhận thêm lao động sẽ giúp họ giải quyết được tình trạng thiếu hụt lao động
trong những ngành nghề mà lao động trong nước không muốn làm như lương
thấp, độc hại, vất vả nặng nhọc hoặc những công việc cần lao động thủ công
hay thiếu hụt lao động do nguồn lao động trong nước ít.
Không chỉ đơn thuần mang tính chất giải quyết việc làm cho số lao động dư
thừa mà xuất khẩu lao động còn góp phần rất lớn vào công cuộc xoá đói giảm
nghèo của đất nước nhờ có khoản thu nhập cao hơn rất nhiều so với mức
lương ở trong nước điển hình như thu nhập bình quân của lao động tại
Malaysia là 2 – 3 triệu đồng / 1 tháng, tại Đài Loan là 300 – 500 USD/tháng,
tại Hàn Quốc là 900 – 1.000 USD/ tháng.
(Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Lao động Thương binh & Xã hội.)
Với mức thu nhập như vậy, hàng tháng ngoài chi phí cho ăn ở người lao
động cũng tiết kiệm và gửi về cho gia đình một khoản thu nhập kha khá, đó sẽ
là nguồn thu nhập giúp họ cải thiện cuộc sống của gia đình và bản thân. Hơn
thế nữa, một số lao động sau khi trở về nước lại trở thành những ông chủ,
những nhà đầu tư nhờ có nguồn vốn tiết kiệm được từ khoản thu nhập ở nước
ngoài. Điều này không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
trong nước mà còn tạo ra một khối lượng việc làm đáng kể cho những người
khác.
Với con số ngoại tệ gửi về nước mỗi năm lên đến 1,5 tỷ USD xuất khẩu lao
động ở Việt Nam đã trở thành một trong những ngành nghề mang lại nguồn
thu ngoại tệ cao cho quốc gia. Không dừng lại ở đó, xuất khẩu lao động còn
góp phần làm tăng thu ngân sách nhà nước nhờ có những khoản thuế thu từ
hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và từ khoản ngoại tệ lao
động gửi về nước.Như vậy, xuất khẩu lao động vừa trực tiếp lẫn gián tiếp góp
phần thúc đẩy sự phát triển và ổn định xã hội.
Xuất khẩu lao động còn là một trong những công cụ hữu hiệu cho việc
chuyển giao công nghệ tiên tiến hiện đại của nước ngoài thông qua quá trình
đào tạo và làm việc ở nước ngoài của người lao động.Thông qua đó quốc gia
có lao động đi xuất khẩu sẽ có được một đội ngũ lao động có tay nghề trình độ
cao, có tác phong công nghiệp và ý thức kỷ luật cao.
Hoạt động xuất khẩu lao động cũng là cầu nối để quốc gia tăng cường quan
hệ hợp tác về mọi mặt, giúp cho sự giao lưu giữa các nền văn hoá trên thế giới
ngày càng được mở rộng.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
5
6
Luận văn tốt nghiệp
Nói tóm lại công tác xuất khẩu lao động có một vai trò rất lớn đối với mỗi
quốc gia bởi vậy Đảng và Nhà nước ta luôn xác định đây là một trong những
công tác trọng điểm mang tính chiến lược cho quốc gia trong thời gian tới.
1.1.1.3. Đặc điểm.
 Xuất khẩu lao động mang tính tất yếu khách quan.
Xuất khẩu lao động diễn ra chủ yếu là do giữa các nước trên thế giới có sự
chênh lệch về kinh tế - xã hội. Những nước giàu có nền kinh tế phát triển
mạnh thường có nhiều lao động có tay nghề cao, nhiều chuyên gia giỏi có
trình độ cao mà lại thiếu những lao động phổ thông, lao dông cho những công
việc vất vả, nặng nhọc, độc hại hoặc những công việc có thu nhập tương đối
thấp so với thu nhập chung của xã hội. Điều ngược lại lại diễn ra tại những
quốc gia nghèo đang phát triển, nơi mà dân số đông nên rất dồi dào về lao
động song do nền kinh tế chậm phát triển nên trình độ lao động còn thấp chủ
yếu là lao động giản đơn thủ công là chính công thêm với mức thu nhập thấp,
thiếu việc làm, thiếu hụt những chuyên gia giỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao.Cũng tương tự như quy tắc hai bình thông nhau trong vật lý vậy điều
đương nhiên sẽ xảy ra là lao động từ chỗ dư thừa sẽ chảy về chỗ thiếu hụt. Đó
cũng chính là nguyên lý chính của quy luật cung – cầu trong nền kinh tế thị
trường.
 Xuất khẩu lao động là một hoạt động xuất nhập khẩu đặc biệt.
Chắc hẳn rằng trong mỗi chúng ta ai cũng đã từng nghe qua cụm từ xuất
nhập khẩu. Xuất nhập khẩu là hoạt động không thể tách rời giữa các quốc gia
trên thế giới. Không thể có một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển nếu
nền kinh tế của họ đóng cửa hoàn toàn với thế giới bên ngoài, bởi vậy xuất
nhập khẩu là một hoạt động mang tính chất hết sức quan trọng, nhờ có xuất
nhập khẩu mà hàng hóa và dịch vụ trên toàn thế giới được lưu thông, trao đổ.
Xuất khẩu lao động cũng là một hoạt động như thế, vậy nó cũng là một hoạt
động xuất nhập khẩu song là một hoạt động xuất nhập khẩu đặc biệt. Điểm
đặc biệt là ở chỗ thay vì xuất nhập khẩu các loại thực phẩm hàng hóa tiêu
dùng... như bình thường thì “hàng hóa” được xuất nhập khẩu ở đây là sức lao
động của người lao động.
Trong hoạt động xuất khẩu lao động, người lao động sẽ đem “bán” sức lao
động của mình cho chủ sử dụng lao động ở nước ngoài và nhận về khoản tiền
công là tiền lương được trả. Chính vì sức lao động là một loại hàng hóa đặc
biệt nên tính chất của xuất khẩu lao động không chỉ đơn thuần như hoạt động
xuất nhập khẩu hàng hóa thông thường, tranh chấp về hàng hoá giữa các nước
đã là một việc khó giải quyết bao nhiêu thì tranh chấp và những vi phạm trong
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
6
7
Luận văn tốt nghiệp
việc xuất khẩu lao động giữa các nước lại càng khó giải quyết và xử lý hơn rất
nhiều.Bởi đó mà đòi hỏi phải có sự quản lý và quan tâm đặc biệt của Nhà
nước.
 Xuất khẩu lao động mang tính lợi ích cao.
Xuất khẩu lao động trước hết mang lại lợi ích cho nước đưa lao động đi
xuất khẩu cả về phía nhà nước, doanh nghiệp và bản thân người lao động.
Đối với quốc gia hoạt động xuất khẩu lao động mang lại một khoản thu cho
ngân sách nhà nước nhờ khoản thuế thu từ hoạt động của các công ty, doanh
nghiệp xuất khẩu lao động và khoản ngoại tệ người lao động gửi về nước.
Hơn nữa, đối với quốc gia xuất khẩu lao động còn giúp giải quyết việc làm,
giảm thiểu thất nghiệp, thông qua xuất nhập khẩu đẩy nhanh được tiến trình
phát triển đất nước và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Đối với các doanh nghiệp, công ty xuất khẩu lao động: hoạt động xuất khẩu
lao động mang lại lợi nhuận trước hết cho các nhân viên của doanh nghiệp
nhờ vào các khoản thu từ chi phí đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
như: phí môi giới, phí đào tạo,...sau đó là mang lại lợi ích cho chủ doanh
nghiệp nhờ khoản lợi nhuận thu được từ hoạt đông của doanh nghiệp.
Đối với các đối tượng đi xuất khẩu lao động và người thân: khoản lợi ích
mà họ nhận được chính là khoản tiền lương họ được nhận và gửi về nước cho
người thân. Khoản tiền đó còn có thể trở thành khoản vốn đầu tư cho những
người lao động sau khi họ trở về nước, giúp họ làm giàu và cải thiện cuộc
sống của gia đình và bản thân. Một lợi ích vô hình nữa mà họ nhận được từ
việc đi xuất khẩu lao động đó là được nâng cao trình độ tay nghề, ý thức lao
động, kỷ luật,… cho bản thân họ điều mà ở trong nước không thể có được.
Không chỉ mang lại lợi ích lớn cho các quốc gia đưa lao động đi xuất khẩu
mà đối với các nước tiếp nhận hoạt động này cũng mang lại những lợi ích
không nhỏ. Trước tiên là nó bù đắp được một khối lượng lao động đang bị
thiếu hụt ở những nước này. Kế đến là khoản tiền lương phải trả cho lao động
nước ngoài là tương đối rẻ so với khoản lương phải trả cho lao động trong
nước.
 Xuất khẩu lao động mang tính xã hội cao.
Xuất khẩu lao động không chỉ đơn giản là một hoạt động kinh tế đơn thuần
mà nó còn mang tính xã hội rất cao. Việc xuất khẩu lao động giúp cho các
quốc gia giải quyết được phần nào những hạn chế của thi trường lao động như
giải quyết việc làm cho những lao động dư thừa, giảm thiểu thất nghiệp ở
những quốc gia đưa lao động đi xuất khẩu và giải quyết được tình trạng thiếu
hụt lao động ở những nước tiếp nhận.Hoạt động xuất khẩu lao động không chỉ
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
7
8
Luận văn tốt nghiệp
đơn giản là đem sức lao động của người lao động từ nước này sang nước kia
mà nó còn đem theo cả một khối lượng dân cư từ nước đưa lao động đi xuất
khẩu tới nước tiếp nhận lao động. Biên giới giữa các quốc gia không chỉ là
mốc ngăn cách các quốc gia với nhau mà còn ngăn cách cả nền văn hoá, lối
sống, tín ngưỡng, ...của các quốc gia đó. Chính vì lẽ đó hoạt động xuất khẩu
lao động cũng kèm theo nó là một loạt những xáo trộn cho cả xã hội tại nơi
tiếp nhận và nơi lao động được đưa đi.
Xuất khẩu lao động cũng góp phần cải thiện đời sống của nhân dân thông
qua khoản thu nhập mà người lao động gửi về cho gia đình và người thân.
Đây cũng là một trong những biện pháp hiệu quả để thực hiện chương trình
xoá đói giảm nghèo cho nhân dân.
 Xuất khẩu lao động cũng có tính cạnh tranh.
Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, hoạt động xuất khẩu lao động
cũng được đặt trong một môi trường cạnh tranh gay gắt. Sự cạnh tranh đến
trước hết là từ phía những người lao động với nhau. Bởi số lượng lao động
được chọn đi xuất khẩu lao động sang các nước là có hạn mà dân số đông,
nguồn lao động dư thừa lớn nên họ phải cạnh tranh nhau trên con đường đi
đến việc có được một xuất đi lao động nước ngoài.
Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa những người lao động mà còn giữa
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Họ phải cạnh tranh nhau khi cùng xuất
khẩu vào một thị trường, khi cùng hoạt động trên một địa bàn...
Sự cạnh tranh cũng không chỉ diễn ra trên lãnh thổ của một quốc gia mà
còn vượt ra trên toàn thế giới khi mà có rất nhiều quốc gia cùng cố gắng thúc
đẩy hoạt động xuất khẩu lao động đó là những quốc gia còn đang gặp khó
khăn và cùng sử dụng biện pháp xuất khẩu lao động làm bàn đạp cho sự phát
triển của nền kinh tế. Ta có thể đơn cử ngay như trong khu vực Đông Nam Á,
không chỉ có Việt Nam mà còn nhiều nước cũng hoạt động xuất khẩu lao động
như: Inđônêxia, Philippin,...
 Xuất khẩu lao động là hoạt động có tính rộng rãi trên toàn thế giới.
Nghe nói đến xuất khẩu lao động có thể người ta chỉ nghĩ rằng việc làm đó
chỉ dành cho các quốc gia đang và kém phát triển, nơi mà nguồn lao động dồi
dào dẫn đến dư thừa, còn các quốc gia phát triển sẽ chỉ là nước tiếp nhận lao
động. Song thực tế không phải như vậy, hoạt động xuất khẩu lao động lại diễn
ra trên hầu hết các nước kể cả các nước phát triển. Đối với các nước có nền
kinh tế phát triển họ xuất khẩu lao động của mình sang các nước phát triển
khác để làm việc hoặc tới các quốc gia đang và kém phát triển thông qua các
chương trình, dự án đầu tư. Đặc điểm nổi bật của hoạt động xuất khẩu lao
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
8
9
Luận văn tốt nghiệp
động ở các nước phát triển là lao động xuất khẩu của họ là lao động chất xám
có chất lượng cao, trình độ và tay nghề cao còn các nước đang và kém phát
triển thì hầu hết là lao động giản đơn, không lành nghề.
 Xuất khẩu lao động phụ thuộc nhiều vào chính sách của các quốc gia.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động có liên quan đến mối quan hệ hợp tác
giữa các quốc gia với nhau bởi thế chính sách của mỗi quốc gia có liên quan
mật thiết đến hoạt động xuất khẩu lao động. Chính sách, pháp luật của quốc
gia đưa lao động đi xuất khẩu có ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu lao động
của nước đó là điều đương nhiên rồi vì nó quyết định đến sự khuyến khích
hay hạn chế xuất khẩu của hoạt động xuất khẩu lao động nhưng chính sách,
pháp luật của quốc gia tiếp nhận lao động cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động xuất khẩu lao động, ví dụ một quốc gia đưa ra chính sách hạn chế lượng
người nước ngoài nhập cư thì ngay lập tức sẽ hạn chế hoạt động xuất khẩu của
những quốc gia có lao động đi làm việc tại nước đó và ngược lại.
Xuất khẩu lao động còn có rất nhiều đặc điểm khác song trên đây người
viết chỉ đưa ra những đặc điểm nổi bật nhất, đáng chú ý của xuất khẩu lao
động để phân tích và giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về hoạt động xuất khẩu lao
động.
1.1.2. Phân loại các hoạt động xuất khẩu lao động.
Có rất nhiều cách phân loại hoạt động xuất khẩu lao động khác nhau, theo
điều 134a* - Bộ luật lao động của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã được sửa đổi, bổ xung năm 2002,2006 thì các hình thức đưa lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài gồm có:
1- Cung ứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài;
2- Đưa lao động đi làm việc theo hợp đồng nhận thầu, khoán công trình ở
nước ngoài;
3- Đưa lao động đi làm việc theo các dự án đầu tư ở nước ngoài;
4- Các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài những quy định của nhà nước về những hình thức chủ yếu của xuất
khẩu lao động, các hình thức xuất khẩu lao động còn được chia theo biên giới
quốc gia bao gồm 2 hình thức:
− Xuất khẩu lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
Theo đó hình thức này bao gồm tất cả các hoạt động đưa người Việt Nam sang
nước ngoài làm việc có thời hạn bao gồm: Đưa lao động đi theo Hiệp định ký
kết giữa chính phủ Việt Nam với chính phủ các nước; hợp tác giữa các nước
về lao động và chuyên gia; thông qua các doanh nghiệp xuất khẩu lao động;...
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
9
10
Luận văn tốt nghiệp
− Xuất khẩu lao động tại chỗ: là hình thức các tổ chức kinh tế
của Việt nam cung ứng lao động cho các tổ chức kinh tế nước ngoài làm việc
tai Việt Nam như: Các công ty nước ngoài có văn phòng đại diện ở Việt Nam,
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp liên doanh, các
khu chế xuất, các cơ quan ngoại giao của nước ngoài đặt tại Việt Nam,...Theo
đó trong hình thức này người lao động không phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam
mà làm việc ngay trong nước.
Một cách phân loại khác nữa là phân loại theo loại hình công việc. Với cách
phân loại này hoạt động xuất khẩu lao động được chia làm nhiều loại khác
nhau, trong đó có những hình thức công việc chủ yếu sau: Thợ xây dựng, công
nhân nhà máy, lao động làm việc trên biển ( thuyền viên hoặc thuỷ thủ), lao
động giúp việc gia đình (với các công việc như trông trẻ, ôsin,..), khán hộ
công gia đình,...Ta cũng có thể phân loại các hình thức xuất khẩu lao động
theo thị trường xuất khẩu với: xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc,
Đài Loan, Malaysia, Trung Đông,...và nhiều cách phân loại khác tuy nhiên tuỳ
theo những góc nhìn khác nhau và những mục đích nghiên cứu khác nhau mà
lựa chọn cách phân loại nào cho phù hợp.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đặc biệt bởi vậy nó cũng chịu
sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau. Trong số các nhân tố đó chúng ta
có thể nhóm thành các nhóm chính sau:
 Các yếu tố thuộc về Nhà nước
Công tác xuất khẩu lao động là một hoạt động mang tính chất quốc gia vì
nó liên quan đến việc đưa lao động ra khỏi biên giới lãnh thổ của một nước để
tới một nước khác do vậy yếu tố đầu tiên có ảnh hưởng quyết định đến hoạt
động này chính là chủ chương chính sách của quốc gia. Bất cứ một chủ
trương, chính sách nào liên quan đến hoạt động ngoại giao, hợp tác quốc tế,
lao động - việc làm,... đều sẽ có tác động thúc đẩy hay hạn chế đến hoạt động
xuất khẩu lao động.
Một yếu tố khác thuộc về Nhà nước cũng có tác động rất lớn đến hoạt động
xuất nhập khẩu đó là những quy định của Nhà nước về quyền và nghĩa vụ của
Nhà nước, doanh nghiệp xuất khẩu lao động và người lao động trong hoạt
động xuất nhập khẩu và quan trọng hơn cả là những quy định của Nhà nước
về thủ tục cần thiết khi tham gia hoạt động xuất nhập khẩu lao động.
Yếu tố thứ ba thuộc về Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất
khẩu lao động đó là quan hệ ngoại giao giữa các nước với nhau. Nếu hai quốc
gia có quan hệ lâu đời khăng khít thì lẽ đương nhiên hoạt động xuất khẩu lao
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
10
11
Luận văn tốt nghiệp
động sẽ thuận lợi còn ngược lại nếu quan hệ giữa hai nước đang trong tình
trạng căng thẳng, thù địch thì hoạt động xuất khẩu lao động rất khó tiến hành.
Yếu tố nữa cũng thuộc về phía Nhà nước nhưng mà là thuộc về nước tiếp
nhận lao động đó là môi trường pháp lý của quốc gia đó và luật pháp quốc tế.
Một điều có tính chất đương nhiên là khi xuất khẩu lao động sang một quốc
gia nào đó thì việc cần làm đó là tìm hiểu kỹ về luật pháp của nước đó xem họ
có chính sách đối xử như thế nào với lao động nước ngoài làm việc tại đất
nước họ, xem họ cần những thủ tục pháp lý như thế nào khi tiếp nhận lao
động của ta,..Và cũng cần xem xét kỹ luật pháp của họ để khi lao động của ta
sang nước họ làm việc không bị vi phạm điều gì trong pháp luật của nước sở
tại. Việc xem xét và đảm bảo đúng những quy định của luật pháp quốc tế về
việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng giữ vai trò quan trong trong
công tác xuất khẩu lao động vì chỉ cần vi phạm một điều nào đó trong luật
pháp quốc tế cũng sẽ khiến cho hoạt động xuất khẩu lao động bị đình trệ thậm
chí thất bại.
 Yếu tố thuộc về các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động đem lại lợi ích rất lớn bởi thế mà hiện
nay số lượng những doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu lao động
ngày càng tăng lên. Những doanh nghiệp này có ảnh hưởng quyết định đến
hoạt động xuất khẩu lao động bởi nếu họ hoạt động tốt thì sẽ đưa được nhiều
lao động đi, mở rộng được thị trường xuất khẩu lao động nhưng ngược lại nếu
họ hoạt động kém không những người lao động chịu thiệt thòi mà hoạt động
xuất khẩu lao động cũng bị hạn chế.
Quyền hạn và nghĩa vụ của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đã được
quy định rõ trong pháp luật của nhà nước ta. Tuy nhiên, tuỳ theo uy tín và khả
năng hoạt động của mỗi doanh nghiệp mà chất lượng dịch vụ xuất khẩu lao
động của họ tốt hơn hay kém hơn, những doanh nghiệp có uy tín, có khả năng
lớn thì sẽ tìm được nhiều thị trường hơn, sẽ thu hút được nhiều lao động
hơn,...Chất lượng của quá trình đào tạo, của hoạt động marketing của doanh
nghiệp cũng sẽ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động phát triển hay bị hạn
chế vì quá trình đó ảnh hưởng đến chất lượng lao động và quy mô của thị
trường.
Quá trình quản lý của doanh nghiệp đối với lao động đã xuất khẩu sẽ ảnh
hưởng đến uy tín của doanh nghiệp và chất lượng của hoạt động xuất khẩu lao
động. Đây là một trong những hình thức quản lý người lao động đã xuất cảnh
một cách khá tốt trong quá trình quản lý hoạt động xuất khẩu lao động.
 Yếu tố thuộc về người lao động.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
11
12
Luận văn tốt nghiệp
Người lao động là đối tượng trực tiếp tham gia vào hoạt động xuất khẩu lao
động, nếu không có người lao động tham gia thì cũng không thể có được hoạt
động xuất khẩu lao động chính vì vậy nhân tố này giữ một vai trò hết sức quan
trọng đối với hoạt động xuất khẩu lao động.
Một yếu tố quan trọng thuộc về bản thân người lao động có ảnh hưởng
không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu lao động đó là chất lượng của lao động.
Chất lượng lao động ở đây bao gồm có: trình độ tay nghề, trình độ ngoại ngữ,
trình độ học vấn, ý thức kỷ luật,...Nếu chất lượng lao động tốt thì chất lượng
của hoạt động xuất khẩu lao động cũng sẽ tốt từ đó tạo uy tín cho quốc gia
trên thị trường và có thẻ thu hút được những thị trường khó tính nhưng có thu
nhập cao và ngược lại. Chất lượng của lao động cũng có ảnh hưởng đến ý thức
của bản thân họ, hiện nay có nhiều trường hợp do lao động có nhận thức kém
nên tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng, bỏ trốn ra ngoài tự làm việc,..Nhiều
lao động do có trình độ kém nên không đáp ứng được yêu cầu của công việc
buộc phải quay về nước. Chính những yếu tố đó đã gây ra những sự kỳ thị đối
với lao động nước ta khiến cho hoạt động xuất khẩu lao động bị hạn chế đi rất
nhiều. Ngoài ra, các yếu tố khác như: số lượng lao động, việc làm và thu nhập
của lao động,… cũng có ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu lao động và việc
quản lý hoạt động này.
 Các yếu tố khác.
Ngoài những yếu tố trên còn có rất nhiều yếu tố khác có ảnh hưởng ít nhiều
đến hoạt động xuất khẩu lao động ví dụ như:
− Các yếu tố thuộc về văn hoá như tôn giáo, tín ngưỡng, lối sống, phong
tục tập quán, ...
− Các yếu tố thuộc về kinh tế như cơ sở hạ tầng, thu nhập bình quân, giá
cả thị trường,...
− Các yếu tố mang tính chất cạnh tranh từ các nước khác,..v..v.
1.1.4. Hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam.
1.1.4.1. Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam.
Như đã phân tích ở trên hoạt động xuất khẩu lao động có tính tất yếu khách
quan, chính vì vậy mà Việt Nam cũng giống như các nước đang phát triển
khác trên thế giới không thể không triển khai hoạt động xuất khẩu lao động.
Với dân số trên 80 triệu người đứng thứ 13 trên thế giới, Việt Nam được
xếp vào hàng ngũ những quốc gia đông dân nhất thế giới. Trong đó có khoảng
43 triệu người thuộc độ tuổi lao động ( nữ chiếm 48,7%), mỗi năm tăng thêm
bình quân trên 1 triệu người, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề khoảng 20%, tỷ
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
12
13
Luận văn tốt nghiệp
lệ thất nghiệp ở thành thị là 5% nhưng con số thiếu việc làm ở nông thôn thì
còn cao hơn rất nhiều, số việc làm được tạo ra mới chỉ đáp ứng được khoảng
trên dưới 40% số lao động.Những con số trên cho thấy tình trạng thất nghiệp
thiếu việc làm đang là một trong những vấn đề nổi cộm của nền kinh tế Việt
Nam, những biện pháp thu hút đẩy mạnh đầu tư luôn được khuyến khích song
chỉ giải quyết được một phần nào tình trạng thiếu việc làm, do đó xuất khẩu
lao động là lựa chọn hữu hiệu và cần thiết cho Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay không chỉ là vì giải quyết được phần nào lao động dư thừa mà còn vì
những lợi ích to lớn mà hoạt động này mang lại cho quốc gia.
1.1.4.2. Một số quy định của Nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động là một vấn đề được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm
nên vấn đề này được quy định trong rất nhiều văn bản pháp luật.Trước hết là
trong Bộ luật lao động của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã
được sửa đổi, bổ xung năm 2002, 2006) quy định:
(Xem phụ lục 1)
Dựa vào những quy định của Bộ Luật Lao động, Chính phủ cũng quy định
cụ thể về việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn
ở nước ngoài trong Nghị định số 152/NĐ-CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ,
ngoài những quy định cụ thể hơn về hình thức xuất khẩu lao động, quyền và
nghĩa vụ của doanh nghiệp và người lao động tham gia vào hoạt động xuất
khẩu lao động, Nghị định 152 còn có thêm những quy định sau:
(Xem phụ lục 2)
Trên đây là những quy định của Nhà nước ta về vấn đề xuất khẩu lao động
được trích từ Bộ luật lao động và Nghị định 152/NĐ – CP của Chính phủ.
Ngoài ra, còn có nhiều Nghị định và thông tư, chỉ thị khác quy định cụ thể
hơn về hoạt động xuất khẩu lao động.
1.2.QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
1.2.1. Khái niệm.
Để hiểu được quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động là gì thì trước hết ta
phải hiểu được quản lý là gì. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý do
vậy cũng có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý nhưng nhìn chung có thể
đưa ra một khái niệm chung nhất về quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
13
14
Luận văn tốt nghiệp
các tiềm năng, cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện
biến động của môi trường.
3
Như vậy quản lý được hiểu là tất cả những tác động có tổ chức và hướng
đích mà chủ thể tác động lên đối tượng trong điều kiện biến đổi của môi
trường nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Theo đó quản lý Nhà nước vê xuất
khẩu lao động cũng mang tính chất là một hoạt động quản lý trong đó chủ thể
quản lý có thể là Nhà nước bao gồm các cơ quan Nhà nước quản lý về lao
động có thẩm quyền và các cơ quan Nhà nước khác có liên quan còn đối
tượng quản lý ở đây là người lao động, các doanh nghiệp chuyên doanh xuất
khẩu lao động và hoạt động xuất khẩu lao động. Các chủ thể quản lý sẽ sử
dụng các công cụ quản lý như: các chính sách, chế độ, quy chế, quy định về
hoạt động xuất khẩu lao động hay các kế hoạch, chỉ tiêu xuất khẩu lao động
hoặc những quy định ràng buộc về mặt vật chất, pháp lý,... để tiến hành quản
lý.
Quá trình quản lý có thể diễn ra dưới nhiều hình thức từ quản lý trong nước
cho đến quản lý ở nước ngoài, từ quản lý trực tiếp cho đến việc gián tiếp quản
lý...Nhưng dù sử dụng cách thức quản lý nào thì mục đích của hoạt động quản
lý đều là nhằm làm cho hoạt động xuất khẩu thực sự hiệu quả, mang lại lợi ích
cho cả quốc gia, doanh nghiệp lẫn người lao động.Từ đây ta có thể thấy rằng
quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động là quá trình tác động liên tục, có tổ
chức, có hướng đích của các chủ thể quản lý là Nhà nước lên các đối tượng
quản lý là hoạt động xuất khẩu lao động và các khách thể quản lý là người lao
động, các doanh nghiệp chuyên doanh xuất khẩu lao động cùng các đối tượng
có liên quan khác nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu
lao động.
1.2.2. Sự cần thiết phải quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động có vài trò hết sức to lớn trong tiến
trình phát triển của các quốc gia do vậy nó đòi hỏi phải có sự quan tâm và
quản lý của nhà nước và toàn xã hội. Quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động
là rất cần thiết bởi các nguyên nhân sau:
Thứ nhất là do hoạt động này đem lại lợi ích rất lớn cho quốc gia và toàn xã
hội. Như đã phân tích ở trên xuất khẩu lao động không chỉ mang lại lợi ích
cho người lao động tham gia vào hoạt động xuất khẩu lao động mà còn mang
lại những lợi ích không nhỏ cho doanh nghiệp xuất khẩu lao động, Nhà nước
và toàn xã hội, chính vì hoạt động này mang lại nhiều lợi ích như vậy nên
không thể tránh khỏi có những trường hợp lợi dụng tư tưởng hám lợi của
3 Khoa khoa học quản lý - Đại học Kinh tế quốc dân: Giáo trình Lý thuyết quản trị kinh doanh, NXB Khoa
học và Kỹ thuật, Hà nội, 2000.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
14
15
Luận văn tốt nghiệp
người dân để lừa đảo, chuộc lợi bất chính. Để đảm bảo quyền lợi chính đáng
của người lao động và hiệu quả thực sự của hoạt động xuất khẩu lao động thì
việc đứng ra quản lý của các cơ quan Nhà nước và của các doanh nghiệp xuất
khẩu lao động là điều tất yếu cần có.
Cũng xuất phát từ lợi ích to lớn của xuất khẩu lao động mang lại mà nảy
sinh ra sự cạnh tranh gay gắt trong hoạt động này. Không chỉ cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, giữa những người lao động mà còn cả
giữa các quốc gia với nhau. Sự cạnh tranh này mang tính chất rất phức tạp bởi
vậy để đảm bảo cho quá trình cạnh tranh diễn ra trong một môi trường lành
mạnh và thực sự công bằng thì không thể thiếu mặt của quản lý xuất Nhà
nước về khẩu lao động.
Một nguyên nhân nữa làm cho việc quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao
động trở nên cần thiết đó là do những tranh chấp và vi phạm trong hoạt động
xuất khẩu lao động xảy ra. Vấn đề tranh chấp và sự cố trong quan hệ lao động
là rất khó có thể tránh khỏi nên trong hoạt động xuất khẩu lao động việc xảy
ra tranh chấp và vi phạm là điều cần phải tính đến. Tranh chấp và sự cố trong
quan hệ lao động ở trong nước bình thường đã là vấn đề khó giải quyết rồi
song nếu nó xảy ra trong hoạt động xuất khẩu lao động thì lại càng khó khăn
hơn do nó có thêm yếu tố nước ngoài vào đó. Sự khác biệt về pháp luật, văn
hoá, phong tục tập quán, ... giữa các quốc gia lại càng làm cho việc giải quyết
trở nên khó khăn, phức tạp hơn nhiều lần nhưng nếu có sự quản lý chặt chẽ thì
sẽ hạn chế được rất nhiều những vi phạm và tranh chấp trong hoạt động xuất
khẩu lao động.
Đưa lao động đi xuất khẩu sẽ là đem đến quốc gia đó một khối lượng dân
cư khác biệt họ về môi trường sống, khí hậu, ngôn ngữ, tôn giáo,... do vậy sẽ
tạo ra một sự xáo trộn lớn cho xã hội của nước tiếp nhận lao động do đó yêu
cầu các nước này phải có sự quản lý chặt chẽ đối với hoạt động xuất khẩu lao
động này. Hơn nữa khi số lao động này trở về nước thì vấn đề phức tạp nhất là
giải quyết việc làm cho họ do đó cần phải có hệ thống quản lý chặt chẽ từ các
cơ quan Nhà nước.
Xuất khẩu lao động như đã phân tích ở trên mang tính xã hội rất cao do đó
vấn đề do nó gây ra cho xã hội là rất phức tạp yêu cầu cần phải có sự quản lý
của các cơ quan Nhà nước đối với hoạt động này. Khi có xuất khẩu lao động
thu nhập của một số lượng dân cư tăng lên, những người thân của lao động đi
xuất khẩu ở trong nước không vất vả gì mà có được một khoản tiền lớn, đây là
nguyên nhân gây ra một số hiện tượng xã hội phức tạp như đua đòi, ăn tiêu
chác táng,…tạo ra những mâu thuẫn trong xã hội. Chính điều này làm cho
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
15
16
Luận văn tốt nghiệp
việc quản lý đối với hoạt động xuất khẩu lao động trở lên rất quan trọng đối
với các nước có lao động đi xuất khẩu.
Còn rất nhiều nguyên nhân khác nữa khiến cho việc quản lý Nhà nước về
xuất khẩu lao động trở lên cần thiết, trên đây chỉ là một vài những nguyên
nhân chủ yếu mà người viết muốn nêu lên.Quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao
động là cần thiết đối với các quốc gia có lao động đi xuất khẩu và càng cần
thiết hơn nữa đối với một đất nước mà trình độ quản lý còn hạn chế như Việt
Nam.
1.2.3. Những nội dung của quản lý xuất Nhà nước về khẩu lao động.
Quá trình quản lý thông thường bao gồm các nội dung chính là: lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Tương tự như vậy quá trình quản lý Nhà
nước về xuất khẩu lao động cũng bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
1.2.3.1. Công tác hoạch định.
Hoạch định là một nội dung khởi đầu và đóng vai trò hết sức quan trọng
trong quá trình đặc biệt là đối với hoạt động quản lý Nhà nước về xuất khẩu
lao động. Thực chất của hoạch định chính lá giai đoạn lập kế hoạch trong quá
trình quản lý.
Lập kế hoạch là một loại ra quyết định đặc thù để xác định một tương lai cụ
thể mà các nhà quản lý mong muốn cho tổ chức của họ. Chúng ta biết rằng
quản lý có bốn chức năng cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm
tra. Chúng ta có thể hình dung là lập kế hoạch bắt đầu từ rễ cái của một cây
sồi đồ sộ, rồi từ đó mọc lên các “nhánh” tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Trên ý
nghĩa này, lập kế hoạch là chức năng khởi đầu và trọng yếu đối với nhà quản
lý.
4

Quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động cũng là một quá trình quản lý do
đó việc lập kế hoạch xuất khẩu lao động cũng gjữ một vai trò rất quan trọng
trong quá trình quản lý Nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động.
Nhìn chung, quá trình lập kế hoạch quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao
động bao gồm các bước sau:
Bước 1- Nghiên cứu và dự báo.
Bước 2 - Thiết lập các mục tiêu.
Bước 3- Phát triển các tiền đề.
Bước 4 - Xây dựng các phương án.
4 Đoàn thị Thu Hà + Nguyễn thị Ngọc Huyền – Khoa Khoa Học Quản Lý – ĐH KTQD – Giáo trình Khoa
Học Quản Lý tập I – tr333 – HN, 2004
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
16
17
Luận văn tốt nghiệp
Bước 5 - Đánh giá các phương án.
Bước 6 - Lựa chọn phương án và ra quyết định.
Tuy nhiên, xét trên giác độ quản lý Nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao
động thì việc lập kế hoạch được tập trung vào việc xây dựng các kế hoạch có
tính chất định hướng như: chiến lược, chính sách, các chương trình, quy
hoạch…đặc biệt là chiến lược và quy hoạch.
Chiến lược được hiểu là một hệ thống các quan điểm cơ bản, những mục
tiêu mang tính chất dài hạn và những phương án giải quyết được lựa chọn một
cách kỹ lưỡng khoa học để đạt được mục tiêu đã đề ra và thường là mục tiêu
từ 10 – 20 năm.
Còn quy hoạch là một loại kế hoạch có tầm dự báo dài hạn ngắn hơn chiến
lược và thường là những sự cụ thể hóa hơn nữa của chiến lược. Chúng ta có
thể hiểu rằng chiến lược là chủ đề còn quy hoạch giống như là bức tranh toàn
cảnh vẽ về chủ đề đó.
Trên thực tế, chiến lược thường được xây dựng trên quy mô quốc gia còn
quy hoạch thường được xây dựng tại các địa phương dựa trên các chiến lược
cụ thể của quốc gia.
Dựa trên cơ sở chiến lược và quy hoạch về xuất khẩu lao động mà các cơ
quan Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý đối với hoạt động xuất khẩu lao
động sẽ có được định hướng cụ thể từ đó lập ra những kế hoạch quản lý cụ thể
cho đơn vị mình, địa phương mình.
1.2.3.2. Tổ chức bộ máy quản lý.
Tổ chức nói chung là quá trình triển khai các kế hoạch hay nói cách khác:
Tổ chức là một chức năng của quá trình quản lý bao gồm việc phân bổ, sắp
xếp nguồn nhân lực con người và gắn liền với con người là các nguồn lực
khác nhằm thực hiện thành công công tác kế hoạch của tổ chức.
5
Như vậy, hoạt động tổ chức là việc thiết lập và sắp xếpcác cá nhân, bộ phận
vào các vị trí khác nhau nhằm phối hợp các cá nhân và bộ phận đó một cách
tốt nhất để thực hiện mục tiêu của tổ chức. Đối với quá trình quản lý Nhà
nước về xuất khẩu lao động thì chức năng tổ chức được chú trọng nhiều vào
việc tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động.
Việc xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý một cách hợp lý vàkhoa học sẽ
có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của cả quá trình quản lý do vậy vấn đề tổ chức
bộ máy cần đựoc quan tâm một cách đúng mức và đảm bảo tính hoàn chỉnh
5 Đo n Thà ị Thu H + Nguyà ễn Thị Ngọc Huyền – Khoa Khoa Học Quản Lý - Đại Học KTQD – Giáo trình
khoa học quản lý tập II – tr 6 – HN, 2002
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
17
18
Luận văn tốt nghiệp
thống nhất, vừa linh hoạt vừa hiệu quả tránh cồng kềnh, trùng lặp vừa gây tốn
kém vừa gây phiền hà, không để tạo một kẽ hở nào cho các hiện tượng tiêu
cực như tham ô, tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền có cơ hội len lỏi
vào các cơ quan quản lý Nhà nước.
Một vấn đề có tính quyết định đối với việc tổ chức thành công hay thất bại
một bộ máy quản lý Nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động đó chính là
nhân tố con người. Việc lựa chọn, sắp xếp nhân sự trong các cơ quan Nhà
nước phải đảm bảo nguyên tắc đúng người đúng việc phù hợp với trình độ
chuyên môn, trình độ chính trị của từng cá nhân. Vấn đề đạo đức, tinh thần
trách nhiệm của mỗi con người trong bộ máy quản lý Nhà nước về hoạt động
xuất khảu lao động là một vấn đề rất quan trọng nó đòi hỏi phải có một sự
thống nhất giữa quyền hạn được giao với trách nhiệm nghĩa vụ của từng người
trong từng vị trí.
1.2.3.3. Chỉ đạo thực hiện.
Sau khi đã xác lập được kế hoạch trong thời gian gần nhất và tổ chức được
bộ máy quản lý với những nhân sự thích hợp thì việc tiếp theo cần phải làm là
chỉ đạo thực hiện kế hoạch đã đề ra.
Để chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý xuất khẩu lao động của mình các cơ
quan Nhà nước phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Trong đó, quan trọng
và chủ yếu là biện pháp ra các văn bản pháp quy quy định các vấn đề có liên
quan đến vấn đề xuất khẩu lao động. Các văn bản này phải đảm bảo tính chặt
chẽ, rõ ràng, ổn định,…Ngoài ra, còn nhiều biện pháp khác như tuyên truyền,
giáo dục, sử dụng các chế tài như xử phạy hành chính, truy cứu trách nhiệm
dân sự, hình sự,…
Để chỉ đạo thực hiện công tác quản lý xuất khẩu lao động thì người lãnh
đạo của các cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động cần tổ
chức và phát huy hiệu quả của phương thức làm việc theo nhóm đồng thời
phải dự kiến được các tình huống có thể xáy ra để có hướng chỉ đạo cho thật
phù hợp và hiệu quả nhất.
Việc chỉ đạo thực hiện cũng phải đạt yêu cầu là bám sát vào thực tế, không
chỉ là những chỉ đạo suông, những khẩu hiệu dùng để hô to…Căn cứ vào kế
hoạch đã định sẵn người lãnh đạo vận hành bộ máy quản lý của mình chỉ đạo,
khuyến khích, hướng dẫn và giám sát hoạt động xuất khẩu lao động của các
đơn vị có liên quan đến vấn đề xuất khẩu lao động trên địa bàn quản lý của
mình sao cho vừa đảm bảo thực hiện đựoc mục tiêu kế hoạch vừa đảm bảo
thực hiện đúng pháp luật. Cụ thể là trên các mặt sau:
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
18
19
Luận văn tốt nghiệp
a. Tuyển mộ, tuyển chọn lao động xuất khẩu.
Căn cứ để tuyển chọn lao động đi xuất khẩu lao động được Chính phủ quy
định cụ thể tại Nghị định 81/2003/NĐ-CP, trong đó cần chú ý những điểm sau:
- Đơn vị xuất khẩu lao động là đơn vị trực tiếp tiến hành việc tuyển chọn
lao động xuất khẩu, không được uỷ quyền qua trung gian, môi giới và người
lao động không phải nộp một khoản lệ phí nào cho hoạt động tuyển chọn này.
-Đơn vị phải xuất trình giấy phép hoạt động khi tuyển chọn lao động ở địa
bàn khác.Đơn vị phải dành khoảng 10% số lượng lao động được tuyển cho
các đối tượng thuộc diện ưu tiên.
- Không được tuyển lao động Việt Nam đi làm những ngành nghề mà pháp
luật Việt Nam cấm.
-Việc tuyển chọn phải được thông báo công khai trên các phương tiện thông
tin đại chúng, các vấn đề liên quan như: ngày giờ nhận hồ sơ, ngày giờ tuyển
dụng, các tiêu chuẩn đặt ra,…cần phải được thông báo công khai cho người
lao động nắm được.Công khai thông báo kết quả sau chậm nhất là 5 ngày.
-Đơn vị đưa lao động đi xuất khẩu phải kết hợp với bệnh viện tiến hành
kiểm tra sức khỏe cho người lao động và chỉ được phép tyển chọn những lao
động có đủ sức khoẻ.
Hồ sơ tuyển chọn bao gồm: Đơn tự nguyện đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài (bao gồm cả bản cam kết của cá nhân và gia đình); sơ yếu lý lịch có xác
nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi lao động cư trú hoặc đơn vị, cơ quan
làm việc của người lao động; giấy chứng nhận sức khoẻ.Các giấy tờ khác theo
yêu cầu của bên nước ngoài.
Đối tượng tuyển chọn gồm các Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có đủ
các điều kiện dưới đây:
- Có năng lực pháp lý và năng lực hành vi, chấp hành pháp luật một cách
đầy đủ, hoàn toàn tự nguyện đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
- Đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về sức khoẻ, trình độ văn hoá, nghề
nghiệp, ngoại ngữ của bên nước ngoài.
- Không thuộc các đối tượng không được phép đi lao động tại nước ngoài
theo quy định của pháp luật.
b. Đào tạo – giáo dục định hướng cho người lao động đi làm việc có thời
hạn ở nước ngoài.
Theo Quy chế đào tạo và giáo dục định hướng cho người lao động Việt Nam
đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài (ban hành kèm theo Quyết định số
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
19
20
Luận văn tốt nghiệp
1635/1999/QĐ-BLĐTB&XH ngày 13 tháng 12 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ
LĐ-TB & XH) quy định:
(Xem phụ lục 3)
Việc đào tạo giáo dục định hướng là hết sức cần thiết đối với hoạt động
xuất khẩu lao động vì nó giúp cho người lao động có được nhận thức tốt hơn
về công việc, luật pháp cũng như yêu cầu của bên nước ngoài đối với họ từ đó
nâng cao được chất lượng, uy tín của đội ngũ lao động Việt Nam.Chính vì vậy
việc đào tạo và giáo dục định hướng cho người lao động phải dành được sự
quan tâm và quản lý chặt chẽ không chỉ của các đơn vị, doanh nghiệp xuất
khẩu lao động mà còn của cả các cơ sở đào tạo, Cục quản lý lao động ngoài
nước, Tổng cục dạy nghề, các Bộ, ngành, địa phương,…Trách nhiệm cụ thể
của từng cơ quan đơn vị trên đều được quy định rõ trong Quy chế đào tạo và
giáo dục định hướng cho người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở
nước ngoài ngày 13 tháng 12 ngày 1999 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội.
c. Quản lý lao động đã xuất khẩu.
• Quản lý ở trong nước.
- Quản lý hợp đồng lao động.
Để quản lý lao động xuất khẩu việc đầu tiên cần làm là quản lý hợp đồng
lao động bởi đây là căn cứ pháp lý quan trọng điều chỉnh quan hệ lao động
trong hoạt động xuất khẩu lao động. Trong họat động xuất khẩu lao động có
ba loại hợp đồng:
Thứ nhất là hợp đồng cung ứng lao động ký kết giữa bên doanh nghiệp xuất
khẩu lao động Việt Nam với bên sử dụng lao động nước ngoài. Mẫu hợp đồng
được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định, tuỳ theo từng loại hình
lao động và nước tiếp nhận lao động mà hợp đồng có thêm những điều khoản
cần thiết khác song vẫn phải đảm bảo những quy định chung về hợp đồng lao
động.
Loại hợp đồng thứ hai là hờp đồng ký giữa doanh nghiệp xuất khẩu lao
động và người lao động. Mẫu hợp đồng này được ban hành kèm theo Quy chế
ngày 30 tháng 6 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Lao động– Thương binh và Xã
hội, cụ thể như sau:
(Xem phụ lục 4)
Loại hợp đồng thứ ba là hợp đồng ký kết trực tiếp giữa chủ sử dụng lao
động với người lao động. Loại hợp đồng này không được Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội không ban hành mẫu quy định mà do chủ sử dụng lao
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
20
21
Luận văn tốt nghiệp
động đề xuất, tuy nhiên phải tuân thủ các nguyên tắc và quy định về hợp đồng
lao động của Bộ Luật Lao động nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Hợp đồng
phải có những nội dung cơ bản sau: số lượng lao động; ngành nghề; nơi làm
việc; thời gian làm việc, nghỉ ngơi; tiền lương, thưởng, làm thêm giờ; điều
kiện làm việc và sinh hoạt; các chi phí: ăn, ở, đi lại; Bảo hiểm xã hội; Bảo hộ
lao động; Các loại phí: dịch vụ, đào tạo, tuyển chọn; trách nhiệm xử lý khi
tranh chấp hoặc sự cố đặc biệt xảy ra trong thời gian thực hiện hợp đồng.
Các doanh nghiệp và cá nhân tham gia vào hoạt động xuất khẩu lao động
phải có trách nhiệm đăng ký hợp đồng với các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo đúng trình tự và thủ tục đăng ký hợp đồng.
- Quản lý sổ lao động, sổ bảo hiểm xã hội của lao động.
Theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì sổ lao động
và sổ bảo hiểm xã hội của người lao động phải do doanh nghiệp xuất khẩu lao
động quản lý. Doanh nghiệp có trách nhiệm xin cấp hoặc cấp lại sổ lao động,
sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động tại Sở Lao động – Thương binh và Xã
hội và cơ quan Bảo hiểm xã hội trên địa bàn doanh nghiệp dóng trụ sở. Doanh
nghiệp cũng phải có trách nhiệm xác nhận những vấn đề như: quá trình làm
việc, tiền lương, thời gian đóng bảo hiểm xã hội, …của người lao động trong
thời gian đi làm việc ở nước ngoài theo đúng quy định của pháp luật hiện
hành. Trường hợp người lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng cá
nhân ký kết trực tiếp với bên nước ngoài thì việc cấp sổ lao động và sổ bảo
hiểm xã hội thuộc về trách nhiệm của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.
- Quản lý việc thanh lý hợp đồng.
Khi người lao động hết hợp đồng trở về nước, doanh nghiệp đưa họ đi xuất
khẩu sẽ phải chịu trách nhiệm thanh lý hợp đồng với họ. Nội dung thanh lý
gồm: Trả lại sổ lao động và sổ bảo hiểm xã hội đã có xác nhận đầy đủ; thanh
toán nốt những khoản tiền cần thiết còn lại; làm đầy đủ các giấy tờ, thủ tục
cần thiết để trả lao động về nơi ở trước khi đi làm việc ở nước ngoài. Đối với
người lao động đi theo hợp đồng ký trực tiếp với bên nước ngoài thì khi về
nước sẽ tiến hành làm thủ tục thanh lý hợp đồng tại Sở Lao động – Thương
binh và Xã hội nơi đăng ký hợp đồng.
• Quản lý ở nước ngoài.
Với hình thức đi xuất khẩu lao động theo doanh nghiệp xuất khẩu lao động
thì việc quản lý lao động thuộc về trách nhiệm của chính doanh nghiệp đó.
Trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều lao động làm việc tại một nước nào
đó thì họ có quyền mở văn phòng đại diện hoặc cử cán bộ sang làm công tác
quản lý lao động một cách trực tiếp. Người được doanh nghiệp cử đi quản lý
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
21
22
Luận văn tốt nghiệp
lao động ở nước ngoài phải được bảo đảm các yêu cầu: về phẩm chất đạo đức,
trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ để có đủ năng lực theo dõi, giám sát
việc thực hiện các vụ tranh chấp và những vấn đề nảy sinh liên quan đến
người lao động. Khi người lao động đã hoàn thành hợp đồng, người quản lý
phải có trách nhiệm đưa họ trở về nước. Việc cử cán bộ đi quản lý lao động ở
nước ngoài của doanh nghiệp phải báo cáo với Cục quản lý lao động ngoài
nước và cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước đó bằng văn bản (có kèm
theo cả sơ yếu lý lịch của những cán bộ được cử đi) đồng thời chịu sự quản lý
của các cơ quan đại diện Việt Nam ở các nước tiếp nhận lao động.Với những
vấn đề phát sinh vượt quá thẩm quyền của doanh nghiệp thì doanh nghiệp
phải báo cáo ngay với các cơ quan chủ quản, cơ quan đại diện phía Việt Nam
ở nước tiếp nhận, Cục quản lý lao động ngoài nước để có biện pháp giải quyết
kịp thời. Doanh nghiệp cũng phải lập danh sách lao động Việt Nam đi làm
việc có thời hạn tại nước sở tại gửi cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước
đó và cho Cục quản lý lao động ngoài nước.
Đối với những trường hợp khác thì việc quản lý lao động ở nước ngoài sẽ
do cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài và Cục quản lý lao động
ngoài nước trực tiếp quản lý.
1.2.3.4. Kiểm tra hoạt động xuất khẩu lao động.
Đây là nội dungcuối cùng trong quý trình quản lý Nhà nước về xuất khẩu
lao động cũng là một nội dung quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự thành
công của quá trình quản lý. Kiểm tra là hoạt động giúp nhà quản lý phát hiện
ra đựoc những sai sót có thể xảy ra để có biện pháp khắc phục kịp thời. Việc
kiểm tra không phải đợi đến lúc công việc quản lý kết thúc mới tiến hành mà
phải được thực hiện song song thường xuyên liên tục để tăng cường hiệu quả
của việc kiểm tra.
Việc kiểm tra được thực hiện trong hai khu vực chính, đó là:
Khu vực tự kiểm tra tức là việc kiểm tra đưọc tiến hành tại các cơ quan
quản lý có trách nhiệm quản lý hoạt động xuất khẩu lao động. Đối với khu
vực này việc kiểm tra là tiến hành đo lường, phân tích, đánh giá xem hoạt
động quản lý của từng bộ phận, từng cá nhân trong đơn vị mình có thực sự
hiệu quả chưa? cần tiến hành điều chỉnh hay sửa đổi không? nếu có thì phải
điều chỉnh, sử đổi như thế nào?... Đây là hoạt động kiểm tra có ya nghĩa quyết
định đến hiệu quả của cả quá trình quản lý Nhà nước về hoạt động xuất khẩu
lao động do đó đòi hỏi phải được tiến hành một cách khách quan, chính xác và
hiệu quả.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
22
23
Luận văn tốt nghiệp
Khu vực thứ hai – khu vực chính của hoạt động kiểm tra là khu vực các
doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn quản lý. việc kiểm tra đựoc tiến hành
trên hầu hết các lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp này bao gồm cả
công tác tuyển mộ tuyển chọn lao động lẫn các công tác đào tạo giáo dục -
định hướng, công tác quản lý lao động đã xuất khẩu,...Việc kiểm tra tập trung
chủ yếu vào việc xem xét việc thực hiện xuất khẩu lao động của đơn vị có
đúng pháp luật không, có gì chưa phù hợp với mục tiêu kế hoạch chung
không...
1.2.4. Quản lý Nhà nước của chính quyền tỉnh về xuất khẩu lao động
Chính quyền tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao
động của mình bao gồm các công việc sau:
* Về công tác hoạch định:
- Nắm vững chiến lược và quy hoạch phát triển về xuất khẩu lao động của
quốc gia để nắm được mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp để phân tích, đánh giá
làm cơ sở để vận dụng xây dựng những kế hoạch dài hạn và ngắn hạn của tỉnh
về xuất khẩu lao động và vấn đề quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động.
- Tìm hiểu, nắm vững tình hình thực tế của công tác xuất khẩu lao động và
những phương hướng, tiềm năng của công tác này trong tương lai. Dựa vào
phương pháp dự báo và phương pháp chuyên gia để dự báo và đưa ra những
phương án giải quyết cho các tình huống có thể xảy ra trong tương lai đối với
hoạt động xuất khẩu lao động của tỉnh.
* Về công tác tổ chức bộ máy và nhân sự:
- Tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động từ cấp tỉnh đến
cấp xã, phường, thị trấn theo đúng yêu cầu và quy định của Nhà nước.
- Tuyển chọn nhân lực có năng lực, trình độ, phẩm chất phù hợp với từng vị
trí trong bộ máy quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động tỉnh.
* Về chỉ đạo thực hiện quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động.
- Ra các văn bản quy định về các chế độ thực hiện, trợ cấp, quản lý… đối
với xuất khẩu lao động trên địa bàn quản lý.
- Quy định về chế độ làm việc, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng
cá nhân, từng vị trí, từng bộ phận trong bộ máy quản lý Nhà nước về xuất
khẩu lao động của tỉnh mình.
- Chỉ đạo việc thực thi pháp luật về xuất khẩu lao động của các cơ quan,
đơn vị có liên quan đến xuất khẩu lao động.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
23
24
Luận văn tốt nghiệp
- Chỉ đạo, hướng dẫn, quản lý đối với việc thực hiện nhiệm vụ quản lý của
các bộ máy giúp việc của chính quyền tỉnh trong việc quản lý Nhà nước về
xuất khẩu lao động.
* Về kiểm tra, thanh tra hoạt động xuất khẩu lao động:
- Chỉ đạo các đơn vị, bộ phận của bộ máy quản lý Nhà nước về xuất khẩu
lao động của tỉnh thực hiện việc thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp,
đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh.
- Tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý đối với các cơ
quan, đơn vị thuộc bộ máy quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động của tỉnh.
- Xử lý, điều chỉnh ngăn chặn những trường hợp vi phạm pháp luật về xuất
khẩu lao động.
Và nhiều công việc khác.

Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
24
25
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU
LAO ĐỘNG CỦA TỈNH BẮC NINH.
2.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỈNH BẮC NINH ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU LAO ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TỈNH BẮC NINH.
2.1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội.
Từ năm 1997, tỉnh Bắc Ninh được tái lập cho đến nay trải qua 10 năm phấn
đấu Đảng và nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã tạo ra một diện mạo kinh tế - xã hội
mới.
Từ một tỉnh mới tái lập nền kinh tế còn non yếu, tỉnh Bắc Ninh đã tập trung
nguồn lực để khai thác những thế mạnh của mình vào việc phát triển kinh tế -
xã hội. Nhờ có những chính sách hợp lý, sau 10 năm Bắc Ninh đã đạt được
những thành tựu rất to lớn mang tính đột phá.
Tốc độ tăng trưởng trong những năm gần đây đều là rất cao, riêng năm
2006 GDP tăng 15,3% trong đó: công nghiệp – xây dựng tăng 20,28%; nông
nghiệp tăng 3 % và dịch vụ tăng 47,79%; cơ cấu kinh tế: công nghiệp – xây
dựng 47,79%; dịch vụ 28,61%; nông nghiệp 23,6%; giá trị sản xuất công
nghiệp đạt 8.504 tỷ đồng (giá cố định năm 1994), thu ngân sách đạt 1.270,8 tỷ
đồng, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 171,6 triệu USD, nhập khẩu đạt 245 triệu
USD, tạo việc làm mới cho 19.075 lao động. Toàn tỉnh có 1.789 doanh nghiệp
hoạt động với tổng số vốn điều kiện là 6.279 tỷ đồng. Năm 2006 tỉnh đã cấp
phép cho 48 dự án đầu tư mới và cấp phép điều chỉnh cho 28 dự án. Tổng
cộng cho đến năm 2006 tỉnh đã thu hút được 61 dự án FDI và 13 chi nhánh
văn phòng đại diện với tổng số vốn đăng ký là 557 triệu USD với nhiều dự án
tập trung vào các khu công nghiệp như khu công nghiệp Quế Võ, khu công
nghiệp Tiên Sơn…
(Nguồn tham khảo: http:// www.moi.gov.vn -ngày 04/04/2007)
Trong 10 năm vừa qua, nhịp độ tăng trưởng của tỉnh luôn giữ ở mức độ cao,
bình quân mỗi năm GDP tăng 13,5% với khu vực nông nghiệp tăng 6%, khu
vực công nghiệp – xây dựng cơ bản tăng 22%, khu vực dịch vụ tăng 12,5%
mỗi năm; cơ cấu kinh tế đang trên đà chuyển dịch theo chiều hướng tích cực:
tỷ trọng công nghiệp tăng nhanh từ 23,7% năm 1997 lên 47,8% năm 2006
tăng 24,1%, tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 45% năm 1997 xuống còn 23,6%
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×