Tải bản đầy đủ

XUẤT KHẨU VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦAVIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU

Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN (Association of South East Asian Nations): Hiệp hội các nước Đông
Nam Á...................................................................................................................2
BIDV (Bank for Investment and Development of Viet Nam): Ngân hàng đầu tư
và phát triển Việt Nam..........................................................................................2
CE (European Conformity): Nhãn hiệu Châu ÂU ..............................................2
MFN (Most Favoured Nation): Đãi ngộ tối huệ quốc..........................................2
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam................................................................................2
- Xuất nhập khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ngày càng lớn
mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế..........................................9
Hoạt động xuất khẩu làm cho các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào thị trường
thế giới nhiều hơn là thị trường trong nước, do vậy các doanh nghiệp muốn đứng
vững trong cạnh tranh phải dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế. Thời kỳ đầu có thể có
sự trợ giúp của Nhà nước song muốn tiếp tục tồn tại thì phải tự khẳng định được
vị trí của mình. Mặt khác thị trường thế giới rộng lớn sẽ tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp thu được hiểu quả nhờ quy mô sản xuất lớn.....................................9
- Quy định về bảo vệ môi trường.........................................................................29
Chế biến cà phê Arabica................................................................................................35
KẾT LUẬN.............................................................................................................80


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
1
Luận văn tốt nghiệp
ASEAN (Association of South East Asian Nations): Hiệp hội các nước Đông Nam Á
BIDV (Bank for Investment and Development of Viet Nam): Ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam.
CE (European Conformity): Nhãn hiệu Châu ÂU
EEC (European Economic Community): Khối thị trường chung Châu Âu
ICO (International Coffee Organization): Tổ chức cà phê quốc tế
ILO (International Labor Organization): Tổ chức lao động quốc tế
ISO (International Standards for Quality Systems): hệ thống tiêu chuẩn chất lượng
quốc tế.
LIFE (London International Financial Futures and Options Exchange): Thị trường
chứng khoán quyền chọn và kỳ hạn tài chính Quốc tế Luân Đôn.
HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point): Hệ thống phân tích mối nguy
hiểm và các điểm kiểm soát trọng yếu
MFN (Most Favoured Nation): Đãi ngộ tối huệ quốc
SA (Social Acountability): Trách nhiệm xã hội
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
VAT (Value Added Tax): Thuế giá trị gia tăng
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
2
Luận văn tốt nghiệp
Thúc đẩy xuất khẩu là một chủ trương lớn trong sự nghiệp công nghiệp hoá
hiện đại hoá của Đảng và Nhà nước ta, điều này đã được khẳng định trong Đại hội
lần thứ 8 và Nghị quyết 01 NQ/TW của bộ chính trị về mở rộng và nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại, nhằm thực hiện chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu nâng cao năng lực xuất khẩu hiện tại.
Hiện nay EU là đối tác quan trọng, là thị trường tiêu thụ hầu hết các hàng hóa,
sản phẩm của Việt Nam. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là những mặt
hàng mà thị trường EU có nhu cầu tiêu thụ lớn như giầy dép, thủy hải sản, cà phê…
Trong đó mặt hàng cà phê chiếm tỷ lệ lớn và quan trọng được bán rộng rãi hầu hết
trên thị trường các nước thành viên của Liên minh EU. Khả năng xuất khẩu cà phê
của Việt Nam có đủ sức cạnh tranh trên thị trường tiềm năng EU, vì vậy đẩy mạnh
xuất khẩu hàng hóa nói chung và đẩy mạnh xuất khẩu cà phê nói riêng vào thị trường
EU là một việc làm cấp thiết đối với nước ta.
Nhận thấy được vị trí của việc xuất khẩu cà phê vào thị trường EU trong thời
gian tới và nhằm đẩy mạnh duy trì kim ngạch xuất khẩu của cà phê trong những năm
tiếp theo cần phải có những biện pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê. Với những lý do
trên tôi xin đưa ra đề tài: “Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt
Nam sang thị trường EU”.
Mục đích nghiên cứu đề tài: Đề tài này đi sâu phân tích vào tình hình xuất
khẩu cà phê của Việt Nam trong những năm qua, từ đó rút ra các thành tựu đạt được
và các hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê sang thị trường
EU trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu mặt hàng cà phê của
Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu là: hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị
trường EU trong thời gian 2001 đến nay
Phương pháp nghiên cứu:
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
3
Luận văn tốt nghiệp
Luận văn dựa trên các phương pháp phân tích tổng hợp, các thực trạng, thành
tựu đạt đươc và chỉ ra các hạn chế để từ đó khắc phục nhằm thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu cà phê sang thị trường EU.
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu và tầm quan trọng của việc thúc
đẩy xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường EU
Chương 2: Tổng quan về thị trường cà phê EU và thực trạng xuất khẩu cà phê
của Việt Nam sang thị trường EU
Chương 3: Định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cà phê của
Việt Nam sang thị trường EU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU VÀ TẦM
QUAN TRỌNG CỦA VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CÀ PHÊ
CỦAVIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
4
Luận văn tốt nghiệp
1.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu
1.1.1 Khái niệm về hoạt động xuất khẩu
- Xuất khẩu là việc mua bán hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia. Việc mua
bán hàng hoá hiểu theo nghĩa hẹp là các hàng hoá vật chất (hàng hoá hữu hình), còn
hiểu theo nghĩa rộng thì nó bao gồm các hàng hoá phi vật chất (hàng hoá vô hình).
Bên cạnh đó xuất khẩu hàng hoá còn được hiểu là việc trao đổi hàng hoá và
dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế có quốc tịch khác nhau (trong đó đối tượng trao đổi
thường là vượt ra ngoài phạm vi địa lý của một quốc gia) thông qua hoạt động mua
bán, lấy tiền tệ làm môi giới.
Xuất nhập khẩu hàng hoá hữu hình bao gồm các nguyên vật liệu, máy móc
thiết bị, lương thực thực phẩm, các loại hàng tiêu dùng…đây là bộ phận chủ yếu giữ
vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia.
Xuất nhập khẩu hàng hoá vô hình bao gồm các bí quyết công nghệ, bằng sáng
chế phát minh, phần mềm máy tính, các bảng thiết kế kỹ thuật, các dịch vụ lắp ráp
thiết bị máy móc, dịch vụ du lịch và các loại hình dịch vụ khác…Đây là các bộ phận
có tỷ trọng ngày càng gia tăng phù hợp với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học
– công nghệ và việc phát triển các ngành dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu
Để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải
có một nguồn vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên
tiến, hiện đại. Nguồn vốn ngoại tệ có thể có từ các nguồn sau: Xuất khẩu, đầu tư
nước ngoài, viện trợ, thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ có thu ngoại tệ, xuất khẩu
lao động…Trong các nguồn trên, xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất để nhập
khẩu. Xuất khẩu quyết định tốc độ và quy mô nhập khẩu. Ở Việt Nam, trong thời kỳ
1986-1990 nguồn thu xuất nhập khẩu đã đảm bảo trên 55% nhu cầu ngoại tệ cho
nhập khẩu; tương tự thời kỳ 1991-1995: 75,3% và 1996-2000 là 84,5%, thời kỳ 2001-
2005:85,17% (Nguồn: Trung tâm Thông tin Thương mại)
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
5
Luận văn tốt nghiệp
- Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá, thúc đẩy sản xuất phát triển
Hoạt động xuất khẩu tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới, năng động,
sự phát triển các ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu đã tác động đến các ngành
công nghiệp cung cấp đầu vào cho các ngành xuất khẩu tạo ra “mối quan hệ ngược”
thúc đẩy sự phát triển của các ngành này. Bên cạnh đó, khi vốn tích luỹ của nền kinh
tế được nâng cao thì sản phẩm thô sẽ tạo “mối liên hệ xuôi” là nguyên liệu cung cấp
đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến và “mối liên hệ xuôi” này tiếp tục được
mở rộng. Sự phát triển của tất cả các ngành này sẽ làm tăng thu nhập của những
người lao động, tạo ra “mối liên hệ gián tiếp” cho sự phát triển công nghiệp hàng tiêu
dùng và dịch vụ.
Các ngành nông sản, thuỷ sản xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong sản phẩm
xuất khẩu đã thúc đẩy công nghiệp chế biến nông sản phát triển. Đồng thời việc tận
dụng những lợi thế so sánh về lao động đã phát triển các ngành công nghiệp sử dụng
nhiều lao động. Mặt khác việc nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đã tạo
điều kiện phát triển sản xuất công nghiệp hàng tiêu dùng và tư liệu sản xuất phục vụ
nhu cầu sản xuất và xuất khẩu. Việc nhập khẩu các máy móc thiết bị đã góp phần đổi
mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất, nhờ đó trình độ sản xuất và năng suất lao
động được nâng cao. Đồng thời do hướng vào thị trường quốc tế, sản xuất kinh
doanh theo tiêu chuẩn quốc tế đã nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
trong nước.
Việc xuất khẩu tạo điều kiện để tiêu thụ những lượng hàng hóa dư thừa do
vượt nhu cầu tiêu dùng nội địa cũng như hoạt động xuất khẩu là việc mở rộng ra thị
trường thế giới cũng là yếu tố nhằm thay đổi hình thức tổ chức sản xuất. Vì vậy việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển là việc làm cần thiết và phù
hợp với điều kiện hiện nay. Xuất khẩu thể hiện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể
hiện nổi bật như sau:
+ Hoạt động xuất khẩu tạo ra hệ thống dây chuyền phát triển các ngành nghề
liên quan một cách thuận lợi nhất. Ví dụ như hoạt động xuất khẩu hàng dệt may phát
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
6
Luận văn tốt nghiệp
triển thuận lợi sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành nghề sản xuất may mặc như
hoạt động trồng bông, ngành nuôi tơ tằm…
+ Hoạt động xuất khẩu ngày càng mở rộng điều này chứng tỏ quá trình sản
xuất kinh doanh ổn định và phát triển việc này sẽ tạo ra việc mở rộng được thị trường
tiêu thụ cũng như tạo điều kiện khai thác hoạt động sản xuất trong nước một cách tối
đa. Việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sẽ giúp cho các doanh nghiệp tham gia
sâu hơn vào nền kinh tế góp phần phân tán được rủi ro trong quá trình cạnh tranh.
+ Hoạt động xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ cung ứng đầu
vào cho hoạt động sản xuất, nâng cao giá trị sản xuất trong nước, việc mở rộng hoạt
động sản xuất đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng hàng hóa nhằm đáp
ứng được yêu cầu của thị trường thế giới.
+ Hoạt động xuất khẩu tạo ra các cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp của
các quốc gia điều đó bắt buộc các doanh nghiệp không ngừng cải tiến sản xuất, hoàn
thiện các công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, tìm kiếm các cách thức kinh doanh
cho hiệu quả nhất để giảm chi phí, tăng năng suất.
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm
tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động
Xuất khẩu có tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế- xã hội. Thể hiện ở
những mặt sau:
Trong các ngành nghề mà sản phẩm của nó có khả năng xuất khẩu như ngành nông
nghiệp, ngành chế biến nông lâm thủy sản, ngành dệt may, giày da…đã tạo ra nhiều
công ăn việc làm cho người dân lao động khu vực nông thôn tăng thêm thu nhập và
giảm bớt tình trạng nghèo đói. Thông qua việc nhập khẩu nhiều sản phẩm trung gian,
một số ngành công nghiệp như dệt may, sản xuất hàng tiêu dùng được mở rộng, tạo
việc làm cho dân cư thành thị đặc biệt là lao động thanh niên đang ngày gia tăng.
+Xuất khẩu làm tăng GDP, tăng thu nhập quốc dân từ đó có tác động làm tăng
tiêu dùng nội địa. Tiêu dùng nội địa tăng lại là nhân tố kích thích nền kinh tế tăng
trưởng.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
7
Luận văn tốt nghiệp
+ Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho nền kinh tế, nhất là
trong những ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu.
+ Xuất khẩu gia tăng sẽ làm gia tăng đầu tư trong các ngành sản xuất hàng hoá
xuất khẩu và những ngành có liên quan đến sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Đầu tư gia
tăng cũng là nhân tố kích thích tăng trưởng của nền kinh tế.
Nếu xuất khẩu tăng một tỷ USD thì sẽ tạo ra 35 nghìn đến 40 nghìn chỗ làm
cho người lao động. Còn đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì hàng
năm có thể tạo ra 50.000 việc làm cho người lao động (theo tờ: INTERNATIONAL
TRADE 1986 - 1990).
Xuất khẩu phát triển là điều kiện cho các công ty xuất nhập khẩu tồn tại, phát
triển và mở rộng quy mô. Do vậy sẽ ngày càng tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho
người lao động
- Khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên
Khi tổ chức hoạt động xuất khẩu các doanh nghiệp đơn vị cần phải tuân theo
các quy định chặt chẽ về bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng cũng
như sức khoẻ của người lao động…Chính những quy định mang tính bắt buộc đó đòi
hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới cải tiến công nghệ sản xuất, hoàn thiện quá trình
sản xuất tiêu thụ, phân phối sản phẩm một cách khoa học. Công nghệ sản xuất tiên
tiến hiện đại sẽ giúp cho việc khai thác các tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên một
cách có hiệu quả nhất góp phần nâng cao sử dụng đầu vào đạt hiệu quả đem lại sản
lượng và chất lượng tốt nhất.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
8
Luận văn tốt nghiệp
- Xuất nhập khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ngày
càng lớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Hoạt động xuất khẩu làm cho các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào thị
trường thế giới nhiều hơn là thị trường trong nước, do vậy các doanh nghiệp muốn
đứng vững trong cạnh tranh phải dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế. Thời kỳ đầu có thể
có sự trợ giúp của Nhà nước song muốn tiếp tục tồn tại thì phải tự khẳng định được
vị trí của mình. Mặt khác thị trường thế giới rộng lớn sẽ tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp thu được hiểu quả nhờ quy mô sản xuất lớn.
Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp tham gia vào cạnh tranh trên thị trường
thế giới về giá cả và chất lượng do đó doanh nghiệp sẽ phải hình thành cơ cấu sản
xuất phù hợp với thị trường để có giải pháp củng cố và nâng cao hiệu quả trong công
tác quản trị kinh doanh.
- Hoạt động xuất khẩu còn tạo ra nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho
đất nước
Nguồn thu nhập này vượt xa các nguồn thu nhập khác kể cả vốn vay và vốn đầu tư
của nước ngoài, đối với các nước đang phát triển ngoại thương đã trở thành nguồn
tích luỹ vốn chủ yếu trong giai đoạn đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá. Đồng thời
có ngoại tệ đã tăng được khả năng nhập khẩu công nghệ, máy móc thiết bị và nguyên
liệu cần thiết cho sự nghiệp phát triển của ngành công nghiệp.
Tóm lại đẩy mạnh xuất khẩu là hướng phát triển có tính chất chiến lược để
đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp mới.
1.2 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu.
1.2.1 Xuất khẩu trực tiếp
- Khái niệm:
Xuất khẩu trực tiếp là phương thức giao dịch trong ngoại thương trong đó
quan hệ người mua, người bán và việc xác lập các điều kiện liên quan đến việc mua,
bán được xác lập trực tiếp mà không qua trung gian.
- Ưu điểm:
+ Tiết kiệm chi phí và thời gian cho giao dịch.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
9
Luận văn tốt nghiệp
+ Không bị phân tán và chia sẻ lợi nhuận cho bên thứ 3 do đó lợi nhuận cao
hơn.
+ Nắm bắt thông tin về khách hàng và thị trường 1 cách chính xác từ đó có thể
đáp ứng nhu cầu một cách tốt hơn.
+ Có thể chủ động hơn trong việc thay đổi các kế hoạch công việc của mình.
+ Hạn chế rủi ro
- Nhược điểm
+ Có rủi ro khi không có sự am hiểu về thị trường
+ Tốn thời gian công sức khi phải tổ chức 1bộ máy cồng kềnh
- Điều kiện áp dụng
+ Áp dụng đối với các doanh nghiệp có khả năng về tài chính, am hiểu về
khách hàng, thị trường.
1.2.2 Xuất khẩu gián tiếp
- Khái niệm:
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức giao dịch mua bán thông thường mà quan hệ
mua bán được thiết lập thông qua người thứ 3(người trung gian). Người trung gian có
thể là người đại lý hoặc là người môi giới.
- Ưu điểm:
+ Tận dụng được lợi thế của các trung gian như kinh nghiệm, thông tin tại các
thị trường nhất định và tiết kiệm chi phí.
+ Thiết lập được các quan hệ thương mại nhanh và hiệu quả.
+ Tạo được các quan hệ và có các hệ thống thông tin liên kết nhất định.
+ Lợi ích và lợi nhuận thu được có tính chắc chắn hơn.
- Nhược điểm:
+ Hạn chế tiếp xúc của nhà sản xuất và người tiêu dùng.
+ Bị chia sẻ quyền lợi và phải đáp ứng nhiều yêu sách của người trung gian.
+ Làm cho các doanh nghiệp giảm sự cạnh tranh do thông tin phản hồi chậm
do không được trực tiếp nghe được ý kiến của người tiêu dùng.
+ Lợi nhuận bị chia sẻ cho các nhà trung gian.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
10
Luận văn tốt nghiệp
- Điều kiện áp dụng
Được áp dụng đối với các doanh nghiệp có nguồn tài chính hạn hẹp, và phù
hợp với giai đoạn đầu thâm nhập của các doanh nghiệp
1.2.3 Buôn bán đối lưu
- Khái niệm:
Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch trong ngoại thương trong đó xuất
khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, một bên vừa đóng vai trò người bán, vừa đóng
vai trò người trong giao dịch. (Quan hệ hàng - hàng. Tiền không đóng vai trò quan
trọng trong giao dịch này mà nhằm thu về một hàng hoá khác có giá trị tương
đương). Phương pháp này thường xuất hiện khi khan hiếm ngoại tệ để giao dịch.
- Ưu điểm
+ Mức độ rủi ro thấp
+ Khai thác được nguồn lao động, nguyên vật liệu phụ trợ trong nước
+ Tiếp nhận được khoa học công nghệ
- Nhược điểm
+ Lợi nhuận thấp
+ Khả năng tiếp cận thị trường mới hạn chế
- Điều kiện áp dụng
Các bên đều thiếu ngoại tệ và có nhu cầu cao về hàng hóa
1.2.4 Bán hàng thông qua hội chợ triển lãm
- Khái niệm
Hội chợ là một phương thức giao dịch kinh doanh trong đó hội chợ được tổ
chức định kỳ tại những điểm nhất định theo những quy định của nhà tổ chức nhằm
mục đích bán sản phẩm.
Triển lãm được tổ chức định kỳ tại những địa điểm nhất định nhưng với mục
đích trưng bày và giới thiệu về thành tựu trong 1 lĩnh vực kinh tế hoặc công nghệ nào
đó.
- Ưu điểm
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
11
Luận văn tốt nghiệp
Thường mang tính hướng đích, tiếp cận với khách hàng tiềm năng phô trương
được những thành tựu và kích thích khách hàng quan tâm chú ý trong tương lai.
Được cọ xát với các đối thủ cạnh tranh cùng ngành nghề thu thập nhiều thông
tin.
- Nhược điểm
Nghiệp vụ giao dịch và tổ chức rất phức tạp đòi hỏi phải có sự chuẩn bị rõ
ràng, cán bộ tinh thông.
Thường diễn ra trong một thời gian và địa điểm nhất định gây khó khăn cho
những công ty ở các quốc gia không có ngoại giao thân thiện với nước tổ chức.
Thường bị lộ thông tin về sản phẩm vì có nhiều đối thủ cạnh tranh cùng tham
gia.
- Điều kiện áp dụng
Đối với các doanh nghiệp chưa có thương hiệu mạnh trên thị trường.
1.2.5 Giao dịch tái xuất
- Khái niệm
Giao dịch tái xuất là hình thức xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng trước
đây đã nhập khẩu chưa qua chế biến ở nước tái xuất.
Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một
số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch này luôn luôn thu hút ba nước: nước
xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.
- Ưu điểm
Điều hoà thương mại thế giới, hạn chế cuộc chiến thương mại hoặc những
trừng phạt về kinh tế.
Phát huy và khai thác được thế mạnh của các dịch vụ gia công chế biến sau
thu hoạch làm tăng giá trị sản phẩm do đó tăng thêm lợi nhuận.
- Nhược điểm:
Sử dụng phương thức này bị chia sẻ lợi nhuận, không gắn kết được người sản
xuất và tiêu dùng cuối cùng.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
12
Luận văn tốt nghiệp
Nghiệp vụ phức tạp đòi hỏi phải phối kết hợp giữa nhập khẩu-xuất khẩu và
thanh toán tiền hàng.
Điều kiện áp dụng
Áp dụng đối với các nước có sự nhạy bén tình hình về thị trường và giá cả.
1.2.6 Hình thức gia công quốc tế
- Khái niệm
Gia công quốc tế là phương thức giao dịch kinh doanh trong đó một bên (gọi
là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác
(gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia
công và nhận thù lao (gọi là phí gia công).
- Ưu điểm
+ Chuyên môn hóa lao động trên phạm vi toan quốc trên phạm vi toàn cầu,
giúp cho việc phân công lao động quốc tế phát triển mạnh mẽ.
+ Giúp cho các doanh nghiệp nhận gia công tiếp thu nhiều kinh nghiệm quốc
tế và người lao động được trực tiếp tiếp cận với nhiều loại thiết bị và công nghệ tiên
tiến hơn
+ Tạo thêm việc làm, tận dụng được số lao động dư thừa.
- Nhược điểm
+ Bên nhận gia công thường là bên có nhiều yếu kém về các mặt như vốn,
công nghệ, kỹ năng…nên nhận được thù lao rẻ mạt.
+ Có các mâu thuẫn về văn hóa trong việc sử dụng lao động quốc tế.
- Điều kiện áp dụng
Nước tiếp nhận gia công có nguồn nhiên liệu và nhân công rẻ chủ yếu là các
nước đang phát triển.
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Hoạt động xuất khẩu cà phê nói riêng và hoạt động xuất khẩu nói chung của
Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như sau:
- Các chính sách, biện pháp tạo nguồn hàng xuất khẩu
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
13
Luận văn tốt nghiệp
+ Xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực: Mặt hàng xuất khẩu chủ lực
phải là loại hàng thoả mãn các tiêu chí: có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định; có
điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi, với chi phí sản xuất thấp để thu được lợi
nhuận trong buôn bán và có khối lượng kim ngạch xuất khẩu lớn, chiếm vị trí quyết
định trong tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước.
Mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thể thay đổi theo từng thời điểm nhất định.
Trong thời điểm này có thể xem một mặt hàng nào đó là chủ lực, nhưng trong thời
điểm khác nó chưa chắc là hàng xuất khẩu chủ lực. Chẳng hạn hiện nay Việt Nam
xác định dầu thô là mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhưng trong tương lai, khi các ngành
công nghiệp chế biến của Việt Nam phát triển thì dầu thô có thể không còn là mặt
hàng xuất khẩu chủ lực mà thay vào đó là những mặt hàng khác như: sản phẩm phần
mềm vi tính, sản phẩm công nghệ Nano, sản phẩm công nghệ sinh học…
+ Đẩy mạnh đầu tư cho sản xuất hàng xuất khẩu
Công tác xuất khẩu ngày nay không thể chỉ dựa vào việc thu gom của cải tự
nhiên để xuất khẩu mà phải có các cơ sở tập trung sản xuất xuất khẩu, vì vậy phải
xây dựng những cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu để tạo nguồn hàng xuất khẩu tập
trung, dồi dào, có chất lượng và đạt chuẩn quốc tế. Muốn thế phải đầu tư cho sản
xuất hàng xuất khẩu. Trong chính sách đầu tư của Nhà nước cần chú ý đầu tư cho các
ngành hàng xuất khẩu và hạn chế đầu tư cho các ngành thay thế nhập khẩu mà năng
lực sản xuất trong nước đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu. Tập trung cho các ngành chủ lực,
cho các dự án nâng cao cấp độ chế biến, nâng cao khả năng cạnh tranh. Đối với nông
sản phẩm, chú trọng đầu tư đổi mới giống cây trồng, đổi mới công nghệ sản xuất, chế
biến. Ngoài ra trong đầu tư cũng cần chú ý đầu tư trực tiếp cho các hoạt động phục
vụ xuất khẩu như: bến cảng, kho tàng, các trung tâm thương mại ở nước ngoài, các
hoạt động xúc tiến xuất khẩu, đầu tư đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị doanh
nghiệp kinh doanh xuất khẩu.
Một điểm cũng không kém phần quan trọng là môi trường thuận lợi thu hút
mạnh vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu. Phát
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
14
Luận văn tốt nghiệp
triển một cách hợp lý các khu chế xuất, khu công nghiệp để thu hút các nhà đầu tư
trong và ngoài nước
+ Phát triển khu chế xuất
Nghị định 36 ngày 24-04-1997 của Thủ tướng Chính phủ về quy chế khu chế
xuất đã định nghĩa: “ khu chế xuất là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế
xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ phục vụ cho xuất khẩu và
các hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống”.
Trên thế giới có gần 850 khu chế xuất, đại đa số tập trung ở Châu Á. Việt
Nam đã cấp phép cho sáu khu chế xuất tại các địa phương: Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội,
Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ. Nhưng trong thực tế chỉ có hai khu đi vào hoạt động
là: Khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung ở TPHCM, riêng khu Linh Trung đã phát
triển thành ba khu (Linh Trung 1, Linh Trung 2 và Linh Trung 3 đặt ở tỉnh Tây
Ninh).
Nội dung hoạt động của khu chế xuất là tập trung sản xuất hàng hoá và dịch vụ
xuất khẩu, mà người đầu tư chủ yếu là người nước ngoài. Các loại vật tư, nguyên liệu
chủ yếu được nhập ngoại. Tuy nhiên, các loại này cũng có thể do nước chủ nhà cung
cấp nhưng phải làm các thủ tục xuất nhập khẩu hải quan như khi nhập từ nước ngoài.
Nước chủ nhà sẽ cung cấp các dịch vụ như: điện, nước, thông tin, giao thông vận tải,
ăn uống, giải trí…cho sự hoạt động của các nhà đầu tư trong khu chế xuất.
- Chính sách tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ so sánh giữa đồng tiền các nước với nhau, hay nói cách
khác tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng số
lượng đơn vị tiền tệ của nước khác.
Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến xuất khẩu được biểu hiện thông qua ngang giá
sức mua đó chính là sự so sánh và đo lường sức mua tương đối của hai đồng tiền,
được tính toán bằng cách so sánh giá cả của cùng một số mặt hàng ở hai nước khác
nhau theo giá cả của đồng tiền đó để từ đó xác định tỷ giá hối đoái của đồng tiền này
so với đồng tiền nước khác, mà thông thường đồng tiền cơ sở là đô la Mỹ.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
15
Luận văn tốt nghiệp
Bên cạnh đó, nền tảng của ngang giá sức mua được biểu hiện như sau: nếu
như một mặt hàng ở trong quốc gia này rẻ thì xuất khẩu mặt hàng đó sang một nước
khác giá đắt hơn thì sẽ có lời hơn, và ngược lại nếu mặt hàng trong quốc gia sản xuất
đắt hơn so với giá thị trường nước ngoài thì tốt hơn hết nên nhập khẩu mặt hàng đó
sẽ có lợi hơn. Vấn đề này lý giải sự chênh lệch về giá cả của cùng một mặt hàng ở
các nước khác nhau trên thế giới, nước nào có lợi thế kinh tế tốt hơn sẽ có điều kiện
thuận lợi sản xuất ra hàng hoá với chi phí thấp sẽ là cơ hội để các nước này đẩy mạnh
xuất khẩu và ngược lại kích thích nhập khẩu khi mặt hàng đó sản xuất trong nước giá
cao hơn. Nói cách khác: khi đồng tiền trong nước giảm giá thì hàng hoá nhập khẩu
vào nước đó sẽ đắt đỏ hơn và trái lại hàng hoá xuất khẩu sang nước sẽ rẻ hơn, tạo
thuận lợi cho xuất khẩu hàng hoám ngược lại nếu đồng tiền trong nước lên giá hàng
hoá nước ngoài nhập vào sẽ rẻ hơn và hàng hoá xuất khẩu sẽ đắt đỏ hơn, tạo cơ hội
cho các nhà nhập khẩu.
Do vậy khi thực hiện hoạt động xuất khẩu điều cần thiết là duy trì tỷ giá hối đoái sao
cho các nhà sản xuất trong nước có lãi kho bán các sản phẩm công nghiệp, nông
nghiệp và dich vụ của họ trên thị trường quốc tế.
Tỷ giá hối đoái thực tế nhập khẩu do có thuế và trợ cấp thương mại được tính bằng
công thức sau:
Etn=Ro (1+tn-Sn+Qn)
Trong đó: Ro: Tỷ giá chính thức.
tn: Thuế trung bình đánh vào hàng nhập khẩu.
Sn: trợ cấp trung bình cho nhập khẩu (nếu có).
Qn: Lợi thế do hạn ngạch trung bình đối với hàng nhập khẩu (nếu có).
Tỷ giá hối đoái thực tế xuất khẩu do có trợ cấp xuất khẩu và thuế (nếu có)
được tính bằng công thức sau:
Etx=Ro (1+tx-Sx+Qx)
Trong đó: Ro: Tỷ giá chính thức.
tx: Thuế trung bình đánh vào hàng xuất khẩu.
Sx: trợ cấp trung bình cho xuất khẩu (nếu có).
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
16
Luận văn tốt nghiệp
Qx: Lợi thế do hạn ngạch trung bình đối với hàng xuất khẩu (nếu có)
Để điều hành chính sách tỷ giá hối đoái đúng đắn có lợi cho hoạt động xuất
khẩu trong dài hạn cần phải bảo đảm Etn < Etx.
-Thuế xuất khẩu
Thuế xuất khẩu là một loại thuế được áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu trong
đó các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩu hàng hóa phải nộp một khoản
tiền nhất định tính bằng tỷ lệ % giá trị hàng hóa hoặc tính theo một lượng tiền nhất
định theo khối lượng hàng hóa cho cơ quan quản lý Nhà nước thường là cơ quan hải
quan.
Thuế xuất khẩu làm cho giá cả quốc tế của hàng hóa bị đánh thuế vượt quá giá
cả trong nước tức là thuế xuất khẩu làm hạ thấp tương đối mức giá cả trong nước của
hàng hóa có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế. Điều đó sẽ làm cho sản
lượng trong nước của mặt hàng xuất khẩu sẽ giảm đi và sản xuất trong nước sẽ thay
đổi bất lợi cho những mặt hàng này.
Trong một số trường hợp việc đánh thuế xuất khẩu không làm cho khối lượng xuất
khẩu giảm đi nhiều và vẫn có lợi nhiều cho nước xuất khẩu, nếu như họ có các tác
động đáng kể đến mức giá quốc tế (ví dụ như có sự độc quyền của việc xuất khẩu san
của Triều Tiên). Một mức thuế xuất khẩu cao và duy trì quá lâu có thể làm lợi cho
các địch thủ cạnh tranh.
Thuế xuất khẩu ít được áp dụng ở các nước phát triển, mà thường được áp dụng
ở các nước đang phát triển. Ở Việt Nam thuế xuất khẩu áp dụng với ít mặt hàng và
mục tiêu là để nâng cao mức độ chế biến nguyên liệu thô chứ không chỉ vì mục tiêu
tăng ngân sách. Điều này thể hiện ở chỗ thuế suất cao được áp dụng cho các hàng
nguyên liệu không chế biến và ngược lại. Chẳng hạn gỗ tròn, gỗ xẻ có thuế suất là
20%, còn tranh, tượng gỗ có thuế xuất 5%…
- Hạn ngạch
Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về lượng giá trị) hàng hóa tối đa được
phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một thị trường hoặc khu vực thị trường cụ thể
trong một thời gian nhất định thường là một năm.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
17
Luận văn tốt nghiệp
Hạn ngạch xuất khẩu nhằm tránh tình trạng cung vượt quá cầu gây thiệt hại
cho các nhà sản xuất và kinh doanh xuất khẩu. Bên cạnh đó còn nhằm đảm bảo sự ổn
định của thị trường trong nước (đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong nước) đối với
các mặt hàng là thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước. Được áp
dụng với các hàng hóa xuất khẩu có nguồn gốc tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ bị
cạn kiệt hoặc khai thác sản xuất ồ ạt gây ô nhiễm môi trường làm mất cân bằng sinh
thái
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện là biện pháp trong đó hai quốc gia
thoả thuận với nhau về việc cắt giảm lượng hàng hoá xuất khẩu. Cụ thể là quốc gia
nhập khẩu yêu cầu nước xuất khẩu phải cắt giảm lượng hàng hoá xuất khẩu của mình
một cách tự nguyện nếu không thực hiện thì nước nhập khẩu sẽ áp dụng các biện
pháp trả đũa thông thường là áp dụng biện pháp đánh thuế nhập khẩu cao đối với
hàng hoá đó hoặc các mặt hàng khác, hoặc bằng biện pháp phá giá. Hạn chế xuất
khẩu tự nguyện mang tính miễn cưỡng và gắn liền với những điều kiện nhất định.
Hình thức này được áp dụng cho các quốc gia có khối lượng xuất khẩu quá lớn ở một
số mặt hàng nào đó.
- Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật bao gồm các quy định về tiêu chuẩn vệ
sinh, an toàn lao động, bao bì đóng gói, nhãn mác, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phòng
dịch đối với động và thực vật tươi sống, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái
đối với các máy móc, thiết bị, dây truyền công nghệ(không có chất phế thải độc hại,
tiếng ồn quá mức cho phép…). Những quy định này xuất phát từ các đòi hỏi thực tế
của đời sống xã hội và phản ánh trình độ phát triển đạt được của nền văn minh nhân
loại. Bên cạnh đó những quy định này có tác dụng bảo hộ đối với thị truờng trong
nước hạn chế và làm méo mó dòng vận động của hàng hoá trên thị trường thế giới.
- Các yếu tố về thể chế chính trị - kinh tế - xã hội
Các thể chế chính trị - kinh tế - xã hội được thừa nhận tác động tới hoạt động xuất
khẩu theo khía cạnh tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
18
Luận văn tốt nghiệp
Thể chế thể hiện như là một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng đồng, nhằm
điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt
ra. Thể chế được thể hiện thông qua các dự kiến mục tiêu phát triể, các nguyên tắc tổ
chức quản lý kinh tế xã hội, hệ thống luật pháp, các chế độ chính sách, các công cụ
và bộ máy tổ chức thực hiện.
Một thể chế chính trị - xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện để đổi mới
liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế thúc đẩy
hoạt động xuất khẩu. Ngược lại một thể chế không phù hợp sẽ gây ra cản trở, mất ổn
định, thậm chí dẫn đến phá vỡ những mối quan hệ cơ bản gây ảnh hưởng không tốt
cho hoạt động xuất khẩu. Yếu tố thể chế chỉ tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu theo mục tiêu có lợi và hạn chế các mặt bất lợi.
- Các yếu tố về điều kiện tự nhiên, vốn, lao động và công nghệ
+ Về lao động: Yếu tố lao động ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của 1
nước khi nguồn lực về lao động dồi dào đặc biệt là đối với các vùng nông thôn và các
tỉnh trung du việc dồi dào về nhân công kéo theo giá cả thuê nhân công rẻ và việc đó
tạo ra được các mặt hàng phong phú, giá thành sản phẩm thấp, tạo được sức cạnh
tranh cho các mặt hàng cũng như tạo ra nguồn hàng dồi dào nhu cầu tiêu dùng trong
nước không hết điều đó đòi hỏi các nước phải mở rộng hoạt động xuất khẩu để trao
đổi các mặt hàng với các nước trên thế giới
+ Về yếu tố khoa học - công nghệ: Cùng với sự phát triển của khoa học công
nghệ đã đem lại nhiều thành tựu trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, trong
đó các hoạt động xuất khẩu đòi hỏi áp dụng các thành tựu khoa học là chủ yếu và đã
đạt được một số kết quả như:
Các doanh nghiệp thực hiện được quá trình chuyên môn hóa sản xuất ở mức độ cao
điều này tạo cho cán bộ công nhân viên trong ngành ngày càng nâng cao được tay
nghề
Khoa học phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và
ngoài nước có thể trao đổi thông tin nhanh chóng hơn, qua hệ thống mạng Internet
giúp cho các nhà kinh doanh các nhà đầu tư thu thập được nhiều thông tin về môi
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
19
Luận văn tốt nghiệp
trường đầu tư kinh doanh cũng như các thông tin của các đối tác làm ăn, bên cạnh
việc thu thập thông tin các doanh nghiệp cũng có thể quảng bá hình ảnh thương hiệu
của mình ngày một đi xa hơn tới các nước trên thế giới mà tốn ít chi phí.
+ Điều kiện tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến nguồn cung đầu vào cho hoạt động sản
xuất cũng như hoạt động xuất khẩu, mỗi quốc gia khi có nguồn lực về tài nguyên tự
nhiên sẽ có khả năng thực hiện được các hoạt động xuất khẩu. Đối với Việt Nam có
các điều kiện thuận lợi để phát triển các hoạt động sang các thị trường trên thế giới ví
dụ như Việt Nam có các điều kiện phát triển cây cà phê vì vậy có lợi thế sản xuất
xuất khẩu cà phê, điều kiện tự nhiên cùng với các nguồn lực về lao động, kinh
nghiệm đã tạo cho cà phê Việt Nam những hương vị riêng, có các yếu tố để giảm giá
thành xuất khẩu cà phê chính vì vậy đây sẽ là yếu tố góp phần thúc đẩy xuất khẩu xà
phê của Việt Nam.
1.4 Tầm quan trọng của việc thúc đẩy xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị
trường EU
Xuất khẩu đối với nước ta có ý nghĩa về nhiều mặt. Xuất khẩu là kênh phân
phối tiêu thụ sản phẩm quan trọng của sản xuất. Nhờ xuất khẩu có ngoại tệ nhập khẩu
nguyên nhiên vật liệu mà sản xuất trong nước chưa cung ứng đủ và quan trọng hơn là
nhập khẩu thiết bị kỹ thuật - công nghệ, phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hóa
đất nước. Với tác động hai đầu, xuất khẩu đã đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế
với tốc độ cao, liên tục trong thời gian dài trong thời gian qua và tạo điều kiện thuận
lợi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao hơn trong những năm tới, nhằm thực hiện
mục tiêu tổng quát thoát khỏi nước kém phát triển trước năm 2010, cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Xuất khẩu còn có ý nghĩa cải
thiện cán cân thanh toán một trong bốn đỉnh của “tứ giác mục tiêu”(BOP, GDP, Lạm
phát, và tỷ lệ thất nghiệp) góp phần tăng dự trữ ngoại tệ ổn định tỷ giá…
Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản cũng như là một trong những
cây công nghiệp dài ngày đem lại nhiều giá trị kinh tế xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam, chỉ đứng sau gạo. Hàng năm kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này chiếm
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
20
Luận văn tốt nghiệp
khoảng 20-25% tương đương mang lại trên 500 triệu USD trong tổng kim ngạch xuất
khẩu hàng hoá nông sản của cả nước. Cà phê luôn nằm trong 10 mặt hàng xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam do đó tạo được các mối quan hệ tốt với các đối tác nước ngoài
tạo thuận lợi cho các mặt hàng khác có khả năng xuất khẩu sang các thị trường này.
Liên minh EU hiện nay với 27 thành viên sẽ là thị trường xuất khẩu tiềm năng cho
Việt Nam xuất khẩu cà phê.
Tăng cao khả năng sản xuất xuất khẩu cà phê trở thành nguồn thu nhập cho một bộ
phận không nhỏ dân cư nước ta, nhất là đối với vùng Tây Nguyên. Cây cà phê đã tạo
việc làm cho khoảng 600 nghìn lao động gián tiếp…
Cà phê hiện đang nắm những vai trò quan trọng trong chiến lược đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam và thị trường xuất khẩu chủ yếu là
thị trường EU trong đó cà phê Việt Nam xuất khẩu có mặt hầu hết trên các thị trường
là thành viên của thị trường EU chính vì với sản lượng xuất khẩu lớn đã đem lại giá
trị kim ngạch góp phần vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Trong
điều kiện là thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Việt Nam đã
cho phép các Ngân hàng Thương mại được làm môi giới giao dịch hợp đồng tương
lai và cà phê là mặt hàng được chọn làm dịch vụ cho doanh nhân buôn bán cà phê
trên thị trường kỳ hạn Luân Đôn với mặt hàng cà phê Robusta và thị trường New
York với cà phê Arabica, dù rằng ở Việt Nam lượng cà phê Arabica là không đáng
kể. Cà phê là một trong những mặt hàng đầu tiên để thực hiện chủ trương khắc phục
những bất cập trong việc quy hoạch phát triển ngành hàng không theo kịp diễn biến
của thị trường trong nước và thế giới việc lựa chọn nhằm nâng cao hiệu quả xuất
khẩu nông sản và tránh thiệt hại cho người nông dân. Các nước Đức, Anh, Pháp và
Hà Lan luôn là những thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam trong khối
EU và với tốc độ tăng trưởng trung bình 20-30%/ năm.
1.5 Bài học từ kinh nghiệm phát triển ngành cà phê của Braxin
Braxin là một quốc gia có lịch sử trồng trọt, chế biến và tiêu thụ cà phê từ thế
kỷ 17, phát triển mạnh từ thập kỷ 20 cho đến nay. Trước đây, cà phê chiếm tới 80%
tổng thu nhập từ xuất khẩu, nhưng hiện nay chỉ còn là 20% do giá trị xuất khẩu của
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
21
Luận văn tốt nghiệp
các ngành khác tăng mạnh. Mặc dù vị trí của ngành cà phê giảm tương đối trong cơ
cấu xuất khẩu, nhưng Braxin vẫn là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, với sản
lượng tương đối ổn định. Việt Nam tuy là nước lớn thứ 2 về sản lượng cà phê xuất
khẩu sau Braxin, nhưng khoảng cách của nước ta với Braxin lại quá xa, trong khi đó
với các nước xếp thứ hạng sau thì khoảng cách này lại rất nhỏ và có thể bị vượt lên
bất cứ lúc nào. Lấy ví dụ minh họa về khoảng cách này giữa 3 nước đứng đầu trong
top các nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới ta thấy rất rõ:
Quốc gia Niên vụ 2002 2003 2004 2005
Brasil (R/A) T.4-T.3 48.480 28.820 39.272 32.944
Việt Nam (R/A) T.10-T.9 11.555 15.230 13.844 11.000
Colombia (A) T.10-T.9 11.889 11.197 11.405 11.550
Trong bảng trên ta có thể thấy có những niên vụ sản lượng cà phê xuất khẩu
của Colombia đã vượt Việt Nam như niên vụ 2002 và 2005. Đồng thời để vượt được
Braxin vươn lên vị trí đứng đầu đối với Việt Nam là một điều vô cùng khó khăn. Vậy
làm thế nào để ngành sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam phát triển một cách bền
vững và phát huy được tối đa thế mạnh đang là vấn đề đặt ra đối với các cấp lãnh đạo
cũng như bản thân các doanh nghiệp tham gia vào họat động này. Với cương vị là
một nước đi sau chúng ta có thể học được những bài học quý báu từ quốc gia Braxin
và áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách linh hoạt vào hoàn cảnh và điều kiện của
Việt Nam.
Những biện pháp mà Braxin đã áp dụng để thúc đấy phát triển ngành cà phê
một cách có hiệu quả đó là:
Thứ nhất: Braxin có hệ thống giám sát nguồn cung cà phê hiệu quả, để đưa ra
thông tin và dự báo thị trường cà phê chính xác, được công bố qua Hội thảo triển
vọng thị trường được tổ chức hàng năm tại Braxin. Hoạt động này là vô cùng quan
trọng nhằm phục vụ các quyết định chính sách, sản xuất và đầu tư cho các tác nhân.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
22
Luận văn tốt nghiệp
Học tập kinh nghiệm này, đầu năm 2007, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển
Nông Nghiệp –Nông Thôn cũng đã tổ chức thành công hội thảo triển vọng thị trường
cho ngành cà phê lần đầu tiên ở Việt Nam.
Thứ hai: Braxin có hệ thống nghiên cứu khoa học rất tốt do Chính phủ đầu tư
toàn bộ. Hệ thống này nghiên chuyên nghiên cứu để tìm ra những loại giống tốt và
đồng bộ, quy trình, kỹ thuật sản xuất và chế biến tiên tiến. Nhờ vậy mà mặc dù điều
kiện đất đai của nước này chưa hẳn đã tốt hơn Việt Nam nhưng sản lượng và chất
lượng thì vượt xa nước ta. Để phát triển ngành cà phê bền vững lâu dài thì Việt Nam
nên mạnh dạn đầu tư cho hoạt động này và đồng bộ hóa tiêu chuẩn về cà phê xuất
khẩu.
Thứ ba: Braxin đã triển khai chương trình xúc tiến thương mại toàn diện trong
nước từ thập kỷ 80 của thế kỷ 20. Nhờ họat động này mà sản lượng cà phê sản xuất
ra không chỉ đứng đầu thế giới về xuất khẩu mà lượng tiêu thụ nội địa của cà phê
Braxin cũng đứng thứ 2 thế giới sau Mỹ. Với lượng tiêu thụ trong nước chiếm gần
50% sản lượng sản xuất ra đã giúp giảm bớt sự phụ thuộc và thị trường bất ổn trên
thế giới, Braxin luôn giữ vững vị thế của mình trong mặt hàng này. Đây là một kinh
nghiệm rất tốt mà Việt Nam nên học tập ngay bởi hoạt động xuất khẩu cà phê của
Việt Nam hiện đang phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới.
Thứ tư: Braxin có sự phân công công việc rất rõ ràng, cụ thể trong toàn bộ quá
trình tạo ra sản phẩm để xuất khẩu, điều này vừa giúp nâng cao chất lượng cà phê
đồng thời tạo ra sự thuận lợi, thông suốt trong từ khâu sản xuất đến khâu xuất khẩu
sản phẩm.
Ngành cà phê của Braxin có 4 nhóm tổ chức chính:
+ Tổ chức của các nhà sản xuất (bao gồm các nhà sản xuất nhỏ lẻ và các hợp
tác xã)
+ Tổ chức của các nhà rang xay
+ Tổ chức của các nhà sản xuất cà phê hòa tan
+Tổ chức của các nhà xuất khẩu.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
23
Luận văn tốt nghiệp
Các tổ chức ngành hàng này đại diện cho từng nhóm người khác nhau, tham
gia vào quá trình:
+Thảo luận, hoạch định và thực hiện chính sách;
+ Xác định, điều chỉnh, giám sát và đánh giá nghiên cứu kỹ thuật cà phê,
thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, tăng cường chất lượng cà phê. Bộ
Nông nghiệp Braxin có chức năng nghiên cứu, hoạch định chính sách, chịu trách
nhiệm về các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống bệnh dịch.
Việc thực hiện được như Braxin đối với Việt Nam không phải là dễ và có thể thực
hiện trong một thời gian ngắn, song đây là điều mà các nhà hoạch định chính sách
nên hướng tới.
Thứ năm: Braxin xây dựng, phát triển hệ thống hợp tác xã ngành hàng cà phê
hoạt động rất hiệu quả và nhịp nhàng. Sản xuất cà phê của hợp tác xã chiếm tới 35%
tổng sản lượng cà phê của cả nước. Hợp tác xã có hệ thống hoàn chỉnh bao gồm kho
chứa, làm sạch, phân loại, đánh bóng, pha trộn hạt cà phê và buôn bán trực tiếp. Mỗi
vụ các chuyên gia có thể tới thăm 1 trang trại khoảng 4 lần để hướng dẫn kỹ thuật
mới, kiểm tra quy trình sản xuất đến thu hoạch, phát hiện vấn đề và giải quyết khó
khăn khi cần thiết. Họat động này ở Việt Nam chưa có, các cơ sở sản xuất cà phê ở
Việt Nam còn khó đơn lẻ, manh mún, không có tiêu chuẩn đồng bộ dẫn đến tình
trạng chất lượng kém và không đồng đều của cà phê xuất khẩu. Đây cũng là bài học
mà Việt Nam nên áp dụng, chúng ta có thể không rập khuôn lại của Braxin mà nên
tập trung các cơ sở sản xuất này lại, lập ra ban kiểm tra, kiểm định và những tiêu
chuẩn chung trong toàn bộ quá trình sản xuất cà phê xuất khẩu của nước ta.
Ngoài ra: Braxin còn có các tổ chức hỗ trợ khác như Nhóm các tổ chức nghiên
cứu cà phê (Coffee Research Consortium), chịu trách nhiệm nghiên cứu và chuyển
giao các vấn đề kỹ thuật cho cà phê, bao gồm nhiều tổ chức nghiên cứu khác nhau
như tổ chức nghiên cứu nông nghiệp của chính phủ (Embrapa – điều phối của nhóm),
các đơn vị nghiên cứu của các trường đại học, các tổ chức phi chính phủ...Bên cạnh
các tổ chức nghiên cứu kỹ thuật cà phê, Braxin còn có tổ chức nghiên cứu kinh tế - xã
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
24
Luận văn tốt nghiệp
hội ngành hàng (Coffee Intelligence Center), chịu trách nhiệm nghiên cứu, dự báo,
cung cấp thông tin thị trường cà phê thế giới và Braxin cho các tác nhân khác nhau.
Điều phối toàn bộ hoạt hoạt động của các tổ chức trên là Hội đồng Cà phê
Quốc gia (CNC), có văn phòng thường trực (Cục cà phê) đặt tại Bộ Nông nghiệp
Braxin. Trách nhiệm chính của Hội đồng là điều phối toàn bộ hoạt động của ngành
hàng, đưa ra các định hướng chính sách trên cơ sở tham vấn các thành viên đại diện,
xác định các ưu tiên nghiên cứu và phân bổ vốn cho các hoạt động nghiên cứu và
chuyển giao cũng như các chương trình khác như xúc tiến thương mại trong nước,
nâng cao chất lượng cà phê, bảo vệ môi trường...
Qua nghiên cứu mô hình sản xuất, nghiên cứu, thị trường cà phê của Braxin
cho thấy Việt Nam cần sớm thành lập Ban điều phối hoạt động trong ngành cà phê.
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ EU VÀ THỰC
TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
2.1 Tình hình và quy định về nhập khẩu cà phê tại thị trường EU
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×