Tải bản đầy đủ

Giải quyết tranh chấp đất đai giữa gia đình ông Ma Doãn Đạt và con nuôi là Ma Doãn Đề tại thôn Nà Han, xã Minh Quang, huyện Chiêm Hóa

MỞ ĐẦU
Giải quyết khiếu nại, tố cáo về tranh chấp đất đai là một hoạt động quan
trọng đối với các cấp, các ngành chức năng, Đảng ta đã khẳng định: “Đất đai là
một trong bốn nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước trong nền kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN”. Vấn đề đất đai rất “nhạy cảm” và “nóng
bỏng”. Do đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức thực thi công vụ quản lý Nhà nước
về lĩnh vực đất đai, phải có đầy đủ phẩm chất chính trị, nghiệp vụ, năng lực
chuyên môn vững vàng đáp ứng được tình hình sử dụng đất đai thực tế diễn ra
trên địa bàn mình phụ trách, giải quyết tốt mọi công việc phát sinh thấu tình, đạt
lý, đảm bảo công bằng, dân chủ, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tin tưởng,
hạn chế việc khiếu nại kéo dài, tái khiếu và khiếu nại vượt cấp, góp phần ổn
định tình hình chung trên địa bàn huyện Chiêm Hóa.
Trong nền kinh tế thị trường, đất đai là hàng hoá đặc biệt vấn đề đất đai
liên quan đến mọi đối tượng trong xã hội, để ổn định cuộc sống “an cư, lạc
nghiệp”, mỗi một công dân đều mong muốn có một tổ ấm gia đình hoà thuận,
ấm no, hạnh phúc, chung sống đoàn kết với nhau trong một mái ấm gia đình, có
một ngôi nhà của riêng mình đó là một vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm,
giải quyết những khuyết tật của nền kinh tế thị trường làm thay đổi đạo đức, lối
sống của một số bộ phận công dân, họ vì đạt được mục đích của cá nhân mình
mà không từ một thủ đoạn nào, kể cả người thân trong gia đình, nên đã làm phát
sinh những tranh chấp đất đai, khiếu nại kéo dài, phức tạp đòi hỏi việc giải quyết

của các cơ quan có thẩm quyền phải tốn kém nhiều công sức mà đáng ra không
phải có, do đó các cấp uỷ Đảng, chính quyền cần có quan điểm rõ ràng, khi giải
quyết công việc liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân phải cụ
thể, thận trọng đúng Pháp luật.
Với mong muốn đề cập đến một trong những thực trạng trên đây, bản thân
đã chọn đề tài tình huống “Giải quyết tranh chấp đất đai giữa gia đình ông Ma
Doãn Đạt và con nuôi là Ma Doãn Đề tại thôn Nà Han, xã Minh Quang, huyện
Chiêm Hóa” làm tiểu luận tình huống.
Xử lý tình huống cụ thể này, bản thân hy vọng nêu lên được phần nào
nguyên nhân, hậu quả và phương hướng giải quyết dứt điểm vụ việc tranh chấp
đất đai, xuất phát từ lối sống thực dụng, suy thoái đạo đức, ý thức chấp hành
Pháp luật của công dân, sự thiếu trách nhiệm của cán bộ, công chức khi thi hành
công vụ và các cấp chính quyền, các ngành chức năng trong việc cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay trên địa bàn huyện Chiêm Hóa.
Kính mong sự trao đổi, góp ý của thầy, cô giáo để bản thân vận dụng vào
thực tiễn công tác của mình, nhằm làm tốt chức năng tham mưu cho lãnh đạo địa
phương, ngành về công tác giải quyết các vụ tranh chấp, lấn chiếm đất đai khi có
các trường hợp tương tự xảy ra.
2
NỘI DUNG
I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
Trong quá trình là thành viên Ban chỉ đạo cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất huyện Chiêm Hóa được phân công trực tiếp phụ trách xã Minh Quang,
cá nhân tôi đã được tham gia chỉ đạo giải quyết nhiều vụ tranh chấp đất đai xuất
phát từ nhiều nguyên nhân. Trong đó, để lại ấn tượng sâu sắc và nhiều trăn trở
về tinh thần trách nhiệm trong thực thi pháp luật của cán bộ công chức cũng như
sự suy giảm về các giá trị đạo đức trong đời sống đó là những vướng mắc trong
tranh chấp giữa con nuôi và cha mẹ nuôi xuất phát từ việc lợi dụng tín nhiệm.
Sự việc cụ thể như sau:
Ông Ma Doãn Đạt, được bố mẹ để lại cho một mảnh vườn, có nhà ở với
diện tích 960 m
2
tại thôn Nà Han, xã Minh Quang, huyện Chiêm Hóa.
Hiện trạng mảnh vườn như sau:
Ông Ma Doãn Đạt xây dựng gia đình đã lâu nhưng không có con, ông Đạt
đi bộ đội chiến đấu ở chiến trường miền Nam, khi phục viên trở về quê hương,
ông Đạt bàn với vợ nhận một người con nuôi và đặt tên là Ma Doãn Đề; được sự
chăm sóc, nuôi dưỡng của vợ chồng ông Đạt, anh Ma Doãn Đề được ăn học đến
năm 1995 thì lập gia đình.
Năm 1997, để tạo điều kiện cho vợ chồng anh Ma Doãn Đề, thuận lợi
trong việc vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh, ông Ma Doãn Đạt đã viết
giấy chuyển nhượng 500 m
2
cho anh Ma Doãn Đề và đưa Giấy chứng nhận
3
Đường liên thôn
25m
38,4m
quyền sử dụng đất của mình cho anh Đề đi làm thủ tục chuyển nhượng đất. Lợi
dụng sự tín nhiệm của bố mẹ nuôi, anh Ma Doãn Đề đã thay đổi giấy chuyển
nhượng của ông Ma Doãn Đạt viết 500 m
2
thành 960 m
2
, đưa đến các cơ quan có
thẩm quyền nộp và xin làm thủ tục chuyển nhượng đất. Do không kiểm tra, xem
xét đến quyền và lợi ích của người có liên quan, cán bộ, công chức quá tin tưởng
vào giấy tờ của anh Đề xuất trình, nên đã tham mưu cho UBND huyện Chiêm
Hóa ra quyết định thu hồi 960 m
2
đất của ông Ma Doãn Đạt, cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho anh Ma Doãn Đề, trên thửa đất của ông Ma Doãn
Đạt.
Năm 1999, anh Ma Doãn Đề làm nhà trên mảnh đất 500 m
2
mà ông Ma
Doãn Đạt đã viết giấy chuyển nhượng theo thoả thuận, ngôi nhà của ông Đạt
vẫn giữ nguyên, vợ chồng anh Đề ra ở riêng để thuận lợi trong sản xuất kinh
doanh.
Năm 2004, ông Ma Doãn Đạt có ý định chuyển nhượng lại cho người
khác 200 m
2
đất, để lấy tiền sửa chữa lại ngôi nhà cũ của mình, thì mâu thuẫn
giữa hai cha con nảy sinh. Lý do anh Ma Doãn Đề không cho ông Đạt chuyển
nhượng đất và sửa chữa nhà ở, vì toàn bộ thửa đất đã được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Đề. Hai cha con
ông Đạt to tiếng với nhau, gây mất tình cảm cha con cũng như sự đoàn kết trong
nội bộ gia đình, mâu thuẫn giữa hai cha con ngày càng căng thẳng.
Trước tình hình đó, để đảm bảo quyền lợi của mình, được sửa chữa ngôi
nhà mà cha mẹ để lại, ông Ma Doãn Đạt đã làm đơn khiếu nại đến các cơ quan
có chức năng của huyện Chiêm Hóa đề nghị kiểm tra, xác minh làm rõ theo nội
dung trình bày của ông Ma Doãn Đạt là: Năm 1997, ông Đạt chỉ viết giấy
chuyển nhượng đất cho anh Đề diện tích 500 m
2
, vì sao UBND huyện Chiêm
Hóa cấp cho anh Đề Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 960 m
2
, đúng bằng
diện tích thửa đất của ông được cha mẹ để lại.
4
Qua thẩm tra, xác minh, tìm hiểu ban đầu, nguyên nhân sâu xa dẫn đến
tranh chấp đất đai giữa cha con ông Ma Doãn Đạt là do anh Ma Doãn Đề chưa
nhận thức đầy đủ về Pháp luật, lợi dụng sự tín nhiệm của bố mẹ nuôi, làm mất
tình cảm cha con.
Năm 1999, anh Ma Doãn Đề xây dựng nhà mới trên mảnh đất 500 m
2

ông Đạt chuyển nhượng lại. Do điều kiện kinh tế chưa cho phép, nhưng anh Đề
quyết định xây nhà ở kết hợp làm nơi sản xuất hàng mộc thủ công mỹ nghệ của
HTX do anh Đề thành lập. Vì thiếu vốn để xây dựng, nên anh Đề có hỏi mượn


vợ chồng ông Đạt số tiền tiết kiệm mà vợ chồng ông để dành khi về già, thì ông
Ma Doãn Đạt không đồng ý.
Từ đó, vợ chồng anh Đề ít quan tâm đến vợ chồng ông Đạt. Theo như
thoả thuận ban đầu giữa hai cha con ông Đạt, vợ chồng anh Đề có trách nhiệm
chăm sóc vợ chồng ông Đạt khi già yếu, sự việc càng nghiêm trọng hơn khi ông
Đạt định chuyển nhượng 200 m
2
đất, để lấy tiền sửa chữa lại căn nhà mà vợ
chồng ông Đạt đang ở, thì anh Đề cản trở và tuyên bố: Toàn bộ thửa đất 960 m
2
Nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Ma Doãn Đề.
Ông Đạt không có quyền gì trên thửa đất đó nữa…
Việc mâu thuẫn, tranh chấp đất đai giữa cha con ông Ma Doãn Đạt đã
được các tổ chức, chính quyền và đoàn thể thôn Nà Han và xã Minh Quang tổ
chức gặp gỡ hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Từ đó, việc tranh chấp đất
đai giữa cha con ông Đạt ngày càng nghiêm trọng, dẫn đến việc ông Ma Doãn
Đạt làm đơn khiếu nại đề nghị các cơ quan thẩm quyền giải quyết (đơn ghi ngày
20/10/2013)
II. NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA TÌNH HUỐNG
1. Nguyên nhân
Quá trình diễn ra tranh chấp đất đai, giữa cha con ông Ma Doãn Đạt do nhiều
nguyên nhân, trong đó có thể nêu lên một số nguyên nhân chủ yếu sau:
5
1.1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, do công tác quản lý đất đai của các cấp chính quyền, các ngành
chức năng còn buông lõng, thiếu chặt chẽ và cương quyết, nên đã để xảy ra tình
trạng tranh chấp đất đai nêu trên.
Thứ hai, công tác hòa giải tại thôn Nà Han xã Minh Quang hiệu quả chưa cao
1.2. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, do nhận thức và ý thức chấp hành Pháp luật của anh Ma Doãn
Đề, từ sự ít hiểu biết về Pháp luật đất đai, nên anh Đề đã lợi dụng sự tín nhiệm
của bố mẹ nuôi.
Thứ hai, do sự thiếu hiểu biết về Luật đất đai của vợ chồng ông Ma Doãn
Đạt, sau khi viết Giấy chuyển nhượng đất và làm thủ tục giao quyền sử dụng đất
cho con, không lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình, nên không
biết được việc làm sai trái của con mình để kịp thời xử lý.
Thứ ba, do việc làm thiếu trách nhiệm của cán bộ, công chức các cấp
trong thi hành công vụ, đã làm thủ tục chuyển nhượng đất cho anh Đề mà chưa
xem xét đến những người có quyền và lợi ích liên quan, không thực hiện đầy đủ
quy trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà pháp luật đã quy định.
Thứ tư, do mâu thuẫn gia đình ngày càng nghiêm trọng, căng thẳng, gay
gắt không thể tự giải quyết được.
2. Hậu quả tình huống có thể xảy ra.
Trong quá trình tiếp nhận và xử lý, cán bộ, công chức không làm tròn
trách nhiệm của mình trong việc làm thủ tục chuyển nhượng đất đai, giữa cha
con ông Ma Doãn Đạt; anh Ma Doãn Đề được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất 960 m
2
, hoàn toàn không đúng các quy định của Pháp luật về đất đai,
dẫn đến tranh chấp; làm mất uy tín của các cơ quan quản lý Nhà nước, giảm sút
lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền, làm suy giảm tính pháp lý
của Pháp luật XHCN, kỷ cương phép nước không được thực hiện nghiêm túc.
6
Những hộ gia đình khác cũng có thể làm được như vậy, nếu sự việc tại gia đình
ông Ma Doãn Đạt không được giải quyết dứt điểm có tình, có lý đúng Pháp luật.
Lấy lý do Nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình
mà vợ chồng anh Ma Doãn Đề không cho bố mẹ nuôi chuyển nhượng đất và sửa
chữa nhà ở. Việc làm đó là trái với đạo lý làm con, không đúng với lương tâm
trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ, làm ảnh hưởng không tốt đến tâm lý
chung của xã hội.
Nếu sự việc tranh chấp đất đai, giữa cha con ông Ma Doãn Đạt không
được giải quyết dứt điểm theo hướng “thấu tình, đạt lý”. Thì việc khiếu nại sẽ
kéo dài, làm ảnh hưởng đến cuộc sống chung của những người liên quan, của
gia đình cha con ông Đạt và gây mất ổn định tình hình an ninh – trật tự xã hội
trên địa bàn khu dân cư.
III. MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG.
Từ sự việc trên đã đặt ra một số mục tiêu cơ bản cho việc giải quyết ở góc
độ quản lý hành chính Nhà nước như sau:
Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp đất đai phải được thực hiện một cách
nhanh chóng, chính xác, đúng Pháp luật, không gây mất tình cảm cha con trong
gia đình và không làm mất ổn định tình hình trong khu vực.
Thứ hai, phải khắc phục được tình trạng tranh chấp quyền sử dụng đất
trong tình hình hiện nay, nhằm đảm bảo tăng cường pháp chế XHCN trong lĩnh
vực quản lý và sử dụng đất đai, củng cố niềm tin của nhân dân đối với chính
quyền các cấp.
Thứ ba, phải bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của công dân, mà
trực tiếp là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cha con ông Ma Doãn Đạt,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành Pháp luật.
7
Thứ tư, phải giữ vững truyền thống đạo đức của dân tộc, xây dựng nếp
sống văn hoá mới, nêu cao tinh thần đoàn kết, đùm bọc thương yêu nhau trong
gia đình cũng như trong toàn xã hội.
IV. XÂY DỰNG, PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN GIẢI
QUYẾT TÌNH HUỐNG
Từ tình huống trên, để giải quyết vụ việc theo đúng mục tiêu đặt ra, có thể
nêu lên 03 phương án giải quyết sau đây:
1. Phương án 1: Hoà giải.
Căn cứ vào Điều 135 Luật đất đai năm 2003 quy định về việc hòa giải
tranh chấp đất đai thì Nhà nước ta khuyến khích thực hiện công tác hòa giải để
giải quyết tranh chấp đất đai giữa các hộ dân, giữa các cá nhân trong hộ gia
đình…
Trong vụ việc này, nguyên nhân chính là do mâu thuẫn trong nội bộ gia
đình không được giải quyết êm thấm nên đã xay ra tranh chấp. Khi gia đình hoà
thuận, đùm bọc yêu quý lẫn nhau, nếu được sự quan tâm của cấp uỷ, chính
quyền và các đoàn thể thôn, xã làm tốt công tác hòa giải, giáo dục giải thích,
thuyết phục những việc đúng, sai, những điều hay, lẽ phải thì chúng ta cũng có
thể áp dụng phương pháp hòa giải.
*Về ưu điểm:
Tạo được tình đoàn kết cha con, đùm bọc yêu thương lẫn nhau, tôn trọng
nhau trong gia đình và cùng nhau xây dựng: “gia đình văn hoá”. Qua phân tích
việc tranh chấp đất đai và mâu thuẫn giữa cha con ông Ma Doãn Đạt, chỉ ra
những việc làm đúng, sai của từng người, giúp các thành viên trong gia đình
nhìn nhận thấu đáo những hành vi sai trái của mình và hiểu rõ nhau hơn để cùng
chia sẻ và thông cảm cho nhau.
* Về nhược điểm:
8
Nếu áp dụng phương pháp hòa giải này thì việc giải quyết tranh chấp đất
đai giữa cha con ông Ma Doãn Đạt, chỉ dừng lại ở mức độ tự giải quyết trong
nội bộ gia đình. Quyền sử dụng đất của các thành viên trong nội bộ gia đình
chưa được phân định một cách rõ ràng, đúng Pháp luật, chưa được các cơ quan
có thẩm quyền thừa nhận. Việc tranh chấp đất đai có thể tiếp tục diễn ra nếu giải
quyết tranh chấp không dứt điểm, mâu thuẫn gia đình có thể tái diễn lại.
Đối với tình huống này, việc áp dụng phương án hòa giải là không có tính
khả thi vì mâu thuẫn gia đình giữa cha con ông Ma Doãn Đạt đã khá nghiêm
trọng và tranh chấp đất đai có thể lại tiếp diễn.
2. Phương án 2: Giữ nguyên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
mang tên Ma Doãn Đề.
Trong thời điểm anh Ma Doãn Đề đi làm thủ tục chuyển nhượng đất, ông
Đạt không hay biết việc anh Đề đã thay giấy chuyển nhượng mà ông đã viết.
Từ khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, vợ chồng anh Đề luôn làm tròn nghĩa vụ sử dụng đất đối với
Nhà nước, vợ chồng anh Đề cũng là thành viên trong gia đình ông Đạt nên vợ
chồng anh Đề được quyền sử dụng đất.
Việc giải quyết tình huống này, theo phương án giữ nguyên Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Đề thì có những ưu, khuyết điểm sau:
*Về ưu điểm:
Vợ chồng anh Ma Doãn Đề được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên toàn bộ diện tích 960 m
2
.
- Ổn định cuộc sống gia đình anh Ma Doãn Đề để phát triển sản xuất.
- Không gây xáo trộn về việc hoạch định kế hoạch sản xuất của vợ chồng
anh Đề.
9
- Sâu xa hơn, nếu là hai cha con được hòa giải thấu tình, đạt lý. Người con
hiểu ra lỗi của mình và luôn làm tròn trách nhiệm bằng đạo đức, lương tâm,
cũng như ý thức rõ được những hành vi của người con mà pháp luật đã quy
định. Trong gia đình luôn không để xảy ra những mâu thuẫn tương tự đẩy đến
giải quyết bằng những quyết định hành chính hay tại cơ quan tòa án.
* Về nhược điểm:
Nếu giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Ma Doãn
Đề, thì ông Ma Doãn Đạt không có quyền chuyển nhượng đất, muốn sửa chữa lại
nhà ở của mình ông Đạt phải xin ý kiến của anh Đề, chỉ được sửa chữa lại nhà ở
của mình khi được sự đồng ý của anh Đề, người có quyền sử dụng đất hợp pháp.
Các quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đạt bị xâm phạm; thiệt hại về kinh
tế nếu ông Đạt không chuyển nhượng được 200 m
2
đất, ở trong tổng số 960m
2
đất mà ông là chủ sở hữu hợp pháp. Ông sẽ không có được điều kiện và vật chất
(tiền bạc) để tu sửa lại nhà cửa của mình.
Những công dân khác sẽ bắt chước sự việc này, tạo nên mâu thuẫn trong
gia đình, cũng như dư luận xã hội, con cái lợi dụng sự tín nhiệm của cha mẹ, để
dành quyền sử dụng đất, buộc cha mẹ phải xin ý kiến của mình, khi quyết định
một vấn đề liên quan đến đất đai mà đáng ra là quyền của cha mẹ.
Như vậy, căn cứ vào tính chất của tình huống, nếu giữ nguyên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Ma Doãn Đề, thì không có tính khả
thi vì phương án này chưa giải quyết được mục tiêu đã đặt ra là ông Ma Doãn
Đạt phải có quyền sử dụng đất. Mặt khác, phương án này khuyết điểm nhiều hơn
ưu điểm, luôn tiềm ẩn làm nảy sinh việc tái khiếu kiện.
3. Phương án 3: Chia tách quyền sử dụng đất.
Theo Điều 136 Luật đất đai quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp
đất đai, Điều 138 Luật đất đai quy định giải quyết khiếu nại về đất đai thì khi
nhận được đơn khiếu nại của ông Ma Doãn Đạt thuộc thẩm quyền giải quyết của
10
Chủ tịch UBND huyện Chiêm Hóa; các ngành chức năng tham mưu cho Chủ
tịch UBND huyện ra Quyết định thụ lý giải quyết.
- Thu hồi quyết định giao quyền sử dụng đất cho anh Ma Doãn Đề trái
quy định, và thực hiện việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Ma Doãn Đạt và anh Ma Doãn Đề, theo đúng luật đất đai hiện hành.
Việc giải quyết tình huống này theo phương án chia tách quyền sử dụng
đất quay lại theo trình tự ban đầu, xuất phát từ việc ông Ma Doãn Đạt ghi Giấy
chuyển nhượng cho con là Ma Doãn Đề. 500 m
2
(có Giấy chuyển nhượng) thì có
những ưu, khuyết điểm sau:
*Về ưu điểm:
Bảo vệ được quyền lợi cho công dân, cụ thể là ông Ma Doãn Đạt có được
quyền sử dụng đất, đảm bảo tính thống nhất của Pháp luật, tăng cường Pháp chế
XHCN, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và
sử dụng đất đai, giải quyết nhanh chóng, dứt khoát các hậu quả của vụ khiếu nại,
không làm rắc rối thêm tình hình khu vực, tạo được niềm tin của nhân dân đối
với các cấp chính quyền trong việc giải quyết khiếu nại, cũng như trong lĩnh vực
quản lý và sử dụng đất đai, qua đó giáo dục ý thức Pháp luật cho công dân.
Tạo cơ sở thuận lợi về mặt pháp lý, tâm lý xã hội để hạn chế những việc
làm sai trái về đạo đức, lối sống nhằm làm giảm những quan hệ phát sinh gây
rắc rối cho người ra quyết định và người thi hành.
Giải quyết được mâu thuẫn trong gia đình, bảo vệ được quyền lợi chính
đáng của công dân, phù hợp với truyền thống đạo đức, phong tục tập quán và
thực tế cuộc sống ở trong khu vực này.
*Về nhược điểm:
Có thể vợ chồng ông Ma Doãn Đạt, anh Ma Doãn Đề không đồng ý với lý
do sau:
11
- Ông Ma Doãn Đạt yêu cầu trả lại quyền sử dụng đất 960 m
2
không
chuyển nhượng cho người con 500m
2
như trước đây vì đất này được cha ông để
lại, mà đứa con nuôi “bất hiếu” đã gây nên những mâu thuẫn, xung khắc trong
gia đình, ông muốn toàn quyền quyết định việc sử dụng đất của ông. Và ông sẵn
sàng đền bù giá trị trên đất và những thiệt hại khác của người con gây dựng.
- Anh Ma Doãn Đề, không đồng ý bởi lập luận trước đây anh được
chuyển nhượng 500 m
2
, nay thực hiện chia tách sẽ làm ảnh hưởng đến cơ sở sản
xuất, kế hoạch sản xuất, một số hoạch định sản xuất kinh doanh bị đình trệ, làm
đảo lộn cuộc sống gia đình và những người lao động đã gắn bó với Hợp tác xã
của anh…
Nếu như chấp nhận việc chia tách theo như xuất phát điểm ban đầu
(chuyển nhượng 500 m
2
) thì thuận lợi nhất, mọi người sẽ cảm thông nhau hơn,
có trách nhiệm và ý thức pháp luật hơn. Còn chia tách theo quyền quy định thì
quan hệ cha con được tuân theo pháp luật, có hạn chế hơn trong quan hệ đạo đức
truyền thống.
Như vậy, qua phân tích ba phương án, ta thấy phương án thứ ba là
phương án có tính khả thi nhất, có nhiều ưu điểm nhất, giải quyết tốt mục tiêu đã
đặt ra, giải quyết được quyền lợi của công dân; tạo điều kiện thuận lợi trong việc
thi hành Pháp luật. Chấm dứt được tranh chấp, khiếu nại kéo dài, đem lại sự
đoàn kết, hoà thuận trong gia đình theo pháp luật quy định, hạn chế được những
quan hệ phát sinh cho người Quyết định và người thi hành. Nên cần chọn
phương án ba là phương án để giải quyết tình huống này và lập kế hoạch tổ chức
thực hiện phương án đã chọn.
Sơ đồ hiện trạng đất đang có tranh chấp như sau:
12
Đường liên thôn
25m
38,4m
Nhà ông Đạt Nhà anh Đề
18,4m
20m
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN ĐÃ LỰA CHỌN.
Căn cứ vào luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (sửa đổi năm 2004) chúng ta
tổ chức thực hiện phương án như sau:
1. Các bước tiến hành và phân công trách nhiệm
Chủ tịch UBND huyện Chiêm Hóa ra Quyết định thụ lý giải quyết đơn
khiếu nại của ông Ma Doãn Đạt và thành lập đoàn thanh tra giải quyết khiếu nại
và giao trách nhiệm cho Chánh thanh tra huyện làm trưởng đoàn, một số thành
viên có nghiệp vụ về quản lý đất đai, nghiệp vụ thanh tra. (Trưởng đoàn thanh
tra có thể là Phó Chánh thanh tra, thanh tra viên hay Trưởng phòng Tài nguyên
và môi trường) phối hợp với phòng Nông nghiệp - Địa chính và các phòng ban
liên quan thẩm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị giúp Chủ tịch UBND huyện
giải quyết đơn khiếu nại trên theo đúng Pháp luật (có thể không thành lập đoàn
nếu xét thấy sự việc không phức tạp).
- Thực hiện Quyết định của Chủ tịch UBND huyện, Chánh Thanh tra
huyện - Trưởng đoàn thanh tra bàn bạc, thống nhất với các phòng, ban liên quan
tiến hành thẩm tra, xác minh kết luận, kiến nghị các vấn đề theo đơn khiếu nại.
- Chánh Thanh tra huyện – Trưởng đoàn lập chương trình, kế hoạch thẩm
tra, xác minh trình Chủ tịch UBND huyện phê duyệt và tổ chức họp đoàn thanh
tra bàn thực hiện chương trình kế hoạch, thực hiện quyết định của Chủ tịch
UBND huyện Chiêm Hóa.
- Chủ tịch UBND huyện gửi thông báo cho đối tượng khiếu nại biết.
- Trưởng đoàn thanh tra công bố quyết định thụ lý giải quyết khiếu nại với
đối tượng khiếu nại và người bị khiếu nại, các thành phần liên quan, UBND xã
Minh Quangà tiến hành thẩm tra xác minh theo chương trình kế hoạch mà đoàn
thanh tra đặt ra.
13
- Trưởng đoàn thanh tra báo cáo kết quả thanh tra cho Chủ tịch UBND
huyện Chiêm Hóa bằng văn bản (có thể báo cáo trực tiếp trước khi có văn bản
chính thức).
- Chủ tịch UBND huyện kết luận về giải quyết khiếu nại của ông Ma
Doãn Đạt.
- Chủ tịch UBND huyện xem xét các yếu tố pháp lý như đã nêu ở trên và
báo cáo kết quả của trưởng đoàn thanh tra, kết luận thanh tra để ban hành quyết
định giải quyết đơn khiếu nại của ông Ma Doãn Đạt. Trong đó có nội dung thu
hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Đề và giao trách nhiệm cho các
bộ phận có liên quan tiến hành làm các thủ tục cần thiết để chia tách, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo yêu cầu đã được sự thoả thuận của cha con ông
Ma Doãn Đạt và các nội dung theo quy định của quyết định giải quyết khiếu nại
lần đầu.
- Hộ ông Ma Doãn Đạt và Ma Doãn Đề hoàn tất các thủ tục hành chính về
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tách hộ. Cán bộ công chức các phòng ban
liên quan và cán bộ địa chính xã Minh Quang tiến hành đo đạc, cắm mốc giới
theo đúng diện tích mà cha con ông Đạt đã thoả thuận để tham mưu giúp Chủ
tịch UBND huyện ra quyết định giao quyền sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ ông Đạt, anh Đề theo đúng quy định của Pháp luật, có
lô, thửa, định hướng và diện tích đất của ông Đạt và anh Đề.
- Sau khi có quyết định và Giấy cấp quyền sử dụng đất, phòng nông
nghiệp - địa chính cùng với UBND xã Minh Quang tiến hành giao đất thực địa
cho ông Đạt và anh Đề, đồng thời trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông Đạt và anh Đề.
- Giao Chánh Thanh tra huyện, phòng Nông nghiệp - Địa chính theo dõi,
kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch
UBND huyện, lập báo cáo gửi cấp có thẩm quyền và kiểm điểm rút kinh
nghiệm.
14
2. Lịch thời gian giải quyết phương án đã lựa chọn.
Thời gian Nội dung công việc
Tổ chức, cá nhân liên
quan (Người thực
hiện)
Địa điểm
Ghi chú
(Hình
thức)
1 2 3 4 5
10/11/2013 Quyết định số /QĐ-CT
về việc thụ lý và thành lập
đoàn thanh tra giải quyết
đơn khiếu nại của ông Ma
Doãn Đạt; gửi thông báo
cho Ma Doãn Đạt
Chủ tịch UBND huyện
Chiêm Hóa
UBND huyện
Chiêm Hóa
Bằng văn
bản
18/11/2013 Họp đoàn thanh tra bàn
chương trình, kế hoạch
phân công trách nhiệm
thực hiện Quyết định
Các thành viên đoàn
Thanh tra
UBND huyện
Chiêm Hóa
Bằng văn
bản
22/11/2013 Công bố Quyết định
Thanh tra giải quyết khiếu
nại của ông Ma Doãn Đạt
Đoàn Thanh tra, UBND
xã Minh Quang và đối
tượng thanh tra
UBND V Bằng văn
bản
23/11/2013 Thẩm tra, xác minh sự
việc
Đoàn Thanh tra Nơi xảy ra sự
việc (nhà ông
Đạt)
Bằng văn
bản
28/11/2013 Trưởng đoàn Thanh tra
báo cáo kết quả của đoàn
Thanh tra với Chủ tịch
UBND huyện Chiêm Hóa
Lãnh đạo huyện Chiêm
Hóa, Trưởng đoàn TT,
Thủ trưởng các phòng
ban liên quan, thành
viên đoàn TT
UBND huyện
Chiêm Hóa
Bằng văn
bản
02/12/2013 Kết luận của Chủ tịch
UBND huyện về kết quả
TT giải quyết khiếu nại
của ông Đạt
Chủ tịch UBND huyện UBND huyện
Chiêm Hóa
Bằng văn
bản
1 2 3 4 5
03/12/2013 Quyết định của Chủ tịch
UBND huyện Chiêm Hóa
về việc giải quyết khiếu
Chủ tịch UBND huyện UBND huyện
Chiêm Hóa
Bằng văn
bản
15
nại của ông Đạt
04/12/2013 Hoàn thành hồ sơ giải
quyết khiếu nại, lưu trữ,
báo cáo cấp có thẩm
quyền
Chánh Thanh tra huyện Thanh tra huyện Bằng văn
bản
10/12/2013 Tổ chức thực hiện Quyết
định giải quyết khiếu nại
của Chủ tịch UBND
huyện Chiêm Hóa
Phòng Nông nghiệp -
Địa chính, UBND xã
Minh Quang, cha con
ông Đạt và các phòng
ban liên quan
Nơi xảy ra sự
việc, (nhà ông
Đạt)
Bằng văn
bản
15/12/2013
đến
25/12/2013
Quyết định giao quyền sử
dụng đất cho cha con ông
Đạt, anh Đề, các thủ tục
cấp GCNQSDĐ
Chủ tịch UBND
huyện Chiêm Hóa
UBND huyện
Chiêm Hóa
Bằng văn
bản
26/12/2013 Giao đất thực địa, trao
GCNQSDĐ cho cha con
ông Đạt,
anh Đề
Phòng nông nghiệp -
Địa chính, UBND xã
Minh Quang, cha con
ông Đạt, anh Đề
Nơi xảy ra sự
việc, (nhà ông
Đạt)
Bằng văn
bản
27/04/2013 Hoàn chỉnh việc xử lý tình
huống, báo cáo cấp có
thẩm quyền, rút kinh
nghiệm trong việc quản lý,
sử dụng đất đai tại huyện
Chiêm Hóa
Lãnh đạo huyện , Đoàn
Thanh tra, các phòng
ban liên quan,
UBND xã Minh Quang
UBND huyện
Chiêm Hóa
Bằng văn
bản

16
KẾT LUẬN
Qua quá trình phân tích nguyên nhân, hậu quả và các phương án xử lý
tình huống cụ thể trên đây, có thể đưa ra một số kiến nghị sau đây:
1. Trong công tác quản lý đất đai một số cán bộ, công chức còn thiếu
trách nhiệm trong khi thi hành công vụ, công tác quản lý, sử dụng đất đai còn
buông lỏng, nên cần tăng cường công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nắm chắc Pháp luật, đặc biệt là công
tác quản lý và sử dụng đất đai hiện nay, đòi hỏi cán bộ, công chức phải có phẩm
chất đạo đức, có năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới.
2. Đổi mới phong cách làm việc của các cấp, các ngành quan tâm tạo môi
trường thuận lợi cho cơ sở hoạt động có hiệu quả, gắn bó với nhân dân, để hiểu
được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, mới giải quyết công việc một cách
“thấu tình, đạt lý”. Vì qua tình huống nêu trên là một điển hình của lề lối làm
việc qua loa, không sâu sát quần chúng nên hậu quả của việc tranh chấp đất đai
đã xảy ra tại thôn Nà Han, xã Minh Quang, huyện Chiêm Hóa.
3. Cần tổ chức tập huấn nghiệp vụ về công tác hòa giải cho cán bộ cơ sở,
nhất là cán bộ thôn bản để các hòa giải viên đủ năng lực, giáo dục, thuyết phục
các đối tượng tranh chấp làm nảy sinh sự việc khiếu kiện khi còn trong trứng
nước, nếu làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở sẽ hạn chế được các đơn thư khiếu
nại, tố cáo vượt cấp, vượt thẩm quyền giải quyết.
4. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục Pháp luật cho nhân dân để
mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng,
Pháp luật của Nhà nước thực hiện nếp sông văn minh, gia đình văn hoá, giữ
vững truyền thống của dân tộc “kính trên, nhường dưới” mọi người dân đều phải
sống theo Hiến pháp và Pháp luật. Trong đó, có luật đất đai.
Hoàn thiện quy chế dân chủ ở cơ sở, sửa đổi những quy định không phù
hợp, bổ sung những điều kiện và phương tiện kỹ thuật, để đưa việc thực hiện
17
quy chế dân chủ ở cơ sở đi vào nền nếp, thường xuyên. Tạo niềm tin cho nhân
dân đối với chính quyền các cấp.
5. Tăng cường công tác Thanh tra, kiểm tra về việc thực thi Pháp luật đối
với các cấp, các ngành, nhất là công tác quản lý và sử dụng đất, nhằm phát hiện,
chấn chỉnh kịp thời các sai phạm trong quản lý Nhà nước về đất đai, đồng thời
qua Thanh tra, kiểm tra, kiến nghị đề xuất các biện pháp để công tác quản lý và sử
dụng đất đai ngày càng tốt hơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo đạt hiệu quả cao, cụ
thể: Trường hợp tranh chấp đất đai của cha con ông Đạt là một ví dụ điển hình.
Qua phân tích và giải quyết tình huống nêu trên, chúng ta thấy được thực
trạng quản lý và sử dụng đất hiện nay, hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp đất
đai nêu trên, góp phần nâng cao hiệu lực của hoạt động quản lý Nhà nước, tổ chức
và công dân nâng cao ý thức chấp hành Pháp luật, truyền thống đạo đức của dân
tộc Việt Nam trong nhân dân; hạn chế những khuyết tật của nền kinh tế thị
trường. Làm được như vậy sẽ tạo được môi trường chính trị – xã hội ổn định, lành
mạnh, nhân dân tin tưởng và chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, Pháp
luật của Nhà nước, đoàn kết một lòng phấn đấu đưa đất nước ta thực hiện thắng
lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến pháp năm 1992 (Hiến pháp sửa đổi năm 2001).
2. Luật đất đai, năm 2003.
3. Luật Thanh tra, năm 2004.
4. Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (Luật khiếu nại, tố cáo sửa đổi năm 2004).
5. Bộ luật dân sự, năm 1996.
6. Tài liệu bồi dưỡng về quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên –
Học viện chính trị Quốc gia, năm 2002
7. Nghị định 41/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra.
8. Nghị định 53/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật khiếu nại, tố cáo.

19
MỤC LỤC
M UỞĐẦ 1
N I DUNGỘ 3
I. MÔ T TÌNH HU NGẢ Ố 3
II. NGUYÊN NHÂN VÀ H U QU C A TÌNH HU NGẬ Ả Ủ Ố 5
1. Nguyên nhân 5
1.1. Nguyên nhân khách quan 6
1.2. Nguyên nhân ch quanủ 6
2. H u qu tình hu ng có th x y ra.ậ ả ố ể ả 6
III. M C TIÊU X LÝ TÌNH HU NG.Ụ Ử Ố 7
IV. XÂY D NG, PHÂN T CH VÀ L A CH N PH NG ÁN GI I QUY T Ự Í Ự Ọ ƯƠ Ả Ế
TÌNH HU NGỐ 8
1. Ph ng án 1: Ho gi i.ươ à ả 8
2. Ph ng án 2: Gi nguyên gi y ch ng nh n quy n s d ng t mang tên ươ ữ ấ ứ ậ ề ử ụ đấ
Ma Doãn .Đề 9
3. Ph ng án 3: Chia tách quy n s d ng t.ươ ề ử ụ đấ 10
V. T CH C TH C HI N PH NG ÁN Ã L A CH N.Ổ Ứ Ự Ệ ƯƠ Đ Ự Ọ 13
1. Các b c ti n h nh v phân công trách nhi mướ ế à à ệ 13
2. L ch th i gian gi i quy t ph ng án ã l a ch n.ị ờ ả ế ươ đ ự ọ 15
K T LU NẾ Ậ 17
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 19
M C L CỤ Ụ 20
20

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×