Tải bản đầy đủ

Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại

lời nói đầu
Trải qua một tiến trình lịch sử dài tồn tại và không ngừng phát triển. Từ
mông muộn, nguyên sơ đến thông minh uyên bác. Con ngời chúng ta đã tạo đợc
đợc trên hành tinh này một nền văn minh rực rỡ. Trí tuệ con ngời đã kết tinh lại
để hình thành nên các giá trị cả về văn hóa và vật chất.
Sự phát triển của nền văn minh nhân loại gắn liền với sự phát triển về
kinh tế - xã hội. Từ cuộc cách mạng công nghiệp lần đầu tiên diễn ra ở Anh vào
thế kỷ 18, đến những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, cuộc cải cách kinh tế
diễn ra sau này. Và cho đến một nền kinh tế phát triển cao hiện nay.
Nói đến nền kinh tế hiện đại ngời ta thờng so sánh tầm cao của nó nh tầm
mắt hớng lên tới đỉnh của những tòa nhà Ngân hàng nguy nga, tráng lệ. Vì hơn
hết hệ thống Ngân hàng đợc coi nh "Hệ thần kinh, là trái tim của nền kinh tế",
"Ngân hàng là doanh nghiệp đặc biệt" đóng vai trò trung tâm trong vô vàn các
doanh nghiệp khác trong nền kinh tế.
Có thể nói hệ thống Ngân hàng nói chung và ngân hàng Thơng mại nói
riêng có ảnh hởng bao trùm lên toàn bộ nền kinh tế. Các nghiệp vụ hình thành
nên các hoạt động của Ngân hàng Thơng mại gắn với thực tiễn kinh tế sôi động.
Trong đề án này em xin trình bày một trong các nghiệp vụ đó là "Nghiệp vụ
huy động vốn của Ngân hàng Thơng mại".
1
nội dung

I. Khái niệm về vốn của Ngân hàng thơng mại.
Vốn của Ngân hàng thơng mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng th-
ơng mại tạo lập hoặc huy động đợc, dùng để cho vay đầu t hoặc để thực hiện
các dịch vụ kinh doanh khác.
Về thực chất, nguồn vốn của Ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc
dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất phân phối và tiêu dùng, mà ngời
chủ sở hữu để thực hiện các mục đích khác nhau (lấy lãi, nhờ thanh toán hộ...)
mà gửi vào Ngân hàng. Ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối
lại vốn dới hình thức tiền tệ, tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ
kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển.
II. Phân loại nguồn vốn của Ngân hàng thơng mại.
Nơi tập trung mọi sức lực và sự sáng tạo, hình thành nên sức mạnh của
một ngân hàng đó là nguồn vốn. Nguồn vốn này phản ánh nghiệp vụ của ngân
hàng đó là tự có hay khai thác đợc. Trong tất cả các loại vốn của ngân hàng thì
mỗi loạI có một tính chất và vai trò riêng, ngân hàng sẽ phảI xem xét và phân
tích để sử dụng vốn đầu vào có hiệu quả, xét về kết cấu và tính chất vốn kinh
doanh của ngân hàng thơng mạI bao gồm: vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay,
vốn khai thác.
* Vốn tự có(vốn chủ sở hữu)
Đây là nguồn vốn hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, chỉ chiếm
một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng vốn. Nguồn vốn này có chức năng quan trọng:
chức năng bảo vệ chức năng điều chỉnh và chức năng họat động. Với ba chức
năng này đã giúp ngân hàng có thể đi vào hoạt độngvà bảo đẩm an toàn cho quá
trình họt động. Vốn tự có gồm:
*Vốn tự có ban đầu.
Vốn đi vay chiếm tỷ trọng nhỏ và là điều kiện pháp lý bắt buộc khi bắt đầu
thành lập ngân hàng. Nó đợc hình thành từ ca nhân(NHTM T Nhân) do ngân
sách nhà nớc cấp (NHTM Quốc Doanh) do bán cổ phần, cổ phiếu (NHTM Cổ
2
Phần), từ sự đóng góp giứa các bên(NHTM liên Doanh) vốn tự có bổ sung trong
quá trình hoạt động:
Nguồn từ lợi nhuận: Nguồn này mang tính chất thờng xuyên và chiếm thỷ
trọng lớn nhất trong vốn tự có của của ngân hàng thơng mại
Nguồn đợc cấp thêm: nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần .. để mở
rộng quy mô hoạt động hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng yêu cầu
tăng vốn của chủ do Ngân Hàng Nhà nớc qui định. Nguồn vốn này cóa đặc
điểm là không thờng xuyên, song góp phần cho ngân hàng có đợc lợng vốn sở
hữu lớn vào lúc cần thiết.
2.Vốn huy động:
Nếu nh vốn tự có để đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của
các ngân hàng thơng mại thì vốn huy động chính là nhân tố thúc đẩy hoạt động
khinh doanh của ngân hàng mở rộng hay thu hẹp quy mô. Trong tổng nguồn
vốn của NHTM thì đây là phần vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất, có vai trò quan
trọng nhất. Nó đợc hình thành từ các nguồn sau:
*) Từ nguồn tiền gửi:
Trong nền kinh tế luôn tồn tại những ngời thừa vốn và những ngời thiếu
vốn. NHTM biết điều hoà mâu thuẫn này bằng việc sử dụng các công cụ, và các
nghiệp vụ của mình huy động các nguồn vốn trong xã hội. Dới đây là một số
hình thức mà NHTM có thể sử dụng để huyđộng vốn từ nguồn tiền gửi:
-Thứ nhất, tiền gửi thanh toán (hay tiền gửi không kỳ hạn tiền gửi giao
dịch)
Đây là khoản tiền đúng nh tên gọi của nó là thời gian gửi tiền không xác
định, khách hàng (cá nhân, tổ chức) có quyền rút tiền ra bất cứ lúc nào. Mục
đích của khách hàng đối với loại tiền này là hởng mhững tiện ích trong thanh
toán khi có nhu cầu chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
Vì vậy đây là bộ phận tiền chỉ nhàn rỗi tạm thời không phải khoản để dành.
-Thứ hai, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế hay tổ
chức tín dụng.
3
Ngợc với khoản tiền gửi không kỳ hạn , đây là khoản tiền gửi với thời gian
xác định, Nguyên tắc tiến hànhkhoản tiền gửi này là ngời gửi chỉ đợc rút tiền
khi đến thời hạn. Theo quy định, ngân hàng có quyền từ chối việc rút tiền trớc
thời hạn của ngời gửi tiền. Tuy nhiên, ở một số nớc, quy định này đã đợc nới
lỏng: Các ngân hàng cho phép ngời gửi tiền đợc rút ra trớc thời hạn nhng phải
báo trớc cho ngân hàng một khoảng thời gian nhất định, nếu không báo trớc
ngời gửi sẽ không đợc hởng lãi suất hoặc rất thấp.
-Thứ ba, tiền gửi tiết kiệm của dân c:
Đi đôi với sự phát triển của nền kinh tế là sự gia tăng mức thu nhập của
ngời dân. Khi mức thu nhập vợt quá chi tiêu thì lúc đó sẽ xuất hiện hiện tợng
tích trữ tiền. Hình thức tiền gửi tiết kiệm là hình thức thông qua đó ngời dân
không những vừa đảm bảo số tiền của mình không bị mất mát mà còn sinh
sôi nảy nở thêm.
*)Từ nguồn vốn tiền vay:
Vốn đi vay là quan hệ vay mợn giữa NHTM với NHTƯ hoặc giữa các
ngân hàng tm với nhau các tổchức tóin dụng khác. trong một số trờng hợp khi
các nhân hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ vốn hoạt động thì
NHTM có thể đi vay.
Vay của NHTƯ:
NHTƯ là ngời cho vay cuối cùng trong kinh tế, là ngân hàng của các ngân
hàng bất kì ngân hàng thơng mại nào khi đợc NHTƯ cho phép thành lập đều đ-
ợc hởng quyền vay tiền tại NHTƯ trong một sô trờng hợp nh thiếu hụt dự trữ
bắt buộc hay thiếu tiền đáp ứng nhu cầu thanh toán. tuỳ theo mục đích sử dụng
và hình thức vay vốn, vốn vay của NHTM xin vay đợc chia thành: vốn vay ngắn
hạn bổ sung, vay để thanh toán và để tái cấp vốn. Tuy nhiên do vốn vay NHTƯ
là quan hệ trực tiếp giữa NHTM vứi NHTƯ nằm trong sự điều tiết của chính
sách tiền tệ.
Vay các tổ chức tín dụng:
Trong trờng hợp đó, MHTM có thể huy động bằng cách vay vốn của các tổ
chức tín dụng khác bằng việc mời họ tham gia các hình thức cho vay đồng tài
4
trợ cho các dự án phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh phục vụ đơì sôngs; hoặc
hình thức qua trên thị trờng tiền tệ.
Một nguồn vốn vay khác mà ngân hàng có thể huy động:
Là phát hành kỳ phiếu có mục đích, trái phiếu và các giấytờ có giá khác.
nếu những hình thức huy động trên mang tính bị động thì hình thức này là hình
thức chủ động.
Cụ thể: khi ngân hàng phát hành trái phiếu, kỳ phiếu có nghĩa là ngân
hàng phát hành một phiếu nhận nợ đối với khách hàng của mình nhằm huy
động vốn có mục đích, có kỳ hạn rõ ràng giữa phát hành kỳ phiếu và trái phiếu
khác ở chỗ: kỳ phiếu có mục đích thờng đợc sử dụng linh hoạt còn trái phiếu th-
ờng đợc phát hành với qui mô lớn đồng loạt trong cả hệ thống ngân hàng.
3)Vốn khác:
Nguồn vốn này có đợc là nhờ vào lợi thế hoạt động của ngân hàng thơng
mại. Ví dụ ,trong quá trình làm trung gian thanh toán, ngân hàng đã tạo đợc một
số nguồn vốn gọi là nguồn vốn trong thanh toán : vốn trong tài khoản mở th tín
dụng ,tài khoản tiền gửi séc bảo chi, séc định mức và các khoản do ngân hàng
chấp nhận các hối phiếu thơng mại. Các khoản tiền này đợc gọi là khoản tiền
tạm thời nhàn rỗi vì thực tế nó tạm thời đợc tính vào tài khoản này và đợc nhập
vào tài khoản khác chờ sử dụng hay thông qua nghiệp vụ làm đại lý NHTM
cũng thu hút đợc một lợng vốn đáng kể trong quá trình thu hoặc chi hộ khách
hàng làm đại lý cho các tổ chức tín dụng khác, nhận và chuyển vốn cho khách
hàng hay một dự án đầu t.
III.Các hình thức huy động vốn chủ yếu của NHTM trong
nền kinh tế thị trờng:
1.Căn cứ vào công cụ huy động
Đây là hình thức huy động đợc các NHTM hay sử dụng nhất. Các công
cụ huy động gồm:
-Huy động tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi có thể phát hành séc)
Đây là loại tiền gửi mà chủ nhân có thể rut tiền hoặc trả cho bên thứ bằng
cách phát hành séc, ở các nớc phát triển loại tiền gửi này phần lớn đợc rút
5
thông qua điện thoại hay máy rút tiền tự động ATM. Đặc điểm quan trọng đối
với ngời gửi là: chuyển nhợng dễ dàng mục đích giao dịch là chính, thờng đợc
mệnh danh là tiền gửi theo yêu cầu, không đem lại lãi suất cụ thể. Đối với ngân
hàng chỉ cần bỏ ra một chút chi phí cho việc quản lý tài khoản hoặc trả lãi( nếu
có thì cũng rất nhỏ) số d của loại tiền này phụ thuộc vào từng thời kỳ trong
năm và khả năng của ngân hàng trong dự đoán sự biến động Ngân hàng thờng
bảo quản loại tiền gửi trên hai loại tài khoản: tài khoản thanh toán và tài khoản
vãng lai.
Tài khoản thanh toán là loại tài khoản mà chủ nhân của tài khản có toàn
quyền sử dụng số tiền trong phạm vi số d ,tiền gửi(loại tài khoản này luôn có số
d). cụ thể họ có thể rút ra, thực hiện thanh toán qua ngân hàng; với điều kiện họ
phải hoàn toàn tuân thủ những qui định và hớng dẫn của ngân hàng trong quá
trình thực hiện thanh toán, về phía ngân hàng phải thực hiện trích tài khoản,
không đợc từ chố trừ trờng hợp giấy tờ thanh toán không đúng yêu cầu.
Tài khoản vãng lai là tài khoản thờng đợc sử dụng cho các tổ chức kinh tế,
nó có thể có số d bê có và bên nhận. D bên có phản ánh số tiền hiện có trong tài
khoản của khách hàng, ngợc lại số d bên nợ phản ánh khảon tín dụng ngân hàng
cấp cho khách hàng vay. Lãi xuất bên nợ cũng nh bên nợ cũng nh bên có đều do
khách hàng và ngân hàng thoả thuận.
Do tiền gửi không có kỳ hạn có chi phí huy động thấp, nếu hấp dẫn đợc số
lợng khách hàng lớn, bảo đảm luôn có một số d ổn đinh, ngân hàng có thể dễ
dàng trong việc đa dạng hoá nghiệp vụ của mình thông qua việc mua các loại
chứng khoán có tính linh hoạt cao nh kỳ phiếu, tín phiếu kho bạc. Vì vậy, trên
thực tế các ngân hàng đã dần dần xoá bỏ sự khác biệt giữa hai tia khoản này.
- Huy động tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm
Nếu tiền gửi không kỳ hạn số d tăng giảm phụ thuộc vào tình hình sản
xuất kinh doanh của khách hàng gửi tiền, thì tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ
hạn lại phụ thuộc vào lãi xuất.
Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền mà chủ nhân có quyền rút ra theo nh thời
hạn đã đợc thoả thuận với ngân hàng, mục đích của loại tiền gửi này là hởng lãi
6
chứ không phảo là hởng những tiện ích trong thanh toán. Đặc điểm của loại tiền
gửi này là không đợc dùng để thanh toán; hiệu quả sử dụng nguồn này đối với
ngân hàng rất cao vì nó có thời hạn rõ ràng; chi phí để huy động đối với ngân
hàng là khá đát vì lãi suất huy động thờng cao( thông thờng lãi suất tỷ lệ thuận
theo thời gian; thơi gian gửi càng dài thì lãi suất phải trả càng cao).
-Tiền gửi tiết kiệm
Đối với NHTM tiền gửi tiết kiệm là công cụ vốn huy động từ lâu. Vốn huy
động từ các tài khoản tiết kiệm thờng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tiền gửi
của các ngân hàng(ở Mỹ loại này chiếm khoảng 25%). Ngân hàng thờng phân
chia loại tiền này làm ba loại:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: khoản tiền này có đặc điểm chủ tài khoản
có thể rút ra bất kỳ lúc nào mà không phải báo trớc, số d tài khoản này thờng
không lớn, u điểm hơn tiền gửi giao dịch là số d này ít biến động, vì lẽ đó ngân
hàng thờng phải trả lãi suất cac hơn so với tiền gửi thanh toán.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: nguyên tắc của loại tiền này là một khi khách
đã gửi tiền vào tài khoản này họ sẽ không đợc rút ra(cả gốc lẫn lãi) trừ khi đã
hết hạn tiền gửi. Tuy nhiên do yếu tố cạnh tranh trong việc thu hút tiền gửi một
số NHTM vẫn cho phép khách hàng rút tiền trớc thời hạn một phần tiền lãi mà
khách hàng đợc hởng sẽ bị khấu trừ(có thể là ngân hàng không chấp nhận trả lại
cho một số tháng nào đó hoặc có thể khách hàng chỉ đợc hởng mức lãi xuất tiền
gửi không kỳ hạn cho khoảng thời gian khách hàng gửi tiền khách hàng
Tiền gửi tiết kiệm dài hạn: Loại tiền này rất phổ biến ở một số nớc công
nghiệp, mục đích thu hút số tiền nhàn rỗi tạm thời trong thời hạn dài, đặc điểm
chủ tài khoản có thể gửi vào với số lợng không hạn chế và mọi lúc, nhng chỉ đ-
ợc rút ra khi đến hạn. Đây là loại hình tiết kiệm mà ngân hàng cần tận dụng để
tạo các nguồn vốn có tính ổn định cao phục vụ cho hoạt động cấp tín dụng dài
hạn cho mình.
-Huy động qua phát hành công cụ nợ của ngân hàng trên thị trờng tài
chính.
7

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×