Tải bản đầy đủ

khóa luận tốt nghiệp thiết kế một số hoạt động giáo dục theo chủ điểm cho học sinh ở các trường tiểu học


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC




PHẠM THỊ THÙY DUNG





THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
THEO CHỦ ĐIỂM CHO HỌC SINH
Ở CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC






KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC






SƠN LA, NĂM 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC




PHẠM THỊ THÙY DUNG





THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
THEO CHỦ ĐIỂM CHO HỌC SINH
Ở CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC



Chuyên ngành: Công tác Đội

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Lê Thị Thu Hà


SƠN LA, NĂM 2014
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài này, tôi xin được trân trọng cảm ơn phòng Quản lí
khoa học – Quan hệ quốc tế, các thầy cô giáo, Ban chủ nhiệm khoa Tiểu học –
Mầm non. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – ThS. Lê Thị
Thu Hà, giảng viên khoa Tiểu học – Mầm non, trường Đại học Tây Bắc, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, các anh, chị phụ trách các
trường Tiểu học trên địa bàn huyện Sông Mã đã giúp đỡ, cố vấn cho tôi trong
quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp k51A Đại học giáo dục
Tiểu học, bạn bè và người thân đã quan tâm, động viên giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện đề tài này.
Tôi rất mong nhận được ý kiến của thầy cô giáo và các bạn sinh viên đóng
góp cho đề tài này được hoàn thiện.
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên


Phạm Thị Thùy Dung
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
3. Mục đích nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Giới hạn nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 3
8. Đóng góp của đề tài 4
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO
CHỦ ĐIỂM CHO HỌC SINH TRƢỜNG TIỂU HỌC 5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2. Một số vấn đề lý luận về quá trình giáo dục tiểu học 6
1.3. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học 8
1.4. Hoạt động giáo dục theo chủ điểm ở trường tiểu học 11
1.5. Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học 16
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
THEO CHỦ ĐIỂM CHO HỌC SINH CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 19
2.1. Khái niệm phương pháp thiết kế hoạt động giáo dục theo chủ điểm cho học
sinh tiểu học 19
2.2. Các nguyên tắc thiết kế hoạt động giáo dục theo chủ điểm 19
2.3. Phương pháp, quy trình thiết kế hoạt động giáo dục theo chủ điểm cho học
sinh tiểu học 21
CHƢƠNG 3. THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO CHỦ
ĐIỂM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 31
3.1 Chủ điểm: “Chào mừng năm học mới 5 - 9”. 31
3.2 Chủ điểm: “Ghi nhớ công ơn thầy cô ngày 20 - 11” 35
3.3. Chủ điểm: “Theo dòng lịch sử 22 – 12” 39
3.4. Chủ điểm: “Chúng em là Đội viên” 42
3.5. Chủ điểm: “Yêu quý, biết ơn bà, mẹ và cô giáo 8 - 3” 46
3.6. Chủ điểm: “B¸c Hå cña chóng em” 50
3.7. Chủ điểm: “Chúng em chấp hành giao luật thông” 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
1. Kết luận 59
2. Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………….60
PHỤ LỤC
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết là Dịch là
GVTH Giáo viên tiểu học
HĐCĐ Hoạt động chủ điểm
NXB Nhà xuất bản
SHCĐ Sinh hoạt chủ điểm
GV Giáo viên
HS Học sinh
PTS Phụ trách Sao
PTNĐ Phụ trách Nhi đồng













1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đang chuyển mình sang xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức,
cho nên đầu tư vào chất xám là đầu tư hiệu quả nhất cho sự hưng thịnh của mỗi
quốc gia. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Chúng ta đang tiến
hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đòi hỏi những con
người năng động, sáng tạo, tự lực tự cường…
Để đáp ứng nhu cầu xã hội đặt ra, đòi hỏi cấp bách phải nâng cao chất
lượng giáo dục.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học được coi là bậc học
nền tảng góp phần đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ, năng động,
sáng tạo để gánh vác sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Mục tiêu giáo
dục tiểu học được xác định trong Điều 27 của Luật Giáo dục, 2005: “Giáo dục
tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển
đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ
bản để HS tiếp tục học trung học phổ thông”. Để thực hiện mục tiêu đó, các nhà
trường tiểu học phải đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức dạy học nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
Chính vì vậy, trong giáo dục hiện hành, bên cạnh các hoạt động dạy học trên
lớp thì nhà trường tiểu học cần coi trọng các HĐGDCĐ. Đ©y là môi trường giúp HS
hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện và một trong những hoạt
động được chú ý nhiều nhất đó là công tác Đội – Sao – Phong trào thiếu nhi.
Để góp phần nâng cao hiệu quả các HĐGDC§, hiện nay các giáo viên
trường tiểu học đã áp dụng rất linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức
tiêu biểu như: phương pháp trực quan, hỏi đáp, hoạt động theo nhóm…
Công tác HĐGDC§, HĐGDNGLL là một phần vô cùng quan trọng, có
mối quan hệ gắn bó khăng khít với hoạt động chính khóa. HĐGDNGLL là một
hoạt động bổ sung và nâng cao chất lượng chính khóa lên một bước. HĐGDC§,
HĐGDNGLL có khả năng góp phần đào tạo người học toàn diện về mặt: trí,

2
đức, thể, mĩ, vừa có lí luận vừa có thực hành, vừa có văn hóa nhà trường vừa có
tri thức về đời sống xã hội. HĐGDC§ chính là cầu nối giúp HS vận dụng kiến
thức vào trong đời sống, sinh hoạt gần gũi với tập thể. Vì vậy, trong giáo dục
hiện hành bên cạnh những hoạt động học tập trên lớp thì nhà trường tiểu học
cần coi trọng hơn nữa tới các HĐGDCĐ. Đây là một trong những nội dung của
hoạt động giáo dục toàn diện. Đó là sự góp mặt không thể thiếu của việc thiết
kế hoạt động giáo dục theo chủ điểm.
Thực tế dạy – học và HĐGDC§ ở trường tiểu học cho thấy đây là hoạt động
giáo dục ngoài giờ học quan trọng nhưng vẫn còn những tồn tại và khó khăn nhất
định. Nhìn chung HĐGDC§, HĐGDNGLL ở các trường tiểu học đã được tổ
chức song cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu thốn: chưa có hội trường và
sân khấu hoặc nếu có thì quá nhỏ không đảm bảo chỗ ngồi cho HS, điều kiện
âm thanh, ánh sáng không đảm bảo, còn chưa đầy đủ loa máy. HĐGDCĐ còn
chưa phong phú về nội dung, hình thức tổ chức còn thiếu sự đổi mới, tổ chức
lặp lại một số hoạt động thông thường, quen thuộc. Việc đổi mới trong vận
dụng và thiết kế các phương pháp hoạt động còn rất mờ nhạt. Giáo viên và phụ
trách công tác Đội, sao Nhi đồng còn thiếu linh hoạt, sáng tạo trong việc thiết
kế, tổ chức HĐGDCĐ. Nguyên nhân chủ yếu là do hạn chế về trình độ, nghiệp
vụ, không được đào tạo chính quy, không được tập huấn thường xuyên, thiếu
kinh nghiệm trong việc thiết kế, tổ chức.
Việc tổ chức một số HĐGDCĐ trong nhà trường tiểu học hiện chưa được
phổ biến rộng rãi và hiệu quả chưa được cao. Hình thức tổ chức chưa đa dạng
và phong phú. HĐGDC§ còn hết sức đơn điệu chưa gây được hứng thú cho HS
và không huy động được nhiều HS tham gia. HS nếu có tham gia thì đôi khi
cũng vì bắt buộc chứ không tự nguyện nên kết quả không cao. Đặc biệt là việc
thiết kế các hoạt động giáo dục theo chủ điểm còn gặp nhiều khó khăn.
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi mạnh dạn
nghiên cứu đề tài: “Thiết kế một số hoạt động giáo dục theo chủ điểm cho học
sinh ở các trường tiểu học”.


3
2. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp thiết kế HĐGDCĐ cho HS các trường tiểu học.
2.2. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục theo chủ điểm cho HS các trường tiểu học.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu lí luận về phương pháp thiết kế hoạt động giáo dục theo chủ
điểm. Từ đó thiết kế một số HĐGDCĐ cho HS ở các trường tiểu học.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế thành công các HĐGDCĐ cho HS các trường tiểu học thì giáo
viên, phụ trách Đội, Sao nhi đồng… có thể sử dụng chúng như là công cụ,
phương tiện trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục theo chủ điểm cho học
sinh tiểu học. Từ đó, giúp cho quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục theo
chủ điểm cho học sinh tiểu học đạt kết quả hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến HĐGDCĐ, HĐGDNGLL.
- Xây dựng phương pháp thiết kế HĐGDCĐ cho HS các trường tiểu học.
- Thiết kế một số HĐGDCĐ cho HS các trường tiểu học.
6. Giới hạn nghiên cứu
Do điều kiện và thời gian không cho phép nên đề tài tập trung vào thiết kế
một số hoạt động giáo dục theo chủ điểm trong năm học cho HS ở các trường
tiểu học.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phân tích các tài liệu, tập trung vào các thông tin liên quan đến phương
pháp thiết kế hoạt động giáo dục theo chủ điểm.
- Sắp xếp hợp lí các tài liệu, thông tin thu thập được.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát

4
Chúng tôi tiến hành quan sát việc tổ chức các HĐGDNGLL của một số
GV, tổng phụ trách đội ở một số trường tiểu học để thấy được những nội dung,
hình thức thiết kế và tổ chức chương trình hoạt động giáo dục theo chủ điểm
cho học sinh tiểu học.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn, trò chuyện với học sinh tiểu học và một số
giáo viên chủ nhiệm lớp, Phụ trách Sao, phụ trách nhi đồng ở trường tiểu học
Sông Mã để thấy được hiệu quả, tác dụng của một số hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp, cũng như những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thiết kế hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
8. Đóng góp của đề tài
Ngoài việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận về HĐGDCĐ trong năm học
cho HS các trường tiểu học. Đề tài còn xây dựng, thiết kế được một số chương
trình HĐGDCĐ cho HSTH, làm tài liệu tham khảo cho GV chủ nhiệm lớp, phụ
trách Đội, PTNĐ, sinh viên ngành Giáo dục tiểu học ở các trường Đại học, cao
đẳng, trung cấp sư phạm…

5
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO
CHỦ ĐIỂM CHO HỌC SINH TRƢỜNG TIỂU HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công tác HĐGDNGLL ở trường tiểu học đã được các nhà nghiên cứu
Nguyễn Hữu Hợp (chủ biên) - Nguyễn Dục Quang với tài liệu “Công tác giáo
dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học” giáo trình dành cho hệ đại học tại chức
đào tạo giáo viên tiểu học, 1995. Ở tài liệu này các tác giả đã đề cập đến một số
vấn đề chung về lí luận công tác HĐGDNGLL ở trường tiểu học như vị trí, mục
đích, nhiệm vụ của công tác ngoài giờ lên lớp, đề cập đến nguyên tắc tổ chức
công tác HĐGDNGLL và các hình thức cơ bản của công tác HĐGDNGLL cho
HSTH. Trong tài liệu “Giáo trình giáo dục tiểu học 2” dành cho ngành cử nhân
giáo dục tiểu học, hệ đào tạo tại chức và từ xa của tác giả Nguyễn Hữu Hợp,
NXB giáo dục, 1988 cũng đề cập đến HĐGDNGLL dưới hình thức tổ chức các
hoạt động giáo dục ở trường tiểu học như: Hoạt động giáo dục chủ điểm, tiết
chào cờ đầu tuần, tiết sinh hoạt, hoạt động tập thể cuối tuần và quy trình tổ chức
các hoạt động trên… Đến 2006, cuốn “Thực hành tổ chức hoạt động ngoài giờ
lên lớp” của tác giả Nguyễn Ngọc Quỳnh Dao, Nguyễn Tuấn Phương và Chu
Minh Tâm, tài liệu đào tạo giáo viên tiểu học trình độ cao đẳng và đại học sư
phạm, NXB giáo dục cũng đề cập đến những vấn đề lý luận của công tác
HĐGDNGLL như vị trí, vai trò, nhiệm vụ, nội dung, hình thức và quy trình tổ
chức của HĐGDNGLL ở trường tiểu học, dưới hình thức các tiểu mô đun thiết
kế bài giảng với một số hình thức hoạt động mẫu hoạt động chào mừng ngày 20
tháng 11, kế hoạch thăm và tặng quà các bà mẹ Việt Nam anh hùng, hoạt động
giao lưu văn nghệ…
Nhìn chung tài liệu của các tác giả đã có những đóng góp nhất định cho lý
luận và thực tiễn của công tác HĐGDNGLL ở trường tiểu học. Tuy nhiên ở các
tài liệu trên chưa đề cập cụ thể chi tiết lý luận về phương pháp thiết kế
HĐGDNGLL, chưa có sự hướng dẫn cách thức thiết kế cụ thể HĐGDNGLL.
Trong đó cần chú trọng tập trung thiết kế các hình thức mới, sáng tạo, hấp dẫn

6
như: hoạt động câu lạc bộ bộ môn, HĐGDCĐ, hoạt động tự chọn đa dạng.
Người thiết kế chính là người phụ trách công tác Đội, giáo viên chủ nhiệm, để
tạo nên những sản phẩm hoạt động giáo dục hấp dẫn, sinh động, hướng dẫn HS
tự thực hiện đạt hiệu quả giáo dục.
Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu của các tác giả đi trước trên cơ sở tôn trọng
ghi nhận những đóng góp quan trọng cơ bản của họ. Các nhà nghiên cứu đã tạo
hướng đi thuận lợi cho chúng tôi, những người thực hiện đề tài kế thừa chọn
lọc, phát triển và sáng tạo thêm những vấn đề ít hoặc chưa được đề cập đầy đủ,
cụ thể với mong muốn chân thành phát triển, đổi mới sáng tạo thêm để phù hợp
với yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp đào tạo GVTH. Vì thế, với đề tài này tôi
xin đưa ra một số phương pháp và quy trình thiết kế một số hoạt động giáo dục
chủ điểm cho học sinh ở các trường tiểu học.
1.2. Một số vấn đề lý luận về quá trình giáo dục tiểu học
1.2.1. Khái niệm quá trình giáo dục tiểu học
Quá trình giáo dục ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp, là bộ phận của quá
trình giáo dục tổng thể. Quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp và quá trình dạy học
đều hướng vào hình thành nhân cách toàn diện theo mục tiêu giáo dục đã được
xác định. Trong đó quá trình giáo dục với chức năng trội là làm cho HS có nhận
thức đúng đắn về các yêu cầu, chuẩn mực xã hội và có hành vi, thói quen hành
động tương ứng, nó là một trong những kết quả , mục đích quan trọng nhất của
hoạt động dạy học trong nhà trường. Dạy học với chức năng trội là truyền thụ
tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo tương ứng cho HS sẽ phải dẫn đến quá trình
giáo dục, nó được xem là một con đường, phương tiện hữu hiệu nhất để thực
hiện quá trình giáo dục. Như vậy cần phải hiểu rõ bản chất quá trình giáo dục
chính là quá trình chuyển hóa tự giác, tích cực độc lập những yêu cầu về chuẩn
mực hành vi đã được quy định thành những hành vi và thói quen hành vi tương
ứng ở HS, dưới tác dụng chủ đạo của giáo viên.
Tóm lại quá trình giáo dục là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức
của GV và HS, hình thành những quan điểm, niềm tin, giá trị, động cơ, thái độ,
hành vi, thói quen phù hợp với những chuẩn mực chính trị, đạo đức, pháp luật,

7
thẩm mĩ, văn hóa, làm phát triển nhân cách HS theo mục đích giáo dục của
nhà trường và xã hội.
1.2.2. Đặc điểm quá trình giáo dục tiểu học
Quá trình giáo dục mang tính toàn vẹn, là một quá trình vận động và phát
triển liên tục, được thực hiện qua tất cả các hoạt động trong nhà trường và các
hoạt động bên ngoài nhà trường với các môi trường giáo dục thích hợp. Quá
trình giáo dục mang ba đặc điểm chính:
1.2.2.1. Giáo dục là một quá trình có mục đích xuất phát từ yêu cầu của xã
hội và diễn ra lâu dài
Quá trình giáo dục nhằm hình thành những phẩm chất, những nét tính cách
của cá nhân nên nó đòi hỏi một thời gian lâu dài mới đạt được kết quả. Tính
chất lâu dài của quá trình giáo dục được xem xét ở các góc độ sau:
- Quá trình giáo dục được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của cuộc đời
con người, từ lúc sinh ra cho đến khi không còn sống nữa.
- Những hành vi, thói quen, phẩm chất mới của nhân cách ở mỗi cá nhân
được hình thành và trở nên bền vững, ổn định đòi hỏi một thời gian lâu dài
không thể một sớm một chiều mà có ngay được.
- Kết quả tác động giáo dục khó nhận thấy ngay và có khi bị biến đổi hoặc
mất đi. Do đó công tác giáo dục phải được tiến hành bền bỉ, liên tục theo một kế
hoạch ổn định, lâu dài; đồng thời phải phát huy cao được tính tự giác, nỗ lực tự
giáo dục kéo dài của người được giáo dục thì mới đạt được hiệu quả giáo dục.
- Việc khắc phục, sửa chữa hay thay đổi những nếp nghĩ, thói quen của con
người cũng cần trong một thời gian dài.
1.2.2.2. Quá trình giáo dục diễn ra với sự tác động của rất nhiều nhân tố
- Quá trình giáo dục là quá trình tổ chức các hoạt động phong phú, các
dạng giao lưu đa dạng để hình thành những phẩm chất nhân cách bền vững cho
người được giáo dục. Có rất nhiều những nhân tố tác động đến quá trình này:
Các sự kiện, quan hệ kinh tế, chính trị xã hội tư tưởng, các hoạt động giáo dục
trong và ngoài nhà trường, các thành tố của quá trình giáo dục, các yếu tố tâm
lý, trình độ của người được giáo dục, sự tác động qua lại giữa các chủ thể HS,

8
GV với nhau. Việc tác động như vậy tạo thành một thể thống nhất hướng tới sự
hoàn thiện cho mỗi con người.
1.2.2.3. Quá trình giáo dục mang tính cụ thể
Tính cụ thể của quá trình giáo dục được thể hiện như sau:
- Quá trình giáo dục luôn phải giải quyết các mâu thuẫn xung đột cụ thể
của người được giáo dục.
- Quá trình giáo dục phải tính đến những đặc điểm của các đối tượng cụ thể.
- Quá trình giáo dục được diễn ra trong thời gian, thời điểm, không gian,
với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
Tóm lại quá trình giáo dục luôn diễn ra cụ thể trong những tình huống giáo
dục, điều kiện giáo dục và đối tượng giáo dục cụ thể.
1.2.3. Mối quan hệ biện chứng giữa quá trình giáo dục và quá trình dạy
học ở tiểu học
Giáo dục và dạy học là hai quá trình có cùng mục đích là hình thành và
phát triển nhân cách, tuy nhiên chúng không đồng nhất. Dạy học nhằm tổ chức,
điều khiển để người học chiếm lĩnh có chất lượng và hiệu quả nội dung học
vấn; giáo dục hình thành những phẩm chất đạo đức, hành vi, thói quen… Hai
hoạt động này không tách biệt mà có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trên cơ
sở thực hiện các nhiệm vụ dạy học thì thế giới quan và các phẩm chất đạo đức
của HS được hình thành và phát triển, ngược lại, giáo dục tốt các phẩm chất sẽ
thúc đẩy hoạt động đạt kết quả cao, dạy học là quá trình điều khiển được, còn
quá trình giáo dục là quá trình phức tạp khó kiểm soát. Quá trình giáo dục tiểu
học thống nhất với quá trình dạy học, thúc đẩy lẫn nhau, bổ sung hỗ trợ cho
nhau cùng phát triển trong toàn bộ quá trình phát triển chung của HSTH. Quá
trình dạy học không những giúp HS lĩnh hội các tri thức khoa học một cách hệ
thống mà còn hình thành nhân cách toàn diện thông qua các môn học cụ thể
trong chương trình, đồng thời tạo cơ sở cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả.
1.3. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trƣờng tiểu học
1.3.1. Khái niệm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học
Theo lí luận giáo dục hiện đại, hoạt động được coi là phương tiện giáo dục

9
quan trọng nhất. Do đó, để hình thành nhân cách cho người được giáo dục – học
sinh, cần tổ chức các loại hình hoạt động khác nhau cho các em (học tập, lao động,
vui chơi, hoạt động xã hội, hoạt động tập thể). Trong đó, hoạt động càng phong
phú và đa dạng bao nhiêu thì quá trình giáo dục trẻ em càng hiệu quả bấy nhiêu.
Ngoài giờ lên lớp được hiểu là giờ không nằm trong quy định trên lớp, với
cách hiểu như vậy ta có thể đi đến phát biểu khái niệm về HĐGDNGLL ở
trường tiểu học. Chính là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học ở
tiểu học, nối tiếp, thống nhất hữu cơ với hoạt động giáo dục trong giờ học trên
lớp, là cầu nối giữa công tác giảng dạy trên lớp với công tác giáo dục HS ngoài
lớp ở trường tiểu học thông qua các hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập
thể, vui chơi giải trí, góp phần giáo dục toàn diện, hình thành và phát triển nhân
cách cho HSTH.
1.3.2. Ý nghĩa, mục đích của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở
trường tiểu học
HĐGDNGLL ở trường tiểu học là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học
các môn học chính khóa ở tiểu học, nối tiếp thống nhất hữu cơ với hoạt động
giáo dục trong giờ học trên lớp; là cầu nối giữa công tác giảng dạy trên lớp với
công tác giáo dục HS ngoài lớp. Cùng với hoạt động dạy học trên lớp thì
HĐGDNGLL là một bộ phận rất quan trọng, cần thiết trong toàn bộ quá trình
dạy học – giáo dục ở nhà trường tiểu học. Hai bộ phận này gắn bó, hỗ trợ với
nhau trong quá trình giáo dục. HĐGDNGLL là cầu nối giữa hoạt động giảng
dạy trên lớp với giáo dục HS ngoài giờ học. Thông qua các hoạt động giáo dục
toàn diện giúp HS củng cố, bổ sung kiến thức đã được học thông qua các môn
học trên lớp, phát triển hiểu biết của HS trong các lĩnh vực khác nhau của đời
sống và xã hội, làm phong phú thêm vốn tri thức. Hình thành và phát triển ở các
em các kỹ năng cơ bản ban đầu cần thiết, phù hợp với sự phát triển chung như:
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng nhận thức, kỹ năng tham gia các hoạt động tập thể…
Hình thành và phát huy tính chủ thể, tính tích cực tự tham gia và hoạt động
chính trị xã hội trên cơ sở bồi dưỡng cho các em thái độ đúng đắn với các hiện
tượng tự nhiên, xã hội và trách nhiệm đối với công việc chung của tập thể.

10
HĐGDNGLL chính là nơi thể nghiệm, vận dụng và củng cố tri thức trên lớp, là
dịp, là cơ hội HS tự bộc lộ nhân cách toàn vẹn, thể hiện tài năng, sự sáng tạo và
tự khẳng định mình.
Với tư cách là một bộ phận quan trọng của quá trình giáo dục nói chung,
HĐGDNGLL ở trường tiểu học góp phần thực hiện mục đích chung của quá
trình giáo dục hình thành cho HS những cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng của
nhân cách người công dân, người lao động để có thể học lên trung học cơ sở, để
đạt được mục đích chung HĐGDNGLL ở trường tiểu học tập trung thực hiện
hiệu quả ba nhiệm vụ:
- Giáo dục ý thức: là kết quả của nhận thức hiện thực được kiểm tra bằng
thực tiễn và được phản ánh ở tư duy con người. Tri thức giúp người đọc hiểu
được thế giới xung quanh, biết cách cư xử đúng đắn với mọi người, biết cách
tiến hành trong lao động của con người, trong học tập, trong rèn luyện sức
khỏe… vì thế tri thức sẽ là cơ sở đầu tiên để xác định mục đích, nắm bắt một
cách chính xác cụ thể, rõ ràng trình tự hành động, mọi thao tác công việc. Cho
nên tổ chức HĐGDNGLL giúp HS củng cố tri thức các môn học trên lớp đồng
thời bổ sung thêm những tri thức mới về tự nhiên, xã hội, con người trong bài
học trên lớp chưa có điều kiện để mở rộng, phát triển. Từ những hình thức đa
dạng của HĐGDNGLL các em có nhiều cơ hội tiếp xúc với khoa học công nghệ
mới, những tri thức mới trong hoạt động lao động, xã hội, kinh tế… Có điều
kiện tìm hiểu khám phá các phát minh mới, các thành quả lao động sáng tạo,
những nét văn hóa độc đáo của dân tộc và các nước trên thế giới.
- Giáo dục thái độ: là thành phần cơ bản của ý thức con người nói chung và
HSTH nói riêng, ý thức được luyện rèn trong hoạt động, thông qua
HĐGDNGLL bộc lộ sở trường, năng lực, hứng thú của các em đồng thời thể
hiện lòng tự tin, sự tôn trọng bạn bè, mọi người, tôn trọng quy định, chuẩn mực
đạo đức để tạo nên nhân cách toàn diện trong các em, những tình cảm đẹp được
nảy sinh. Thông qua cử chỉ, hành động, ứng xử trong giao tiếp, thể hiện tự
nhiên, sự thân thiện, sẻ chia, đồng cảm, sự kính trọng, biết ơn.

11
- Giáo dục hành vi, thói quen: hành vi của HS được hình thành như kỹ
năng, thực hiện các công việc lao động đơn giản, kỹ năng sáng tạo nghệ thuật
thông qua việc thể hiện các bài hát, đọc thơ, kể chuyện… Kỹ năng tham gia các
hoạt động tập thể thông qua trò chơi, diễn tiểu phẩm, đóng kịch, kỹ năng tổ
chức những hoạt động chung, kỹ năng tự quản trong sinh hoạt tập thể, biết phối
hợp cùng thực hiện, kỹ năng giao tiếp hình thành, nâng cao ý thức tự tin, chủ
động, HS dựa vào những kỹ năng, hành vi này để rèn luyện kỹ xảo, thói quen
đạo đức bền vững.
1.3.3. Các hình thức tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học
Có rất nhiều hình thức tổ chức HĐGDNGLL và mỗi hình thức đều có
những đặc điểm và lợi thế riêng, từ những lợi thế đó đã tạo nên hứng thú cho
các em HS. Ở các trường tiểu học thường có 3 loại hình thức tổ chức giáo dục
cơ bản là:
- Sinh hoạt theo chủ điểm
- Tiết chào cờ
- Tiết sinh hoạt lớp
Ngoài ra, các hoạt động tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp rất đa dạng và
phong phú, hình thức tuỳ thuộc vào điều kiện tổ chức của các trường như:
- Ngoại khóa về các vấn đề thời sự xã hội
- Tham quan, học tập
- Ngoại khoá về bộ môn học mà em yêu thích
- Triển lãm
- Phát thanh
- Một số hình thức khác như: Tổ chức trò chơi nhỏ cho Nhi đồng, giao lưu
văn nghệ, kiến thức giữa các lớp, khối, trường; tuyên truyền, vận động hưởng
ứng các phong trào xã hội…
1.4. Hoạt động giáo dục theo chủ điểm ở trƣờng tiểu học
1.4.1. Khái niệm hoạt động giáo dục theo chủ điểm
HĐGDCĐ là một mô hình hoạt động rất hữu ích. Sau khoảng thời gian học
tập căng thẳng trên lớp, thời gian dành cho những HĐGDCĐ là những ngày lễ

12
lớn chủ điểm trong năm học, giúp HS chủ động tham gia, vui vẻ xả street, nâng
cao kĩ năng sống, tham gia HĐGDC§, HS còn có điều kiện gần gũi nhau hơn, chia
sẻ với nhau những kiến thức mà mình đã học tập, tìm hiểu, tiếp thu được, rèn
luyện bản lĩnh, tính tự lập, sự nhanh nhẹn và tinh thần tương thân tương ái trong
quan hệ bạn bè và cộng đồng. HĐGDCĐ cũng là một loại hình hoạt động giáo dục
đào tạo nằm trong những phạm vi quy phạm của giáo dục nhà trường. Đó là những
HĐGDNGLL lên lớp, đối tượng tham gia chính là HS, có nội dung liên quan trực
tiếp hay gián tiếp đến môi trường dạy và học mang tính giáo dục cao.
Theo Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế
Duật ( Phương pháp dạy học văn – NXB Đại học quốc gia Hà Nội 1998, trang
378-379): “Ngoại khóa không nên hiểu là công việc ngoài giờ học, ngoài chương
trình thực hiện tùy tiện. Ngoại khóa chỉ có nghĩa là không đặt sự giảng dạy của
GV bộ môn lên hàng đầu mà xem trong hoạt động tự giác vận dụng sáng tạo của
HS. Đó cũng là việc học đích thực, do HS tự nguyện, tự làm ra mà học”.
Vì vậy có thể nói, ngoại khóa là hình thức tổ chức các HĐGDCĐ ngoài giờ
lên lớp có kế hoạch có phương hướng xác định được HS tiến hành theo nguyên
tắc tự nguyện ở ngoài giờ lên lớp chính khóa, dưới sự điều khiển, hướng dẫn
của GV, phụ trách công tác Đội và sao Nhi đồng, nhằm bổ sung, củng cố, mở
rộng và nâng cao kiến thức, kĩ năng cho HS, đồng thời góp phần giáo dục cho
HS một cách toàn diện. Với cách hiểu như trên, ngoại khóa tổ chức các
HĐGDCĐ được xem là một hình thức tổ chức HĐGDC§ quan trọng, là một
trong những con đường để thực hiện phương pháp dạy học, tổ chức HĐGDCĐ.
HĐGDC§ là thuật ngữ dùng để chỉ hình thức hoạt động vui chơi ngoài
lớp nhằm mục đích gắn việc học trong nhà trường với thực tế ngoài xã hội.
Nhằm tạo điều kiện cho HS hòa nhập với cuộc sống góp phần mở rộng sự hiểu
biết cho các em về tình hình xã hội.
1.4.2. Ý nghĩa của hoạt động giáo dục theo chủ điểm ở trường tiểu học
HĐGDCĐ là một trong hai con đường cơ bản thực hiện quá trình giáo dục trẻ
em. HĐGDCĐ bao gồm các hoạt động nhà trường tổ chức ngoài giờ lên lớp, đó
là các hoạt động tổ chức ngoài giờ các môn học. HĐGDCĐ là sự tiếp nối và

13
thống nhất hữu cơ gắn với hoạt động học, tạo điều kiện gắn lí thuyết với thực
hành, góp phần quan trọng vào sự phát triển nhân cách toàn diện của HS. Theo
luận điểm tâm lý, hoạt động là nhân tố chủ yếu trong sự hình thành và phát triển
nhân cách. Ở nhà trường, các hoạt động ngoài giờ theo chủ điểm như chủ điểm:
hoạt động vui chơi, văn nghệ, chủ điểm tôn sư trọng đạo ngày 20 tháng 11, chủ
điểm ngày quân đội nhân dân Việt Nam ngày 22 tháng 12, chủ điểm yêu quý
mẹ và cô giáo ngày mồng 8 tháng 3, hoạt động vui chơi, văn nghệ… cùng các
hoạt động thường nhật của HS, là điều kiện để rèn luyện hành vi, thái độ, tình
cảm và củng cố kiến thức một cách chắc chắn hơn.
HĐGDCĐ bao giờ cũng được tổ chức trong mối quan hệ của tập thể, trong
tập thể diễn ra các hoạt động đa dạng, phong phú và các mối quan hệ giữa cá
nhân với cá nhân, các nhân với nhóm, nhóm với nhóm, ảnh hưởng của xã hội,
mối quan hệ của xã hội thông qua các nhóm và tác động đến từng người. Ngược
lại mỗi cá nhân tác động tới cộng đồng, tới xã hội, các cá nhân khác,…Cũng
thông qua nhóm, qua tập thể tác động của tập thể tới nhân cách cá nhân qua
hoạt động cùng nhau. Đối với HSTH, thời gian HĐGDNGLL chiếm phần
không nhỏ, do đó ở lứa tuổi này nếu HS được tổ chức hoạt động theo nội dung
tốt, hợp lý, đúng cách và đúng lúc thì HĐGDNGLL sẽ đem lại tác dụng tích
cực, phát triển năng khiếu tính tình, sở thích hứng thú,…của các em. Thông qua
HĐGDC§ học sinh nắm được cách cư xử giữa người với người, các quy tắc
đạo đức, cung cách làm việc thái độ thật thà, tinh thần tập thể tính sáng tạo…
Ngoài ra, HĐGDCĐ còn phát triển ở các em khả năng ghi nhớ trí tưởng tượng,
cá tính, lòng dũng cảm, sự kiên trì, sức lao động bền bỉ dẻo dai. Tổ chức
HĐGDCĐ cho HS, chính là tổ chức cho các em tham gia vào các hoạt động văn
hóa xã hội. Chính điều này đã ảnh hưởng lớn tới sự hình thành và phát triển
nhân cách của HSTH.
HĐGDCĐ hướng hứng thú của các em vào các hoạt động bổ ích, làm giảm
thiểu tình trạng yếu kém về đạo đức của HS, các em sử dụng thời gian rảnh rỗi
vào những việc có ích, hợp lí trong quá trình học tập của mình. Đồng thời tạo ra
một sân chơi thú vị với nhiều hình thức phong phú giúp các em giảm bớt những

14
hoạt động không lành mạnh. Thông qua hoạt động GV có thể phát huy tính tích
cực từ chính những đặc điểm tâm lí yếu kém về đạo đức. Với hình thức tổ chức
phong phú lại diễn ra ở nhiều thời điểm hoàn cảnh khác nhau đòi hỏi cách thức
hoạt động khác nhau, sẽ rèn luyện cho HS đức tính thích nghi chủ động, năng
động. Từ đó góp phần tích cực tăng cường hứng thú tham gia HĐGDCĐ.
Để thực hiện tốt HĐHDCĐ đòi hỏi các tập thể HS phải có sự đoàn kết, hợp
tác, giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ. HĐGDCĐ còn rèn luyện tinh thần
trách nhiệm, ý thức gắn bó với tập thể của HS. Qua đó, HS vừa khẳng định được
bản thân vừa xác định được vai trò trách nhiệm của mình trước tập thể, HS sẽ hòa
nhập vào cuộc sống tập thể một cách vui vẻ. Đó là tiền đề quan trọng để rèn luyện
HS thành những con người lao động mới đáp ứng mục tiêu giáo dục.
Nó là con đường quan trọng để hình thành phát triển nhân cách cho HS,
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục.
Mặt khác, hoạt động giáo dục theo chủ điểm giúp các em phát triển toàn
diện về mọi mặt và bồi dưỡng năng lực của bản thân… Đặc biệt, tham gia
HĐGDCĐ giúp các em có thể khẳng định trước xã hội nên đa số các hoạt động
này có sức hấp dẫn mạnh, trẻ em vốn rất hiếu động ham muốn tham gia sinh
hoạt tập thể và mong muốn tự khẳng định mình.
Do vậy, trong quá trình giáo dục ở nhà trường dựa trên những lợi thế này
GV cần tìm ra những HĐGDCĐ để lôi cuốn, thu hút các em. Đồng thời cần tổ
chức một cách khéo léo, sinh động, đa dạng và thường xuyên thì HĐGDCĐ sẽ
đem lại hiệu quả vô cùng to lớn. Nhất là các hoạt động này lại do chính các em tổ
chức, tự nguyện tham gia và tham gia nhiệt tình thì càng có ý nghĩa giáo dục
mạnh mẽ.
Khối tri thức nhân loại ngày càng tăng lên nhanh chóng và còn vô vàn kiến
thức cần phải nắm, phải hiểu, phải vận dụng vào được trong thực tế của mình
nhưng lại chưa được đưa vào hết chương trình. Vì thế HĐGDCĐ là một trong
những con đường, cách thức tốt nhất giúp HS bổ sung, mở rộng tích lũy thêm
kiến thức cần thiết cho mình, hiểu biết vận dụng vào trong cuộc sống của bản
thân. Mặt khác, mỗi HS là một chủ thể của quá trình học tập của mình, mang

15
trong mình những tiềm năng lớn về tri thức, lập luận, quan sát, giao tiếp.
HĐGDCĐ tạo cho các em khả năng phát huy, đa dạng hóa tất cả những tiềm
năng đó. Nó tạo điều kiện để các em tham gia, có dịp thể hiện những hiểu biết
của mình, bổ sung phát triển những tri thức cần thiết. Cụ thể hơn HĐGDCĐ nếu
được tổ chức tốt sẽ phát huy được những tác dụng chủ yếu về mặt cung cấp tri
thức sau đây:
+ Mở rộng kiến thức đời sống, xã hội, tình cảm, tri thức…
+ Bổ sung, cập nhập những kiến thức cần thiết.
+ Là điều kiện rèn luyện, củng cố và nâng cao các kĩ năng cơ bản, tìm tòi
phát hiện và hệ thống hóa thêm những kiến thức khác để làm giàu vốn tri thức
cho HS.
+ Nâng cao hiểu biết giá trị truyền thống dân tộc, những nét văn hóa đặc
sắc, khơi dậy ham muốn tìm tòi giải thích những hiện tượng trong tự nhiên – xã
hội có cơ sở khoa học.
+ Giáo dục các em sống đẹp: Biết quan tâm, chia sẻ, động viên, giúp đỡ
mọi người, sống tình cảm và hòa đồng với mọi người xung quanh.
+ Giúp các em chăm học, chăm làm, yêu lao động, yêu thiên nhiên, rèn
luyện ý chí, nghị lực, kích thích niềm đam mê, sáng tạo.
+ Hình thành ở các em ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần đoàn kết thân ái
với bạn bè, tập thể, kính trọng, lễ phép với người lớn.
Bên cạnh đó, những người làm công tác Thiếu nhi, để có thể tổ chức các
HĐGDCĐ cũng cần phải không ngừng bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
Nhằm mục đích phát triển toàn diện về mọi mặt cho HS.
1.4.3. Đặc trưng của hoạt động giáo dục theo chủ điểm
HĐGDCĐ là một trong những hoạt động Đội TNTP và Sao Nhi đồng. Sinh
hoạt chủ điểm mang những đặc trưng riêng đó là:
- HĐGDCĐ đa dạng về mặt hình thức, phong phú về nội dung, luôn đòi
hỏi sự đổi mới, linh hoạt, là hoạt động được các em yêu thích, say mê, là sân
chơi bổ ích cho HS.
- Phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, đặc điểm vùng miền.

16
- Mang đặc thù của phương pháp giáo dục thông qua các HĐGDCĐ, mang
tính giáo dục, thông qua đó góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân
cách cho HSTH.
- Bám sát nội dung, chương trình học của HSTH, góp phần thực hiện mục
tiêu, nhiệm vụ của chương trình học tập ở tiểu học, gắn với nhiệm vụ chính trị
của đất nước và địa phương.
- Phù hợp với điều kiện thực tế, phát huy được tính chủ động sáng tạo, kết
hợp các phương pháp linh hoạt, sáng tạo cho cả GV và HS.
1.5. Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
1.5.1. Nhu cầu của học sinh tiểu học
Ở HSTH, tuy vẫn tồn tại một loạt nhu cầu từng là đặc trưng cho lứa tuổi
trước, như nhu cầu vui chơi, nhu cầu vận động… Bên cạnh đó đã xuất hiện
thêm các nhu cầu mới đó là nhu cầu thực hiện chính xác các yêu cầu của giáo
viên; nhu cầu chiếm lĩnh những điều mới mẻ; nhu cầu đến trường với sự hoàn
thành các bài tập được giao, nhu cầu trở thành Đội viên Đội Thiếu niên Tiền
phong Hồ Chí Minh…
Trong các nhu cầu của HSTH, nhu cầu nhận thức giữ vai trò chủ đạo. Nhu
cầu này được bắt nguồn từ nhu cầu về ấn tượng bên ngoài. Những ngày đầu khi
“làm quen” với cuộc sống nhà trường và dưới ảnh hưởng của thầy cô giáo, ở trẻ
xuất hiện nhu cầu lĩnh hội các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết. Dần dần trong quá trình
học, nhu cầu trẻ lại hướng vào kiến thức mới. Vì thế, nếu trẻ các lớp đầu tiểu
học có nhu cầu làm rõ “cái gì đó” thì HS các lớp cuối tiểu học lại có nhu cầu
giải quyết câu hỏi “tại sao?” và “như thế nào?”. Nhu cầu nhận thức là nguồn
năng lượng tinh thần để định hướng tinh thần để định hướng và tiến lên trong
nhiều tình huống và cảnh ngộ khó khăn trên con đường khám phá tri thức của
nhân loại.
1.5.2. Tính cách của học sinh tiểu học
Tính cách của HSTH có mối quan hệ chặt chẽ với các thuộc tính, các phẩm
chất khác của nhân cách như: xu hướng, khí chất, tình cảm, ý chí, kĩ xảo, thói
quen và kinh nghiệm của cá nhân.

17
Một điều dễ nhìn thấy trong tính cách của HSTH là sự cả tin, trẻ tin tưởng
một cách tuyệt đối vào người lớn, sách vở và bản thân mình. Trẻ cũng rất hồn
nhiên, với các em không có gì là phức tạp, khó khăn, các em tin rằng sẽ làm
được mọi điều mình muốn. Tính hay bắt chước cũng là đặc điểm quan trọngcủa
HSTH. Trẻ thích bắt chước người lớn, bạn bè cũng như các nhân vật trong
phim, trong sách…
Ngoài ra, phần lớn HSTH có những nét tính cách tốt như: lòng vị tha, tính
ham hiểu biết, tính chân thật Tuy nhiên, trong tính cách HSTH cũng thường
gặp những thiếu sót như: bướng bỉnh và thất thường.
1.5.3. Tình cảm của học sinh tiểu học
Ở lứa tuổi HSTH rất dễ xúc cảm điều đó thể hiện ở tính giàu cảm xúc.
Ngoài ra, HSTH rất dễ bộ lộ tình cảm, khả năng kiềm chế tình cảm yếu. Trẻ
thường bộc lộ tình cảm của mình một cách hồn nhiên, chân thật, chưa biết ngụy
trang. Hơn nữa, tình cảm của các em còn mong manh, chưa bền vững và chưa
sâu sắc. Điều này thể hiện rõ ở sự dễ dàng chuyển hoá cảm xúc: các em có thể
có song có thể lại cười ngay, các em yêu thích đối tượng này, nhưng nếu có đối
tượng khác thích hơn, đặc biệt và hấp dẫn hơn thì dễ bị lôi cuốn và đối tượng cũ
dễ bị lãng quên…
Ở HSTH, các tình cảm trí tuệ như ham hiểu biết ,ngạc nhiên, nghi ngờ, hài
lòng, chán nản… được hình thành và phát triển mạnh. Tình cảm thẩm mỹ cũng
được phát triểnn mạnh ở các em. Về cơ bản, nét chung trong đời sống tình cảm
của HSTH là yêu đời, sảng khoái, vui vẻ.
1.5.4. Sự phát triển năng khiếu
Năng khiếu là dấu hiệu phát triển sớm ở trẻ em về một tài năng nào đó khi
trẻ chưa được tiếp xúc một cách có hệ thống lĩnh vực hoạt động tương ứng.
Năng khiếu bộc lộ ra nhiều khía cạnh, như: tốc độ vượt trội trong việc hoàn
thành một nhiệm vụ cụ thể so với trẻ đồng trang lứa, thành tích xuất sắc trong
một lĩnh vực nhất định, thiên hướng hoạt động mãnh liệt hoặc sự sáng tạo trong
hoạt động ở một lĩnh vực nào đó.

18
Năng khiếu có thể phát triển hay không tuỳ thuộc vào việc phát hiện và bồi
dưỡng năng khiếu. Vì vậy, vấn đề phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu là quan
trọng, có ý nghĩa đặc biệt nhưng cũng khó khăn và phức tạp, vì công việc này
đòi hỏi sự chuyên sâu, tinh tế.


19
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
THEO CHỦ ĐIỂM CHO HỌC SINH CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC
2.1. Khái niệm phƣơng pháp thiết kế hoạt động giáo dục theo chủ điểm
cho học sinh tiểu học
Phương pháp thiết kế HĐGDCĐ cho HSTH là con đường, cách thức,
hướng dẫn HS tham gia sinh hoạt, hoạt động nhằm thu hút được hiệu quả nhất
định trong việc giáo dục toàn diện, hình thành và phát triển nhân cách cho HS ở
các trường tiểu học.
Thiết kế HĐGDCĐ cho HSTH là công việc của PTNĐ phụ trách sao, phụ
trách Đội… Hiệu quả của HĐGDCĐ phụ thuộc trước hết vào năng lực thiết kế
HĐGDCĐ của người phụ trách. Và người phụ trách cần phải dựa vào điều kiện,
đặc điểm tâm sinh lý của HSTH.
2.2. Các nguyên tắc thiết kế hoạt động giáo dục theo chủ điểm
2.2.1. Nguyên tắc tính mục đích của hoạt động giáo dục
Mục đích giáo dục của hoạt động được coi là “đầu ra mong muốn chung”
của hoạt động. Đó chính là kết quả giáo dục mong muốn chung mà hoạt động sẽ
mang lại. Mục tiêu của giáo dục được thể hiện ở ý thức và đặc biệt là ở thái độ
và hành vi. Như vậy, có nghĩa là qua hoạt động:
- Phải hình thành cho HS để đề phòng những sai lệch có liên quan.
- Giáo dục cho HS thái độ tích cực, đề phòng, khắc phục ở các em những
thái độ sai trái.
- Mục tiêu của giáo dục của hoạt động cần phải:
+ Phù hợp và phục vụ cho việc thực hiện mục đích giáo dục của hoạt động
đã được xác định.
+ Rõ ràng, chính xác.
+ Có tính khả thi.
+ Có thể kiểm soát và đánh giá được với những chuẩn đánh giá, thang đánh
giá và cách thức đánh giá thích hợp.
- Xác định được nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức thích hợp cho
hoạt động giáo dục.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×