Tải bản đầy đủ

Phát huy vai trò nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh hà nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
PHẠM THỊ QUỲNH CHI
PHÁT HUY VAI TRÒ
NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
PHẠM THỊ QUỲNH CHI
PHÁT HUY VAI TRÒ
NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS,TS Đỗ Thị Phi Hoài
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu
khoa học, độc lập của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Quỳnh Chi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
(xếp theo thứ tự A,B,C )
TT Chữ viết tắt Giải nghĩa
1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
3 TNC Công ty xuyên quốc gia
4 HĐ Hợp đồng
5 TP Thành phố
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1.1 Cơ cấu đầu tư FDI vào Việt Nam 30
2
Các hình thức đầu tư FDI tại Việt Nam 35
3 Số lượng dự án FDI, vốn đầu tư FDI tại Hà Nam (2000-2013) 51
4 Tình hình cấp phép đầu tư FDI tại Hà Nam năm 2013 54
5 Quy mô dự án FDI tại tỉnh Hà Nam 55
6 FDI đóng góp vào GTSX công nghiệp tại Hà Nam 61
DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
STT Tên sơ đồ, đồ thị Trang
1
Các dự án FDI được cấp phép ở Việt Nam
28
2 FDI theo hình thức đầu tư tại Hà Nam 5
3 Tỷ lệ vốn FDI thực hiện lũy kế theo đối tác đầu tư tỉnh Hà Nam 58
4 Vốn FDI trên tổng nguồn vốn đầu tỉnh Hà Nam 59
5 Cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Hà Nam 2013 63
6 Tình hình lao động trong khu vực FDItỉnh Hà Nam 63
7 Thu nhập bình quân năm 2013(Triệuđồng/người/năm) 64
MỤC LỤC
MỤC NỘI DUNG TRANG
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
5. Kết cấu của luận văn
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI
4
1.1. Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài 4
1.1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là gì? 4
1.1.2. Phân loại FDI 10
1.1.3. Nhân tố thúc đẩy FDI 15
1.2. Các mô hình về vai trò của nguồn vốn đối với tăng trưởng 18
1.2.1. Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế 19
1.2.2. Mô hình Harrod-Domar 19
1.3. Tình hình FDI và thành tựu đạt được tại một số quốc gia
Châu Á
21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG FDI TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÀ NAM
27
2.1. Khái quát tình hình FDI tại Việt Nam 27
2.1.1. Khái quát tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
(1987-2013)
37
2.1.2. Vai trò của FDI đối với kinh tế xã hội Việt Nam và những tồn tại
cần khắc phục
37
2.2. Môi trường đầu tư tại tỉnh Hà Nam 43
2.2.1. Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 44
2.2.2. Cơ sở hạ tầng 45
2.2.3. Về điều kiện kinh tế xã hội 46
2.2.4. Về thủ tục hành chính 47
2.3. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Hà Nam 47
2.3.1. Tình hình cấp giấy phép và thực hiện các dự án FDI 48
2.3.2. Quy mô dự án FDI 55
2.3.3. FDI phân theo ngành kinh tế 56
2.3.4. Các hình thức FDI 57
2.3.5. Các đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài 58
2.3.6. Tình hình FDI ở các khu công nghiệp, khu chế xuất 59
2.4. Vai trò của FDI đối với kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam 59
2.4.1. Góp phần tăng nguồn vốn, giải quyết vấn đề thiếu vốn cho phát 59
triển kinh tế - xã hội
2.4.2. Đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 61
2.4.3. FDI đóng góp vào nguồn thu ngân sách, tác động tới xuất nhập
khẩu và cán cân thanh toán
61
2.4.4. Góp phần nâng cao năng lực công nghệ cho tỉnh và tạo động lực
nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn
tỉnh
62
2.4.5. Vai trò của nguồn vốn FDI với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 63
2.4.6. Vai trò của FDI với đảm bảo phúc lợi xã hội cho người lao động 64
2.5. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và tồn tại chủ yếu của FDI
tại tỉnh Hà Nam trong thời gian qua
2.5.1. Thuận lợi khó khăn 65
2.5.2. Tồn tại chủ yếu 66
CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM PHÁT HUY
VAI TRÒ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
69
3.1. Định hướng về phát huy vai trò nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài trên địa bản tỉnh Hà Nam
69
3.1.1. Định hướng về phát triển kinh tế tỉnh 70
3.1.2. Định hướng về phát triển đời sống xã hội tỉnh 70
3.2. Biện pháp nhằm phát huy vai trò nguồn vốn FDI trên địa bàn
tỉnh Hà Nam
71
3.2.1. Cải thiện môi trường đầu tư 71
3.2.1.1. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp
FDI
71
3.2.1.2. Cải cách thủ tục hành chính 72
3.2.2. Các giải pháp nhằm nâng cáo hiểu quả sử dụng nguồn vốn FDI 73
3.2.2.1. Chú trọng quy mô, chất lượng dự án đầu tư 73
3.2.2.2. Triển khai hiệu quả các dự án gọi vốn đầu tư 74
3.2.2.3. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư 75
3.2.3. Giải pháp về lao động 77
3.2.3.1. Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động 77
3.2.3.2. Nâng cao chất lượng lao động 78
3.2.3.3. Thu hút nguồn lao động từ bên ngoài tỉnh 79
3.2.4. Giải pháp về thuế 80
3.2.4.1. Ngăn chặn và khắc phục tình trạng chuyển giá 80
3.2.4.2. Định hướng cải cách thuế thời gian tới 80
3.2.5. Học tập kinh nghiệm từ địa phương khác (tỉnh Bình Dương) 82
KẾT LUẬN 86
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Trong những năm vừa qua, FDI đã đóng góp một phần quan trọng vào
việc phát triển kinh tế - xã hội như: các dự án FDI góp phần tăng thu ngân
sách, cải thiện cán cân thanh toán và cán cân vãng lai của quốc gia, là nguồn
vốn bổ sung quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát
triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, đưa nền kinh tế Việt Nam, hội nhập với
nền kinh tế thế giới, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực,
nâng cao mức sống cho người lao động,
Tuy nhiên trong thời gian gần đây, báo chí và một số phương tiện thông
tin đại chúng ở nước ta đã nêu nhiều mặt trái của hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Một số ý kiến cho rằng: nguồn vốn FDI trong những năm qua đã
tập trung chủ yếu vào đầu tư xây dựng, khách sạn, du lịch và những ngành
công nghiệp sử dụng nhiều lao động, chưa có tỷ lệ thích đáng cho các ngành
công nghệ cao và nông nghiệp. FDI đưa vào Việt Nam nhiều máy móc, thiết
bị lạc hậu đã qua sử dụng. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã xảy
ra một số tranh chấp lao động mà biểu hiện là tình trạng ngược đãi công nhân,
vi phạm nhân phẩm người lao động, cường độ làm việc quá căng thẳng đã
dẫn đến các cuộc đình công, bãi công. Cán bộ Việt Nam trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài luôn ở vị trí thứ yếu. Một số doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Không thể phủ nhận thành tựu đã đạt của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam trong những năm qua, song nó đã tạo ra một số vấn đề không lành
mạnh và cần khắc phục. Nhận thức đúng mức về những vấn đề nảy sinh để có
phương hướng chỉ đạo tiếp là cực kỳ quan trọng nếu chúng ta muốn Việt Nam
trở thành nơi thu hút ngày càng nhiều hơn vốn FDI.
Trong tình hình đó, Hà Nam những năm gần đây là một trong số tỉnh
thành nhận được sự quan tâm của nhà đầu tư FDI nhiều nhất cả nước cũng
không tránh khỏi những tác động tích cực và hạn chế của FDI đến phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh. Để có căn cứ xây dựng và điều chỉnh chính sách thì
việc nghiên cứu, đánh giá được những tác động của FDI đến phát triển kinh tế
- xã hội ở tỉnh Bình Dương trong giai đoạn vừa qua là một việc làm hết sức
cần thiết. Vì vậy, vấn đề: "Phát huy vai trò nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Nam" được chọn làm đề tài nghiên cứu của luận
văn. Đây có thể coi là một đóng nhỏ của tác giả vào công cuộc xây dựng
mảnh đấtHà Nam trong thế kỉ 21.
2. Mục đích nghiên cứu
-Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò của FDI đốivới phát
triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Hà Nam nói riêng.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tác động của FDI đến phát
triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hà Nam chỉ ra những tác động tích cực cần phát
huy và tác động không lành mạnh của FDI cần khắc phục và nên tránh.
Nguyên nhân của những tác động đó.
- Trình bày các phương hướng và giải pháp phát huy tác động tích cực
và hạn chế những ảnh hưởng không lành mạnh của FDI đến phát triển kinh
tế - xã hội ở tỉnh Hà Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài bao hàm nhiều phương diện, luận văn này
không nghiên cứu FDI nói chung với tất cả các mặt của nó mà chỉ tập trung
nghiên cứu vấn đề tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hà
Nam vì đó là yếu tố quyết định đến việc xây dựng, điều chỉnh chính sách thu
hút FDI và tối đa hoá lợi ích mà FDI mang lại trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội ở Hà Nam
4.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở những luận cứ khoa học được xác lập, đi sâu phân tích, đánh
giá thực trạng tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bình
Dương, từ đó làm nổi rõ sự cần thiết phải phát triển mạnh mẽ những tác động
tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội và phòng tránh những tác động tiêu
cực. Sao cho nền kinh tế của Hà Nam nói riêng và Việt Nam nói chung tăng
trưởng nhanh và bền vững.
Kiến giải có căn cứ lý luận và thực tiễn những phương hướng, giải
pháp cơ bản phát triển những tác động tích cực của FDI đến phát triển kinh tế
- xã hội ở tỉnh Hà Nam.
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan
tham mưu của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Hà Nam và các cơ quan hữu trách, dùng
làm tài liệu tham khảo trong các trường học, cơ sở đào tạo có liên quan đến
FDI trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
5. Kết cấu của luận văn
10
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu luận
văn gồm 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
Chương 3: Một số biện pháp nhằm phát huy vai trò nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
11
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là gì?
1.1.1.1. Một số khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Để nắm bắt được hai khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng
Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) và dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài (dự án FDI), trước hết cần phải hiểu được thế nào là hoạt động
đầu tư và dự án đầu tư.
Cho đến nay, đã có rất nhiều khái niệm được đưa ra nhằm định nghĩa
hoạt động đầu tư và dự án đầu tư. Tuy nhiên, trong quy mô luận văn này, chỉ
xin nêu ra khái niệm được sử dụng phổ biến nhất.
Theo đó:
Đầu tư là tập hợp các hoạt động bỏ vốn và sử dụng vốn theo một
chương trình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian tương đối dài
nhằm thu được lợi ích lớn hơn cho các nhà đầu tư, cho xã hội và cộng đồng.
Dự án đầu tư là tập hợp những ý kiến, đề xuất về việc bỏ vốn đầu tư
vào một đối tượng nhất định và giải trình kết quả thu được từ hoạt động đầu tư.
Ban đầu, các hoạt động đầu tư chỉ diễn ra giữa các chủ thể trong cùng
một quốc gia. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của loài người, các quan hệ
kinh tế quốc tế giữa các quốc gia được thiết lập và ngày càng được tăng
cường. Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế quốc tế đó, đã làm
xuất hiện một hình thức đầu tư mới mà quy mô của nó không chỉ bó hẹp trong
phạm vi quốc gia, đó là hoạt động đầu tư quốc tế. Đầu tư quốc tế chính là việc
các nhà đầu tư ở quốc gia này bỏ vốn vào các quốc gia khác theo một chương
12
trình đã được hoạch định trong một thời gian dài nhằm đáp ứng các nhu cầu
của thị trường và mang lại lợi ích lớn hơn cho chủ đầu tư và cho xã hội. Hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được nghiên cứu trong phần này chính
là một trong hai loại hình cơ bản của đầu tư quốc tế.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn đồng
thời là người sử dụng vốn, có nghĩa là nhà đầu tư trực tiếp thực hiện việc quản
lý và điều hành hoạt động đầu tư. FDI được thực hiện thông qua việc thành
lập các công ty con để mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh của các công
ty quốc tế ra toàn cầu. Việc mở rộng qua hình thức FDI này không chỉ đơn
thuần là sự chu chuyển tài chính quốc tế, mà cùng với nó là sự chuyển giao
công nghệ, bí quyết quản lý và các tài sản vô hình khác.
Các dự án đầu tư có sự góp vốn và tham gia quản lý vốn của người
nước ngoài được gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (dự án FDI).
Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư quốc tế
mà nhà đầu tư nước ngoài góp một lượng vốn đủ lớn để thiết lập các cơ sở sản
xuất, kinh doanh, nhờ đó cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng
mà họ bỏ vốn đầu tư, cùng với các đối tác nước nhận đầu tư chia sẻ rủi ro và
thu lợi nhuận từ hoạt động đầu tư đó.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): Đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước chủ đầu tư) có được một
tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản
đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính
khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản
lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu
tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty
con” hay “chi nhánh công ty”.
13
Theo quỹ tiền tệ thế giới IMF: FDI là một hoạt động đầu tư được thực
hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt dộng
trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế của nước chủ đầu tư, mục
đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
Theo luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam: FDI là hình thức đầu tư do
nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở
Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt
động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác
của pháp luật có liên quan.
Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là những dự án đầu tư do các tổ chức
kinh tế và cá nhân ở nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế ở nước
sở tại bỏ vốn đầu tư, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi trong kinh doanh.
1.1.1.2 Đặc điểm của FDI
Hiện nay, xét về bản chất, FDI có những đặc điểm chủ yếu sau:
a. FDI trở thành hình thức chủ yếu trong đầu tư trực tiếp nước ngoài
Xét về xu thế và hiệu quả thì FDI thể hiện rõ hơn sự chuyển biến về chất
lượng trong nền kinh tế thế giới, gắn liền với quá trình sản xuất trực tiếp,
tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và tạo thành cơ sở
của sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia và các doanh nghiệp quốc tế.
b. FDI đang và sẽ tăng mạnh ở các nước đang phát triển
Đầu tư lẫn nhau giữa các nước công nghiệp phát triển tăng mạnh trong
vài thập kỷ lại đây, đặc biệt là từ nửa cuối những năm 1980 là một trong
những đặc điểm quan trọng nhất của các quan hệ kinh tế quốc tế thời hiện đại.
Có nhiều lý do giải thích mức độ đầu tư cao giữa các nước công nghiệp
phát triển với nhau, nhưng có thể thấy hai nguyên nhân chủ yếu. Thứ nhất,
14
môi trường đầu tư ở các nước phát triển có độ tương hợp cao. Môi trường này
hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả môi trường công nghệ và môi trường pháp
lý. Thứ hai, xu hướng khu vực hóa đã thúc đẩy các nước này xâm nhập thị
trường của nhau. Dĩ nhiên đây không phải là lý do trực tiếp vì trong khi khu
vực hóa với chủ nghĩa bảo hộ chặt chẽ chỉ là một xu hướng thì mức độ mở
cửa hiện nay lại không ngăn trở điều đó.
Cũng với hai lý do chính đó, ta có thể giải thích được xu hướng tăng lên
của FDI ở các nước công nghiệp mới (Nics), các nước ASEAN và Trung
Quốc, Ấn Độ. Quá trình tự do hóa kinh tế, chuyển sang kinh tế thị trường ở
các nước này cũng như khu vực Đông Âu và Liên Xô cũ đã tạo nên khoảng
trống mới cho đầu tư. Mặt khác, các nhà đầu tư lớn nhất có xu hướng củng cố
khu vực lân cận của mình. Kể từ năm 2009, Trung Quốc là đối tác thương mại
lớn nhất của ASEAN. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Trung Quốc
vào ASEAN trong năm 2011 tăng 117% so với năm 2010, đạt 5,9 tỷ USD.
Như vậy, xu hướng tự do hóa và mở cửa nền kinh tế các nước đang phát
triển trong những năm gần đây đã góp phần đáng kể vào sự thay đổi dòng
chảy FDI. Năm 1990, các nước đang phát triển nhận được 19% tổng số vốn
FDI, năm 1991 là 25% và năm 1992 khoảng 30%. Trong những năm gần đây
tỷ lệ này vẫn có xu hướng tăng lên.
c. Cơ cấu và phương thức FDI trở nên đa dạng hơn
Trong những năm gần đây, cơ cấu và phương thức đầu tư nước ngoài trở
nên đa dạng hơn so với trước đây. Điều này liên quan đến sự hình thành hệ
thống phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng và sự thay đổi môi
trường kinh tế thương mại toàn cầu.
Về cơ cấu FDI, đặc biệt là FDI vào các nước công nghiệp phát triển có
những thay đổi sau:
15
- Vai trò và tỷ trọng của đầu tư vào các ngành có hàm lượng khoa học
cao tăng lên. Hơn 1/3 FDI tăng lên hằng năm là tập trung vào các ngành then
chốt như điện tử, chế tạo máy tính, chất dẻo, hóa chất và chế tạo máy. Trong
khi đó, trong nhiều ngành công nghiệp truyền thống dùng nhiều vốn và lao
động, FDI giảm tuyệt đối hoặc không đầu tư. Các công ty xuyên quốc gia của
Mỹ đã đóng cửa các chi nhánh của mình ở Tây Âu và Canada trong các ngành
dệt, da, sản xuất các đồ dùng và thực phẩm. Các nguồn vốn thu hồi này được
chuyển về Mỹ và sử dụng để cải tạo và hiện đại hóa cơ sở sản xuất trong nước.
- Tỷ trọng các ngành công nghiệp chế tạo giảm xuống trong khi FDI vào
các ngành dịch vụ tăng lên. Điều này có liên quan đến tỷ trọng khu vực dịch
vụ trong GDP của các nước OECD tăng lên và hàm lượng dịch vụ trong công
nghiệp chế tạo cao. Một số lĩnh vực được ưu tiên là các dịch vụ thương mại,
bảo hiểm, các dịch vụ tài chính và giải trí.
Một vấn đề đáng lưu ý trong phương thức tiến hành FDI trong thời gian
gần đây là vai trò tăng lên của các công ty vừa và nhỏ. Chẳng hạn số dự án
FDI của các công ty vừa và nhỏ của Nhật Bản tăng mạnh từ 318 dự án năm
1985 lên 994 dự án năm 1990, chiếm 58% số dự án (so với 13% năm 1985).
Đa số các công ty này thuộc mạng lưới các công ty xuyên quốc gia, tiến hành
đầu tư theo yêu cầu của công ty mẹ.
d. Sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa FDI với ODA, thương mại, và
chuyển giao công nghệ
FDI và thương mại có liên quan rất chặt chẽ với nhau. Thông thường,
một chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài nhằm mục đích tăng tiềm
năng xuất khẩu của một nước. Mặt khác, các công ty nước ngoài được lựa
chọn ngành và địa điểm đầu tư cũng dựa trên cơ sở tăng khả năng cạnh tranh
của sản phẩm trên thị trường quốc tế. Sự thay đổi kết cấu ngành đầu tư, như
16
sự phân tích ở trên, đã chứng minh điều này. Ngay cả đối với Nhật Bản, nước
đã từng hướng đầu tư nước ngoài vào những ngành khai thác để cung cấp
nguyên liệu cho các ngành công nghiệp trong nước thì những năm gần đây
cũng đã chuyển sang các ngành nhằm vào xuất khẩu là chủ yếu.
FDI đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công
nghệ. Xu hướng hiện nay là FDI và chuyển giao công nghệ ngày càng gắn bó
chặt chẽ với nhau. Đây chính là hình thức có hiệu quả nhất của sự lưu chuyển
vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế. Nhiều nước đã đạt được thành công
trong việc hấp thụ các yếu tố bên ngoài để phát triển kinh tế trong nước là nhờ
chú ý đến điều này. Hồng Kông, Xingapo và Đài Loan rất tích cực khuyến
khích các công ty xuyên quốc gia chuyển giao công nghệ cùng với quá trình
đầu tư. Hơn nữa, chuyển giao công nghệ giúp nâng cao năng lực công nghệ
bản địa. Kinh nghiệm của các nước cho thấy rằng, sự tách rời công nghệ với
thương mại quốc tế, trước hết là xuất khẩu đã làm cho năng lực công nghệ
quốc gia không được cải thiện, ngược lại có nguy cơ tụt hậu do thiếu sức cạnh
tranh. Ấn Độ là ví dụ điển hình về mặt này dù chi phí cho nghiên cứu triển
khai phát triển công nghệ ở nước này không phải thấp, song do tách rời với
xuất khẩu nên vẫn là một nước lạc hậu về công nghệ.
Sự gắn bó giữa FDI và các nguồn viện trợ và vay nợ khác cũng là một
đặc điểm nổi bật của sự lưu chuyển các nguồn vốn và công nghệ trên phạm vi
quốc tế trong những năm gần đây. Hơn nữa, xu hướng này sẽ ngày càng trở
nên mạnh hơn. Lý do là trước đây, các nguồn viện trợ và cho vay thường
nhằm vào mục đích quân sự và chính trị, do đó hiệu quả của nó đối với thúc
đẩy phát triển kinh tế của các nước nhận và nước cho vay vốn là rất thấp. Ở
các nước chậm phát triển nhất hiện nay viện trợ và cho vay chiếm đến 90%
các nguồn vốn từ bên ngoài. Viện trợ và cho vay trong nhiều trường hợp dẫn
đến sự phụ thuộc một chiều hơn là giúp cho các nước nhận có được sự phát
17
triển tự thân và tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế. Vì vậy,
các nguồn vốn này đã được chính phủ, các tổ chức quốc tế đặt trong mối quan
hệ với các nguồn vốn tư nhân nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng chúng.
1.1.2 Phân loại FDI
Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song những hình thức chủ yếu
là hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài,
a. Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual Business Cooperation) là văn
bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên (gọi là bên hợp doanh) quy định rõ trách
nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư sản
xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư mà không thành lập một pháp nhân.
Ở Việt Nam, hình thức này chỉ chiếm trên 3% số dự án và khoảng 9% số vốn
đầu tư.
- Đặc trưng của hình thức này:
+ Cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở phân chia quyền lợi và nghĩa vụ.
+ Không thành lập pháp nhân mới.
+ Mỗi bên thực hiện nghĩa vụ với nước chủ nhà theo quy định riêng.
- Ưu điểm của hình thức này:
Đối với nước tiếp nhận đầu tư: Giúp giải quyết vấn đề thiếu vốn, thiếu
công nghệ tạo ra thị trường mới nhưng vẫn đảm bảo nền an ninh quốc gia và
nắm được quyền điều hành dự án.
Đối với nước đầu tư tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của nước
sở tại vào được những lĩnh vực hạn chế đầu tư.
- Nhược điểm của hình thức này:
Đối với nước tiếp nhận đầu tư: khó thu hút đầu tư
Đối với nước đầu tư: không được trực tiếp điều hành dự án
18
b. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture Interprise): là loại hình doanh
nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với các nước tiếp nhận
đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro
theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước
tiếp nhận đầu tư. Ở Việt Nam, hình thức này chỉ chiếm trên 23% số dự án và
khoảng 44% số vốn đầu tư.
- Đặc trưng của hình thức này:
+ Là dạng công ty trách nhiệm hữu hạn.
+ Có tư cách pháp nhân theo luật của nước chủ nhà
+ Mỗi bên thường chịu trách nhiệm với bên kia hoặc với liên doanh theo
tỷ lệ vốn góp.
- Ưu điểm của hình thức này:
+ Đối với nước tiếp nhận đầu tư: Giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn
giúp đa dạng hóa sản phẩm, đổi mới công nghệ tạo ra thị trường mới và nhiều
cơ hội cho người lao động làm việc và học tập kinh nghiệm quản lý của nước
ngoài.
+ Đối với nhà đầu tư nước ngoài: Tận dụng được hệ thống phân phối có
sẵn của đối tác nước sở tại được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu
lời, lĩnh vực bị cấm hoặc hạn chế với hình thức DN 100% vốn nước ngoài;
thâm nhập được những thị trường truyền thống của nước chủ nhà, không mất
thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối
quan hệ.
- Nhược điểm của hình thức này:
19
Đối với nước tiếp nhận đầu tư: Mất nhiều thời gian thương thảo các
vấn đề liên quan đến dự án đầu tư thường xuất hiện những mâu thuẫn trong
quản lý điều hành DN; đối tác nước ngoài thường quan tâm đến lợi ích toàn
cầu, vì vậy đối với liên doanh phải chịu thua thiệt vì lợi ích nơi khác; thayd
dổi nhân sự ở công ty có ảnh hưởng tới tương lai phát triển của liên doanh.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài: Có sự khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu
tư giữa hai bên đối tác; mất nhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan
đến dự án đầu tư; định giá tài sản góp vốn giải quyết việc làm cho người lao
động của đối tác trong nước; không chủ động trong quản lý điều hành DN, dễ
bị mất cơ hội kinh doanh khó giải quyết khác biệt về tập quán văn hóa.
c) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% Foreign Cantrerisce) là
doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân
nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự
quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh.
- Đặc trưng của hình thức này:
+ Là dạng công ty trách nhiệm hữu hạn
+ Có tư cách pháp nhân theo luật nước chủ nhà
+ Sở hữu hoàn toàn của nước ngoài
Ở Việt Nam, hình thức này có xu hướng gia tăng cả về số dự án và vốn
đăng ký. Số còn lại đăng ký thuộc lĩnh vực hợp doanh BOT công ty cổ phần
và công ty quản lý vốn.
- Ưu điểm của hình thức này:
Đối với nước tiếp nhận đầu tư: nhà nước thu được ngay tiền thuê đất,
tiền thuế mặc dù DN bị lỗ; giải quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ
vốn đầu tư; tập trung thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài vào những
lĩnh vực khuyến khích xuất khẩu.
20
Đối với nước đầu tư: Chủ động trong quản lý điều hành, triển khai
nhanh dự án đầu tư; được quyền chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực.
- Nhược điểm của hình thức này:
Đối với nước tiếp nhận đầu tư: khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và
công nghệ nước ngoài để nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật ở
các DN trong nước
Đối với nước đầu tư: chịu toàn bộ rủi ro trong đầu tư; chi phí nhiều hơn
không xâm nhập được vào những lĩnh vực có nhiều lợi nhuận, thị trường trong
nước lớn khó quan hệ với các cơ quan quản lý Nhà nước của nước sở tại.
d)Hình thức đầu tư xây dựng - vận hành - chuyển giao(BOT)
Là văn bản ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan có thẩm
quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng, mở rộng, nâng cấp, khai thác
công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định (thu hồi vốn là có lợi
nhuận hợp lý) sau đó chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho
nước chủ nhà.
Đặc trưng của hình thức này:
+ Cơ sở pháp lý là hợp đồng.
+ Vốn đầu tư của nước ngoài.
+ Hoạt động theo dạng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc xí
nghiệp liên doanh.
+ Đối tượng hợp đồng thường là các công trình cơ sở hạ tầng.
- Ưu điểm của hình thức này:
Đối với nước nhận đầu tư: có được công trình kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh
giúp khơi dậy các nguồn lực trong nước và thu hút thêm FDI để phát triển
kinh tế
Đối với nhà đầu tư nước ngoài: Hiệu quả sử dụng vốn được bảo đảm,
chủ động quản lý, điều hành và tự chủ KD lợi nhuận, tránh rủi ro bất thường.
21
- Nhược điểm của hình thức này:
Đối với nước nhận đầu tư: khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý và khó
kiểm sosát.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài: Việc thực thi hợp đồng BOT và đàm
phán thường gặp nhiều khó khăn, tốn kém nhiều công sức và thời gian.
Ngoài 4 hình thức FDI chủ yếu nêu trên còn có các hình thức đầu tư
qua công ty mẹ và con, xây dựng- chuyển giao- kinh doanh (BTO), Hợp đồng
xây dựng- chuyển giao (BT), công ty cổ phần, công ty hợp doanh và Hình
thức đầu tư mua lại và sáp nhập M&A (Merger & Acquisition).
1.1.3 Nhân tố thúc đẩy FDI
1.1.3.1 Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng
suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được
do dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước. Một
nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu
vốn thường có năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di
chuyện dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi
nhuận. Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước
thiếu vốn. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào
có năng suất cận biên cao mới được các doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà
cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của doanh nghiệp thì họ vẫn
tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên thấp.
1.1.3.2 Chu kỳ sản phẩm
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh tế quốc tế thì chu kỳ
sống của các sản phẩm này bao gồm 03 giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sản
phẩm mới; giai đoan sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa.
Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh
22
và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước
ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị
trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế
sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuật của nước
ngoài (giai đoạn sản phẩm chín muồi). Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm
mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai
đoạn sản phẩm chuẩn hóa). Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn
đến sự hình thành FDI.
Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới
giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường
sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở gia đoạn này, sản phẩm ít được cải
tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do
đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung
cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất
thấp hơn.
1.1.3.3 Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
Stephen H.Hymes (1960, công bố năm 1976), John H. Dunning (1981),
Rugman A.A. (1987) và một số người khac cho rằng các công ty đa quốc gia
có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt
qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi
nào có các điều kiện (lao động, đất đai, chính trị) cho phép họ phát huy các lợi
thế đặc thù nói trên. Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn
và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ
và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng.
1.1.3.4 Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột
thương mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu
23
phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt
thương mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường
đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay
tại Mỹ và Châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang.
Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị
trường Bắc Mỹ và Châu Âu.
1.1.3.5 Khai thác chuyển giao công nghệ
Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém
phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật Bản là
nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ.
Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để
sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng
vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển
khác cũng có chính sách tương tự. Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa quốc gia quốc
tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công
ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để
Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL
(Trung Quốc) trong sáp nhập ngành điện tử sáp nhập với Thompson (Pháp)
thành TCL-Thompson Electronics, việc National Offshore Oil Corporation
(Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với
chiến lược như vậy.
1.1.3.6 Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư
vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này.
FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.
24
1.2 Các mô hình về vai trò của nguồn vốn đối với tăng trưởng
1.2.1 Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế
1.2.1.1 Mô hình
Vào cuối thế kỷ 19, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ,
trường phái kinh tế tân cổ điển ra đời. Bên cạnh một tố quan điểm về tăng
trưởng kinh tế tương đồng cùng trường phái cổ điển như sự tự điều tiết của
bàn tay vô hình, mô hình này có các quan điểm mới sau:
Đối với các nguồn lực về tăng trưởng kinh tế, mô hình nhấn mạnh vai trò
đặc biệt quan trọng của vốn. Từ đó họ đưa ra hai khái niệm:
- Phát triển kinh tế theo chiều sâu: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng số
lượng vốn cho một đơn vị lao động.
- Phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng vốn
tương ứng với sự gia tăng lao động.
Để chỉ quan hệ giữa gia tăng sản phẩm và tăng đầu vào, họ sử dụng hàm
sản xuất Cobb Douglass Y = F(k, l, r, t)
Sau khi biến đổi, Cobb-Douglass thiết lập mối quan hệ theo tốc độ tăng
trưởng các biến số: g = t + ak + bl + cr
Trong đó:
G: tốc độ tăng trưởng GDP
K, l, r: tốc độ tăng của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên
T: Phần dư còn lại, phản ánh tác động khoa học kỹ thuật
A, b, c: các hệ số, phản ánh tỉ trọng của các yếu tố đầu vào trong tổng
sản phẩm (a + b + c = 1)
1.2.1.2 Ý nghĩa
Các nhà kinh tế học tân cổ điển đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng
trưởng thông qua hàm sản xuất. Hàm số này nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng
lên của đầu ra với sự tăng lên của yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên,
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×