Tải bản đầy đủ

309 Kiểm toán viên và tính độc lập của kiểm toán viên

Đề án môn học 1
Lời mở đầu
Trên thế giới, thuật ngữ kiểm toán đã có từ lâu - từ khi xuất hiện nhu cầu xác
định tính trung thực, độ tin cậy của thông tin trên báo cáo tài chính và thực trạng tài sản
của một chủ thể trong quan hệ kinh tế. Nhng hoạt động kiểm toán chuyên nghiệp chỉ
mới xuất hiện cách đây khoảng 300 năm, khởi đầu do cuộc Đại Cách mạng Công
nghiệp. Do cuộc Cách mạng này đã có sự tách biệt giữa chức năng sở hữu và chức năng
quản lý, đồng thời làm xuất hiện khái niệm chủ nhân và ngời quản lý. Vì vậy đã làm
nảy sinh nhu cầu kiểm tra để phát hiện các gian lận của ngời quản lý và ngời làm thuê.
Đến năm 1844, nớc Anh ban hành Luật Công ty cổ phần - là luật Công ty cổ phần đầu
tiên trên thế giới, cùng với đó là sự xuất hiện khái niệm kiểm toán viên. ở Việt Nam
kiểm toán mới thật sự xuất hiện sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế.
Cùng với xu thế chung của thời đại quốc tế hoá và sự hợp tác hoá, nớc ta
cũng đang cuốn theo dòng xoáy sự phát triển hội nhập nền kinh tế thế giới. Sự gia
nhập của nớc ta vào WTO đánh dấu bớc phát triển và thách thức lớn đó là sự cạnh
tranh tự do và mạnh mẽ của các tập đoàn kinh tế, thị trờng chứng khoán ngày càng
bùng nổ. Trong bối cảnh đó, kiểm toán là một trong những ngành, một trong những
lĩnh vực thơng mại dịch vụ đợc quan tâm trong đàm phán. Việc công khai hoá các bản
khai tài chính đợc chứng nhận trung thực hợp lý bởi một bên hoàn toàn độc lập đã
khiến cho kiểm toán ngày càng trở nên phổ biến đối với doanh nghiệp và các tổ chức
kinh tế.

Từ đó vấn đề kiểm toán viên, nâng cao tính độc lập của kiểm toán viên là hết sức
cần thiết cho việc một báo cáo tài chính minh bạch. Vì vậy em đã chọn đề tài Kiểm
toán viên và tính độc lập của kiểm toán viên làm đề tài cho đề án môn học của
mình.
Những kiến thức có đợc và qua thời gian nghiên cứu trong đề án em xin đợc
trình bày trong 2 phần :
Phần I: Cơ sơ lý luận về kiểm toán viên và tính độc lập của kiểm toán viên
Phần II: Thực trạng kiểm toán và tính độc lập của kiểm toán viên tại Việt
Nam hiện nay.
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B
Đề án môn học 2
Phần I: Cơ sở lý luận về kiểm toán viên và tính độc
lập của kiểm toán viên
1.1 Những yêu cầu và vai trò của kiểm toán viên
Tuy mới chỉ chính thức xuất hiện vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX với sự
ra đời của các Công ty kiểm toán độc lập song kiểm toán đã nhanh chóng chứng tỏ
đợc vai trò đặc biệt quan trọng của mình trong việc tăng cờng và nâng cao hiệu quả
của quản lý. Với chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động của
đơn vị đợc kiểm toán, kiểm toán tạo niềm tin cho các nhà đầu t, các nhà quản trị
doanh nghiệp, khách hàng và những ngời quan tâm. Nó góp phần hớng dẫn nghiệp
vụ củng cố nền nếp hoạt động tài chính, kế toán nói riêng và hoạt động quản lý nói
chung. Hơn hết kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý
Theo nghĩa tổng quát nhất kiểm toán là một phơng tiện mà nhờ đó con ngời
đợc đảm bảo bằng một ngời khác về chất lợng điều kiện hay tình trạng của một vấn
đề nào đó mà sau này sẽ đợc xem xét. Nhu cầu kiểm toán nh vậy đợc phát sinh là
bởi vì có ngời đợc nhắc đến đầu tiên nghi ngờ về chất lợng, điều kiện hay tình trạng
của vấn đề và không có khả năng tự mình gạt bỏ mối nghi ngờ hay điều không chắc
chắn đó. Từ đó hình thành nên bộ máy kiểm toán mang tính khoa học và nghệ thuật
trong đó kiểm toán viên là yếu tố cơ bản cấu thành bộ máy kiểm toán. Kiểm toán
viên là khái niệm chung chỉ những ngời làm công tác kiểm toán cụ thể có trình độ
nghiệp vụ tơng xứng với công việc đó. Theo nghĩa hẹp, từ kiểm toán viên ( Auditor)
thờng gắn với chức danh kế toán viên công chứng (CPA). Tuy nhiên trong cả lý luận
và thực tế, khái niệm kiểm toán viên cũng bao gồm kiểm toán viên nhà nớc và kiểm
toán viên nội bộ.
Kiểm toán viên nội bộ thờng là những ngời làm nghề kiểm toán không
chuyên nghiệp, họ có thể là những kế toán viên giỏi những nhà quản lý có kinh
nghiệm, kĩ thuật viên có hiểu biết về những lĩnh vực liên quan đến kiểm toán đặc
biệt là các loại hình công nghệ, quy trình kĩ thuật, các định mức... Tuy nhiên những
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B
Đề án môn học 3


ngời này cũng cần có trình độ nghiệp vụ tơng xứng. Hơn nữa trong nhiều trờng hợp
kiểm toán viên nội bộ cũng có thể là những kiểm toán viên chuyên nghiệp nh những
giám định viên trong hệ thống kiểm toán ở Tây Âu...
Kiểm toán viên độc lập là những ngời hành nghề kiểm toán. Để hành
nghề họ phải có đủ các điều kiện hành nghề nh:
o Về nghiệp vụ chuyên môn: Phải có bằng chứng chỉ kế toán viên công
chứng ( CPA)
o Về phẩm hạnh: Phải là ngời không có tiền án, tiền sự
o Về pháp lý: Phải đăng kí hành nghề ( tại Bộ t pháp riêng ở Việt Nam
tại Bộ Tài Chính)
o Về xã hội: Không có chung lợi ích , không có quan hệ ruột thịt (thờng là
3 đời) với khách thể kiểm toán.
Kiểm toán viên độc lập thờng có hai chức danh :
o Kiểm toán viên: thờng là đã tốt nghiệp đại học và sau 4 năm làm th ký
(hoặc trợ lý) kiểm toán và đã tốt nghiệp kì thi tuyển kiểm toán viên ( quốc gia hoặc
quốc tế ) để lấy bằng ( chứng chỉ ) kiểm toán viên ( CPA ). Trên thực tế, phải có khả
năng độc lập thực hiện công việc kiểm toán cụ thể .
o Kiểm toán viên chính: là ngời từng qua kiểm toán viên (thờng từ 3-5 năm)
và qua kì thi nâng bậc. Về chuyên môn phải là ngời có khả năng tổ chức một nhóm
kiểm toán viên tiến hành một công việc kiểm toán có quy lớn Những kiểm toán
viên độc lập đợc hành nghề trong một tổ chức (công ty) hoặc văn phòng t tuỳ điều
kiện cụ thể do pháp luật quy định.
Kiểm toán viên nhà nớc là những công chức (viên chức nhà nớc) làm
nghề kiểm toán. Do đó, họ đợc quyền chọn và hoạt động do tổ chức kiểm toán nhà
nớc phân công. Đồng thời, họ đợc xếp vào các ngành bậc chung của công chức theo
tiêu chuẩn cụ thể của từng nớc trong từng thời kỳ):
- Kiểm toán viên.
- Kiểm toán viên chính
- Kiểm toán viên cao cấp
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B
Đề án môn học 4
Chức năng và quyền hạn cụ thể của từng ngành bậc cũng đợc quy định cụ thể
tuỳ theo từng nớc song nói cung cũng có sự gần gủi giữa các quốc gia và có mối
quan hệ tơng ứng với các chức danh của kiểm toán viên độc lập. Riêng kiểm toán
viên cao cấp thờng giữ cơng vị lãnh đạo trong cơ qua kiểm toán nhà nớc hoặc là
những chuyên gia cao cấp có chức năng và quyền hạn trong kiểm toán, trong t vấn
(kể cả soạn thảo văn bản pháp luật) thậm chí trong phán xử (nh một quan toà) ... tuỳ
theo quy định cụ thể của từng nớc.
Tuy có sự khác nhau giữa kiểm toán viên nhà nớc, kiểm toán viên độc lập,
kiểm toán viên nội bộ nhng các kiểm toán viên đều có vai trò nh nhau và có những
yêu cầu nh nhau đối với một kiểm toán viên.
1.1.1 Vai trò của kiểm toán viên
Trong cuộc sống vấn đề xã hội cũng nh vấn đề kinh tế, chúng ta phải đối mặt
với rất nhiều quyết định. Có những quyết định đúng đắn, kịp thời có thể mang đến
thành công, nhng cũng có những quyết định sai lầm có thể mang đến hậu quả xấu và
có thể dẫn đến thất bại. Vậy làm thế nào để có một quyết định đúng khi mà xã hội,
con ngời ngày càng phức tạp, hệ thống thông tin bị những yếu tố xã hội chi phối,
không khách quan và ngày càng bị bóp méo. Để đạt dợc một quyết định sáng suốt
thì nguồn thông tin đảm bảo, tin cậy kịp thời là vô cùng cần thiết. Còn đối với các cổ
đông, họ rất cần đảo bảo chất lợng thông tin trong báo cáo tài chính. Hơn nữa không
còn cách nào khác để mọi cá nhân cổ đông đều có cơ hội xác minh nội dung của
một loạt những báo cáo tài chính. Chính kiểm toán là giải pháp cho những vấn đề
này.
Một cách khác nữa mà ngời sử dụng thông tin có thể sử dụng là chia sẻ rủi ro
thông tin cùng với ban quản trị doanh nghiệp. Ban quản trị có trách nhiệm cung cấp
thông tin đáng tin cậy cho ngời sử dụng. Nếu ngời sử dụng dựa trên các báo cáo tài
chính không chính xác và điều này dẫn tới những thiệt hại về mặt tài chính thì ngời sử
dụng có căn cứ để kiện ban quản trị. Điều trở ngại trong việc ngời sử dụng chia sẻ rủi ro
thông tin với ban quản trị là họ có khả năng không thu hồi đợc khoản lỗ. Nếu một công
ty không có khả năng thanh toán nợ vì bị phá sản thì không chắc rằng ban quản trị sẽ có
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B
Đề án môn học 5
đủ tiền để thanh toán cho ngời sử dụng. Cách hiệu quả nhất trong trờng hợp này để hạn
chế rủi ro thông tin là sử dụng các báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán.
Mặt khác mục đích của kiểm toán không phải là cung cấp thông tin bổ sung. Nó
chỉ nhằm cho phép những ngời sử dụng có thể tin tởng nhiều hơn thông tin đã đợc ngời
khác chuẩn bị. Kiểm toán một báo cáo tài chính đã công bố là một cách giải quyết vấn
đề đại diện. Các cổ đông, ban quản trị đòi hỏi phải có một phơng tiện nào đó đảm bảo
chắc chắn rằng những thông tin đợc họ lấy làm cơ sở cho những quyết định của mình là
đáng tin cậy, ý kiến của kiểm toán viên giúp tạo nên sự tin cậy vào các báo cáo tài
chính đó. Các kiểm toán viên sẽ tiến hành các cuộc kiểm toán để thu thập và đánh giá
các bằng chứng nhằm đảm bảo rằng các thông tin trên báo cáo tài chính là trung thực
và hợp lý xét trên các khía cạnh trọng yếu. Thông tin đã kiểm toán sau đó sẽ đợc sử
dụng trong quá trình ra quyết định với giả định là thông tin tơng đối đầy đủ, chính xác
và vô t. Không những thế, nếu có các kiểm toán viên tiến hành kiểm tra thông tin sẽ tiết
kiệm hơn việc những ngời cá biệt sử dụng thông tin tự mình kiểm tra.
Xã hội ngày càng phức tạp thì sự tin cậy vào kiểm toán viên để làm giảm rủi ro
thông tin càng tăng. Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, vai trò đó của kiểm toán viên
ngày càng quan trọng. Nó góp phần làm lành mạnh hoá nền tài chính, nâng cao tính
minh bạch của các thông tin tài chính, từ đó nâng cao hiệu lực của quản lý nói riêng và
góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Tuy nhiên ngời sử dụng không nên
cho rằng ý kiến của kiểm toán viên là một sự đảm bảo khả năng tồn tại trong tơng lai
của doanh nghiệp hay một ý kiến về hiệu suất hay hiệu quả mà ban lãnh đạo đã thực
hiện các công việc của doanh nghiệp.
1.1.2. Những yêu cầu đối với kiểm toán viên
Kiểm toán viên là một nghề, giống những nghề khác nh bác sĩ, giáo viên, kĩ s.
Nó đòi hỏi trình độ chuyên môn cũng nh đạo đức nghề nghiệp. Kiểm toán viên làm
công việc là kiểm tra độc lập, bày tỏ ý kiến về các thông tin trình bày trên báo cáo
tài chính. Đây là một lĩnh vực khoa học chuyên môn có phạm vi rộng, đòi hỏi ngời
làm kiểm toán có một trình độ chuyên môn nhất định. Có nh vậy, kiểm toán viên
mới có thể đa ra đuợc những ý kiến kiểm toán đúng đắn hữu ích trong việc ra quyết
định của ngời sử dụng báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, có thể thấy kiểm toán là một
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B
Đề án môn học 6
lĩnh vực hoạt động mang tính chủ quan, bởi căn cứ vào các bằng chứng thu thập đợc,
kiểm toán viên dựa trên các kinh nghiệm và óc xét đoán nghề nghiệp của mình để đa
ra ý kiến về các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính. Chất lợng của một cuộc
kiểm toán sẽ có ảnh hởng lớn đến những ngời sử dụng kết quả kiểm toán trong việc
ra quyết định tài chính, trong khi những ngời sử dụng báo cáo tài chính thông thờng
không thể đánh giá đợc công việc kiểm toán. Với tầm quan trọng của kiểm toán viên
trong vấn đề kiểm toán nên mỗi quốc gia đều có những yêu cầu về trình độ chuyên
môn và đạo đức nghề nghiệp đối với những ngời làm nghề kiểm toán.
1.1.2.1 Yêu cầu về trình độ chuyên môn
Năng lực chuyên môn là nhân tố quan trọng đối với kiểm toán viên. Năng lực
chuyên môn cao hay thấp sẽ ảnh hởng rất lớn đến chất lợng của cuộc kiểm toán, bởi
nó ảnh hởng đến khả năng của kiểm toán viên trong việc đánh giá tính trung thực
hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính, phát hiện ra các sai phạm và đa ra ý
kiến kiểm toán hợp lý. Do đó kiểm toán viên phải có năng lực, kĩ thuật và kĩ năng đặc
biệt. Điều đó đạt đợc thông qua việc kết hợp giữa quá trình đào tạo phổ thông với các
hiểu biết về nghiệp vụ đạt đợc thông qua tự nghiên cứu và các chơng trình đào tạo chính
thức đợc kết thúc bằng các kì thi có cấp chứng chỉ cũng nh các kinh nghiệm thực tiễn
đã đợc kiểm nghiệm đúng đắn. Hơn nữa, kiểm toán viên phải tiếp tục nhận thức đợc sự
phát triển về kế toán, kiểm toán qua các văn bản chuyên ngành thích hợp do quốc gia
và quốc tế công bố cũng nh các quy định có liên quan và các yêu cầu của pháp luật.
Trình độ chuyên môn còn yêu cầu về kinh nghiệm làm việc. Cần phải mất vài
năm để trở thành một kiểm toán viên trình độ. Tuy các tổ chức có những quy tắc hơi
khác nhau nhng nhìn chung, mọi tổ chức đều có nhng yêu cầu tối thiểu để kết nạp
thành viên. Sau khi trở thành một kế toán viên đủ trình độ ngời đó vẫn cha đợc phép
làm kiểm toán viên, mọi tổ chức chuyên nghiệp đều chủ trơng là các thành viên của
mình không đợc làm các dịch vụ kế toán trừ khi họ đã có chứng chỉ hành nghề. Trong
thực tế rất ít kế toán viên chuyên nghiệp đợc cấp chứng chỉ hành nghề mà cam chịu sử
dụng nghề nghiệp của mình để làm thuê cho các văn phòng chuyên nghiệp hay trong
ngành.
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B
Đề án môn học 7
Ngoài ra, trong điều kiện nền kinh tế tài chính thế giới ngày càng quốc tế hóa
sâu rộng, kiểm toán viên cần phải thông thạo ngoại ngữ để có thể trao đổi với khách
hàng để công việc kiểm toán có thể diễn ra thuận lợi và các báo cáo kiểm toán có
giá trị quốc tế. Mặt khác khoa học kĩ thuật, công nghệ thông tin ngày càng phát
triển, máy tính trở nên phổ biến kiểm toán viên cần phải có kĩ năng tin học, thành
thạo các phần mềm kế toán Kĩ năng giao tiếp cũng là một kĩ năng quan trọng của
kiểm toán viên. Có đợc một nghệ thuật giao tiếp tốt, kiểm toán viên sẽ tránh đợc
những hiểu lầm, tạo thuận lợi trong việc thu thập các số liệu làm bằng chứng kiểm
toán và nhất là có thể duy trì một mối quan hệ tốt đẹp và lâu dài giữa công ty kiểm
toán và khách hàng kiểm toán.
1.1.2.2. Yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên
Trình độ chuyên môn là một yêu cầu không thể thiếu của kiểm toán viên
trong việc đa ra ý kiến của mình đối với báo cáo tài chính. Song bên cạnh đó kiểm
toán hoạt động mang tính chủ quan, kiểm toán viên căn cứ vào những bằng chứng
thu thập đợc và kiểm toán viên dựa vào những kinh nghiệm nghề nghiệp và óc phán
xét để đa ra những ý kiến nhận xét trên báo cáo tài chính. Do vậy thì chỉ trình độ
chuyên môn cha đủ kiểm toán viên cần phải có một cái tâm trong sáng.
Vấn đề đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên với niềm tin của công chúng
đang là vấn đề thách thức với nghề kiểm toán trong thế kỉ 21 này_ sau ảnh hởng của
vụ bê bối tài chính năm 2001 và 2002. Đây không phải là vấn đề mà chỉ một số nớc
gặp phải mà là vấn đề của tất cả các tổ chức của tất cả các nớc.
Chúng ta hẳn vẫn cha quên chuyện một số cá nhân kiểm toán viên thông
đồng với tập đoàn viễn thông Worldcom ở Mỹ cha lâu và ở nớc ta, mới đây thôi là
việc gian lận trong báo cáo tài chính của công ty Tiếp thị và Đầu t của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn. Đó chính là những ví dụ rõ ràng nhất về sự cần thiết
của phẩm chất đạo đức nghề nghiệp trong hành nghề kiểm toán. Phẩm chất đạo đức
nghề nghiệp đối với kiểm toán viên là vấn đề bức thiết cần xem xét.
Chuẩn mực kiểm toán số 200 về Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối
kiểm toán báo cáo tài chính có quy định: Kiểm toán viên phải tuân thủ các nguyên
tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán nh sau: độc lập, chính trực, khách quan, năng lực
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B
Đề án môn học 8
chuyên môn và tính thận trọng, tính bí mật, t cách nghề nghiệp, tuân thủ chuẩn mực
chuyên môn.
1.1.2.2.1 Tính độc lập
Độc lập là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên . Chuẩn mực
Đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán yêu cầu mọi kiểm toán viên và thành viên
nhóm kiểm toán cung cấp dịch vụ kiểm toán (dịch vụ đảm bảo), công ty kiểm toán
phải độc lập với các khách hàng sử dụng dịch vụ kiểm toán.
Tính độc lập đợc xem nh là phẩm chất chủ yếu nhất của kiểm toán viên. Bởi
thái độ độc lập phụ thuộc vào hai yếu tố là bản chất thực của kiểm toán viên và cách
nhìn nhận công chúng đối với kiểm toán viên. Có thể bản chất cua kiểm toán viên là
không cho phép bất cứ yếu tố nào ảnh hởng tới tính độc lập của mình, ngay cả khi
kiểm toán viên có dính líu về mặt kinh tế hoặc tình cảm với đơn vị đợc kiểm toán.
Tuy nhiên chỉ bản chất thì vẫn cha đủ mà phải đảm bảo về mặt hình thức thể hiện.
Chẳng hạn, một kiểm toán viên có dính líu về mặt kinh tế hoặc quan hệ nhân thân
thì dù có thực bản chất của kiểm toán viên là độc lập, công chúng vẫn cho rằng
không đảm bảo tính độc lập. Những ngời sử dụng báo cáo kiểm toán phải tin vào
tính độc lập và sự vô t của kiểm toán viên trong việc đánh giá và đa ra ý kiến trên
báo cáo tài chính coi nó nh là một căn cứ về tính trung thực và hợp lý của các báo
cáo tài chính của doanh nghiệp để đa ra những quyết định tài chính kinh tế đúng
đúng đắn.
1.1.2.2.2 Tính chính trực, khách quan
Kiểm toán viên phải là ngời thẳng thắn, trung thực và có lơng tâm nghề
nghiệp, phải là ngời trong sáng không đợc phép để cho sự định kiến thiên lệch lấn át
tính khách quan. Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp quy định chính trực là kiểm toán
viên phải thẳng thắn, trung thực trong t tởng, có chính kiến rõ ràng, đồng thời phải
công bằng, tín nhiệm, không có xung đột về lợi ích. Khách quan là kiểm toán viên
phải công bằng, tôn trọng sự thật và không đợc thành kiến thiên vị.
Kiểm toán viên căn cứ vào những bằng chứng thu thập đợc và dựa vào những
kinh nghiệm, óc phán xét của mình, để đa ra những ý kiến của mình về báo cáo
kiểm toán. Kiểm toán viên không đợc chú tâm phản ánh sai sự việc, không đợc để sự
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B
Đề án môn học 9
phán xét của mình lệ thuộc vào ngời khác. Trong quá trình cuộc kiểm toán, việc áp
dụng và lựa chọn những đạo đức nghề nghiệp để đảm bảo nguyên tắc khách quan là
rất quan trọng đối với kiểm toán viên. Một số truờng hợp vi phạm đến tính khách
quan của kiểm toán viên nh: áp lực từ ban quản lý, ban giám đốc hay có quan hệ
gia đình hay cá nhân. Kiểm toán viên không nên nhận, hoặc tặng quà chiêu đãi có
thể ảnh hởng đến đánh giá nghề nghiệp, ảnh hỏng đến tính chính trực khách quan,
ảnh hởng đến danh tiếng kiểm toán viên.
Hành vi cho mợn danh kiểm toán viên hành nghề cũng đợc coi là vi phạm t
cách nghề nghiệp và tính chính trực đợc quy định trong Chuẩn mực Đạo đức nghề
nghiệp. Các kiểm toán viên cũng ý thức rằng, việc cho mợn danh để hành nghề sẽ
đem đến nhiều rủi ro cho kiểm toán viên cho m ợn danh nh: sẽ làm giảm sự tín
nhiệm của kiểm toán viên đối với xã hội nói chung, đối với khách hàng, đồng
nghiệp nói riêng.
1.1.3.2.3 Tính thận trọng
Chuẩn mực này đòi hỏi kiểm toán viên phải luôn đa nghi nghề nghiệp chẳng
hạn nh luôn đặt ra những câu hỏi cho các dấu hiệu nghi ngờ, phân tích các bằng
chứng và đánh giá hoặc để khẳng định, hoặc loại bỏ những nghi ngờ đó. Thận trọng
nghề nghiệp thích đáng cho phép kiểm toán viên đảm bảo một cách hợp lý rằng các
các báo cáo tài chính không còn tồn tại các sai phạm trọng yếu.
Sự thận trọng gắn liền với trình độ chuyên môn, thận trọng trong việc lập kế
hoạch và giám sát chuyên môn. Thận trọng đa ra ý kiến trong báo cáo kiểm toán.
Mặt khác kiểm toán viên đợc khuyến cáo là tránh trớc những mâu thuẫn quyền lợi,
vì vậy họ nên thận trọng khi làm thêm các dịch vụ ngoài kiểm toán. Ví dụ, họ đồng
ý thơng lợng một hợp đồng vay tiền, thì kiểm toán có thể bị cám dỗ chấp nhận một
loạt báo cáo tài chính giả dối. Kiểm toán viên cũng phải hết sức thận trọng, tránh
tham gia vào việc chuẩn bị các báo cáo tài chính hay những sổ sách kế toán cơ bản
làm cơ sơ cho báo cáo tài chính. Để giảm rủi ro kiểm toán, giảm bớt trách nhiệm
của kiểm toán viên thì thận trọng là một nguyên tắc không thể thiếu trong khi hành
sự kiểm toán.
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B
Đề án môn học 10
1.1.2.2.4 Tính bảo mật
Tính bảo mật của kiểm toán viên là phải tôn trọng các bí mật của những
thông tin đã thu thập đợc trong quá trình kiểm toán, không đợc để lộ bất cứ thông tin
kiểm toán nào cho ngời thứ ba khi không có sự uỷ quyền đặc biệt hoạc có trách
nhiệm pháp lý, trách nhiệm nghề nghiệp yêu cầu phải công bố. Nh vậy, trong quá
trình tiến hành cuộc kiểm toán, kiểm toán viên thu đợc một số lợng đáng kể thông
tin bảo mật, gồm cả lơng của các viên chức, quá trình định giá sản phẩm, các kế
hoạch quảng cáo, và số liệu chi phí sản phẩm... Nếu kiểm toán viên tiết lộ những
thông tin này cho những ngời ở bên ngoài hoặc cho các nhân viên của công ty khách
hàng (là những ngời không đợc quyền tiếp cận với các thông tin đó), thì mối quan hệ
giữa kiểm toán viên, công ty kiểm toán với ban giám đốc công ty khách hàng sẽ bị
căng thẳng nghiêm trọng và trong trờng hợp cực đoan có thể sẽ làm phơng hại đến
công ty khách hàng. Vì những lý do trên, việc cẩn trọng để bảo vệ các bản t liệu mật
của công ty khách hàng là rất quan trọng.
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp quy định kiểm toán viên có nghĩa vụ tôn
trọng nguyên tắc bảo mật các thông tin về khách hàng thu đợc trong quá trình kiểm
toán, kể cả sau khi kết thúc hợp đồng kiểm toán. Trừ khi thông tin cần đợc cung cấp
cho cơ quan chức năng có liên quan hoặc trách nhiệm nghề nghiệp hoặc luật pháp
yêu cầu phải báo cáo, kiểm toán viên không đợc tiết lộ thông tin, không đợc sử dụng
các thông tin này để thu lợi cá nhân hoặc thu lợi cho bên thứ ba. Kiểm toán viên
không đợc công bố thông tin bảo mật về khách hàng kể cả thông tin khác nếu không
đợc sự đồng ý của công ty khách hàng. Nh vậy, kiểm toán viên có thể cung cấp
thông tin cho ngời khác chỉ khi đợc sự cho phép của công ty khách hàng. Đây là một
điều kiện bắt buộc, kể cả trong trờng hợp kiểm toán viên bán kết quả làm việc của
mình cho một công ty kiểm toán khác hoặc muốn cho phép ngời kiểm toán viên kế
tục xem xét t liệu lập cho công ty khách hàng trớc đây.
1.1.2.2.5. T cách nghề nghiệp và tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp quy định kiểm toán viên phải trau dồi và
bảo vệ uy tín nghề nghiệp, không đợc gây ra những hành vi làm giảm uy tín nghề
nghiệp.
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B
Đề án môn học 11
Hành vi làm mất tín nhiệm không đợc định nghĩa rõ ràng trong các nguyên
tắc của chuẩn mực, một vài hành vi sau của kiểm toán viên có thể đợc xem là ví dụ
(theo văn bản hớng dẫn thi hành chuẩn mực đạo đức của Viện kiểm toán độc lập
Hoa Kỳ):
Kiểm toán viên giữ lại sổ sách của khách hàng sau khi một đòi hỏi không
đợc đáp ứng là một hành vi làm mất tín nhiệm. Ví dụ, giả sử ban quản trị công ty
khách hàng không trả thù lao cho công ty kiểm toán và do đó các kiểm toán viên từ
chối trả lại sổ sách của khách hàng.
Một công ty kiểm toán phân biệt đối xử giữa các chủng tộc, màu da, tôn giáo,
giới tính, tuổi tác, hoặc quốc tịch cũng đợc xem là một hành vi làm mất tín nhiệm.
Nếu một kiểm toán viên đồng ý thực hiện kiểm toán ở một cơ quan Nhà n-
ớc, mà cơ quan này qui định các thể thức kiểm toán khác với các chuẩn mực kiểm
toán đã đợc thừa nhận, thì trách nhiệm đối với uy tín nghề nghiệp thể hiện ở chỗ
kiểm toán viên phải tuân thủ cả các thể thức của cơ quan Nhà nớc đó và các chuẩn
mực kiểm toán đã đợc chấp nhận, trừ khi báo cáo kiểm toán đợc diễn đạt bằng một
cách khác.
Trong tất cả mọi ngành nghề, chuẩn mực chính là những nguyên tắc hay quy
tắc tối thiểu mà các thành viên của một nghề tuân theo và xem đó nh là cơ sở để
đánh giá chất lợng công việc. Chuẩn mực kiểm toán là những quy phạm pháp lý, là
thớc đo chung chất lợng công việc kiểm toán và dùng để điều tiết những hành vi của
kiểm toán viên và các bên hữu quan theo hớng đạo và mục tiêu xác định. GAAS là
những chuẩn mực có hiệu lực mà kiểm toán viên phải tuân thủ khi tiến hành kiểm
toán và là cách thức đảm bảo chất lợng công việc kiểm toán. Có 3 nhóm chuẩn mực
chính mà kiểm toán viên cần phải tuân thủ là:
Nhóm chuẩn mực chung
Nhóm chuẩn mực thực hành
Nhóm chuẩn mực báo cáo
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B
Đề án môn học 12
1.2 Tính độc lập của kiểm toán viên
1.2.1. Khái niệm về tính độc lập của kiểm toán viên
Một vấn đề cực kì quan trọng là kiểm toán viên phải đợc ngời sử dụng báo
cáo kiểm toán tin tởng. Và họ không thể tin vào báo cáo kiểm toán nếu họ cảm thấy
nội dung của báo cáo đó đã chịu ảnh hởng của ban giám đốc. Theo một số định
nghĩa thì kiểm toán là việc kiểm tra độc lập và trình bày ý kiến về các báo cáo tài
chính của một doanh nghiệp Và để tăng thêm mức độ tin cậy của báo cáo tài
chính thì ngời đọc báo cáo kiểm toán tin rằng kiểm toán viên không chịu ảnh hởng
của ban giám đốc. Vậy ở đây độc lập là gì? Độc lập đợc mô tả nh là: luôn luôn có
thái độ suy nghĩ chính trực và có quan điểm khách quan trong công tác nghiệp vụ.
Cũng có ý kiến cho rằng: đối với kiểm toán viên hai đức tính quan trọng nhất là
tính thẳng thắn và tính cách mạnh mẽ , điều này có nghĩa là sự độc lập tuy là quan
trọng, song cũng rất khó đo lờng. Bởi không thể nào quan sát đợc quan điểm ở trong
đầu của một ngời hay bản chất trung thực của cá nhân ngời đó. Tuy nhiên những chỉ
dẫn đối với kiểm toán viên còn đi xa hơn nữa. Kiểm toán viên phải và phải tỏ ra là
không có bất kì một quyền lợi nào mất đi tính khách quan. Nhng điều đó thì vẫn cha
đủ để đảm bảo kiểm toán viên đó là độc lập. Ngời đó phải đảm bảo chắc chắn sẽ
không có bất kì điều gì có thể gây nghi ngờ về sự vô t của mình. Và tất nhiên là cần
phải đảm bảo chắc chắn rằng kiểm toán viên đợc xem là độc lập. Rất khó làm cho
những ngời sử dụng báo cáo kiểm toán tin cậy vào sự trung thực của một ngời mà họ
không quen biết trực tiếp nhất là nếu ngời đó có thể sẽ đợc lợi trong việc lừa dối họ.
Dù cho kiểm toán viên có khả năng tiếp cận với nhiệm vụ đợc giao trong đó phải đ-
ơng đầu với một mâu thuẫn quyền lợi với thái độ hoàn toàn khách quan thì ngời sử
dụng báo cáo vẫn không thể hoàn toàn không nghi ngờ gì về tính khách quan của
ngời đó. Sự nghi ngờ đó sẽ làm tan vỡ hoàn toàn sự tin cậy mà kiểm toán cần bổ
sung cho các báo cáo tài chính.
Độc lập bao gồm độc lập về t tởng và độc lập cả về hình thức. Độc lập về t t-
ởng là trạng thái suy nghĩ cho phép đa ra ý kiến mà không chịu ảnh hởng của những
tác động trái với những đánh giá nghề nghiệp, cho phép một cá nhân hành động một
cách chính trực, khách quan và có sự thận trọng nghề nghiệp. Độc lập về hình thức
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B
Đề án môn học 13
là không có các quan hệ thực tế và hoàn cảnh có ảnh hởng đáng kể làm cho bên thứ
ba hiểu là không độc lập, hoặc hiểu là tính chính trực, khách quan và thận trọng
nghề nghiệp của nhân viên công ty hay thành viên của nhóm cung cấp dịch vụ đảm
bảo không đợc duy trì.
Sự độc lập về t tởng yêu cầu kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán, phải
thực sự không bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tinh thần
nào làm ảnh hởng đến sự trung thực, khách quan trong việc đa ra ý kiến về báo cáo
tài chính. Kiểm toán viên không đợc nhận làm kiểm toán cho các đơn vị mà mình có
quan hệ kinh tế hoặc quyền lợi kinh tế nh góp vốn cổ phần, cho vay hoặc vay vốn từ
khách hàng, hoặc là cổ đông chi phối của khách hàng, hoặc có ký kết hợp đồng gia
công, dịch vụ, đại lý tiêu thụ hàng hoá... Mặt khác kiểm toán viên cũng phải tránh
tình huống mối quan hệ cá nhân với một hay nhiều thành viên trong số cán bộ nhân
viên của khách hàng có thể ảnh hởng đến tính độc lập của mình và kiểm toán viên
không đợc vừa làm dịch vụ kiểm toán vừa làm dịch vụ kế toán( nh trực tiếp ghi
chép, giữ sổ kê toán, lập báo cáo tài chính) cho cùng một khách hàng.
Ngoài ra một kiểm toán viên không thể đợc xem là độc lập, nếu ngời đó phụ
thuộc quá nhiều vào thù lao do khách hàng trả. Quy định đối với tiền thù lao do bất
kì khách hàng nào trả cũng không đợc vợt quá 15% mức tổng thu nhập lệ phí lặp đi
lặp lại theo thông lệ.
1.2.2 Các hình thức của tính độc lập
Có rất nhiều lý do làm cho kiểm toán viên có thể đi đến mâu thuẫn với ban
giám đốc. Kiểm toán viên có thể đợc xem là độc lập nếu giải quyết mâu thuẫn này
một cách thành thực, không lẫn trốn trách nhiệm của mình trớc ngời sử dụng báo
cáo kiểm toán. Điều này có thể đòi hỏi phải yêu cầu ban giám đốc thay đổi quan
điểm của mình về một vấn đề kế toán hay kiên quyết công bố báo cáo kiểm toán
biểu lộ thái độ dè dặt về những con số mà các giám đốc đã công bố. Có rất nhiều
cách để tính độc lập của kiểm toán viên có thể bộc lộ tính độc lập nhng trong đó có
ba hình thức chính đó là: độc lập trong việc lên chơng trình, độc lập điều tra và độc
lập làm báo cáo. Môi điều này đều có nghĩa vô cùng quan trọng đối với tin cậy của
kiểm toán viên.
Vơng Thị Tú Oanh Kiểm toán 46B

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×