Tải bản đầy đủ

sản xuất phân đạm từ khí thiên nhiên và khí dầu mỏ

§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
DANH SÁCH NHÓM
HỌ VÀ TÊN MSSV GHI CHÚ
Nguyễn Văn Mạnh
Lê Công Kiên
Nguyễn Thế Quang
Nguyễn Văn Sơn
Lê Ngọc Tân
Nguyễn Quang Tùng
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
1
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
Mục lục
Mở đầu
Nội dung
Chương I: Giới thiệu chung về phân đạm
1.1: Khái niệm
1.2: Các loại phân đạm thường dùng
1.2.1: Sản phẩm Ure
1.2.1.1. Tính chất
1.2.1.1.1. Tính chất vật lý

1.2.1.1.2. Tính chất hóa học
1.2.1.2. Ứng dụng
1.2.1.2.1 Trong công nghiệp
1.2.1.2.2 Sử dụng trong phòng thí nghiệm
1.2.1.2.3. Sử dụng y học
1.2.1.2.3.1 Thuốc
1.2.1.2.3.2 Chẩn đoán sinh lý học
1.2.1.2.4 Sử dụng trong chẩn đoán khác
1.2.1.2.5 Cathrat (Hợp chất mắt lưới)
1.2.1.4. Những nét nổi bật về phân urê
1.2.1.4.1 Ưu điểm của Urê
1.2.1.4.2 Cách sử dụng phân urê hiệu quả nhất
1.2.1.4.3 Tại sao phân đạm lại cần thiết cho cây trồng?
1.2.2: Phân Amon nitrat
1.2.3: Phân sunphat đạm
1.2.4: Đạm clorua
1.2.5: Phân Xanamit canxi
1.2.6: Phân phốt phát đạm ( Photphat amon )
1.3: Những điều cần chú ý khi sử dụng phân đạm
Chương II: Tổng quan về khí
2.1: Khí thiên nhiên
2.1.1: Khái niệm
2.1.2: Thành phần
2.1.3: Phân loại
2.1.4: Sử dụng
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
2
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
2.1.5: Lịch sử
2.1.6: Sự hình thành khí thiên nhiên
2.2: Khí dầu mỏ
2.2.1: Khái niệm
2.2.2: Thành phần
2.2.3: Đặc tính của khí
2.2.4: Phân loại
Chương III: Sản Xuất NH
3
và CO
2
từ khí thiên nhiên và khí dầu mỏ


3.1. Khái niệm chung
3.2. Ðiều chế hỗn hợp khí nitơ - hydro để tổng hợp amôniac
3.2.1. Ðiều chế khí tổng hợp
3.2.2. Làm sạch khí tổng hợp
3.3. Công nghệ tổng hợp amôniac
Chương IV: Quy trình công nghệ
4.1: Quy trình công nghệ sản xuất đạm trên thế giới
4.1.1: Công nghệ tổng hợp Ure
4.1.2 Công nghệ Ure không thu hồi
4.1.3 Công nghệ tuần hoàn dung dịch
4.1.4 Coâng nghệ C cải tiến tuần hoàn toàn bộ Misui-Toatsu
4.1.5 Công nghệ Montedision
4.1.6 Công nghệ stripping khí cao áp
4.1.7 Công nghệ stripping CO
2
Stamircacbon
4.1.8 Công nghệ Stripping NH
3
Snamprogetti
4.2: Quy trình công nghệ sản xuất đạm từ khí amoniac lỏng và khí cácbonic
4.2.1 Công đoạn nén CO
2
4.2.2 Tổng hợp ure và thu hồi NH
3
- CO
2
cao áp
4.2.3 Tổng hợp ure và thu hồi NH
3
- CO
2
trung & thấp áp
4.2.4 Cô đặc
4.2.5 Tạo hạt ure
4.3: Cơ sở hoá lý tổng hợp Ure từ amoniac lỏng và khí cacbonic
4.3.1. Cân bằng phản ứng tổng hợp Urê
4.3.2. Động học quá trình tổng hợp Urê
4.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp
4.3.3.1. Ảnh hưởng của áp suất
4.3.3.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ
4.3.3.3. Ảnh hưởng của độ chứa đầy
4.3.3.4. Quan hệ giữa thời gian đun nóng và nhiệt độ với tốc độ tạo
thành Urê, hiệu suất Urê
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
3
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
4.3.3.5. Ảnh hưởng của nước sinh ra trong quá trình tổng hợp
4.3.3.6. Ảnh hưởng của CO
2
đến hiệu suất Urê
4.3.3.7. Ảnh hưởng của lượng NH
3
dư đến hiệu suất Urê
Phần kết bài
Tài liệu tham khảo
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
4
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên chúng em xin gủi lời cảm ơn chân thầnh nhất tới trường đại học
công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho chúng em làm bài đồ án
này.
Chúng em gủi lời cảm ơn tới thầy Nguyễn Hữu Toàn đã tận tình giúp đỡ và
hướng dẫn chúng em trong suốt quá trình làm đồ án.
Xin cảm ơn bạn bè đã giúp đỡ chúng tôi cả về tinh thần và tài liệu trong suốt
quá trình làm đồ án.
Sau cùng, xin chân thành cảm ơn các bạn trong nhóm đã nỗ lực hết sức mình và
tạo môi trường đoàn kết cho nhóm để bài đồ án hoàn thành một cách như mong đợi
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
5
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
MỞ ĐẦU
Trong công nghiệp việc sản xuất phân đạm bằng phương pháp tổng hợp từ
ammoniac và khí cacbonic được thực hiện vào năm 1868 do A.I Badarôp đưa ra.
Nước ta là một nước nông nghiệp, trên 70% dân số sống bằng nghề nông.Vì
vậy nông nghiệp là một nghành quan trọng cần được đầu tư phát triển để đảm bảo
vấn đề an ninh lương thực, và trở thành một cường quốc xuất khẩu lương thực, do đó
phân bón phục vụ nông nghiệp là rất quan trọng và cần thiết. Nhu cầu phân bón ở
nước ta hiện nay ước tính khoảng 3500000 tấn/năm.(Theo thống kê năm 2006).
Để đạt được mục tiêu đó thì việc nghiên cứu tìm ra các loại phân bón mới có
tác dụng nâng cao nâng suất chất lượng sản phẩm cây trồng và giá thành rẻ là điều
rất cần thiết. Đồng thời cũng phải nghiên cứu các biện pháp cải tiến công nghệ, thiết
bị cũng như việc đầu tư thay thế các dây chuyền sản xuất hiện đại để nâng cao năng
suất chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Hiện nay ở nước ta năng lực sản xuất phân bón phục vụ nông nghiệp của nhà
máy vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất nông nghiệp trong nước.Do đó hàng
năm nước ta vẫn phải nhập khẩu một lượng khá lớn phân bón nông nghiệp của nước
ngoài.
Dân số nước ta hiện nay đang ngày một tăng nhanh kéo theo mọc lên các khu
đô thị, khu công nghiệp làm cho môi trường ngày càng ôi nhiễm trầm trọng. Rác
thải, khói bụi từ các nhà máy , xí nghiệp thải ra, các khí này làm nóng bầu khí quyển
và gây hiệu ưng nhà kính là CO
2
, H
2
S, NO, NH
3
việc thu hồi các chất khí này đua
đến các nhà máy xử lý tạo ra sản phẩm có lợi cho chúng
Phân đạm không chỉ được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp mà nó còn được
ứng dụng trong nhiều nghành công nghiệp khác như: Công nghiệp sản xuất nhựa,
tổng hợp keo, , Ngoài ra Urê có cũng được sử dụng rộng rãi trong nghành công
nghiệp dược phẩm và sản xuất sợi.
Nguyên liệu để sản xuất Urê là từ NH
3
và CO
2
. Hiện nay ở nước ta có hai nhà
máy sản xuất Urê là nhà máy Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc ở Bắc Giang và nhà
máy Đạm Phú Mỹ ở Bà Rịa – Vũng Tàu.
Nhà máy Đạm Phú Mỹ ở Bà Rịa – Vũng Tàu sử dụng dây chuyền công nghệ
của hãng Haldor Topsoe ( Đan Mạch) và của hãng Snamprogetti (Ý) đi từ nguồn
nguyên liệu ban đầu là khí đồng hành, tạo ra NH
3
lỏng và khí CO
2
đưa và tổng hợp
Urê.
Nhà máy Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc đi từ nguồn nguyên liệu ban đầu là
than đá tạo ra NH
3
lỏng và khí CO
2
, sử dụng dây chuyền công nghệ tuần hoàn lỏng
toàn bộ cho quá trình tổng hợp Urê.
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
6
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
Vì những lý do trên chúng em quyết định chọn đề tài: “sản xuất phân đạm từ
khí thiên nhiên và khí dầu mỏ” để làm đề tài của mình
Bài đồ ấn gồm 5 chương:
I. Chương I: Giới thiệu chung về phân đạm.
II. Chương II: Tổng quan về khí.
III. Chương III: Sản xuất NH
3
và CO
2
từ khí thiên nhiên và khí dầu mỏ.
IV. Chương IV: Quy trình công nghệ sản xuất Đạm.
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
7
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHÂN ĐẠM
1.1: Khái niệm:
Phân hoá học hay phân vô cơ là những chất chứa các chất chứa nhiều thành
phần dinh dưỡng thiết yéu cho cây. nhằm tăng năng suất. Các loại phân bón hoá học
chính là: phân đạm, phân kali, phân phức hợp, phân hỗn hợp, phân vi lượng.
Phân đạm là tên gọi chung của các loại phân bón vô cơ cung cấp đạm cho cây.
Đạm là chất dinh dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng dối với cây. Đạm là nguyên tố
tham gia vào thành phần chính của clorophin, protit, các acid amin, các enzim và
nhiều loại vitamin trong cây. Bón đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, làm
cho cây ra nhiều nhánh phân cành, ra lá nhiêu; lá cây có kích thước to, màu xanh; lá
quang hợp mạnh, do đó tăng năng suất cât. Phân đạm cần cho cây suốt quá trình sinh
trưởng, đặc biệt là giai đoạn cây sinh trưởng mạnh. Trong số các nhóm cây trồng
đạm rất cần cho các loại cây ăn là như rau cải, cải bắp v.v
1.2: Các loại phân đạm thường dùng:
1.2.1: Sản phẩm Ure:
Urê được Hilaire Rouelle phát hiện từ nước tiểu vào năm 1773 và được
Friedrich Woehler tổng hợp lần đầu tiên từ ammonium sulfate (NH
4
)
2
SO
4

potassium cyanate KOCN vào năm 1828. Đây là quá trình tổng hợp lần đầu một hợp
chất hữu cơ từ các chất vô cơ và nó đã giải quyết được một vấn đề quan trọng của
một học thuyết sức sống.
Năm 1870, urê đã được sản xuất bằng cách đốt nóng cácbamat amôn trong một
ống bịt kín. Điều này là nền tảng cho công nghệ sản xuất urê công nghiệp sau này.
Cho tới những năm đầu thế kỷ 20 thì urê mới được sản xuất trên quy mô công
nghiệp nhưng ở mức sản lượng rất nhỏ. Sau đại chiến thế giới thứ II, nhiều nước và
hãng đã đi sâu cải tiến quy trình công nghệ để sản xuất urê. Những hãng đứng đầu
về cung cấp chuyển giao công nghệ sản xuất urê trên thế giới như: Stamicarbon (Hà
Lan), Snamprogetti (Italia), TEC (Nhật Bản)…Các hãng này đưa ra công nghệ sản
xuất urê tiên tiến, mức tiêu phí năng lượng cho một tấn sản phẩm urê rất thấp.
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
8
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
1.2.1.1. Tính chất
1.2.1.1.1. Tính chất vật lý
Urê có công thức phân tử là CON
2
H
4
hoặc (NH
2
)
2
CO.
Tên quốc tế là Diaminomethanal. Ngoài ra urê còn được biết với tên gọi là
carbamide , carbonyl diamide. Urê có màu trắng, dễ hòa tan trong nước, ở trạng thái
tinh khiết nhất urê không mùi mặc dù hầu hết các mẫu urê có độ tinh khiết cao đều
có mùi khai.
Bảng 2.1: Thành phần đặc tính của urê
Tên thành phần Giá trị
Tỉ trọng d, g/ cm
3
13,230
Dạng tinh thể và dạng bề ngoài
Dạng kim, lăng trụ, tứ
giác
Điểm nóng chảy,
0
C 132,7
Chỉ số khúc xạ 1,484; 1,602
Năng lượng hình thành tự do ở 25
0
C, J/mol -197,15
Nhiệt nóng chảy, J/g 251
Nhiệt hòa tan trong nước, J/g 243
Nhiệt kết tinh, dịch ure nước 70%, J/g 460
Độ ẩm tương đối
81% (20
0
C)
73% (30
0
C)
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
9
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
Nhiệt riêng, J/Kg.K

1439
1,661
1,887
2,10
ở 0
0
C
50
0
C
100
0
C
150
0
C
Hàm lượng Nito 46,6% N
Tính chất hút ẩm, kết tảng của Urê
Urê là chất dể hút ẩm từ môi trường xung quanh tại một nhiệt độ nhất định ứng
với áp suất riêng phần của hơi nước trong môi trường lớn hơn áp suất hơi nước trên
bề mặt urê. Urê sẽ hút ẩm khi độ ẩm môi trường xung quanh lớn hơn 70%, nhiệt độ
10-40
0
C.
Urê thường bị hút ẩm do hàm ẩm trong không khí cao, đặc biệt vào ngày hè, tiết
trời ẩm thấp. Để hạn chế việc hút ẩm, urê thường được đóng trong các bao PP, PE
hoặc trong bao giấy nhiều lớp.
Qua nghiên cứu và thực tế, người ta đã xác định các nguyên nhân chủ yếu gây
kết tảng urê sản phẩm:
• Hàm ẩm trong dung dịch Urê đi tạo hạt còn cao.
• Hạt urê xốp, rỗng, dễ vỡ, cường độ cơ giới thấp.
• Bảo quản urê ở nơi có độ ẩm không khí cao, urê bị hút ẩm.
• Sản phẩm urê có kích cỡ không đồng đều, nhiều bụi và mảnh vỡ tạo
cho các hạt urê có mối liên kết hàn bền vững do bụi và mảnh vỡ điền vào không gian
giữa các hạt urê.
Để chống kết tảng hạt urê, ngày nay người ta áp dụng một số biện pháp sau:
• Bọc urê bởi một lớp paraffin mỏng ngăn chặn hút ẩm.
• Sử dụng bột trợ dung đưa vào dung dịch urê trước khi tạo hạt, tăng
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
10
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
cường lực cơ giới của hạt và hạn chế hút ẩm.
• Tiêm fomanđêhyt hoặc urê fomanđêhyt vào dòng dung dịch urê trước
hoặc sau hệ thống cô đặc.
• Tạo urê hạt to trên một hệ thống tạo hạt tầng sôi thùng quay, làm giảm
bề mặt riêng tiếp xúc không khí của hạt urê, độ bền vững cơ giới cao.
1.2.1.1.2. Tính chất hóa học
Hòa tan trong nước, nó thủy phân rất chậm để tạo thành cacbamat amôn (1)
cuối cùng phân hủy thành amoniac và điôxit cacbon. Phản ứng này là cơ sở để sử
dụng urê làm phân bón.
Trong môi trường đất ẩm :
(NH
2
)
2
CO + 3H
2
O CO
2
+ 2NH
4
OH
Trong không khí ẩm:
2NO + (NH
2
)
2
CO + ½O
2
= 2N
2
+ H
2
O + CO
2
Về mặt thương mại, urê được sản xuất ra bằng cách loại nước trực tiếp
cacbamat amôn NH
2
COONH
4
ở mức áp suất và nhiệt độ nâng. Người ta thu được
cacbamat amôn bằng cách cho phản ứng trực tiếp NH
3
với CO
2
. Hai phản ứng được
tiến hành liên tục trong tháp tổng hợp cao áp.
Ở điều kiện áp suất thường và tại điểm nóng chảy của nó, urê phân hủy thành
amoniac, biuret(1), acid cyanuric (qv) (2), ammelide (3) và triuret (4). Biuret là sản
phẩm phụ bất đắc dĩ chủ yếu có trong urê. Nếu trong sản phẩm đạm Urê cấp phân
bón mà hàm lượng biuret vượt quá 2% trọng lượng sẽ gây độc hại đối với cây trồng.
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
11
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
Urê đóng vai trò như một chất cơ sở đơn và tạo ra các muối có các acid. Cùng
với acid nitric nó tạo ra nitrat urê CO(NH
2
)
2
.HNO
3
và phân hủy nổ khi bị đốt nóng.
Urê cứng ổn định ở nhiệt độ phòng và ở điều kiện thường áp. Đốt nóng ở điều kiện
chân không và tại điểm nóng chảy thì nó sẽ thăng hoa mà không hề thay đổi. Trong
môi trường chân không ở nhiệt độ 180-190
0
C, urê sẽ thăng hoa và chuyển hóa
thành xianua amôn NH
4
OCN (5). Khi urê cứng được đốt nóng nhanh trong dòng khí
amoniac ở mức nhiệt độ nâng và tăng khoảng vài trăm kPa (vài at.) thì nó sẽ thăng
hoa hoàn toàn và phân hủy từng phần thành acid cyanic HNCO và xianua amôn. Urê
cứng hòa tan trong NH
3
lỏng và hình thành hợp chất urê-amoniac hỗn hợp không ổn
định CO(NH
2
)
2
NH
3
phân hủy ở 45
0
C. Urê-Amoniac tạo ra các muối với các chất kim
loại kiềm như NH
2
COHNM hoặc CO(NHM)
2
. Việc chuyển hóa urê thành biuret
được xúc tiến ở điều kiện nhiệt độ thấp, áp suất cao và gia nhiệt kéo dài. Ở điều kiện
áp suất thấp 10-20 MPa (100-200 atm), khi đốt nóng cùng với NH
3
biuret sẽ tạo
thành urê.
Urê phản ứng với nitrat bạc AgNO
3
với sự có mặt của hydroxid natri NaOH, sẽ
tạo thành chất dẫn xuất (5) màu vàng nhạt. Hydroxid natri xúc tiến làm thay đổi urê
sang dạng imit (6).
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
12
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
Sau đó phản ứng với nitrat bạc. Các tác nhân oxi hóa với sự có mặt của natri
hydroxidsẽ chuyển hóa urê thành nitơ và dioxid cacbon. Chất sau tức là CO2 phản
ứng với hydroxid natri để tạo thành cacbonat natri (8):
Phản ứng urê với các loại rượu sinh ra các chất este acidcacbamic thường được
gọi là urêthan:
Urê phản ứng với foocmandêhyd và tạo thành các hợp chất như
monomethylolurea công thức: NH
2
CONHCH
2
OH, dimethylolurea
HOCH
2
NHCONHCH
2
OH và các hợp chất khác phụ thuộc vào tỷ lệ mol của
fomanđehyt đối với urê và dựa vào độ pH của dung dịch. Peroxyd hydro và urê là
loại sản phẩm dạng bột tinh thể màu trắng. Peroxyd urê CO(NH)
2
.H
2
O
2
được người
ta biết đến với tên gọi thương phẩm là Hypersol đây là chất tác nhân oxi hóa. Urê và
acid malonic phản ứng cho ra đời chất acid barbituric (7), một hợp chất chủ yếu
trong ngành hóa dược
1.2.1.2. Ứng dụng
1.2.1.2.1. Trong công nghiệp
Urê được dùng làm phân bón, kích thích sinh trưởng, giúp cây phát triển mạnh,
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
13
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
thích hợp với ruộng nước, cây , rau xanh, lúa… Urê cứng có chứa 0,8 đến 2,0%
trọng lượng biuret ban đầu được bón trực tiếp cho đất dưới dạng nitơ. Các loại dịch
urê loãng hàm lượng biuret thấp (tối đa khoảng 0,3% biuret) được dùng bón cho cây
trồng dưới dạng phân bón lá.
Trộn lẫn với các chất phụ gia khác urê sẽ được dùng trong nhiều loại phân bón
rắn có các dạng công thức khác nhau như photphat urê amôn (UAP); sunphat amôn
urê (UAS) và urê phophat (urê + acid photyphoric), các dung dịch urê nồng độ
thuộc nitrat amôn urê (UAN) (80-85%) có hàm lượng nitơ cao nhưng điểm kết tinh
lại thấp phù hợp cho việc vận chuyển lưu thông phân phối bằng hệ thống ống dẫn
hay phun bón trực tiếp.
Là chất bổ sung vào thức ăn cho động vật, nó cung cấp một nguồn đạm cố
định tương đối rẻ tiền để giúp cho sự tăng trưởng.
Urê được dùng để sản xuất lisin, một acid amino được dùng thông dụng trong
ngành chăn nuôi gia cầm.
Các loại nhựa urê được polyme hóa từng phần để dùng cho ngành công nghiệp
dệt có tác dụng làm phân bố đều các thành phần ép của các chất sợi
Nguyên liệu cho sản xuất chất dẻo, đặc biệt là nhựa urê-fomanđêhyt. Urê (cùng
với Amoniac) phân hủy ở nhiệt độ và áp suất cao để sản xuất các loại nhựa melamin.
Là chất thay thế cho muối (NaCl) trong việc loại bỏ băng hay sương muối của
lòng đường hay đường băng sân bay. Nó không gây ra hiện tượng ăn mòn kim loại
như muối.
Là một thành phần bổ sung trong thuốc lá, nó được thêm vào để tăng hương vị.
Đôi khi được sử dụng như là chất tạo màu nâu vàng trong các xí nghiệp sản
xuất bánh quy.
Được dùng trong một số ngành sản xuất thuốc trừ sâu.
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
14
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
Là một thành phần của một số dầu dưỡng tóc, sữa rửa mặt, dầu tắm và nước
thơm.
Nó cũng được sử dụng như là chất phản ứng trong một số gạc lạnh sử dụng để
sơ cứu, do phản ứng thu nhiệt tạo ra khi trộn nó với nước.
Thành phần hoạt hóa để xử lý khói thải từ động cơ diesel.
1.2.1.2.2. Sử dụng trong phòng thí nghiệm
Urê là một chất biến tính prôtêin mạnh. Thuộc tính này có thể khai thác để làm
tăng độ hòa tan của một số prôtêin. Vì tính chất này, nó được sử dụng trong các
dung dịch đặc tới 10M.
1.2.1.2.3. Sử dụng y học
1.2.1.2.3.1 Thuốc:
Urê được sử dụng trong các sản phẩm da liễu cục bộ để giúp cho quá trình tái
hiđrat hóa của da.
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
15
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
1.2.1.2.3.2 Chẩn đoán sinh lý học
Do urê được sản xuất và bài tiết khỏi cơ thể với một tốc độ gần như không đổi,
nồng độ urê cao trong máu chỉ ra vấn đề với sự bài tiết nó hoặc trong một số trường
hợp nào đó là sự sản xuất quá nhiều urê trong cơ thể.
Nồng độ urê cũng có thể tăng trong một số rối loạn máu ác tính (ví dụ bệnh
bạch cầu và bệnh Kahler).
Nồng độ cao của urê (uremia )có thể sinh ra các rối loạn thần kinh (bệnh não).
Thời gian dài bị uremia có thể làm đổi màu da sang màu xám.
1.2.1.2.4. Sử dụng trong chẩn đoán khác
Các loại urê chứa cacbon 14 - đồng vị phóng xạ, hay cacbon 13 - đồng vị ổn
định được sử dụng trong xét nghiệm thở urê, được sử dụng để phát hiện sự tồn tại
của Helicobacter pylori (H. pylori, một loại vi khuẩn) trong dạ dày và tá tràng người.
Xét nghiệm này phát hiện enzym urease đặc trưng, được H. pylori sản xuất ra theo
phản ứng để tạo ra amôniắc từ urê để làm giảm độ pH của môi trường trong dạ dày
xung quanh vi khuẩn.
Các loài vi khuẩn tương tự như H. pylori cũng có thể được xác định bằng cùng
một phương pháp xét nghiệm đối với động vật (khỉ, chó, mèo - bao gồm cả các loại
"mèo lớn" như hổ, báo, sư tử v.v).
1.2.1.2.5. Cathrat (Hợp chất mắt lưới)
Urê có đặc tính tuyệt vời trong việc hình thành các chất phức hợp kết tinh hay
các sản phẩm cộng với các hợp chất hữu cơ dãy thẳng.
Các chất phức hợp kết tinh này gồm có một máng rỗng được hình thành bởi các
phân tử urê đã được kết tinh trong đó hydrôcacbon được bịt kín hoàn toàn. Các chất
như vậy được gọi là Cathrat. Loại hydrocacbon được bịt kín, trên cơ sở chiều dài dãy
của nó được quyết định bằng nhiệt độ khi hình thành Cathrat.
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
16
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
Đặc tính này của cathrat urê được áp dụng thông thường trong ngành lọc dầu để
sản xuất nhiên liệu dùng trong ngành hàng không (xem Aviation and other gas-
turbin Fuels)và dùng để khử xáp các loại dầu bôi trơn (xem Petroleum Refinery
Processes). Các chất cathrat dễ vỡ khi ta đem hòa tan urê trong nước hay trong rượu.
1.2.1.4. Những nét nổi bật về phân urê
Trong số các sản phẩm hoá học được sử dụng phổ biến làm nguồn cung cấp
phân đạm cho cây trồng như: Sulphur Ammonium (SA), Nitrat Ammonium
(NH
4
NO
3
), urê… thì urê được sử dụng nhiều hơn cả vì những đặc tính vượt trội của
nó về mọi phương diện.
Bằng chứng là sản lượng tiêu thụ urê (trên toàn thế giới)
Năm 1973 1997
200
3
2007
Tiêu thụ
(Triệu tấn)
8,3 37,6 50 116,7
1.2.1.4.1 Ưu điểm của Urê
Urê có thể được dùng bón cho cây trồng dưới dạng rắn, dạng lỏng tưới gốc hoặc
sử dụng như phân phun qua lá đối với một số loại cây trồng.
Khi sử dụng urê không gây hiện tượng cháy nổ nguy hiểm cho người sử dụng
và môi trường chung quanh (Nitrat Ammonium rất dễ gây cháy nổ).
Với hàm lượng đạm cao, 46%, sử dụng urê giảm bớt được chi phí vận chuyển,
công lao động và kho bãi tồn trữ so với các sản phẩm cung cấp đạm khác.
Việc sản xuất urê thải ra ít chất độc hại cho môi trường.
Khi được sử dụng đúng cách, urê làm gia tăng năng suất nông sản tương đương
với các loại sản phẩm cung cấp đạm khác.
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
17
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
1.2.1.4.2 Cách sử dụng phân urê hiệu quả nhất
Nitrogen có thể bị mất đến 65% vào bầu khí quyển dưới dạng NH
3
hoặc rửa trôi
và ngấm xuống đất dưới dạng NO
3
nếu phân urê được bón bằng cách trải trên mặt
đất và để yên đó đến 24 giờ trong điều kiện không khí nóng và ẩm. Những cách làm
gia tăng hiệu qủa của việc sử dụng urê là bón trộn vào đất trong giai đoạn chuẩn bị
đất trồng, pha với nước trong hệ thống tưới tiêu hoặc tưới nước ngay sau khi bón với
lượng nước tương đương một trận mưa khoảng 6,5mm nước đủ để hòa tan urê và
đưa chúng ngấm xuống đến vùng không xảy ra hiện tượng mất đạm do bốc hơi
ammonia.
Sự thất thoát đạm liên quan tới nhiệt độ và độ pH của đất. Sự thất thoát
Nitrogen trong urê tùy thuộc rất lớn vào nhiệt độ và độ pH của đất. Bảng I.1 và I.2
dưới đây nói lên sự thất thoát đạm dưới dạng khí ammonia khi bón urê bằng cách
trải lên bề mặt đất:
Bảng 2.2 : Tỷ lệ % lượng urea mất đi do sự bay hơi khí ammonia theo nhiệt độ
đất
Nhiệt độ đất
Thời gian
(Ngày)
7
o
C
15
o
C
25
o
C
32
o
C
0 0 0 0 0
2 0 0 1 2
4 2 2 4 5
6 5 6 7 10
8 5 7 12 19
10 6 10 14 20
Bảng 2.3 : Tỷ lệ % lượng urea mất đi do sự bay hơi ammonia theo độ pH của
đất
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
18
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
Độ pH của đất
Thời gian
(Ngày)
5,0 5,5 6,0 6,5 7,0 7,5
0 0 0 0 0 0 0
2 0 0 0 0 1 5
4 1 2 5 10 18 20
6 4 5 7 11 23 30
8 8 9 12 18 30 33
10 8 10 13 22 40 44
Ngày nay khoa học đang nghiên cứu sử dụng phân đạm dạng nhũ tương, tức là
không tưới phân trên mặt như hiện nay nữa mà sẽ đưa xuống dưới phần gốc cây sau
đó cây sẽ hấp thụ đạm một cách từ từ. Cách làm này nếu thực hiện tốt sẽ là một bước
tiến dài trong lĩnh vực nông nghiệp.
1.2.1.4.3 Tại sao phân đạm lại cần thiết cho cây trồng?
Trong quá trình phát triển của cây từ nảy mầm, đâm chồi nảy lộc đến sinh
trưởng và phát triển thì cây cần hấp thụ một lượng chất dinh dưỡng nào đó đủ để
phát triển.
Những chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng được chia thành 3 nhóm chính :
• Nhóm dinh dưỡng chính (dinh dưỡng đa lượng): Gồm các chất mà cây
(thực vật) cần một lượng lớn để phát triển gồm có: đạm (Nitơ), lân (photpho) và kali
(K).
• Dinh dưỡng trung lượng: Canxi (Ca), Magiê (Mg), lưu huỳnh (S).
• Dinh dưỡng vi lượng: Sắt (Fe), Đồng (Cu), Mangan (Mn), Bor (B),
Molypden (Mo)…
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
19
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
Trong đó, đạm là yếu tố quan trọng nhất giúp cây phát triển tốt, nhiều cành,
thân chắc khoẻ…Urê chứa hàm lượng đạm cao nhất (46-48%) và lẫn ít tạp chất nên
được lựa chọn và sử dụng.
1.2.2: Phân Amon nitrat
• Thành phần: Phân amonitrat có chứa 33 – 35% nito nguyên chất. Các
nước trên thế giới loại phân này chiếm 11% tổng số phân đạm được sản suất hàng
năm.
• Tính Chất: Phân này dưới dạng tinh thể muối kết tinh có mầu vàng
xám. Amonitrat dễ chảy nước, dễ tan trong nước dễ bón cục, khó bảo quản và khó sử
dụng. Là loại phân sinh lý chua. Tuy vậy, đây là loại phân bón quý vì có chứa NH
4
+
và NO
3
-

• Tác dụng: Phân này có thể bón cho nhiều loại cây tròng trên nhiều loại
dất khác nhau. Amonitrat bón thích hợp cho nhiều loại cây trồng cạn như thuốc lá,
bông, mía, ngô
Phân này được dùng để pha thành dung dịch dinh dưỡng để tưới cây trong nhà
kính và tưới bón thúc cho nhiều loại cây ăn quả, nhiều loại rau
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
20
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
1.2.3: Phân sunphat đạm:
• Thành phần: còn gọi là phân SA, sunphat đạm có chứa 20 – 21% nito
nguyên chất. Trong phân này có chứa 24 – 25% lưu huỳnh ( S ). Trên thế giới loại
phân này chiếm 8% tổng lượng phân bón hoá học sản xuất hàng năm.
• Tính Chất: Phân này có dạng tinh thể mịn, màu trắng ngà hoặc xám
xanh. Phân này có mùi nước tiểu, vị mặn và hơi chua. Cho nên nhiều nơi gọi là phân
muối diêm. Sunphat đạm là loại phân bón tốt vì có cả N và S là 2 chất dinh dưỡng
thiết yếu cho cây.
• Tác dụng: Có thể đem bón cho tất cả các loại cây trồng, trên nhiều loại
đất khác nhau, miễn là đất không bị phèn, chua. Nếu đất chua cần bón thêm vôi, lân
mới dùng được đạm sunphat amon. Phân này dùng tốt cho cây trồng trên đất đồi trên
các loại đất bạc màu ( Thiếu S ).
Đạm sunphat được dùng chuyên để bón cho các loại cây cần lưu huỳnh ( S ) và
ít nito ( N ) như đậu dỗ, lac v.v và các loại cây vừa cần nhiều lưu huỳnh vừa cần
nhiều nito như ngô. Cần lưu ý: Đạm sunphat là loại phân có tác dụng nhanh rất
chóng phát huy tác dụng dối với cây trồng, cho nên thường dùng để bón thúc và bón
nhiều lần để tránh mất đạm. khi bón cho cây con cần chú ý là phân này sẽ gây cháy
lá. Không nên sử dụng phân đạm sunphat để bón trên dất phèn vì phân dễ làm chua
thêm đất.
1.2.4: Đạm clorua:
• Thành phần: ( NH
4
Cl ) có chứa 24 – 25% nito nguyên chất
• Tính chất: Đạm clorua có dạng tinh thể mịn có mầu trắng hoặc mầu
vàng ngà. Phân này dễ tan trong nước ít hút ẩm, không bị bón cục thường tơi rời nên
dễ sử dụng.
• Tác dụng: là loại phân sinh lý chua. Vì vậy nên bón kết hợp với lân và
phân bón khác. Đạm clorua không nên dùng để bón cho thuốc là, chè, khoai tây
Ở các vùng khô hạn, ở các chân đất nhiễm mặn không nên bón phân đạm
clorua, vì ở những nơi này trong đất có thể tích luỹ nhiều colorua, làm cho cây dễ bị
ngộ độc
1.2.5: Phân Xanamit canxi:
• Thành phần: Xianamit canxi ( CaCN
2
) có chứa 20 – 21% nito nguyên
chất, 20 – 28% vôi, 9 – 12% than.
• Tính chất: Phân này có dạng bột không có tinh thể, màu xám tro hoặc
màu trắng, đốt không có mùi khai. Vì có than nên phân có màu xám đen cũng có loại
phân tỷ lệ thân thấp hoặc không có than nên phân có màu trắng. Cần chú ý chống ẩm
cho loại phân này khi bảo quản, bởi vì nếu phân hút ẩm sẽ bị biến chất, hạt phân
phình to lên làm rách bao bì và làm hỏng dụng cụ đựng. Phân này đễ bị bôc bụi. Khi
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
21
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
bám vào da sẽ làm hỏng da, khi bay vào mắt sẽ làm hỏng giác mạc mắt, vì vậy khi
sử dụng phân này phải rất cẩn thận. Phân này có phản ứng kiềm bởi vậy có thể khử
được chua dùng rất tốt ở các loại đất chua.
• Tác dụng: Xianamit canxi thường được dùng để bón lót. muốn dùng để
bón thúc phải đem ủ trước khi bón. Bởi vì phân này khi phân giải tạo ra một số chất
độc có thể làm hỏng móng chân trâu bò, hại da chân người nông dân. Thường sau 7
– 10 ngày chất độc mới hết. Thường Xianamit canxi được trộn ủ với phân rác làm
cho phân chóng hoai mục. Phân này không dùng để phun lên là cây.
1.2.6: Phân phốt phát đạm ( Photphat amon )
• Thành phần: Là loại phân vừa có đạm vừa có lân. Trong phân có tỷ lệ
đạm là 10 – 18%, tỷ lệ lân là 44 – 50%.
• Tính chất: photphat đạm có dạng viên, màu xám tro hoặc trắng, trên thị
trường hiện nay đang lưu hành 2 loại phân bón amonphot là DAP ( 18 – 46 – 0 ) và
MAP ( 10 – 50 – 0 ) phân dễ chảy nước. vì vậy người ta thường sản xuất dưới dạng
viên và được đựng trong các bao bì nilon phân rất dễ tan trong nước và phát huy
hiệu quả nhanh.
• Tác dụng: Phân được dùng để bón lót, bón thúc đề tốt. phân là loại dễ
sử dụng. Phân DAP là loại phân trung tính nên có thể sử dụng trên các loại đất khác
nhau, còn phân MAP là loại phân chua sinh lý nên không tích hợp đối với các loại
đất chua. Phân có tỷ lệ đạm hơi thấp so với lân. Cho nên cần bón phối hợp với các
loại phân đạm khác, nhất là khi bón cho các cây cần nhiều đạm.
1.3: Những điều cần chú ý khi sử dụng phân đạm:
Ở nước ta có 3 loại phân đạm thường được dùng phổ biến nhất: phân Ure phân
amonsunphat và amonphotphat. Khi sử dụng hợp lý, 1Kg Nito nguyên chất có thể
thu được 10 – 22Kg thóc hoặc 25 – 35Kg ngô hạt. để đảm bảo hiệu quả sử dụng các
loại phân hoá học cần chú ý đến những điểm sau đây:
• Phân cần được bảo quản trong các túi nilon. Chỗ để phân cần thoáng
mát, khô ráo, mái kho không bị giột. không để chung phân đạm cùng với các loại
phân khác.
• Cần bón đúng đặc tính và nhu cầu cây trồng. Cây có những đặc tính
khác nhau. Nhu cầu cây đối với N cũng khác nhau. Cây có yêu cầu nhiều N, cây có
nhu cầu ít N. Nếu bón N nhiều, vượt quá yêu cầu của cây N cũng gây ra nhiều tác
hại đáng kể. Bón đúng yêu cầu của cây N phát huy tốt tác dụng
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
22
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
Chương II: Tổng quan về khí
2.1: Khí thiên nhiên:
2.1.1: Khái niệm:
Khí thiên nhiên, hỗn hợp chất khí này cháy được,bao gốm phấn lòn lá càc
hydrôcarbon.Cúng vời than đá , dầu mỏ và các khí khác, khí thiên nhiên là nhiên liệu
hoá thạch.
2.1.2: Thành phần
Khí thiên thiên có thể chứa đến 85% metal và 10% etal và cũng có chứa số
lượng nhỏ hơn propan, butan, pentan, và các ankan khác. Khí thiên nhiên thường tìm
thấy cùng với cá mỏ dầu ở trong vỏ trái đất, được khai thác và tinh lọc thành nhiên
liệu cung cấp cho khoảng 25% nguồn năng lượng thế giới.
Khí thiên nhiên chứa lượng nhỏ các tạp chất bao gồm: điocid cacbon,
hydrosulfil và nito. Do các tạo chất này có thể làm giảm nhiệt trị và đặc tính của khí
thiên nhiên, chúng thường được táh ra khỏi khí thiên nhiên trong quá trình tinh lọc
khí và được sử dụng làm sản phảm phụ.
2.1.3: Phân loại:
Khí thiên nhiên là loại khí không màu sắc và được phan loại tuỳ theo thành
phần của nó. Khí khô có chứa tỷ lệ mettal cao còn khí ướt có chứa đáng kể khối
lượng hydro cacnon có phân tử lượng cao hơn thuộc tính của nhóm ankan, bao gồm
etal propan và butan. Phần cặn lắng của khí là phần còn lại sau khi các ankan đã
được rút khỏi khí ướt. Khí chua là khí chứa nồng độ hydrosunfit cao (đây là một chất
khí không màu, độc có mùi trứng thối ). Khí ngọt là khí có chứa ít chất hydrosunfit.
Các chất không phải là hydro cacbon trong khí thiên nhiên được là các chất làm
loãng và chất gây ôi nhiễm. Các chất làm loãng bao gồm các loại khí và hơi như:
nito, dioxit cacbon và hơi nước. Các chất gây ôi nhiễm bao gồm các hydrosunfit và
các hợp chất lưu huỳnh khác. Các chất gây ôi nhiễm có thể phá hoại các thiết bị sản
xuất và vận chuyển. Nếu được đốt, các chất gâu ôi nhiễm có thể gây ra các vấn đề ôi
nhiễm như ôi nhiễm không khí và mưa acid. Mưa acid được tạo thành khi các hợp
chất lưu huỳnh trong khí thiên nhiên và các nhiên liệu hoá thạch khác như than đá bị
đốt và phản ứng với hơi ẩm trong không khí để tạo nên acid sunphuric ( H
2
SO
4
).
Hỗn hơpự hơi ẩm acid này rơi xuống đất khi trời mưa gây hư hại cho mùa màng và
rừng hồ, suối, sông.
2.1.4: Sử dụng:
Khí thiên nhiên được sử dụng làm nhiên liệu và nguyên liệu đầu vào cho ngành
chế biến hoá chất. Là một nhiên liệu gia dụng, nó được đốt trong các bếp ga, lò ga để
nấu nướng sấy khô. Là một nhiên liệu công nghiệp, khí thiên nhiên được đôt trong
các lò gạch, gốm và các lò cao sản xuất xi măng. Khí thiên nhiên còn được dùng để
đốt các lò đốt tubin nhiệt điện để phát điện cũng như các lò nấu thuỷ tinh, lò luyện
kim, kim loại và chế biến thực phẩm.
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
23
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
Khí thiên nhiên được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho các ngành hoá dầu
để tạo ra các chất hoá đầu. Các chất hoá đầu này được sử dụng làm sản phảm sơ sở
cho việc sản xuất phân đạm, bột giặt, dược phẩm, chất dẻo và nhiều loại hàng hoá
khác.
2.1.5: Lịch sử
Con người đã sử dụng khí thiên nhiên trong nhiều thế kỷ .Các ghi chép lịch sử
đã cho thấy khí thiên nhiên đã được đốt ở Trung quốc năm 250. Vào thế kỷ 17, khí
thiên nhiên đã được sử dụng để sưởi ấm và chiếu sáng ở miền Bắc Ý. Ở Hoa Kỳ, khí
thiên nhiên lần đầu được phát hiện ở FredoniaNewYork, năm 1821.
Do khí thiên nhiên ở dạng khí khó vận chuyển bằng các phương tiện thông
thường, trong lịch sử khí thiên nhiên đã được sử dụng ở các khu vực gần mỏ khí. khi
ngành công nghiệp dầu khí phát triển vào thế kỷ 19 và thế kỷ 20, khí thiên nhiên
được phát hiện cùng dầu mỏ ( khí đồng hành ) từ các mỏ ngầm thường được xử lý
như chất phụ phẩm phế thải và thường được đốt bỏ trên giàn khoan. Ngày nay, khí
thiên nhiên được vận chuyển thông qua các mạng lưới đường ống dẫn khí rộng lớn
hoặc được hoá lỏng và chở bằng tàu bồn.
Ở Việt Nam, vào đầu nhưng năm 70 của thế kỷ 20, nhân dân vùng Xuân Thuỷ,
tỉnh Nam Định đã phát hiện và khai thác thủ công khí metal ở tầng nông để nung
gạch, nung vôi và đun nấu. Năm 1981, tổng cục dầu khí ( nay là tập đoàn dầu khí
Việt Nam ) đã khai thác khí thiên nhiên ở Tiền Hải dùng cho phát điệnvà cung cấp
cho địa phương tỉnh Thái Bình. Năm 1995, dòng khí đồng hành đầu tiên của mỏ
bạch hổ đã được dẫn vào bờ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu bằng đường ống, cấp khí cho nhà
máy nhiệt điên Bà Rịa. Năm 2003, khí thiên nhiên từ vùng trũng nam Côn Sơn trên
thềm lục địa Việt Nam cũng được dẫn vào bờ cung cấp cho khu công nghiệp Phú
Mỹ.
2.1.6: Sự hình thành khí thiên nhiên:
Khí thiên nhiên được tạo ra tử sinh vật phủ du, các vi sinh vật sống dưới nước
bao gồm tảo và động vật nguyên sinh . Khi các vi sinh vật này chết đi và tích tụ trên
đáy đại dương, chúng dần bị chôn di và xác của chúng được nén dưới cá trầm tích.
Trải qua hàng triệu năm, áp suất và nhiệt do các lớp trầm tích chồng lên nhau tạo
nên trên xác các loại sinh vật này đã chuyển hoá hoá học các chát hữu cơ này thành
khí thiên nhiên.
Do dầu mỏ và khí thiên nhiên thường được tạo ra bằng quá trình tự nhiên tương
tự nhau, hai loại hydro cacbon này thường được tìm thấy cùng nhau ở trong các bể
chứa ngầm tự nhiên. Sau khi dần được tạo nên trong lòng vỏ trái đất dầu mỏ và khí
thiên nhiên đã dần chui vào các lỗ nhỏ của tầng đá xốp xung quanh, những tầng đá
xốp này có vai trò như các bể chứa tự nhiên. Do các lớp đá xốp này thường có nước
chui vào, cả dầu mỏ và khí thiên nhiên, vốn nhẹ hơn nước và kém dày đặc hơn các
tầm đá xung quanh nên chúng chuyển lên qua lớp vỏ, đôi khi cách xa nơi chúng
được tạo ra. Cối cùng một số hydro cacbon này bị bẩy lại bới các lớp đá không thấm,
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
24
§å ¸n chuyªn ngµnh Khoa C«ng nghÖ
các lớp đá này gọi là các lớp đá mũ chụp. Khí thiên nhiên nhẹ hơn dầu mỏ do đó nó
tạo ra một lớp nằm trên dầu mỏ. Lớp khí này gọi là mũ chụp khí.
Các lớp than đá có chứa lượng metal đáng kể, metal là thành phần chính của khí
thiên nhiên. trong các trữ lượng than đá, metal thường được phân tán vào các lỗ và
vết nứt của tầng than. Khí thiên nhiên này thường được gọi là khí metal trong tằng
than đá ( coal – bed methanel ).
2.2: Khí dầu mỏ
2.2.1: Khái niệm:
Khí dầu mỏ hay gọi là khí đồng hành. Khí đồng hành là khí thự nhiên được tìm
thấy cùng dầu thô có thể ở dạng hoà lẫn với dầu thô hoặc tạo thành không gian phía
trên lớp dầu thô trong mỏ dầu.
2.2.2: Thành phần:
Khí đồng hành khí được tách khỏi dầu thô là hỗn hợp hủ yếu gồm etan, propan,
butan và pentan ngoài ra còn những tạp chất không mong muốn như nước,
sunphuahydro, CO
2
, helyum, nito và một số tạp chất khác.
Trong quá khứ loại khí này là thành phần không mong muốn và thường bị đốt
bỏ. Kể cả tới năm 2003, việc đốt bỏ vẫn ở khối lượng lớn hàng ngày có đến 10 – 13
tỷ feet khối trên toàn thế giới. Tuy nhiên với tiến bộ của công nghệ giá thành giầu
thô và khí thiên nhiên tăng lên và các ứng dụng cảu khí thiên nhiên trở nên phổ biến,
khí đồng hành được tận dụng và trở thành nguồn nguyên liệu mang lại hiệu quả cao.
Năm 1947, ở Mỹ hàng ngày khoảng 3 tỷ feet khối khí đồng hành bị đốt bỏ đến năm
2002 con số này giảm 13 lần trong khi sản lượng khai tác cao hơn năm 1947.
Nigeria là quốc gia có trữ lượng khí thiên nhiên lớn, chiếm 30% trữ lượng toàn châu
phi. Tuy vậy 75% khí đồng hành ở các mỏ dầu thường bị đốt bỏ một cách lãng phí.
Chính phủ Nigeria đã ra một đạo luật quy đinh đến năm 2008 khí đồng hành sẽ
không bị đôt bỏ nữa các hãng dầu khí có trách nhiệm lắp đặt thiết bị xử lý để tận
dụng nguồn tài nguyên này.
2.2.3: Đặc tính của khí:
Đặc trưng chủ yếu của khí thiên nhiên và khí đồng hành là bao gồm 2 phần:
phần hydrocacbon và phần phi hydrocacbon.
• Các hợp chất hydrocacbon:
Hàm lượng các cấu tử chủ yếu là khí metal và đồng đẳng của nó như C
2
H
6
,
C
3
H
8
, nC
4
H
10
, iC
4
H
10
ngoài ra còn có một ít hàm lượng các hợp chất C
5
C
6
. Hàm của
các cấu tử trên thay đổi theo nguồn gốc của khí.
Đối với khí thiên nhiên thì cấu tử chủ yếu là metan còn các cấu tử nặng hơn như
C
3,
C
4
là rất ít và thành phần của khí trong một mỏ ở bất kỳ vị trí nào đều là như
nhau nó không phụ thuộc vị trí khai thác.
Đối với khí đồng hành thì hàm lượng C
3,
C
4
cao hơn thành phần của khí nó phụ
thuộc vị trí khai thác và thời gian khai thác
• Các hợp chất phi hdrocacbon
GVHD: NguyÔn H÷u Toµn
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×