Tải bản đầy đủ

nghiên cứu thực trạng nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở lứa tuổi thanh niên tới phá thai tại bệnh viện phụ sản hà nội

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới (NKĐSDD) là bệnh thường gặp
nhất ở phụ nữ. Tác nhân gây viêm đường sinh dục dưới có thể là kí sinh
trùng (nấm, trùng roi), vi khuẩn, virus Bệnh thường gặp ở lứa tuổi hoạt động
tình dục.
Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới không gây nguy hiểm ngay đến tính
mạng người bệnh, nhưng là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản, khả
năng lao động và hoạt động tình dục [1]. Nếu không được phát hiện sớm và điều
trị kịp thời có thể gây hậu quả nặng nề như: viêm tiểu khung, vô sinh, thai ngoài
tử cung [1],[2]. Đối với phụ nữ có thai có thể gây sảy thai, thai chết lưu trong tử
cung, đẻ non, nhiễm khuẩn sơ sinh, nhiễm khuẩn hậu sản [1],[3].
Khi xã hội phát triển, hoạt động tình dục ở thanh thiếu niên diễn ra
sớm hơn và thường xuyên hơn trước. Theo nghiên cứu, tại Mỹ có 46% trẻ
vị thành niên (VTN) đã có quan hệ tình dục. Tỷ lệ này ở Newzeland là 49%
và ở Thụy Điển là 54,2% nam VTN [4]. Tại Indonesia, cơ quan kế hoạch
Quốc gia đã đưa ra thông báo hơn một nửa số thanh thiếu niên ở Jakarta đã
quan hệ tình dục trước hôn nhân [5]. Quan hệ tình dục trước hôn nhân làm
gia tăng tỷ lệ có thai ngoài ý muốn và nạo phá thai.
Vấn đề nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên (VTN/TN)
là một thực trạng đáng báo động trên toàn thế giới. Việt Nam là quốc gia

được xếp trong các nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới nói chung và
khu vực Đông Nam Á nói riêng [6]. Theo thống kê của Hội kế hoạch hóa
gia đình Việt Nam, mỗi năm có khoảng từ 1,2 đến 1,6 triệu phụ nữ phá
thai, trong đó có khoảng 20% phụ nữ phá thai thuộc nhóm tuổi VTN/TN
[7]. Do vậy, vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản và giáo dục giới tính cũng
đang được xã hội quan tâm.
2
Trong những năm gần đây, phòng và điều trị bệnh nhiễm khuẩn đường
sinh dục dưới (NKĐSDD) là một trong mười nội dung chính của công tác
chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Việt Nam [1]. Theo nghiên cứu của Nguyễn
Duy Ánh [8] về thực trạng nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở 1176 phụ nữ
có chồng ở độ tuổi 18-49 tại Hà Nội (2010) cho thấy, tỷ lệ NKĐSDD là
78,4%. Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước ghi nhận tình trạng NKĐSDD
ở độ tuổi sinh sản chiếm tỷ lệ rất cao nhưng chưa có nghiên cứu nào tại Việt
Nam đánh giá được tình trạng NKĐSDD ở lứa tuổi thanh niên phá thai. Chính
vì vậy, với mong muốn đánh giá thực trạng tình hình nhiễm khuẩn đường sinh
dục dưới ở lứa tuổi thanh niên đến phá thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
(BVPSHN), chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng
nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở lứa tuổi thanh niên tới phá thai tại
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội”.
Với mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhiễm khuẩn đường
sinh dục dưới ở lứa tuổi thanh niên tới phá thai tại Bệnh viện Phụ
sản Hà Nội năm 2013.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm khuẩn
đường sinh dục dưới ở lứa tuổi thanh niên tới phá thai tại Bệnh
viện Phụ sản Hà Nội năm 2013.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ ÂM HỘ, ÂM ĐẠO VÀ CỔ
TỬ CUNG
1.1.1. Giải phẫu
- Âm hộ: được cấu tạo gồm phần da ở ngoài và phần niêm mạc ở trong.
Phía trong âm hộ (ÂH) có tuyến Bartholin và hai bên lỗ niệu đạo có tuyến
Skène. Các tuyến này tiết dịch tham gia một phần vào hệ thống chống nhiễm
khuẩn của dịch âm đạo.
- Âm đạo: là một khoang ảo đi từ cổ tử cung (CTC) tới ÂH. Biểu mô
niêm mạc âm đạo (ÂĐ) là biểu mô lát tầng không sừng hóa có khả năng
chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn.
- Cổ tử cung: gồm có CTC ngoài và CTC trong.
+ Cổ tử cung ngoài: có cấu trúc biểu mô lát tầng giống biểu mô niêm
mạc ÂĐ nên cũng có khả năng chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn.
+ Cổ tử cung trong: có cấu trúc biểu mô tuyến có khả năng chế tiết chất
nhầy, trong chất nhầy của CTC chứa một số enzym kháng vi khuẩn [9].
Hình 1.1. Giải phẫu tử cung – buồng trứng [9]
4
1.1.2. Đặc điểm sinh lý của âm đạo
1.1.2.1. Dịch âm đạo
- Dịch âm đạo gồm các tế bào ÂĐ bong, chất tiết tuyến Bartholin, tuyến
Skeine, dịch thấm từ thành ÂĐ (tiết ra từ tổ chức và mao mạch của ÂĐ đã trưởng
thành), dịch ở cổ tử cung, dịch từ buồng tử cung và vòi tử cung. Dịch nhày từ
CTC kiềm tính. Các tuyến của tử cung cũng tiết dịch nhầy vào trong ÂĐ [10].
- Trong dịch ÂĐ có một vài bạch cầu, các vi khuẩn, đặc biệt là trực khuẩn
Doderlein (Lactobacilli), ngoài ra có thể thấy các vi khuẩn khác. Bình thường
dịch âm đạo không màu, hoặc hơi trắng, hơi quánh và thay đổi theo chu kỳ kinh
nguyệt. Vào thời gian phóng noãn, CTC mở rộng nhất, dịch tiết lấp đầy CTC,
dịch ÂĐ nhiều và loãng. Dịch tiết sinh lý ÂĐ có đặc điểm là không gây triệu
chứng cơ năng: kích thích, ngứa, đau, đau hay rát khi giao hợp; không gây kích
thích ÂH, ÂĐ, CTC; không mùi; không chứa nhiều bạch cầu đa nhân và không
cần điều trị [10],[11],[12].
- Khi viêm nhiễm, dịch âm đạo thay đổi. Xét nghiệm dịch âm đạo thấy vi
khuẩn Gardnerella vaginalis và các vi khuẩn khác hay ký sinh trùng như nấm
Candida, trùng roi Trichomonas vagilanis [10],[11].
1.1.2.2. Sinh hóa
Dịch ÂĐ chứa các phân tử carbonhydrat (glucose, maltose), protein,
urê, acid amin, acid béo, các ion K, Na, Cl [11],[12].
1.1.2.3. Độ pH âm đạo
Môi trường ÂĐ là acid (pH từ 3,8 đến 4,6) [1],[13]. Niêm mạc ÂĐ có
khả năng tự bảo vệ chống lại vi khuẩn do môi trường ÂĐ có tính acid. pH âm
đạo được duy trì nhờ khuẩn Doderlein kị khí có sẵn trong ÂĐ. Các trực
khuẩn này sử dụng glycogen tích lũy trong tế bào biểu mô của ÂĐ và sinh ra
acid lactic khiến môi trường ÂĐ có tính acid [1]. Nồng độ glycogen dự trữ
trong tế bào chịu ảnh hưởng của estrogen [14].
5
Ngay từ khi sinh ra, tế bào âm đạo của bé gái đã có nhiều glycogen do
có estrogen từ mẹ truyền sang nên pH môi trường ÂĐ thấp. Tuy nhiên, chỉ
sau một thời gian ngắn, pH âm đạo tăng lên tới 6-8 do estrogen mất đi. Khi
dậy thì, do buồng trứng tăng chế tiết estrogen nên lượng acid lactic của ÂĐ
lại tăng cao. Cho đến thời kỳ mãn kinh, lượng estrogen giảm dần, các tế bào
biểu mô ÂĐ mất dần glycogen, pH của môi trường ÂĐ lại giống như trước
tuổi dậy thì. Khi pH âm đạo thay đổi hoặc trong điều kiện thuận lợi, các vi
khuẩn thường có trong ÂĐ sẽ là tác nhân gây bệnh [10],[13].
* Sự thay đổi của pH âm đạo [13], [14].
pH âm đạo bình thường và sự thay đổi của pH âm đạo
do vi khuẩn
pH âm đạo
Trong chu kì kinh nguyệt bình thường ở tuổi hoạt động tình dục 3,5
Tuổi vị thành niên cũng như sau khi mãn kinh 7
Thai nghén bình thường 5.5
Viêm âm đạo do Gardenella vaginalis >4,5
Trichomonas vaginalis 6-7
Candida albicans 4-5
1.1.2.3. Hệ vi sinh vật âm đạo
Hệ vi sinh vật của âm đạo rất phong phú, chứa 10
8
đến 10
12
vi
khuẩn/ml. Trong đó, trực khuẩn Doderlein (Lactobacilli) (là trực khuẩn
Gram (+), dài và mảnh) là chính, khoảng 50% - 88%, có tác dụng ức chế
sự phát triển của các vi khuẩn khác qua sự duy trì tính acid của môi
trường ÂĐ. Trong trường hợp không viêm ÂĐ, các vi khuẩn trong ÂĐ ở
trạng thái cân bằng động. Nếu vì một lý do nào đó làm sự cân bằng này
mất đi, sẽ dẫn tới viêm nhiễm âm đạo [13], [15],[16].
Cơ chế chống lại vi khuẩn của đường sinh dục dưới:
6
+ pH ÂĐ < 4,5 là môi trường không được thuận lợi cho vi khuẩn gây
bệnh phát triển. Để có được môi trường ÂĐ acid cần phải nhờ đến lượng vi
khuẩn Doderlein có sẵn trong ÂĐ chuyển glycogen có trong tế bào biểu mô
ÂĐ thành acid lactic.
+ Niêm mạc ÂĐ có dịch thấm từ tĩnh mạch, bạch mạch có đặc điểm
kháng vi khuẩn.
+ Chất nhầy CTC có các enzym kháng vi khuẩn như lyzozim,
peroxydase, lactoferin.
1.1.2.4. Một số yếu tố thuận lợi làm thay đổi hệ vi khuẩn của âm đạo
- Phụ nữ có thai: biểu mô ÂĐ giải phóng ra nhiều glycogen, cùng với
trực khuẩn Doderlein trong âm đạo phân hủy glycogen thành acid lactic
làm pH âm đạo xuống thấp, tạo điều kiện cho nấm phát triển.
- Điều trị kháng sinh kéo dài, nhất là kháng sinh có hoạt động phổ
rộng sẽ gây loạn khuẩn ÂĐ.
- Điều trị liều cao hoặc kéo dài bằng Cortio-steroid.
- Điều trị các bệnh nấm.
- Thuốc diệt virus.
- Điều trị tia xạ.
- Thụt rửa âm đạo.
- Polip, khối u trong âm đạo.
- Các bệnh làm giảm miễn dịch.
- Thay đổi nội tiết theo tuổi, sử dụng thuốc tránh thai, điều trị bằng nội
tiết, hoạt động tình dục.
- Bệnh tiểu đường không được kiểm soát tốt, lao, ung thư, HIV/AIDS,
các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD).
- Các can thiệp thủ thuật không đảm bảo vô khuẩn như thủ thuật sản
khoa, nạo hút thai, đặt dụng cụ tử cung.
1.1.3. Thay đổi giải phẫu và sinh lý của âm đạo, cổ tử cung trong thời kỳ có thai
7
Dưới ảnh hưởng của estrogen, progesteron, niêm mạc ÂĐ và mặt ngoài
CTC có những thay đổi về giải phẫu và sinh lý.
1.1.3.1. Thay đổi về giải phẫu
- Trong thời kỳ có thai ÂĐ giãn dài và rộng ra, niêm mạc ÂĐ tăng các
nếp và nổi rõ các nhú. ÂĐ tăng sinh mạch máu, nhất là các tĩnh mạch giãn nở
làm cho ÂĐ có màu tím.
- Sự tăng estrogen làm tăng sinh các lớp tế bào của niêm mạc ÂĐ, nhất
là lớp trung gian và lớp đáy.
- Dưới ảnh hưởng của progesteron, niêm mạc ÂĐ tăng sinh các tế bào
bề mặt. Sự bong này kết hợp với dịch thấm ÂĐ và sự tăng chế tiết của niêm
mạc CTC hình thành chất dịch. Chất dịch này đặc quánh lại tạo thành nút
nhầy trong thời kỳ thai nghén làm ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn.
- Sự thay đổi của niêm mạc ÂĐ có kèm theo sự ứ trệ tuần hoàn tĩnh
mạch, bạch mạch trong mô kẽ và chính sự ứ trệ này tạo thuận lợi cho sự phát
triển của vi khuẩn.
1.1.3.2. Thay đổi về sinh lý
- Trong thời kỳ có thai, estrogen và progesteron làm tăng sự tổng hợp
glycogen trong tế bào biểu mô ÂĐ. Khi các tế bào này bong ra làm giải phóng
glycogen vào trong khoang ÂĐ. Dưới ảnh hưởng của trực khuẩn Doderlin,
glycogen chuyển thành acid lactic, từ đó làm giảm pH ÂĐ từ 3,8 đến 4,6
ngoài thời kỳ thai nghén xuống 3,5 đến 4,5. Trong thời gian có thai, pH ÂĐ
giảm là phương tiện chủ yếu bảo vệ ÂĐ, làm ngăn cản sự phát triển của vi
khuẩn nhưng ngược lại tạo điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển [13],[15].
1.2. NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI
8
- Theo WHO nhiễm khuẩn đường sinh dục là các nhiễm khuẩn tại cơ
quan sinh dục bao gồm cả nhiễm khuẩn do bệnh lây truyền qua đường tình
dục (BLTQĐTD) và nhiễm khuẩn khác không lây qua quan hệ tình dục
(QHTD). Cả phụ nữ và nam giới đều có thể bị mắc bệnh nhiễm khuẩn đường
sinh dục [17],[18].
- Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới có thể do các tổ chức, các vi sinh vật
bình thường hiện hữu trong đường sinh dục gây nên, do các tác nhân bên ngoài,
do QHTD, hoặc do thủ thuật y tế. NKĐSDD bao gồm nhiễm khuẩn nội sinh,
nhiễm khuẩn ngoại sinh, bệnh lây truyền qua đường tình dục [17].
- Ở phụ nữ, nhiễm khuẩn đường sinh dục bao gồm nhiễm khuẩn đường
sinh dục dưới và nhiễm khuẩn đường sinh dục trên. Trong đó, NKĐSDD là
nhiễm khuẩn tại âm hộ, âm đạo và cổ tử cung. Các tác nhân gây bệnh có thể
là vi khuẩn, virus, kí sinh trùng và nấm [18]. Trong đề tài này chúng tôi chỉ
nghiên cứu vấn đề nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới với những tác nhân gây
bệnh thường gặp: Nấm Candida, Trichomonas vaginalis, Gardnerella
vaginalis, Chlamydia trachomatis là những mầm bệnh đặc trưng cho
NKĐSDD và BLTQĐTD [19].
- Ở các nước đang phát triển, người ta thấy có một số yếu tố đặc trưng
làm tăng tỷ lệ NKĐSDD ở phụ nữ trẻ, bùng nổ đô thị hóa, vị trí thấp kém của
phụ nữ là những yếu tố quan trọng làm tăng tỷ lệ NKĐSDD. Nhiều nghiên
cứu trên thế giới gần đây đã mô tả các nhóm yếu tố liên quan đến NKĐSDD ở
phụ nữ bao gồm các nhóm yếu tố về nơi ở, khu vực dân cư (thành thị- nông
thôn); nhóm các yếu tố về cá nhân như tuổi, nghề nghiệp, học vấn ; yếu tố về
hành vi; nhóm các yếu tố nguy cơ khác liên quan đến sinh đẻ, nạo hút thai, sử
dụng các biện pháp tránh thai (BPTT).
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu về NKĐSDD ở phụ nữ, hầu hết tác giả đều
quan tâm tìm hiểu những yếu tố liên quan tới tỷ lệ lưu hành và cơ cấu mắc
9
bệnh, đã đưa ra nhiều kết luận về các yếu tố liên quan như các hành vi tình
dục không an toàn như có nhiều bạn tình, giao hợp khi bị hành kinh, giao hợp
khô, vệ sinh cá nhân, vệ sinh kinh nguyệt kém, thụt rửa ÂĐ làm cho ÂĐ dễ bị
nhiễm khuẩn do mất sự cân bằng của vi khuẩn cộng sinh, các yếu tố về số lần
sinh đẻ, nạo hút thai.
1.3. MỘT SỐ BỆNH NKĐSDD THƯỜNG GẶP Ở PHỤ NỮ
Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ nữ thường biểu hiện qua các
triệu chứng chính như: ra khí hư, ra máu bất thường và đau bụng. Trong đó,
ra khí hư là triệu chứng phổ biến nhất và tùy theo từng tác nhân gây bệnh mà
khí hư có tính chất, màu sắc khác nhau [20].
1.3.1. Viêm âm đạo do nấm Candida
1.3.1.1. Đặc điểm vi sinh vật
- Nấm Candida gây viêm ÂH-ÂĐ gồm nhiều chủng: chủ yếu là Candida
albicans (C. albicans), C. Turolopsis, C. Tropicalis. Trong đó, nấm Candida
albicans chiếm tới 80- 90% [15],[21]. Nấm Candida thuộc lớp Adelomycetes
là loại nấm hạt men với các tế bào hạt men chồi có kích thước 3 - 5µm [21].
- Candida là tác nhân gây bệnh thường gặp nhất trong nhiễm khuẩn
đường sinh dục dưới của phụ nữ.
1.3.1.2. Các yếu tố nguy cơ của nhiễm nấm Candida
- Thai nghén: khi có thai, biểu mô ÂĐ quá sản giải phóng ra glycogen.
Trực khuẩn Doderlin trong ÂĐ phân hủy glycogen thành acid lactic làm pH
ÂĐ xuống thấp còn 4,0- 4,5 tạo điều kiện cho nấm phát triển [16],[10],[12].
- Điều trị corticoid làm giảm sức đề kháng của cơ thể.
- Dùng thuốc tránh thai có thể làm thay đổi độ toan trong ÂĐ, là môi
trường tốt cho sự phát triển của nấm.
- Dùng kháng sinh lâu dài làm rối loại hệ vi sinh vật ÂĐ. Một khi vi khuẩn
thường có trong ÂĐ mất đi, độ pH ÂĐ thay đổi sẽ tạo điều kiện cho nấm phát triển.
10
- Một số bệnh làm tăng khả năng mắc bệnh nấm như đái tháo đường, lao,
ung thư [20].
1.3.1.3. Các triệu chứng lâm sàng
- Ngứa ÂH, ÂĐ ở các mức độ khác nhau. Khí hư có màu trắng đục như
váng sữa, bột hoặc sánh, có khi trông như vảy nhỏ, không hôi có thể nhiều
hoặc ít, có thể kèm theo tiểu khó, đau khi giao hợp.
- Khám lâm sàng:
+ ÂH viêm đỏ, có thể bị xây xước, nhiễm khuẩn do gãi.
+ Niêm mạc ÂĐ viêm đỏ dễ chảy máu, khí hư nhiều màu trắng như
váng sữa dính vào thành ÂĐ, túi cùng sau có nhiều khí hư như bã đậu.
+ CTC có thể bình thường hoặc viêm đỏ, phù nề.
1.3.1.4. Chẩn đoán
- Soi tươi tìm nấm: nhỏ nước muối sinh lý vào khí hư rồi soi dưới kính
hiển vi sẽ thấy các bao tử nấm Candida có hình bầu dục hoặc tròn, có chồi
hoặc không có chồi, kích thước từ 3-6µm và phải có ít nhất 3 bào tử nấm nằm
trong một vi trường [1],[10].
- Nhuộm Gram: xác định nấm khi thấy có từ 3-5 bào tử nấm ở dạng nẩy
chồi trên một vi trường bắt màu Gram dương. Phương pháp này dễ tiến hành
cho kết quả nhanh, cho độ đặc hiệu là 99%.
- Nuôi cấy: dùng tăm bông lấy bệnh phẩm nuôi cấy trong môi trường
thạch Sabouraud trong vài giờ và ủ ấm trong nhiệt độ 37
0
C. Khuẩn lạc
Candida có mầu trắng ngà và sền sệt [21].
- Đo pH ≤ 4,5 [1],[10],[21].
11
1.3.2. Viêm âm đạo do Trichomonas vaginalis
1.3.2.1. Đặc điểm vi sinh học
- Trichomonas vaginalis là một loại trùng roi chuyển động, hình tròn,
kích thước từ 10-20µm thuộc loại đơn bào kỵ khí [21].
- Trichomonas vaginalis ký sinh chủ yếu trong âm đạo và trong niệu đạo
nữ, ở nam Trichomonas vaginalis cũng thường ký sinh ở niệu đạo [21].
1.3.2.2. Các yếu tố nguy cơ
- Phụ nữ có thai có tỷ lệ nhiễm Trichomonas vaginalis cao hơn phụ nữ
không có thai.
- Quan hệ tình dục với nhiều người hoặc người bị nhiễm Trichomonas
vaginalis.
- Phụ nữ mại dâm có tỷ lệ nhiễm Trichomonas vaginalis cao.
- Thiếu Estrogen và âm đạo kiềm tính, pH âm đạo >4,5 là môi trường
thuận lợi cho Trichomonas vaginalis.
- Phụ nữ bị nhiễm Trichomonas vaginalis thường bị nhiễm lậu kèm
theo [10],[22].
1.3.2.3. Triệu chứng lâm sàng
- Người bệnh có triệu chứng ra khí hư nhiều, mùi hôi, mầu vàng hay
hơi xanh, loãng, có bọt nhỏ, ngứa rát ở âm hộ, giao hợp đau.
- Đặt mỏ vịt thấy:
+ Niêm mạc âm đạo viêm đỏ, có các chấm đỏ, thậm chí sung huyết.
+ Cổ tử cung viêm đỏ, chỗ tổn thương không bắt màu lugol. Bôi
lugol sẽ thấy hình ảnh “sao đêm” khi soi cổ tử cung [1],[10],[13].
1.3.2.4. Chẩn đoán
- Soi tươi: dùng vài giọt nước muối sinh lý nhỏ và khí hư rồi soi ở kính
hiển vị sẽ thấy trùng roi di động. Theo Zuo thì độ nhạy của phương pháp này
là 60-70% và độ đặc hiệu là 95-99% [21].
- Nuôi cấy trong môi trường Diamond tìm Trichomonas vaginalis có
giá trị chẩn đoán cao, độ nhạy 97% [21].
12
1.3.3. Viêm âm đạo do Gardnerella vaginalis
1.3.3.1. Đặc điểm sinh học
- Năm 1955, lần đầu tiên Gardner và Dukes mô tả một loại trực khuẩn
Gram âm lấy tên là Hemophilus vaginalis sau đó đổi tên thành Gardnerella
vaginalis. Vào cuối những năm 80, người ta nhận thấy bệnh viêm âm đạo này do
nhiều loại vi khuẩn khác nhau nên đổi tên thành Barterial vaginalis [10],[14].
- Barterial vaginalis đặc trưng bởi sự thay thế trực khuẩn Lactobacillus
bằng các vi khuẩn kỵ khí Mobiluncus, Mycoplasma hominis, Bacteroides
species, Gardnerella vaginalis trong môi trường âm đạo. Các vi khuẩn này
gây nên viêm âm đạo không đặc hiệu [10],[14],[21].
- Những vi khuẩn kỵ khí này sản xuất ra các enzym phân hủy protein thành
các acid amin như: putrescine, cadaverine và trimethy lamine. Trong môi trường
kiềm, các acid amin này sẽ biến đổi thành dạng bay hơi và tạo lên mùi cá ươn [14].
1.3.3.2. Các yếu tố nguy cơ
- Phụ nữ có quan hệ tình dục với nhiều người và với người nhiễm
Gardnerella vaginalis thì có tỷ lệ mắc bệnh cao.
- Phụ nữ sử dụng dụng cụ tử cung có tỷ lệ nhiễm Gardnerella vaginalis
cao hơn những phụ nữ không sử dụng dụng cụ tử cung.
- Thai ngén làm tăng khả năng nhiễm Gardnerella vaginalis.
- pH âm đạo >4,5 thuận lợi cho việc nhiễm Gardnerella vaginalis [14].
1.3.3.3. Triệu chứng lâm sàng
- Ra khí hư nhiều, hôi, rất khó chịu, đặc biệt sau khi giao hợp hoặc
dùng xà phòng kiềm tính [14].
- Người bệnh có thể thấy ngứa và khó chịu ở âm hộ, âm đạo. Tuy
vậy, khoảng 50% phụ nữ nhiễm Gardnerella vaginalis không có các triệu
chứng nói trên.
- Khám thấy âm đạo có khí hư lỏng, thuần nhất, màu trắng hoặc xám,
mùi hôi tanh. Niêm mạc âm đạo thường không viêm đỏ.
13
1.3.3.4. Chẩn đoán
- Theo WHO, để chẩn đoán là viêm âm đạo do Gardnerella vaginalis
cần có ít nhất 3 trong 4 tiêu chuẩn sau [10],[14],[23].
+ Khí hư loãng, trắng, đồng nhất dính vào thành âm đạo.
+ pH dịch âm đạo >4,5.
+ Test sniff dương tính: là thấy mùi cá ươn khi nhỏ vài giọt KOH 10%
vào tiêu bản khí hư.
+ Clue cells chiếm ≥20% tế bào biểu mô âm đạo.
- Clue cells là các tế bào biểu mô gai của âm đạo được bao vây bởi
nhiều vi trùng rất nhỏ cho ra hình hạt [14].
- Nhuộm Gram khí hư tìm Clue cells có độ nhạy 93% và độ đặc hiệu 79%.
1.3.4. Viêm cổ tử cung do Chlamydia trachomatis
1.3.4.1. Đặc điểm sinh học
- Chlamydia là một nhóm vi khuẩn bắt mầu Gram âm, ký sinh nội bào
bắt buộc. Các chủng gây bệnh bao gồm C.psittasi, C.trachomatis và
C.pneumoniae [15],[10].
- Chlamydia gây viêm cổ tử cung, viêm phần phụ và viêm niệu đạo ở
phụ nữ. Viêm mào tinh hoàn, viêm khớp ở nam giới. Gây viêm phổi, viêm kết
mạc ở trẻ sơ sinh [15].
1.3.4.2. Các yếu tố nguy cơ
- Tuổi: nhiễm Chlamydia gặp nhiều ở lứa tuổi trẻ, phụ nữ dưới 25 tuổi
có tỷ lệ nhiễm Chlamydia cao gấp 3,3 lần so với lứa tuổi trên 34 [24].
- Số bạn tình: người có từ 3 bạn tình trở lên có nguy cơ nhiễm
Chlamydia cao gấp 8 lần so với người có 1 bạn tình [15],[25].
1.3.4.3. Triệu chứng lâm sàng
- Hay gặp thể không có triệu chứng cơ năng và thực thể.
- Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp: ra khí hư như mủ, đái khó, ra máu.
- Khám: 20% số trường hợp thấy lộ tuyến cổ tử cung, cổ tử cung phì đại,
chảy máu khi trạm vào hoặc có dịch tiết như mủ, nhầy ở cổ tử cung [10],[25].
14
1.3.4.4. Chẩn đoán
- Nuôi cấy tìm Chlamydia trên tế bào nuôi cấy Mc Coy hoặc Hela
229 là phương pháp tốt nhất để chẩn đoán nhưng đòi hỏi kỹ thuật, tốn tiền
và mất thời gian.
- Phản ứng miễn dịch huỳnh quang phát hiện Chlamydia có độ đặc hiệu
74%-90% và độ nhạy là 98%-99% [25].
- Phát hiện Chlamydia bằng phản ứng miễn dịch xét nghiệm, chẩn đoán
Chlamydia nhanh (Best One-step Chlamydia Trachomotis) là xét nghiệm sắc
ký miễn dịch dùng kháng thể đơn dòng và đa vòng để xác định Chlamydia
Trachomotis. Phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, rẻ tiền và cho
kết quả rất cao [25].
- Kỹ thuật miễn dịch gắn men ELISA được dùng để phát hiện Chlamydia,
phương pháp này thích hợp trong điều tra với số lượng lớn các đối tượng.
1.4. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN
1.4.1. Vị thành niên - Thanh niên
Khái niệm vị thành niên vẫn chưa thống nhất ở nhiều Quốc gia và trong
khu vực. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), vị thành niên là những người trong
độ tuổi từ 10-19 tuổi, phân chia lứa tuổi này thành 3 giai đoạn [17]:
- Giai đoạn vị thành niên sớm, tương đương với tuổi thiếu niên (nam: 12-
14 tuổi, nữ: 10-12 tuổi).
- Giai đoạn vị thành niên giữa, tương đương với tuổi thiếu niên lớn
(nam: 14-16 tuổi, nữ: 13-16 tuổi).
- Giai đoạn cuối vị thành niên, tương đương với tuổi thanh niên (nam:
17-19 tuổi, nữ: 16-18 tuổi).
Ở Việt Nam, vị thành niên là những người trong độ tuổi 10-19, thanh
niên trẻ là những người trong độ tuổi 15-24.
Khái niệm vị thành niên và thanh niên dùng để chỉ người trong độ
tuổi 10-24 [18].
15
1.4.2. Vị thành niên – thanh niên và Sức khỏe sinh sản
Sức khỏe sinh sản (SKSS) thanh, thiếu niên bắt đầu được quan tâm và
nghiên cứu tại Hội nghị Quốc tế về dân số năm 1994 tại Cairo Ai Cập [26].
Kiến thức về chăm sóc SKSS, biến đổi của cơ thể, phát triển hiểu biết
về tình dục học và sức khỏe tình dục là những mặt quan trọng của SKSS trong
suốt đời người. Ngoài ra, những vấn đề khác của tuổi thanh niên như tình yêu,
quan hệ tình dục, phòng tránh thai, nạo hút thai, sinh đẻ ở tuổi thanh niên,
viêm nhiễm đường sinh dục, các bệnh lây truyền qua đường tình dục
(BLTQĐTD), bao gồm cả HIV/AIDS cũng là những vần đề đang được Hội
nghị Quốc tế về dân số quan tâm [27].
Phụ nữ làm mẹ khi ở tuổi VTN/TN có nguy cơ tử vong cao hơn nhiều
so với mức bình thường và tăng rủi ro đau ốm, bệnh tật và tử vong cho con
cái họ. Ở nhiều nước, VTN bị ép buộc hoặc bị thúc bách phải có hoạt động
tình dục. Phụ nữ trẻ, đặc biệt là thanh thiếu niên nghèo, là nhóm dễ gặp rủi ro
nhất. VTN (cả trai và gái) quan hệ tình dục sớm dễ gặp nguy cơ lây nhiễm các
BLTQĐTD kể cả HIV/AIDS, bởi họ thường không được ai chỉ bảo cách tự
bảo vệ bản thân [28].
1.4.3. Tình dục vị thành niên- thanh niên
Mỗi dân tộc có một quan niệm khác nhau về tình dục và được tạo ra bởi
nền văn hóa của các dân tộc đó. Các nước Đông Á và Đông Nam Á chịu sự
ảnh hưởng nhiều của Nho giáo và Phật giáo coi tình dục là bản năng thấp kém
của con người nên họ thường không dám bàn luận về vấn đề này [29].
Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ quan niệm về quan hệ tình
dục không còn khắt khe như trước. Việc chấp nhận QHTD trước hôn nhân
khá dễ dàng là một thực tế. Một nghiên cứu cho biết: tuổi trung bình QHTD
lần đầu tiên là 19,5 tuổi, khoảng 1/2 số phụ nữ là học sinh, 40% đang đi làm
và số còn lại đang ở nhà, 2/3 có QHTD với bạn trai lần đầu tiên, 3/4 tiếp tục
16
có quan hệ thường xuyên. Ở Tây Ninh, QHTD lần đầu tiên ở tuổi 16- 19 là
19%, tuổi 20-23 là 50% và tuổi 24-28 là 31% [30]. Có 9,5% thanh niên
(SAVY 2, 2008) có quan hệ tình dục trước hôn nhân (tỷ lệ này ở SAVY 1 là
7,6%). Tỷ lệ nam thanh niên có quan hệ tình dục khi chưa lập gia đình là
13,6%, cao hơn 2 lần tỷ lệ này ở nữ là 5,2% (tương ứng ở SAVY 1 là 11,1%
và 4%). Tuổi quan hệ tình dục lần đầu của thanh niên có xu hướng giảm từ
19,6 tuổi ở SAVY 1, xuống còn 18,1 tuổi ở SAVY 2 [31],[32].
QHTD sớm ở thanh thiếu niên và những hậu quả của nó đã trở thành mối
quan tâm có tính toàn cầu, đặc biệt ở thời đại đang diễn ra nhiều cuộc vận
động có giá trị nhân văn lớn trên thế giới: kiểm soát dân số, chống đại dịch
HIV/AIDS, bình đẳng nam nữ.
1.4.4. Tình trạng hoạt động tình dục và bệnh lây truyền qua đường tình
dục ở lứa tuổi thanh niên
Ngày nay, VTN/TN phát triển sớm. Do vậy, VTN hoạt động tình dục
sớm hơn trước và cũng từ đó các BLTQĐTD có xu hướng ngày càng gia tăng
trên thế giới [33],[34].
Tại Châu Phi, năm 1996 một nghiên cứu cho biết 41% nữ tuổi 15-16 và
15% nam tuổi 15-16 đã có QHTD. Đến 17-18 tuổi sự khác nhau về giới
không còn. Trình độ học vấn không ảnh hưởng đến hoạt động tình dục của
nữ. Tuy nhiên, tỷ lệ hoạt động tình dục của nữ còn đang đi học thấp hơn so
với nhóm đã nghỉ học, còn tỷ lệ ở nam thì ngược lại. Thanh niên lớn tuổi hoạt
động tình dục nhiều so hơn VTN [35].
Tại Mỹ (2010), ở lứa tuổi 15 khoảng 27% VTN nữ và 33% VTN nam
có hoạt động tình dục. Đến tuổi 17 thì tỷ lệ này tăng đến 50% và 66%
tương ứng cho nam và nữ [36].
Theo điều tra quốc gia tại Croatia (2007) với học sinh phổ thông 15-19
tuổi cho thấy 28% nam, 17% nữ có QHTD trước 16 tuổi [37].
17
Theo đánh giá của WHO, hàng năm có 250 triệu người mới nhiễm các
BLTQĐTD, tỷ lệ này cao nhất ở độ tuổi 20-24, tiếp theo là độ tuổi 15-29.
Những người trẻ tuổi là nhóm có nguy cơ cao bởi có QHTD nhưng ít dùng
biện pháp tránh thai (BPTT) bao cao su. Nhiều người lây nhiễm và mắc
HIV/AIDS từ khi còn dưới 20 tuổi. Cũng theo WHO, 1/20 số người nữ VTN
mắc BLTQĐTD mỗi năm [38].
Hiện nay, nghiên cứu về tỷ lệ NKĐSDD ở đối tượng VTN/TN có rất ít,
chủ yếu là sự hiểu biết về BLTQĐTD.
Hậu quả của hoạt động tình dục sớm làm cho tỷ lệ BLTQĐTD và thai
nghén không mong muốn tăng lên [39].
1.4.5. Vấn đề nạo hút thai ở VTN/TN
Trên toàn cầu, nạo thai ở tuổi 15-19 ít nhất cũng có khoảng 5 triệu ca
trong tổng số ước đoán là 50 triệu ca phá thai hàng năm. Tỷ lệ nạo thai ở
thanh niên rất khác nhau giữa các nước: 13/1000 phụ nữ tuổi từ 15-19 ở
Mexico, 36/1000 phụ nữ độ tuổi VTN ở Dominique, Đức chỉ có 3 ca nạo thai
hàng năm trên 1000 em tuổi từ 15-19, ở Mỹ là 36/1000 [38].
Điều tra tại Hải Dương (2006) cho thấy, 18,6% số phá thai tại các cơ sở
y tế công lập thuộc nhóm tuổi VTN/TN, 4,6% thuộc nhóm tuổi từ 15- 19 tỷ lệ
này cao gấp 5 lần so với năm 2001 (0,9%). Số ca nhiễm HIV/AIDS nhóm tuổi
10-24 chiếm 22,6% tổng số nhiễm, trong đó nhóm tuổi 20-24 chiếm 19,9%
tổng số nhiễm và chiếm 88,9% số nhiễm trong nhóm tuổi 10-24 [40].
Nhận thức ở thanh thiếu niên về tác hại của nạo hút thai khá cao. Một
điều tra trên thanh niên tuổi 15-24 tại Hải Phòng (1999) cho thấy: 94,3% biết
nạo hút thai có hại cho sức khỏe phụ nữ; 71% biết các tai biến do nạo hút thai,
hiểu biết ở nữ cao hơn nam; 60,2% biết rằng nạo hút thai không phải là biện
pháp tránh thai. Hiểu biết của VTN về các tai biến do nạo thai: chảy máu
28,8%; đau bụng 11,6%; thủng tử cung 19,5%; vô sinh 28,7%; nhiễm khuẩn
24,2%, sức khỏe yếu 61,9% [41].
18
Nghiên cứu ở phụ nữ phá thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương gần
80% là thanh niên chưa chồng [42]. Trong số 279 phụ nữ nạo hút thai chưa
lập gia đình, có 37,5% tuổi từ 15-19, 60% có trình độ lớp 12 hay thấp hơn, tại
thời điểm điều tra 46% đang làm việc và 39% đang đi học, còn lại ở nhà và
đang tìm việc, 80% đang sống với gia đình [42].
Theo điều tra năm 2013 tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương, phụ nữ
chưa kết hôn có thai ngoài ý muốn dưới 12 tuần phá thai thì lứa tuổi hay gặp
nhất là từ 20-24 tuổi 77,3%, trẻ vị thành niên chiếm tỉ lệ đáng kể 9%. Phần lớn
là học sinh - sinh viên 57,5%. Trong đó, 78,5% phá thai lần đầu [43].
1.5. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG SINH DỤC Ở
PHỤ NỮ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.5.1. Trên thế giới
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới là một vấn đề y tế công cộng. Theo
ước tính của WHO, chỉ tính riêng các bệnh lây truyền tình dục, hàng năm có
khoảng 333 triệu người mới mắc [22]. Thống kê cũng cho thấy NKĐSDD là
một bệnh thường gặp ở người phụ nữ, khoảng 75% số phụ nữ trong suốt đời
sống sinh sản có ít nhất một lần bị NKĐSDD [38].
Thanh niên dễ mắc các bệnh NKĐSDD, theo một số báo cáo thu được
kết quả như sau:
Tại Nigeria (1995) điều tra của Brabin L. và cs cho thấy tỷ lệ nữ giới
tuổi 17- 19 nhiễm C.trachomatis là 8% và 44% có các triệu chứng nhiễm
khuẩn đường sinh dục [44] .
Theo Nzyuko S. và cs ở Kenya (1997) cho thấy 90% nữ giới lứa tuổi 15-
19 đã có quan hệ tình dục và khoảng 50% có dấu hiệu mắc BLTQĐTD [45].
Năm 2001, Claeys P. và cs điều tra tình hình NKĐSDD ở 326 bệnh nhân
đến khám sản phụ khoa tại bệnh viện ở Azerbaijan thấy tỷ lệ lưu hành các
bệnh là giang mai (2,2%); C.trachomatis (3,1%); lậu cầu (2,8%); T.vaginalis
(7,1%); Candida (33,1%) và B.vaginalis (32,5%) [46].
19
Năm 2002, Nghiên cứu của Ness R. B. và cs ở 1200 phụ nữ có nguy cơ
cao mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục thấy thụt rửa ÂĐ ít nhất 1 lần
trong một tháng làm tăng tỷ lệ nhiễm B. vaginalis (OR= 1,3) [60].
Tại Bangladesh (2003) Begum A. và cs tiến hành điều tra tỷ lệ viêm
nhiễm đường sinh dục ở 284 phụ nữ có thai thấy rằng tỷ lệ nhiễm B.
vaginalis: là 17,7%, 1,4% trường hợp nhiễm T. vaginalis và 3% có phản
ứng giang mai dương tính. Tình trạng nhiễm B. vaginalis có liên quan với
điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện kinh tế càng thấp thì tỷ lệ nhiễm B.
vaginalis càng cao [47] .
Ở Nhật Bản (2004), Shimano S. và cs điều tra ở 6083 phụ nữ đến khám
thai tại bệnh viện ở Otaru thấy tỷ lệ nhiễm B.vaginalis; C.trachomatis và
Mobinluncus spp. là 18,2%; 4,2% và 4,1% [48].
Tại vương quốc Anh (2005), theo Brabin L. khi nghiên cứu 127 nữ thanh
thiếu niên từ 17 tuổi trở xuống đã có QHTD đến khám tại phòng khám sản
phụ khoa, Bệnh viện St Mary, Whitworth Park và được sàng lọc các bệnh
nhiễm trùng đường sinh dục dưới, viêm ÂĐ do nấm dao động từ 28- 37%;
nhiễm Gardnerella vaginalis là 33,9%; nhiễm Chlamydia là 26,8% [49].
1.5.2. Tại Việt Nam
Việt Nam là một nước đang phát triển. Do vậy, tình hình NKĐSDD ở
phụ nữ cũng chiếm tỷ lệ khá cao.
Theo Trần Thị Phương Mai (1995), khi nghiên cứu 363 phụ nữ đến
khám tại Viện Bảo vệ Bà mẹ Trẻ sơ sinh, tỷ lệ nhiễm nấm Candida là 23,3%;
T.vaginalis là 3,3%; G.vaginalis là 2,5%; C.trachomatis 3,5%. Trong đó, tỷ lệ
viêm cổ tử cung do C.trachomatis là 3,8%, viêm lộ tuyến cổ tử cung do
C.trachomatis là 30,7%. Không có trường hợp nào nhiễm lậu cầu [50].
Năm 2001, Nguyễn Thị Ngọc Khanh và cs nghiên cứu ở 602 phụ nữ
mang thai đến khám và theo dõi thai tại Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh
(1998- 2000) thấy có 72,1% thai phụ mắc ít nhất một trong các hình thái
20
VNĐSDD như viêm ÂH, ÂĐ hay viêm CTC. Các nguyên nhân gây bệnh chủ
yếu là nấm Candida 44,9%; C.trachomatis 8,1%; B. vaginalis 7,8%. Không có
trường hợp nào nhiễm T.vaginalis [41].
Nghiên cứu của Phan Thị Thu Nga (2004) trên 320 phụ nữ đến khám tại
Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho biết tỷ lệ VNĐSDD là 80,4%, phụ nữ có
ít nhất một hình thái tổn thương viêm đường sinh dục dưới là 83,1%. Trong
đó, viêm âm hộ là 5,9%; viêm âm đạo là 66,6%; viêm lộ tuyến cổ tử cung là
52,5%, tỷ lệ nhiễm nấm Candida là 35,3%; T.vaginalis là 0,94%; G.vaginalis
15,9%; C.trachomatis 11,9%. Tỷ lệ viêm cổ tử cung do C.trachomatis 31,6%.
Không có trường hợp nào nhiễm lậu cầu [24].
Theo Đinh Thị Hồng (2004), khi nghiên cứu tình hình NKĐSDD ở 204
phụ nữ có thai trong 3 tháng cuối ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương, tỷ lệ viêm
âm hộ 4,4%; viêm âm đạo 57%; viêm cổ tử cung và viêm lộ tuyến cổ tử cung
22,5%. Trong đó, nhiễm nấm Candida 40,2%; G.vaginalis 3,9%; C.trachomatis
9,3%. Không có trường hợp nào nhiễm lậu cầu và T.vaginalis [51].
Năm 2013, Thạch Thùy Linh nghiên cứu NKĐSDD ở 62 phụ nữ có thai
3 tháng đầu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, tỷ lệ viêm âm hộ là 14,5%;
viêm âm đạo 71%; viêm lộ tuyến cổ tử cung là 25,8%. Trong đó, nhiễm nấm
Candida 11,6%; Bacterial vaginalis 5,1%; không có trường hợp nào nhiễm
Trichomonas vaginalis, NKĐSDD cao nhất ở độ tuổi 21 đến 25 (38,7%) và
thấp nhất là độ tuổi trên 35 (4,8%) [52].
Một nghiên cứu khác của Trần Thị Phương Mai (2001) trên 1000 phụ nữ
độ tuổi từ 19-44 đến khám phụ khoa tại BVPSHN, nhà hộ sinh Hai Bà Trưng
và Khoa sản Bệnh viện Thanh Nhàn – Hà Nội cho thấy, tỷ lệ viêm âm hộ
13,7%; viêm âm đạo 44,9%; viêm cổ tử cung 51,2%; viêm lộ tuyến cổ tử
cung 31,7%. Kết quả xét nghiệm vi sinh vật đã xác định tỷ lệ nhiễm Candida
11,1%; T.vaginalis 1,3%; G.vaginalis 3,8%; C.trachomatis 4,4%. Không có
trường hợp nào nhiễm Lậu cầu [53].
21
Năm 2010, Nguyễn Duy Ánh báo cáo tỷ lệ nhiễm khuẩn đường sinh dục
dưới ở phụ nữ có chồng ở độ tuổi 18- 49 (Hà Nội) chiếm 78,4%. Trong đó,
nhiễm khuẩn âm hộ 16,7%; nhiễm khuẩn âm đạo 36,3%; viêm cổ tử cung
26,5%. Trong số 588 phụ nữ được nghiên cứu tại nội thành nguyên nhân do
Bacterial vaginalis chiếm 47,9%; Candida 24,8%; Chlamydia trachomatis
18,5%; tỉ lệ nhiễm HPV 7,5%; thấp nhất là Trichomonas vaginalis 2,4%. Trong
số 588 phụ nữ nghiên cứu tại ngoại thành, các tác nhân do Bacterial vaginalis
46,3%; nấm Candida 36,6%, Chlamydia trachomatis 25,7%; tỉ lệ nhiễm HPV
11,1%; thấp nhất cũng là Trichomonas vaginalis 2,6%. Nhiễm Chlamydia
trachomatis và nấm Candida là có sự khác biệt giữa nội thành và ngoại thành [8].
Năm 2001, Đỗ Thị Thu Thủy nghiên cứu tình hình NKĐSDD ở 300 phụ
nữ có thai trong 3 tháng cuối tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, tỷ lệ nhiễm
nấm Candida 61,3%; T.vaginalis 0,67%; G.vaginalis 3,7%; C.trachomatis
6,67%, lậu cầu 0,33% [54].
Điều tra của Lê Thanh Bình ở đối tượng đến khám tại phòng khám phụ
khoa của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng (2004) cho thấy, tỷ lệ VNĐSDD khá
cao. Theo tác giả nguyên nhân tạp khuẩn đơn thuần 55,6%; Candida 41,7%;
lậu 1,6% và T. vaginalis 1,1% [55].
Năm 2011, Đặng Thị Tiến Dung nghiên cứu 140 phụ nữ có chồng đến
khám phụ khoa tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình thấy tỷ lệ viêm âm hộ
0,7%; viêm âm đạo 15%; viêm lộ tuyến cổ tử cung đơn thuần 34,3%; viêm lộ
tuyến cổ tử cung kết hợp viêm âm đạo 31,7%. Kết quả xét nghiệm vi sinh vật
đã xác định tỷ lệ nhiễm Candida 25%; T.vaginalis 0,7%; G.vaginalis 30,7%;
C.trachomatis 23,6%, nhóm phụ nữ là cán bộ công nhân viên chức (92,1%),
nhóm phụ nữ làm nghề nông dân (86,0%) [56].
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Khanh (2008), khi nghiên cứu 54 phụ nữ
hành nghề mại dâm có tiết dịch niệu đạo tại Trung tâm Giáo dục Lao động số
2, tỷ lệ nhiễm Chlamydia là 55,55% [58].
22
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Địa điểm: khoa Kế hoạch hóa gia đình - Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
- Thời gian: từ 01/04/2013 đến 01/11/2013.
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Thanh niên ở lứa tuổi 15-24.
- Có thai ≤12 tuần đến phá thai tại BVPSHN.
- Không mắc các bệnh nội khoa mãn tính nặng (nguy cơ nhiễm khuẩn cao).
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu.
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Đang dùng thuốc kháng sinh toàn thân.
- Đang đặt thuốc đặt ÂĐ hoặc thụt rửa âm đạo trong thời gian 02 tuần
trước khi đến khám.
- Đang ra máu.
- Phụ nữ có rối loạn tâm thần.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu
2.3.1.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
23
2.3.1.2. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức:
2
2
)2/1(
p)(
)1(
ε
α
pp
Zn

=

Chọn:
Z
2
1-
α
/2
= 1,96
p = 0,784 (Tỷ lệ NKĐSDD khoảng 78,4% theo nghiên cứu của Nguyễn
Duy Ánh 2010) [8].
ε = 0,1
Thay vào công thức:
n = 1,96
0,784 (1 – 0,784)
(0,1 x 0,784)
2
n = 105,84
Chọn cỡ mẫu là 115 thanh niên phá thai ≤ 12 tuần tại BVPSHN năm 2013.
2.4. CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU
2.4.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu và một số yếu tố liên quan
- Trình độ văn hóa; nghề nghiệp; tuổi.
- Nơi sinh sống.
- Tình trạng hôn nhân; tiền sử mang thai, nạo hút thai.
- Tiền sử đã mắc viêm nhiễm đường sinh dục dưới.
- Các yếu tố liên quan khác: cách vệ sinh, thói quen sinh hoạt, tiếp cận
dịch vụ khám chữa bệnh.
- Các biện pháp tránh thai đang dùng.
2.4.2. Tiêu chuẩn xác định tình trạng NKĐSDD
24
2.4.2.1. Tiêu chuẩn xác định NKĐSDD qua khám lâm sàng
- Viêm ÂH: viêm đỏ, có khí hư, có rát ngứa hoặc loét.
- Viêm ÂĐ: ngứa âm hộ, ÂĐ và ra khí hư.
+ Khám lâm sàng: ÂĐ viêm đỏ bắt màu lugol nhạt, có nhiều khí hư
đục, loãng hoặc đặc có mùi hôi, tùy theo tác nhân.
- Viêm lộ tuyến CTC: CTC có tổn thương màu đỏ, diện tổn thương
nông hoặc sâu, mất lớp biểu mô lát, có khí hư ở CTC.
- Có thể kết hợp các hình thái lâm sàng.
2.4.2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán vi sinh
- Nấm Candida:
+ Soi tươi tìm bào tử nấm có chồi.
+ Mỗi vi trường có ít nhất 3 bào tử nấm.
+ Tất cả các bệnh phẩm đều được đọc trên 10 vi trường.
- Trichomonas vaginalis:
+ Soi tươi thấy Trichomonas di động theo kiểu vừa xoay vừa giật lùi.
- Gardnerella vaginalis:
Khi có ít nhất 3 trong 4 tiêu chuẩn sau:
+ Khí hư thuần nhất, trắng, xám, mùi hôi.
+ Độ pH ÂĐ > 4,5.
+ Thử nghiệm Sniff dương tính.
+Tế bào Clue cells: có trên 20% tế bào biểu mô ÂĐ trở thành tế
bào Clue cells.
- Chlamydia trachomatis:
Theo phương pháp sắc ký miễn dịch để tìm kháng nguyên
Chlamydia trachomatis ở ống CTC bằng test thử nhanh.
2.4.3. Phân loại NKĐSDD theo hình thái lâm sàng
Phân loại NKĐSDD theo hình thái lâm sàng có: viêm ÂH; viêm ÂĐ;
viêm CTC và có thể kết hợp.
2.5. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
25
SƠ ĐỒ LẤY MẪU
(Theo quy trình xét nghiệm tại khoa xét nghiệm bệnh viện Phụ sản Hà Nội)

Siêu âm tính tuổi thai ≤12
Đón tiếp khách hàng- chọn
vào đối tượng nghiên cứu
Phỏng vấn
Khám lâm sàng
Lấy bệnh phẩm
Hai tăm bông từ ÂĐ
Tăm bông từ CTC
Đo pH
Soi tươi tìm:
- Nấm Candida
- T.vaginalis
- Bạch cầu đa nhân
Test Siff
Nhuộm gram:
- Candida
- Clue cells chứa
G. vaginalis
- Vi khuẩn gây bệnh
- Bạch cầu đa nhân
Test nhanh
Chlamydia
trachomatis
Tăng bông số 3Tăng bông số 2
Tăng bông số 1

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×