Tải bản đầy đủ

thiết kế mô phỏng cấu tạo và nguyên lý hoạt động của hệ thống bôi trơn cho động cơ đốt trong trên máy vi tính





Trang 1

Lời nói đầu
Trong công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, ngành cơ khí nói
chung và cơ khí động lực nói riêng đóng vai trò rất quan trọng. Có thể nói nó
xuyên suốt, có mặt trong hầu hết mọi lónh vực của đời sống sản xuất.
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật cùng với
việc ứng dụng rộng rãi tin học vào trong kỹ thuật, đòi hỏi người sinh viên, kỹ sư
phải nắm vững và ứng dụng tốt các phần mềm đồ hoạ để tránh bò lạc hậu không
theo kòp với sự phát triển của xã hội.
Xuất phát từ lý do đó cùng với sự gợi ý của thầy giaó Th.s MAI SƠN
HẢI.Tôi quyết đònh chọn đề tài.
“Thiết kế mô phỏng cấu tạo và nguyên lý hoạt động của hệ thống bôi
trơn cho động cơ đốt trong trên máy vi tính ” làm đồ án tốt nghiệp cho mình.
Đồ án này gồm có 3 chương.
Chương1: Tổng quát về hệ thống bôi trơn.
Chương2: Thiết kế mô phỏng.

Chương3: Kết luận và đề xuất ý kiến.
Sau 3 tháng làm việc nghiêm túc cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy
giáo Th.s MAI SƠN HẢI nay tôi đã hoàn thành bản báo cáo của mình.
Song đây là lónh vực mới, thời gian có hạn nên đề tài còn bò hạn chế thiếu
sót. Qua đây tôi rất mong được sự góp ý của quý thầy giáo cùng bạn đọc Và cuối
cùng tôi xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới thầy giáoTh.s MAI SƠN HẢI, các
thầy giáo trong bộ môn động lực cùng các bạn đã quan tâm giúp đỡ tôi hoàn thành
đồ án này.
Nha trang, tháng 6 năm 2006
Sinh viên thực hiện.


Trần Đại Ngự


PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 2

Chương 1
KHÁI QUÁT HỆ THỐNG BÔI TRƠN
1.1 CHỨC NĂNG NHIÊM VỤ, YÊU CẦU CỦA HỆ THỐNG
BÔI TRƠN
1.1.1 Chức năng, nhiệm vụ
1.1.1.1. Chức năng:
Động cơ đốt trong được tạo nên từ các cơ cấu, mối ghép, hệ thống… Vì vậy
khi động cơ làm việc các bộ phận có sự chuyển động tương đối với nhau. Tại bề
mặt tiếp xúc tương đối giữa chúng nảy sinh ma sát và hao mòn. Từ đó người ta đưa
chất bôi trơn vào bề mặt chòu ma sát, tạo ra môi trường có lợi cho ma sát và hao
mòn. Chất bôi trơn thường dùng cho động cơ đốt trong là dầu, mỡ, graphit … chúng
đóng vai trò là môâi trường. Chúng cho phép thay đổi loại ma sát và dạng hao mòn.
Như vậy, chức năng của bôi trơn là điều khiển ma sát và hao mòn của máy.
1.1.1.2 .Nhiệm vụ :
Hệ thống bôi trơn có nhiệm vụ đưa dầu bôi trơn đến các bề mặt ma sát giữa
các chi tiết của động cơ, với một lượng cần thiết, với áp suất và nhiệt độ nhất đònh
phù hợp với các điều kiện làm việc của động cơ. Hệ thống bôi trơn rất quan trọng
nó đảm bảo cho động cơ làm việc an toàn tăng tuổi thọ cho động cơ với các mục
đích :
*Bôi trơn các bề mặt có chuyển động trượt giữa các chi tiết nhằm giảm ma
sát, do đó giảm mài mòn – tăng tuổi thọ các chi tiết. Chính vì giảm ma sát nên tổn
thất cơ giới trong động cơ N
m
giảm, hiệu suất cơ giới
x
m
=1-
i
m
N
N

sẽ tăng. Hiệu suất có ích của động cơ
x
e =
x
i
.x
m

khi đó cũng tăng tức là tăng tính kinh tế của động cơ.
* Rửa sạch bề mặt ma sát của các chi tiết. Trên bề mặt ma sát, trong qúa
trình làm việc thường có các vảy rắn tróc ra khỏi bề mặt. Dầu bôi trơn sẽ cuốn trôi
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 3

các vải tróc, sau đó được giữ lại trong các phần tử lọc của hệ thống bôi trơn, tránh
cho bề mặt ma sát bò cào xước. Vì vậy, khi động cơ chạy rà sau khi lắp ráp hoặc
sửa chữa - khi đó rất nhiều mạt kim loại còn sót lại trong quá trình lắp ráp và
nhiều vải rắn bò tróc ra khi chạy rà – phải dùng dầu bôi trơn có độ nhớt nhỏ để tăng
khả năng rửa trôi các mạt bẩn trên bề mặt.
* Làm mát một số chi tiết. Do ma sát, tại các bề mặt làm việc như piston-
xylanh, trục khuỷu- bạc lót … sinh nhiệt. Mặt khác, một số chi tiết như piston, vòi
phun … còn nhận nhiệt của khí cháy truyền đến. Do đó một số chi tiết có nhiệt độ
rất cao có thể phá hỏng điều kiện làm việc bình thường của động cơ như gây bó
kẹt, giảm độ bền các chi tiết, kích nổ ở động cơ xăng, giảm hệ số nạp … Nhằm
giảm nhiệt độ các chi tiết máy này, dầu từ hệ thống bôi trơn (có nhiệt độ thấp hơn
nhiệt độ chi tiết) được dẫn đến các bề mặt có nhiệt độ cao để tải nhiệt đi (ví dụ dầu
phun lên để làm mát đỉnh piston).
* Bao kín khe hở giữa các chi tiết như cặp piston – xylanh - xécmăng để
giảm lọt khí. Vì vậy, khi lắp ráp cụm chi tiết này phải bôi dầu rãnh xéc- măng và
bề mặt xylanh .
* Chống oxy hoá (kết gỉ) bề mặt chi tiết nhờ những chất phụ gia pha trong
dầu.
* Rút ngắn quá trình chạy rà động cơ. Như trên đã nói, khi chạy rà động cơ
phải dùng dầu bôi trơn có độ nhớt thấp. Ngoài ra dầu còn được pha một số chất phụ
gia đặc biệt có tác dụng làm mềm tổ chức tế vi kim loại một lớp rất mỏng trên bề
mặt chi tiết. Do đó các chi tiết nhanh chóng rà khít với nhau, rút ngắn thời gian và
chi phí chạy rà.
1.1.2 Yêu cầu.
+Đối với chất bôi trơn:
* Độ nhớt của dầu phải nằm trong giới hạn cho phép, sao cho khi tạo thành
“chêm dầu“ thuỷ động học ổ đỡ, nó phải chòu được tải trọng lớn nhất tác dụng lên
ổ đỡ, và giữ không cho các bề mặt công tác tiếp xúc nhau.
* Bảo vệ bề mặt kim loại không bò ăn mòn
*Dầu bôi trơn không được : tạo cặn ở cácte, két chứa, ở các chi tiết động và
trong các đường ống, phải đảm bảo tính bôi trơn và không được tạo thành nhủ
tương khi có nước lẫn vào không được tạo bọt.
* Dầu phải tuổi thọ cao (ít bò phân huỷ) và có giá thành phù hợp.
+Đối với hệ thống bôi trơn:
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 4

* Hệ thống bôi trơn phải đưa chất bôi trơn tới nơi cần một cách liên tục, đều
đặn, với lưu lượng, trạng thái (áp suất, nhiệt độ) tính chất xác đònh và có thể kiểm
tra, điều chỉnh và điều khiển được.
* Các thiết bò bộ phận …của HTBT phải đơn giản, dễ sử dụng, tháo lắp kiểm
tra sửa chửa, điều chỉnh…. Có khả năng dễ tự động hoá cao, nhưng giá thành vừa
phải .
1.2 PHÂN LOẠI.
Động cơ đốt trong sử dụng nhiều loại hệ thống bôi trơn khác nhau tuỳ thuộc
vào loại động cơ điều kiện làm việc mà trang bò hệ thống bôi trơn cho phù hợp .
Để phân loại hệ thống bôi trơn người ta dựa vào các tiêu chí sau :
1.2.1 Theo cách đưa dầu đến các hệ thống bôi trơn gồm :
- Bôi trơn theo kiểu vung toé.
- Bôi trơn theo kiểu nhỏ giọt (có chu kỳ tự động và không cóù chu kỳ tự
động).
- Cưỡng bức theo kiểu áp suất thấp, áp suất cao (tuần hoàn hoặc không tuần
hoàn).
- Kết hợp với các hệ thống trên.
1.2.2 Theo kiểu chứa dầu trong động cơ gồm :
- Bôi trơn cácte ướt.
- Bôi trơn cácte khô.
1.2.3 Bôi trơn pha dầu trong nhiên liệu :
-Dầu và xăng được pha trước khi cho vào bôi trơn.
-Dầu và xăng pha trộn song song nhau.
1.3 MỘT SỐ HỆ THỐNG BÔI TRƠN THƯỜNG GẶP.
1.3.1 Hệ thống bôi trơn bằng vung toé.
Khi động cơ làm việc, các chi tiết chuyển động như trục khuỷu, thanh
truyền, bánh răng … Sẽ vung toé dầu lên bề mặt các chi tiết cần bôi trơn như vách
xylanh, các cam … Ngoài ra một phần dầu vung toé ở dạng sương mù rơi vào hay
đọng bám ở kết cấu hứng dầu của các chi tiết khác cần bôi trơn. Ví dụ như đầu
nhỏ thanh truyền (H-1.1). Phương án bôi trơn này rất đơn giản, tuy nhiên không
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 5

đảm bảo bôi trơn an toàn cho động cơ vì khó bảo đảm lưu lượng dầu bôi trơn các ổ
trục, dầu bò sủi bọt gây biến tính và không khống chế được chất lượng bôi trơn. Vì
vậy phương pháp này chỉ được sử dụng cho động cơ cỡ nhỏ công suất vài mã lực
như động cơ xe máy, xuồng máy, bơm nước ….
Hình 1.1: Sơ đồ nguyên lý bôi trơn bằng phương pháp vung toé dầu.
a/ Bôi trơn vung toé trong động cơ nằm.
b/ Bôi trơn vung toé trong động cơ đứng.
c/ Bôi trơn vung toé có bơm dầu đơn giản.
1-Cam lệch tâm;
2-Piston bơm dầu;
3-Thân bơm dầu;
4-Cácte;
` 5-Khớp tựa;
6-Máng dầu phụ;
7-Thanh truyền có thìa hắt
dầu;
Nhiều khi người ta còn kết hợp bôi trơn vung toe ùvà bôi trơn trọng lực (hình 1.2).
1: Bơm bánh răng;
2: Đồng hồ chỉ áp suất dầu;
3:Đường dầu bôi trơn;
4:Thìa múc dầu;





Hình1.2:
Hệ thống bôi trơn bằng vung tóe và trọng lực.

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 6

1.3.2 Hệ thống bôi trơn bằng pha dầu trong nhiên liệu.
Phương pháp này được dùng ở động cơ xăng hai kỳ quét vòng dùng hộp
cácte-trục khuỷu. Dầu được pha xăng theo tỷ lệ nhất đònh khoảng 4%-5% tuỳ theo
hãng có thể pha với tỷ lệ nhỏ hơn (khoảng 3%- 3.5%). Các hạt dầu trong hỗn hợp
xăng dầu khi vào hộp cácte- trục khuỷu và xylanh sẽ ngưng động trên bề mặt chi
tiết để bôi trơn các bề mặt ma sát. Dầu được pha theo các cách sau :
Cách thứ nhất : Xăng và dầu được pha trước gọi là xăng pha dầu như thường
bán ở các trạm xăng dầu, các hãng động cơ cở nhỏ như Babeta (Séc), Simson (Đức)
thường bôi trơn theo cách này.
Cách thứ hai : Dầu và xăng được chứa ở hai thùng riêng rẽ trên động cơ.
Trong quá trình động cơ làm việc, dầu và xăng được hoà lẫn song song tức là dầu
và xăng được trộn theo đònh lượng khi ra khỏi thùng chứa. Một số xe máy hai kỳ
như YAMAHA, SUZUKI dùng theo cách hoà trộn này.
Một cách hoà trộn khác là dùng bơm phun dầu trực tiếp vào họng khuếch
tán hay vò trí bướm ga. Bơm được điều chỉnh theo tóc độ động cơ và vò trí bướm ga
nên đònh lượng dầu hoà trộn rất chính xác và có thể tối ưu hoá các chế độ tốc độ và
tải khác nhau.
Cũng như bôi trơn vung toé, phương pháp bôi trơn dầu pha trong nhiên liệu
rất đơn giản nhưng không an toàn do khó bảo đảm đủ lượng dầu bôi trơn trong hỗn
hợp bò đốt cháy cùng nhiên liệu nên dễ tạo muội than bám trên đỉnh piston ngăn
cản quá trình tản nhiệt khỏi piston. Dầu pha với tỷ lệ càng lớn, muội than hình
thành càng nhiều dẫn đến piston bò quá nóng, dễ xảy ra cháy sớm, kích nổ, buji bò
đoãn mạch (ở động cơ xăng). Ngược lại pha ít dầu bôi trơn kém dễ làm cho piston
bò bó kẹt trong xylanh.
1.3.3 Hệ thống bôi trơn cưỡng bức áp suất thấp .
Hầu hết các động cơ đốt trong ngày nay đều sử dụng phương pháp bôi trơn
cưỡng bức. Dầu trong hệ thống bôi trơn được bơm đẩy lên các bề mặt ma sát với áp
suất nhất đònh.
Thông thường, tuỳ theo vò trí chứa dầu, hệ thống bôi trơn cưỡng bức phân
thành hai loại là hệ thống bôi trơn cácte ướt và hệ thống bôi trơn cácte khô.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 7

1.3.3.1 Hệ thống bôi trơn Cácte ướt:
Đặc điểm của hệ thống này là dầu chứa trong cácte động cơ không có két
dầu riêng để tập trung dầu từ cácte đến. Chỉ có một bơm hút dầu từ cácte ra, bơm
đến các vò trí bôi trơn, sau khi bôi trơn dầu tự động rơi xuống cácte, một phần do
đầu to thanh truyền đập vào dầu toé lên bôi trơn cho piston, sơ mi xylanh. Hình 1.3
mô tả cấu tạo và nguyên lý làm việc của hệ thống bôi trơn cácte ướt:
1: Bình làm mát dầu;
2: Ống góp dầu;
3: Piston;
4: Dẫn hướng;
5: Van an toàn;
6: Thân bầu lọc;
7: Ruột bầu lọc;
8: Cần đẩy;
9: Móng hãm;
10: Cò mổ;
11: Thông gió cácte;
12: Bơm dầu;
13: Cácte;
14: Van xả;
15: Que thăm dầu;
16: Phao lọc cặn;
17:Van ba ngả;


Hình 1.3: Hệ thống bôi trơn cácte ướt
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 8

Nguyên lý hoạt động : Bơm dầu 12 được dẫn động từ trục khuỷu. Dầu trong
cácte 13 được hút vào bơm qua lưới lọc thô 16. lưới lọc để lọc sơ bộ những tạp
chất có kích thước lớn. Ngoài ra, phao có khớp tuỳ động nên luôn nổi trên mặt
thoáng để hút được dầu, kể cả khi động cơ bò nghiêng. Sau bơm dầu có áp suất cao
(có thể đến 10 KG/cm
2
) đi vào bầu lọc 6, tại đây dầu được lọc sạch và đi ra khỏi
bầu lọc, dầu được đưa lên bình làm mát 2. Tại đây dầu được làm mát rồi đi theo
đường dầu chính đi bôi trơn các bộ phận cần bôi trơn sau đó trở về cácte.
Van an toàn 5 của bơm dầu có tác dụng giữ cho áp suất dầu không đổi trong
phạm vi tốc độ vòng quay làm việc của động cơ.
Khi nhiệt độ dầu lên cao quá (khoảng 80
0
C), do độ nhớt giảm,van khống
chế lưu lượng 17 sẽ đóng hoàn toàn để dầu qua két làm mát rồi trở về cácte.
Khi động cơ làm việc, dầu bò hao hụt do bay hơi và các nguyên nhân khác
nên phải thường xuyên kiểm tra lượng dầu trong cácte bằng thước thăm dầu 15.
Khi mức dầu ở vạch dưới phải bổ sung thêm dầu.
Ưu nhược điểm :Ưu điểm của hệ thống này là gọn, chiếm ít chỗ, thiết bò ít,
nhưng toàn dầu bôi trơn chứa trong cácte động cơ nên cácte phải sâu để có dung
tích lớn do đó làm tăng chiều cao động cơ. Ngoài ra, dầu trong cácte luôn luôn tiếp
xúc với khí cháy có nhiệt độ cao từ buồng cháy lọt xuống mang theo hơi nhiên liệu
và các axít làm giảm tuổi thọ của dầu. Cácte to và sâu lúc tàu gặp sóng gío dầu va
đập mạnh vào trục khuỷu, nên chỉ dùng cho các động cơ cỡ nhỏ.
1.3.2.2 Hệ thống bôi trơn cácte khô .
Hệ thống bôi trơn cácte khô khác cơ bản với hệ thống bôi trơn cácte ướt ở
chỗ, hệ thống có thêm một đến hai bơm làm nhiệm vụ chuyển dầu từ cácte đến
bình làm mát .
1.Cácte dầu; 8. Đường dầu chính;
2.Bơm chuyển; 9.Đường dầu bôi trơn trục khuỷu;
3. Thùng dầu; 10. Đường dầu bôi trơn trục cam;
4. Lưới lọc sơ bộ; 11. Bầu lọc tinh;
5.Bơm dầu bôi trơn; 12. Đồng hhồ nhiệt độ dầu;
6 . Bầu lọc thô; 13. Bình làm mát dầu;
7. Đồng hồ áp suất dầu; 14, 15,16. Van an toàn

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 9


Hình 1.4: hệ thống bôi trơn cácte khô.
Nguyên lý hoạt động: Bơm dầu được dẫn từ trục khuỷu hoặc trục cam. Dầu
trong thùng dầu 3 được bơm 5 hút qua lọc 4. Lọc 4 có lưới chắn để lọc sơ bộ những
tạp chất có kích thước lớn. Sau bơm dầu có áp suất cao (khoảng 10KG/cm
2
) đi qua
lọc thô 6, đến đường dầu chính 8. Từ đây dầu theo nhánh 9 đi bôi trơn trục khuỷu
sau đó lên bôi trơn đầu to thanh truyền và chốt piston theo nhánh 10 đi bôi trơn trục
cam … cũng từ đường dầu chính một lượng dầu khoảng15-20% lưu lượng của nhánh
dẫn đến bình lọc tinh 11, tại đây những phần tử tạp chất rất nhỏ được giữ lại. Sau
khi ra khỏi lọc tinh với áp suất càn lại nhỏ, dầu chảy trở về thùng chứa 3 .
Van an toàn 14 của bơm dầu có tác dụng giữ cho áp suất của dầu không đổi
trong phạm vi tốc độ quay làm việc của động cơ.
Trong quá trình bôi trơn dầu chảy xuống cácte và được hai bơm hút qua lọc,
sau đó dầu được đưa đến bình làm mát 13, tại đây dầu được làm mát rồi trở về
thùng chứa 3.
Khi bình lọc bò tắc van an toàn 15 của bình lọc thô sẽ mơ,û phần lớn dầu sẽ
không qua bình lọc thô mà chảy thẳng vào đường dầu chính đi bôi trơn, tránh hiện
tượng thiếu dầu đến các bề mặt bôi trơn.
Khi nhiệt độ của dầu lên cao quá (khoảng 80
0
C), độ nhớt giảm, van khống
chế lưu lượng 16 sẽ đóng để dầu qua két làm ma rồi trở về thùng chứa 3 .
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 10

Ưu nhược điểm: Ưu điểm của hệ thống này là trong cácte ít dầu, không có sự
va đập giữa dầu với tay quay và đầu to thanh truyền, có két riêng đựng dầu nên
dầu sạch sẽ, cácte nhỏ và gọn. Ngoài ra, động cơ có thể làm việc lâu dài ở đòa hình
dốc mà không sợ thiếu dầu do phao không hút được dầu. Tuy nhiên hệ thống này
phức tạp hơn vì có thêm bơm chuyển. Hệ thống bôi trơn cácte khô thường sử dụng
cho động cơ Diesel lắp trên máy ủi, xe tăng, máy kéo, tàu thuỷ….
1.3.3 Hệ thống bôi trơn áp suất cao .
Ở các động cơ diesel công suất lớn, hành trình piston dài, người ta thường bố
trí hệ thống bôi trơn cưỡng bức áp suất cao để bôi trơn cho sơmi xylanh. Hệ thống
này có nhiệm vụ cung cấp đònh lượng và đúng thời điểm dầu bôi trơn cho mặt
gương sơmi xylanh nhờ các bơm dầu kiểu piston, mỗi điểm bôi trơn có môït piston
riêng.
Dầu bôi trơn xong một phần bò hoá hơi và cháy trong sơmi xylanh, một phần
bò khí xả mang ra ngoài, phần còn lại chảy xuống bộ phận chứa dầu bố trí trên các
tấm ngăn giữa xylanh và hộp trục khuỷu. Nhờ các tấm ngăn này, có thể dùng loại
dầu bôi trơn riêng để bôi trơn cho nhóm sơmi xylanh-piston của những động cơ sử
dụng nhiên liệu có hàm lượng lưu huỳnh cao, nhằm giảm hao mòn sơmi xylanh và
các vòng xécmăng.
Dầu cung cấp cho bề mặt sơmi xylanh phải được phân bố đều trên toàn bộ
chu vi. Do vậy, người ta thường bố trí nhiều điểm bôi trơn (từ 4-12 điểm). Số lượng
điểm bôi trơn phụ thuộc vào đường kính xylanh (hình1.5).

1: Van một chiều;
2: Xylanh;
3: Đường dầu;





Hình 1.5: Phân bố các vò trí bôi trên sơ mi xylanh

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 11

Để phân bố đều dầu bôi trơn trên toàn bộ bề mặt ma sát của sơmi xylanh,
người ta dùng các rãnh riêng nối các điểm bôi trơn hình lượn sóng. Dầu được đưa
qua các van một chiều, ngăn không cho dầu quay ngược lại đường ống khi áp suất
trong xylanh quá cao. Vò trí các điểm cung cấp dầu bôi trơn phụ thuộc kích thước
và số kỳ của động cơ. Ở một số động cơ diesel tàu thuỷ hiện đại người ta còn trang
bò hệ thống bôi trơn xylanh có khả năng tự động điều chỉnh được áp suất cũng như
lượng dầu bôi trơn cho xylanh phù hợp với phụ tải của động cơ, đặc biệt hệ thống
này làm việc với áp suất không lớn. Do đó hạn chế được lượng dầu dư thừa ở chế
độ phụ tải nhỏ, nhờ đó hạn chế được sự cháy và tạo cốc ở rảnh xéc măng, đỉnh
piston v.v… cũng ở các động cơ loại này, hệ thống patanh - bàn trượt được bôi trơn
bằng hệ thống bôi trơn áp suất cao.
1.3.4 Hệ thống bôi trơn tuần hoàn ngoài.
1.3.4.1 Hệ thống bôi trơn nối tiếp.
Đặc điểm của hệ thống bôi trơn tuần hoàn kiểu nối tiếp là bầu làm mát và
bầu lọc tinh mắc nối tiếp nhau, vì vậy toàn bộ lượng dầu đều đi qua bầu lọc tinh,
bơm dầu thông thường do một mô tơ riêng lai.
1: Két đựng dầu; 8: Lọc thô;
2: Van một chiều; 9: Bơm chuyển dầu;
3: p kế và nhiệt kế; 10: Van ba ngả;
4: Bình làm mát dầu; 11: Máy;
5: Van an toàn; 12: Đường ống dự phòng;
6: Lọc tinh; 13: Đường ống dự phòng;
7: Van ba ngả;

Hình 1.7: Hệ thống bôi trơn nối tiếp
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 12

Nguyên lý hoạt động : Dầu bôi trơn từ két dầu 1 qua van một chiều 2 được
bơm 9 hút về bầu lọc tám 8 qua van ba ngả 10 sau đó đến bầu lọc tinh 6, vào bầu
làm mát 4 để truyền nhiệt cho nước lạnh, sau đó tới làm mát và bôi trơn cho động
cơ 11, rồi tự đổ xuống cácte và chảy về kết đựng dầu 1.
Để cho hệ thống được làm việc an toàn, ở bơm, bầu lọc thô, bầu lọc tinh đều
có van an toàn bảo vệ khi cần rửa bầu lọc thô 8 ta mở van ba ngả 10 cho dầu đi
theo đường ống 13, và khi muốn rửa bầu lọc tinh 6 ta mở van ba ngả 7 cho dầu đi
vào đường 12. Trong khi hệ thống làm việc để theo dõi được áp suất và nhiệt độ
của dầu bôi trơn , trên hệ thống có lắp các nhiệt kế và áp kế trước và sau bầu làm
mát, các áp kế trước và sau bầu lọc.
1.3.4.2 Hệ thống bôi trơn song song .
Đặc điểm của hệ thống này là bầu lọc tinh và bầu làm mát mắc song với
nhau. Vì vậy, lượng dầu nhờn đi qua bầu lọc tinh chỉ chiếm từ 15-20% toàn bộ
lượng dầu tuần hoàn, nên trở lực của hệ thống giảm. Do đó một lượng dầu lớn
không được lọc tinh nên chất lượng dầu kém, hệ thống này chỉ sử dụng cho các
động cơ vừa và nhỏ.(hình 1.8).
1: Két đựng dầu; 8: Lọc thô;
2: Van một chiều; 9: Bơm chuyển dầu;
3: p kế và nhiệt kế; 10: Van ba ngả;
4: Bình làm mát dầu; 11: Máy;
5: Van an toàn; 12: Đường ống dự phòng;
6: Lọc tinh; 13: Đường ống dự phòng;
7: Van ba ngả;

Hình 1.8: Hệ thống bôi trơn song song
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 13

Nguyên lý hoạt động: Dầu bôi trơn được chứa trong két đựng dầu 1 được
bơm 9 bơm đến bầu lọc thô 8 sau đó tới van ba ngã. Ở đây chia làm 2 đường, một
đường đi qua bầu làm mát 6 rồi vào làm mát và bôi trơn cho động cơ 11, sau đó tự
động rơi xuống cácte và chảy về két. Từ van ba ngã 7 một đường khác đến bầu lọc
tinh 6 rồi cũng đổ vào két 1. Để đảm bảo cho động cơ làm việc an toàn ở bầu lọc
thô, bầu lọc tinh và bơm đều có van an toàn 5 bảo vệ, các đường ống phụ để đề
phòng lúc thay và rửa bầu lọc, mà động vẫn hoạt động được trong một thời gian.
1.3.4.3 Hệ thống bôi trơn đôïc lập .
Đặc điểm của hệ thống này là bầu lọc tinh và bầu làm mát đặt độc lập với
nhau, trong hệ thống có 2 đường dầu riêng biệt với nhau. Đường dầu qua bầu lọc
tinh không phụ thuộc vào động cơ, bất cứ lúc nào người vận hành cũng có thể cho
động cơ hoạt động được, vì dầu lưu động trên động cơ này là do một bơm riêng
biệt bơm, bơm này do một môtơ riêng biệt lai, dầu đi trong đường này cũng không
qua động cơ.

Hình 1.9: Hệ thống bôi trơn độc lập.
1: Két dầu; 6: Lọc thô;
2: Bơm dầu; 7: Máy
3: Lọc dầu; 8: Van an toàn
4: Bình làm mát; 9: p kế và nhiệt kế
5: Bơm dầu;
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 14

Nguyên lý hoạt động: Hệ thống hoạt theo 2 đường dầu riêng biệt. Đường
dầu thứ nhất: Dầu từ két chứa được bơm 2 hút chuyển tới bầu lọc thô 3 qua bầu làm
mát 4 rồi vào làm mát và bôi trơn cho động cơ 7, sau đó tự đổ xuống cácte và trở
về két 1.
+ Đường dầu thứ hai: Dầu từ két chứa 1 được bơm 5 hút đến bầu lọc tinh 6
sau đó đổ về két 1.
Ưu nhược điểm: Ưu điểm của hệ thống này là lúc nào người sử dụng thấy
chất lượng dầu không đảm bảo thì có thể cho tiến hành lọc dầu được. Nhưng có
khuyết điểm là phải có hai bơm cho cho 2 hệ thống bơm của đường dầu độc lập
(qua bầu lọc tinh) lại do một môtơ riêng lai nên phức tạp và cồng kềnh.
1.4 CÁC LOẠI BƠM DẦU .
1.4 .1 Nhiệm vụ, yêu cầu.
- Bơm dầu có nhiệm vụ hút dầu ở cácte hoặc thùng chứa dầu để cung cấp
cho các bề mặt, chi tiết cần bôi trơn với áp lực và lượng dầu nhất đònh.
- Yêu cầu đối với các loại bơm dầu là phải tạo ra áp suất để đưa dầu đến bề
mặt, chi tiết cần bôi trơn.
Tùy theo kiểu loại động cơ và cách trang bò các hệ thống bôi trơn khác nhau
thì ta sử dụng các loại bơm cũng khác nhau. Sau đây là một một số loại bơm thường
gặp.
1.4.2 Bơm bánh răng .
1.4.2.1 Bơm bánh răng ăn khớp ngoài.
- Cấu tạo: cấu tạo loại bơm này đơn giản. Vỏ bơm và nắp bơm lắp với nhau
bằng bulông. Trục chủ động có thể quay tự do ở đầu có lắp then bán nguyệt để
hạn chế sự di chuyển dọc trục. Bánh răng chủ động được lắp chặt trên một đầu trục
chủ động. Đầu kia của trục lắp bánh răng truyền động ăn khớp với bánh răng trục
cam, hoặc được lai bởi môtơ lai. Bánh răng bò động lắp vào trục bò động ăn khớp
với chủ động và quay ngược chiều nhau khi làm việc.
- Nguyên lý làm việc: Bánh răng chủ động được môtơ lai riêng hoặc được
dẫn động từ động cơ. Trục chủ động 3 quay làm quay bánh răng chủ động 4 của
bơm dầu, bánh răng chủ động và bò động quay ngược chiều nhau. Dầu bôi trơn vào
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 15

trong bơm qua bộ phận thu dầu 7 nằm trong các khe bánh răng và được bánh răng
đưa sang lỗ dầu ra 5. (hình 1.10).

Hình 1.10 Mô tả cấu tạo của bơm bánh răng
1.4.2.2. Bánh răng ăn khớp trong
- Loại bơm này thường được dùng cho động cơ ôtô du lòch do yêu cầu kết
cấu gọn nhẹ.
- Cấu tạo: Bơm dầu kiểu bánh răng ăn khớp trong (hình 1.11) bao gồm các
bộ phận cơ bản sau:

Hình1.12 :Bánh răng ăn khớp trong.
1.Thân bơm ;
2.Bánh răng bò động;
3.Đường dầu vào;
4,7. Rãnh dẫn dầu;
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 16

5.Trục dẫn động;
6. Bánh răng chủ động;
8. Đường dầu ra;
Nguyên lý làm việc: Loại bơm này làm việc tương tự như bánh răng ăn
khớp ngoài theo nguyên lý guồng dầu khi động cơ làm việc bánh răng chủ động 6
sẽ quay nhờ sự truyền động từ trục khuỷu hoặc trục cam, lúc này bánh răng chủ
động 6 và bánh răng bò động 2 sẽ quay cùng chiều nhau tạo ra sự giảm áp suất
trong bơm một lượng dầu sẽ được hút vào trong theo đường dầu vào 3. Nhờ sự
chuyển động quay của các bánh răng mà lượng dầu này sẽ theo các rãnh dẫn dầu 4
và 7 rồi thoát ra theo đường dầu 8, tuy nhiên lượng dầu mà loại bơm này guồng vào
trong bơm với thể tích thay đổi.
1.4.3 Bơm trục vít.
Bơm trục vít chủ yếu dùng cho động cơ có tốc độ thấp. Bơm được truyền
động độc lập với động cơ.

Hình 1.13: Mô tả cấu tạo và nguyên lý làm việc của bơm trục vít.
1: Trục vít chính; 4: Cửa ra;
2:Trục vít phụ; 3: Cửa vào;
Trên hình vẽ là bơm trục vít có trục chủ động bằng thép. Trục chủ
động nằm giữa, còn hai trục bò động nằm ngang hai bên. Các trục đều có gờ chặn
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 17

lực dọc trục, trục chủ động có thể có thêm bơm piston giảm tải. Bơm này có công
suất 150m
3
/h ở tốc độ quay 1450 vòng/phút. Bơm trục vít làm việc một chiều và
hầu như không có tiếng ồn.
Nguyên lý hoạt động: Bơm trục vít cấu tạo gồm 1 trục vít chính 1 nối với
trục dẫn động, hai bên trục vít chính còn có hai trục vít bò động 2. Khi trục vít chính
quay, kéo theo các trục vít bò động quay theo nên dầu nhờn được cuốn từ cửa 3 đến
cửa 4.
Bơm trục vít có thể cung cấp áp suất trên các đường ống chính từ 1-8
atmotphe.
Nhược điểm cơ bản của bơm trục vít là không chạy ngược chiều được còn
bơm bánh răng có khả năng đổi chiều .
1.4.4 Bơm phiến trượt.
Sơ đồ kết cấu của bơm phiến trượt được thể hiện trên (hình1.14)

Hình 1.14 :Bơm phiến trượt.
Cấu tạo: Bơm phiến trượt bao gồm các bộ phận cơ bản sau đây:

1. Thân bơm;
2. Đường dầu vào;
3. Cánh gạt;
4. Đường dầu ra;
5. Rôto;
6. Trục dẫn động;
7. Lò xo;
Nguyên lý hoạt động: Bơm dầu thường được dẫn động trực tiếp từ trục
khuỷu hoặc từ trục cam của động cơ cũng có khi nó được dẫn động bởi động cơ
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 18

điện độc lập. Ở bơm dầu kiểu phiến trượt này có rôto 5 được lắp lệch tâm với thân
bơm 1, có các rãnh lắp các phiến trượt 3. Khi động cơ làm việc trục khuỷu sẽ quay
truyền chuyển động cho rôto 5 quay, do lực ly tâm và lực ép của lò xo 7, phiến
trượt 3 luôn luôn tì sát vào bề mặt vỏ bơm 1 tạo thành các không gian kín và do đó
guồng dầu từ đường dầu áp suất thấp 2 sang đường dầu có áp suất cao 4. Sau khi ra
khỏi bơm dầu sẽ được đẩy đi qua một số thành phần khác như : Lọc thô, lọc tinh,
bầu làm mát dầu vì thế dầu sau khi ra khỏi bơm cần có một áp suất đủ lớn thì mới
đi đến các bề mặt, chi tiết cần bôi trơn khi đó nó mới làm được nhiệm vụ bôi trơn
và làm mát các chi tiết của động cơ.
- Bơm phiến trượt có ưu điểm là rất đơn giản, nhỏ gọn, nhưng đồng thời cũng
có nhược điểm cơ bản là mài mòn bề mặt tiếp xúc giữa phiến trượt và thân bơm rất
nhanh. Vì vậy trong quá trình sử dụng cần thường xuyên kiểm tra khe hở giữa
phiến trượt và thân bơm để khắc phục kòp thời tránh các sự cố nghiêm trọng xảy ra.
1.4.5. Bơm dầu áp suất cao kiểu nhiều piston.
Kết cấu của bơm dầu áp suất cao kiểu nhiều piston được thể hiện trên
(hình1.15).Tại mặt cắt ngang bơm dầu áp suất cao kiểu nhiều piston này có các
thành phần cơ bản sau đây

Hình 1.15 : Bơm dầu áp suất cao nhiều piston.

1. Trục; 6. Ống kiểm tra;
2. Bánh vít; 7. Ngăn kéo;
3. Trục đứng; 8. Piston;
4. Rãnh hút; 9 . Cam đònh hình truyền động cho ngăn kéo;
5. Ống dầu ra; 10. Sơ đồ hoạt động của một nhánh bơm :

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 19

I-Nén dầu đến điểm bôi trơn;
II-Hút dầu;
III-Nén dầu đến ống kiểm tra.
1. Piston; 2. Ngăn kéo; 3. Ống kiểm tra; 4. Cung cấp cao áp ; 5. Ống hút.
Trên hình 2.6 trình bày bản vẽ mặt cắt loại bơm dầu áp suất cao kiểu nhiều
piston, đònh lượng bằng cách điều chỉnh hành trình có ích của bơm. Bơm có 16
piston 8 và 16 ngăn kéo phân phối số 7. Các piston được truyền động bằng cam
đònh hình số 10 còn cam số 9 thì truyền động cho các ngăn kéo số 7. Sau một vòng
quay của động cơ, mỗi piston thực hiện được hai hành trình kép, còn mỗi ngăn kéo
thì thực hiện được một hành trình kép.
Có thể thay đổi hành trình của piston bằng vít điều chỉnh. Bơm được truyền
động bằng tay lắc liên kết với bánh cóc. Mỗi lần piston bơm, cung cấp tới điểm bôi
trơn một lượng dầu khoảng (0,2-0,3)cm
2
với áp suất (50-80)KG/cm
2
.
Suất chi phí dầu bôi trơn cho xilanh ở động cơ tàu thủy tốc độ chậm, công
suất lớn, vào khoảng g
đ
=(0,5-1,5)g/ml.h.
1.4.6 Bơmrôto.
Cấu tạo của bơm được thể hiện trên hình 1.16. Nó được tạo bởi các roto
trong kết hợp với vấu( thùy) giống nhau làm thành các chỗ lỏm trong roto ngoài.

Hình 1.16 Bơm rôto
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 20

Nguyên lý hoạt động: Rôto trong được lắp giữa trung tâm của rôto ngoài.
Rôto trong được dẫn động và quay mang theo rôto ngoài quay theo với nó, rôto
ngoài như phao nổi trong thân bơm. Khi 2 rôto quay các khe hở giữa chúng được mở
ra và mang đầy dầu vào, lượng dầu sau đó được đẩy ra khỏi bơm đi tới các bộ phận
cần bôi trơn.
1.5. BÌNH LỌC DẦU .
1.5.1. Nhiệm vụ yêu cầu của bình lọc.
Bình lọc dầu dùng để lọc sạch dầu trong hệ thống bôi trơn. Trong quá trình
sử dụng, do sự bào mòn của các chi tiết nên sinh ra mùn kim loại, muội dầu, chất
nhựa và tạp chất khác làm bẩn dầu, do đó dầu phải thường xuyên được lọc sạch thì
mới bảo đảm cho động cơ làm việc được bình thường.
Tất cả các động cơ hiện đại đều được trang bò bộ phận làm sạch dầu liên tục,
nhờ đó giảm đáng kể mức độ hao mòn các chi tiết và kéo dài thời gian phục vụ của
dầu. Trong động cơ có thể làm sạch dầu bằng ba phương pháp : Lọc, lắng, lọc bằng
ly tâm.
Tùy thuộc vào mức độ làm sạch của các loại bầu lọc mà mỗi loại bầu lọc có
một yêu cầu về kết cấu và khả năng làm sạch của chúng cũng khác nhau bởi vì
chúng được lắp đặt ở những vò trí khác nhau và làm những nhiệm vụ lọc sạch với
mức độ sạch khác nhau.
1.5.2. Bình lọc thô.
Theo cấu tạo của phần tử lọc, người ta chia lọc thô ra các loại : Lọc qua sợi,
qua đóa, qua tấm lọc.
Trên (hình 1.17) trình bày cấu tạo bình lọc thô kiểu tấm khe hở.
Cấu tạo: Bình lọc bao gồm các phần tử sau đây :
1. Viên bi van an toàn; 7. Ốc xả cặn dầu;
2. Trục lá gạt cặn; 8. Cốc lắng cặn;
3. Lá gạt cặn; 9. Vỏ bầu lọc trên;
4. Những lá dọc; 10. Phớt chắn dầu;
5. Lá chêm giữa; 11. Mũ ốc chắn dầu;
6. Lá dọc ; 12. Trục giữa của bầu lọc;
13.Tay quay.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 21

Bầu lọc thô dùng để làm sạch dầu bước đầu, bầu lọc thô gồm có vỏ trên, vỏ
dưới, trục lõi lọc (gồm có các lá lọc và lá chêm xếp xen kẽ nhau, giữa hai lá lọc và
lá chêm có khe hở 0,08mm, ở mỗi khe hở có xen một lá gạt cặn).
Lõi lọc bắt vào trục lõi lọc, đầu trên của trục bắt ra ngoài vỏ bầu lọc có tai
hồng(tay quay) vặn chặt.


Hình 1.17 Bầu lọc thô.
Nguyên lý làm việc : Dầu vào (theo đường mũi tên ) đi qua khe hở giữa lá
lọc và lá chêm giữa, tạp chất sẽ bò giữ lại, còn dầu bôi trơn tương đối sạch đi vào
giữa lõi lọc rồi ra ở đường dầu (theo đường mũi tên ra ). Sau đó dầu đi vào đường
dầu chính của động cơ. Vặn tay quay của lõi lọc thì có thể gạt được những cặn bẩn
đọng lại ở trong khe hở của lõi lọc. Cặn bẩn này lắng xuống đáy bầu lọc. Đến một
thời gian nào đó thì tháo ốc ở đáy để xả dầu bẩn ra ngoài. Nếu lõi lọc quá bẩn, dầu
sẽ không đi qua được thì viên bi thép của van an toàn sẽ bò áp lực dầu đẩy mở ra,
dầu qua đó trực tiếp đi vào đường dầu chính. Van an toàn 1 sẽ mở khi lọc tắc, đưa
dầu bôi trơn đi bôi trơn (không qua lọc ). Lọc qua khe có kích thước hạt giữ lại
khoảng ( 0,07- 0,12 )mm, tốc độ dầu qua lọc khoảng (6-12 )cm/s, sức cản thủy động
khoảng ( 0,2-0,5 )Kg/cm
2
. Các bình lọc thô lọc toàn bộ số dầu số dầu tuần hoàn
trong máy. Để nâng cao sức sống cho máy và để có thể sửa chữa, thay thế ruột lọc
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 22

trong lúc máy vẫn làm việc, người ta thường đặt hai tấm lọc thô làm việc song song
và bố trí van ba ngả để điều khiển sự làm việc độc lập hay song hành của chúng. Ở
một số động cơ người ta gắn thêm bộ lọc dầu nội ngay bên dưới thùng dầu để lọc
trước khi xả (hình1.18)

Hình 1.18 Bộ lọc dầu nội gắn với bơm dầu bên trong thùng dầu
1.5.3 Bầu lọc tinh.
Bầu lọc tinh có thể lọc được các tạp chất có đường kính hạt rất nhỏ đến
0,1mm. Do đó sức cản của lọc tinh rất lớn nên phải lắp theo mạch rẽ và lượng dầu
phân nhánh qua lọc tinh không qúa 20% lượng dầu của toàn mạch. Dầu sau khi qua
lọc tinh thường trở về cácte.
Cấu tạo : Bầu lọc tinh bao gồm các phần tử cơ bản sau: (hình 1.19 )
Bầu lọc tinh dùng để lọc sạch dầu làm cho dầu trở nên tinh khiết trước khi
đưa vào bôi trơn. Trong bầu lọc có lắp ống trung tâm. Thân ống có lỗ nhỏ. Miệng
dưới của ống bắt với lỗ dầu ra và lỗ dầu vào, vỏ bầu lọc lắp với ống dầu vào. Nắp
bầu lọc bắt chặt với đầu trên ống trung tâm bằng đai ốc. Lõi lọc lồng vào ống trung
tâm, trên và dưới có tấm chắn. Phía trên cũng có lò xo ép chặt. Lõi lọc tinh phần
lớn làm bằng giấy ép và sợi hóa học.

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 23


Hình 1.19 Bầu lọc tinh.
Lõi lọc giấy gồm có lá lọc bằng giấy khoét rỗng và lá lọc bằng giấy không
khoét xếp xen kẽ với nhau.
Nguyên lý làm việc : Một phần dầu bôi trơn ở bầu lọc thô đưa đến, đi qua lỗ
dầu vào bầu lọc tinh lọt qua khe hở giữa lỗ khoét rỗng và chỗ khuyết. Tạp chất sẽ
bò gạt lại ngoài lõi lọc và dầu đã được lọc sạch chảy vào lỗ khoét rỗng và rãnh dầu.
Dầu đi qua lỗ nhỏ ở ống trung tâm vào trong lỗ trung tâm rồi qua lỗ dầu ra theo
đường về cácte.
1.5.4. Bầu lọc cơ khí
Theo kết cấu có thể chia lọc dầu thành các loại : bầu lọc cơ khí, bầu lọc ly
tâm, bầu lọc từ tính.
Bầu lọc thấm được dùng rất rộng rãi cho động cơ đốt trong. Nguyên lý làm
việc của bầu lọc thấm như sau : dầu có áp suất cao thấm qua các khe hở nhỏ của
phần tử lọc. Các tạp chất có kích thước lớn hơn kích thước khe hở sẽ bò giữ lại. Vì
vậy, dầu được lọc sạch. Bầu lọc thấm có nhiều dạng kết cấu phần tử lọc khác
nhau.
Trên (hình1.20) trình bày cấu tạo bầu lọc thấm dùng lưới lọc, các thành
phần chính của bầu lọc bao gồm :
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 24


Hình 1.20 Bầu lọc cơ khí.
1. Thân bầu lọc; 4. Đường dầu ra;
2. Đường dầu vào; 5. Phần tử lọc;
3. Nắp bầu lọc; 6. Lưới của phần tử lọc.
Bầu lọc thấm dùng lưới lọc bằng đồng thường được dùng trên động cơ tàu
thủy và động cơ tónh tại. Lõi lọc gồm các khung lọc 5 bọc bằng lưới đồng ép sát
trên trục của bầu lọc. Lưới đồng dệt rất dày có thể lọc sạch tạp chất có kích thước
0,1 - 0,2 mm.
Nguyên lý làm việc : Dầu bẩn có áp suất cao đi vào bầu lọc theo đường dầu
vào số 2 sau đó thấm qua các khe hở nhỏ của lưới lọc rồi chui qua các lỗ nhỏ trên
ống và thoát ra ngoài theo đường dầu số 4. Các tạp chất có kích thước lớn hơn kích
thước khe hở sẽ bò giữ lại. Vì vậy, loại bầu lọc thấm này chỉ lọc được những phần
tử có kích thước nhất đònh.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com




Trang 25


Hình 1.21 Bầu lọc ly tâm.
Trên (hình 1.21) trình bày kết cấu điển hình của bầu lọc ly tâm. Kết cấu của
bầu lọc bao gồm các phần tử chính sau :
1. Thân bầu lọc; 7. Rôto;
2. Đường dầu về cácte; 8. Vít điều chỉnh;
3. Đường dầu vào lọc; 9. Ống lấy dầu sạch;
4. Van an toàn; 10. Ống lấy dầu sạch
5. Đường dầu đi bôi trơn; 11. Lỗ phun;
6. Vòng bi đơ;
Nguyên lý làm việc: Dầu bẩn có áp suất cao theo đường dầu số 3 vào rôto 7
của bầu lọc. Rôto được lắp trên vòng bi đỡ 6 và trên rôto có các lỗ phun 11. Dầu
trong rôto khi phun qua các lỗ phun 11 tạo ra ngẫu lực làm quay rôto với tốc độ có
thể đạt 5000 đến 6000 vòng/phút, sau đó chảy trở về. Dưới tác dụng của phản lực,
rôto bò nâng lên và tì vào vít điều chỉnh 9. Do ma sát với bề mặt trong của rôto nên
dầu cũng quay theo. Cặn bẩn trong dầu có tỷ trọng lớn hơn tỷ trọng của dầu sẽ
văng ra xa sát vách rôto (theo đường dạng parabol) nên dầu càng gần tâm rôto
càng sạch. Dầu sạch theo đường ống 10 đến đường dầu 5 đi bôi trơn.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×