Tải bản đầy đủ

Động lực học lập trình Java, Phần 8: Thay thế sự phản chiếu bằng việc tạo mã potx

Động lực học lập trình Java, Phần 8: Thay thế sự phản chiếu bằng việc tạo

Tạo mã thời gian chạy cung cấp một cách để thay thế sự phản chiếu bằng sự truy
cập trực tiếp nhằm đạt hiệu năng tối đa
Dennis Sosnoski, Nhà tư vấn, Sosnoski Software Solutions, Inc.
Tóm tắt: Các phần trước trong loạt bài này, bạn đã tìm hiểu hiệu năng của sự
phản chiếu chậm hơn nhiều lần so với truy cập trực tiếp như thế nào và sau đó đã
học về hoạt động lớp (classworking) với Javassist và Apache Byte Code
Engineering Library (BCEL-Thư viện kỹ thuật mã byte). Nhà tư vấn Java Dennis
Sosnoski hoàn thành loạt bài Động lực học lập trình Java của mình bằng cách giải
thích cách bạn có thể sử dụng hoạt động lớp trong thời gian chạy để thay thế mã
phản chiếu bằng mã được tạo ra để lao hết tốc độ về phía trước.
Bây giờ bạn đã thấy cách sử dụng các khung công tác Javassist và BCEL cho hoạt
động lớp (xem liệt kê các bài viết trước trong loạt bài này), tôi sẽ cho bạn thấy một
ứng dụng hoạt động lớp thực tế. Ứng dụng này đang thay thế việc sử dụng sự phản
chiếu bằng các lớp được tạo trong thời gian chạy và được nạp trực tiếp vào JVM.
Trong quá trình ráp nó lại với nhau, tôi sắp quay lại hai bài báo đầu tiên của loạt
bài này cũng như trình bày Javassist và BCEL, vì thế nó tạo ra một sự kết thúc tốt
đẹp cho những gì tạo thành một loạt các bài viết dài.
Các mã phản chiếu theo hiệu năng
Quay lại Phần 2, tôi đã cho thấy cách mã phản chiếu chậm hơn nhiều lần so với

mã trực tiếp cho cả truy cập trường và cả các cuộc gọi phương thức. Sự chậm chạp
này không phải là một vấn đề cho nhiều ứng dụng, nhưng luôn có các trường hợp
ở đó hiệu năng rất quan trọng. Trong những trường hợp này, mã phản chiếu có thể
biểu diễn một nút cổ chai thực. Mặc dù việc thay thế mã phản chiếu bằng mã được
biên dịch tĩnh có thể rất lộn xộn và trong một số trường hợp (như trong các khung
công tác ở đó các lớp hoặc các mục được mã phản chiếu truy cập được cung cấp
trong thời gian chạy, chứ không phải là một phần của cùng một quá trình xây
dựng) thậm chí không thể thực hiện được nếu không cấu trúc lại toàn bộ ứng dụng.
Hoạt động lớp cung cấp cho bạn một sự thay thế kết hợp hiệu năng của mã được
biên dịch tĩnh với tính linh hoạt của mã phản chiếu. Cách tiếp cận cơ bản ở đây là
để xây dựng một lớp tùy chỉnh trong thời gian chạy để bao bọc việc truy cập tới
các lớp đích (trước đó đã đạt được bằng mã phản chiếu ) theo một cách mà mã
mục đích chung của bạn có thể sử dụng. Sau khi nạp các lớp tuỳ chỉnh vào JVM,
rồi bạn thiết lập để chạy hết tốc độ.
Thiết lập tầng
Liệt kê 1 đưa ra một điểm khởi đầu cho ứng dụng. Ở đây tôi đã xác định một lớp
bean đơn giản, HolderBean và một lớp truy cập, ReflectAccess. Lớp truy cập có
một đối số dòng lệnh. Đối số này phải có tên của một trong các thuộc tính của lớp
bean có giá trị int (value1 hoặc value2). Nó tăng giá trị của thuộc tính có tên, rồi in
ra cả hai giá trị thuộc tính trước khi thoát ra.

Liệt kê 1.Phản chiếu một bean

public class HolderBean
{
private int m_value1;
private int m_value2;

public int getValue1() {
return m_value1;
}
public void setValue1(int value) {
m_value1 = value;
}

public int getValue2() {
return m_value2;
}
public void setValue2(int value) {
m_value2 = value;
}
}
public class ReflectAccess
{
public void run(String[] args) throws Exception {
if (args.length == 1 && args[0].length() > 0) {

// create property name
char lead = args[0].charAt(0);
String pname = Character.toUpperCase(lead) +
args[0].substring(1);

// look up the get and set methods
Method gmeth = HolderBean.class.getDeclaredMethod
("get" + pname, new Class[0]);
Method smeth = HolderBean.class.getDeclaredMethod
("set" + pname, new Class[] { int.class });

// increment value using reflection
HolderBean bean = new HolderBean();
Object start = gmeth.invoke(bean, null);
int incr = ((Integer)start).intValue() + 1;
smeth.invoke(bean, new Object[] {new Integer(incr)});

// print the ending values
System.out.println("Result values " +
bean.getValue1() + ", " + bean.getValue2());

} else {
System.out.println("Usage: ReflectAccess value1|value2");
}
}
}

Dưới đây là một cặp ví dụ chạy ReflectAccess để minh họa cho các kết quả:
[dennis]$ java -cp . ReflectAccess value1
Result values 1, 0
[dennis]$ java -cp . ReflectAccess value2
Result values 0, 1

Đừng bỏ lỡ phần còn lại của loạt bài này
Phần 1, "Các lớp Java và nạp lớp" (04.2003)
Phần 2, "Giới thiệu sự phản chiếu" (06.2003)
Phần 3, "Ứng dụng sự phản chiếu" (07.2003)
Phần 4, "Chuyển đổi lớp bằng Javassist" (09.2003)
Phần 5, "Việc chuyển các lớp đang hoạt động" (02.2004)
Phần 6, "Các thay đổi hướng-khía cạnh với Javassist" (03.2004)
Phần 7, "Kỹ thuật bytecode với BCEL" (04.2004)


Xây dựng một lớp keo dán
Bây giờ tôi đã giải thích phiên bản phản chiếu của mã này, tôi sẽ cho bạn thấy
cách để thay thế một lớp được tạo để sử dụng sự phản chiếu. Có một vấn đề tế nhị
liên quan đến việc làm cho sự thay thế này hoạt động đúng là quay lại chủ đề về
hoạt động lớp trong Phần 1 của loạt bài này. Vấn đề là tôi sẽ tạo một lớp trong thời
gian chạy mà tôi muốn truy cập từ mã được biên dịch tĩnh của lớp truy cập, nhưng
do lớp được tạo không tồn tại với trình biên dịch, nên không có cách nào để tham
chiếu nó trực tiếp.
Vì vậy tôi có thể liên kết mã được biên dịch tĩnh với lớp đã tạo ra như thế nào?
Giải pháp cơ bản là xác định một lớp hoặc giao diện cơ sở có thể được truy cập
bằng mã được biên dịch tĩnh, sau đó mở rộng cho lớp cơ sở hoặc triển khai thực
hiện giao diện đó trong lớp đã tạo ra. Mã được biên dịch tĩnh sau đó có thể thực
hiện cuộc gọi trực tiếp tới các phương thức, dù các phương thức này trên thực tế
không được triển khai thực hiện trong thời gian chạy.
Trong Liệt kê 2, tôi đã định nghĩa một giao diện, IAccess, nhằm cung cấp liên kết
này cho mã đã tạo ra. Giao diện này bao gồm ba phương thức. Phương thức đầu
tiên chỉ thiết lập một đối tượng đích được truy cập. Hai phương thức khác là các
ủy quyền cho các phương thức get (nhận) và set (thiết lập) dùng để truy cập giá trị
thuộc tính int.

Liệt kê 2. Giao diện với lớp keo dán

public interface IAccess
{
public void setTarget(Object
target);
public int getValue();
public void setValue(int value);
}

Ở đây mục đích là thực hiện giao diện IAccess được tạo ra sẽ cung cấp mã để gọi
các phương thức get và set thích hợp của một lớp đích. Liệt kê 3 cho thấy một ví
dụ về giao diện này có thể được triển khai thực hiện như thế nào, giả định rằng tôi
muốn truy cập vào thuộc tính value1 của lớp HolderBean trong Liệt kê 1:

Liệt kê 3.Thực hiện ví dụ lớp keo dán

public class AccessValue1 implements IAccess
{
private HolderBean m_target;

public void setTarget(Object target) {
m_target = (HolderBean)target;
}
public int getValue() {
return m_target.getValue1();
}
public void setValue(int value) {
m_target.setValue1(value);
}
}

Giao diện trong Liệt kê 2 được thiết kế để được sử dụng với một thuộc tính cụ thể
của một kiểu đối tượng cụ thể. Giao diện này giữ cho mã thực hiện đơn giản
luôn luôn là một lợi thế khi làm việc với bytecode nhưng có nghĩa là lớp thực
hiện rất cụ thể. Ở đó sẽ cần phải có một lớp thực hiện riêng biệt cho từng kiểu đối
tượng và thuộc tính mà tôi muốn truy cập thông qua giao diện này, nó hạn chế việc
sử dụng cách tiếp cận này như là một sự thay thế chung cho sự phản chiếu. Hạn
chế này không phải là một vấn đề miễn là bạn chỉ áp dụng kỹ thuật có chọn lọc
trong các trường hợp ở đó hiệu năng phản chiếu thực sự là một nút cổ chai.
Hỏi chuyên gia: Dennis Sosnoski về các vấn đề JVM và bytecode
Đối với các ý kiến hay các câu hỏi về tài liệu được trình bày trong loạt bài này,
cũng như bất cứ điều gì khác có liên quan đến Java bytecode, định dạng lớp nhị
phân Java hoặc các vấn đề JVM chung, hãy truy cập vào diễn đàn thảo luận JVM
và Bytecode, do Dennis Sosnoski kiểm soát.
Tạo bằng Javassist
Tạo lớp thực hiện cho giao diện IAccess của Liệt kê 2 với Javassist thật dễ dàng
Tôi chỉ cần tạo một lớp mới để triển khai thực hiện giao diện đó, thêm vào một
biến thành viên cho tài liệu tham khảo đối tượng đích và kết thúc bằng cách thêm
một hàm tạo không có đối số và các phương thức thực hiện đơn giản. Liệt kê 4 sẽ
cho thấy đoạn mã Javassist để hoàn thành các bước này, được cấu trúc như là một
cuộc gọi phương thức để lấy thông tin lớp đích và thông tin phương thức
nhận/thiết lập và trả về sự biểu diễn nhị phân của lớp được xây dựng:

Liệt kê 4. Xây dựng lớp keo dán Javassist

/** Parameter types for call with no parameters. */
private static final CtClass[] NO_ARGS = {};

/** Parameter types for call with single int value. */
private static final CtClass[] INT_ARGS = { CtClass.intType };

protected byte[] createAccess(Class tclas, Method gmeth,
Method smeth, String cname) throws Exception {

// build generator for the new class
String tname = tclas.getName();
ClassPool pool = ClassPool.getDefault();
CtClass clas = pool.makeClass(cname);
clas.addInterface(pool.get("IAccess"));
CtClass target = pool.get(tname);

// add target object field to class
CtField field = new CtField(target, "m_target", clas);
clas.addField(field);

// add public default constructor method to class
CtConstructor cons = new CtConstructor(NO_ARGS, clas);
cons.setBody(";");
clas.addConstructor(cons);

// add public setTarget method
CtMethod meth = new CtMethod(CtClass.voidType, "setTarget",
new CtClass[] { pool.get("java.lang.Object") }, clas);
meth.setBody("m_target = (" + tclas.getName() + ")$1;");
clas.addMethod(meth);

// add public getValue method
meth = new CtMethod(CtClass.intType, "getValue", NO_ARGS, clas);
meth.setBody("return m_target." + gmeth.getName() + "();");
clas.addMethod(meth);

// add public setValue method
meth = new CtMethod(CtClass.voidType, "setValue", INT_ARGS, clas);
meth.setBody("m_target." + smeth.getName() + "($1);");
clas.addMethod(meth);

// return binary representation of completed class
return clas.toBytecode();
}

Tôi sẽ không duyệt qua đoạn mã này một cách chi tiết bởi vì, nếu bạn đang theo
dõi loạt bài này, thì hầu hết các hoạt động sẽ trông rất quen thuộc (và nếu bạn vẫn
chưa theo kịp loạt bài này, ngay bây giờ hãy xem Phần 5 về một tổng quan làm
việc với Javassist).
Tạo bằng BCEL
Tạo lớp thực hiện cho giao diện IAccess của Liệt kê 2 bằng BCEL không phải khá
dễ dàng như với Javassist, nhưng nó vẫn không quá phức tạp. Liệt kê 5 đưa ra
đoạn mã cho mục đích này. Mã này sử dụng cùng một chuỗi các hoạt động như
mã Javassist của Liệt kê 4, nhưng chạy hơi lâu hơn một chút vì cần phải giải thích
rõ ràng mỗi lệnh bytecode cho BCEL. Như với phiên bản Javassist, tôi sẽ bỏ qua
các chi tiết thực hiện (quay lại Phần 7 để có một tổng quan về BCEL nếu có bất cứ
điều gì chưa rõ).

Liệt kê 5. Xây dựng lớp keo dán BCEL

/** Parameter types for call with single int value. */
private static final Type[] INT_ARGS = { Type.INT };

/** Utility method for adding constructed method to class. */
private static void addMethod(MethodGen mgen, ClassGen cgen) {
mgen.setMaxStack();
mgen.setMaxLocals();
InstructionList ilist = mgen.getInstructionList();
Method method = mgen.getMethod();
ilist.dispose();
cgen.addMethod(method);
}

protected byte[] createAccess(Class tclas,
java.lang.reflect.Method gmeth, java.lang.reflect.Method smeth,
String cname) {

// build generators for the new class
String tname = tclas.getName();
ClassGen cgen = new ClassGen(cname, "java.lang.Object",
cname + ".java", Constants.ACC_PUBLIC,
new String[] { "IAccess" });
InstructionFactory ifact = new InstructionFactory(cgen);
ConstantPoolGen pgen = cgen.getConstantPool();

//. add target object field to class
FieldGen fgen = new FieldGen(Constants.ACC_PRIVATE,
new ObjectType(tname), "m_target", pgen);
cgen.addField(fgen.getField());
int findex = pgen.addFieldref(cname, "m_target",
Utility.getSignature(tname));

// create instruction list for default constructor
InstructionList ilist = new InstructionList();
ilist.append(InstructionConstants.ALOAD_0);
ilist.append(ifact.createInvoke("java.lang.Object", "<init>",
Type.VOID, Type.NO_ARGS, Constants.INVOKESPECIAL));
ilist.append(InstructionFactory.createReturn(Type.VOID));

// add public default constructor method to class
MethodGen mgen = new MethodGen(Constants.ACC_PUBLIC, Type.VOID,
Type.NO_ARGS, null, "<init>", cname, ilist, pgen);
addMethod(mgen, cgen);

// create instruction list for setTarget method
ilist = new InstructionList();
ilist.append(InstructionConstants.ALOAD_0);
ilist.append(InstructionConstants.ALOAD_1);
ilist.append(new CHECKCAST(pgen.addClass(tname)));
ilist.append(new PUTFIELD(findex));
ilist.append(InstructionConstants.RETURN);

// add public setTarget method
mgen = new MethodGen(Constants.ACC_PUBLIC, Type.VOID,
new Type[] { Type.OBJECT }, null, "setTarget", cname,
ilist, pgen);
addMethod(mgen, cgen);

// create instruction list for getValue method
ilist = new InstructionList();
ilist.append(InstructionConstants.ALOAD_0);
ilist.append(new GETFIELD(findex));
ilist.append(ifact.createInvoke(tname, gmeth.getName(),
Type.INT, Type.NO_ARGS, Constants.INVOKEVIRTUAL));
ilist.append(InstructionConstants.IRETURN);

// add public getValue method
mgen = new MethodGen(Constants.ACC_PUBLIC, Type.INT,
Type.NO_ARGS, null, "getValue", cname, ilist, pgen);
addMethod(mgen, cgen);

// create instruction list for setValue method
ilist = new InstructionList();
ilist.append(InstructionConstants.ALOAD_0);
ilist.append(new GETFIELD(findex));
ilist.append(InstructionConstants.ILOAD_1);
ilist.append(ifact.createInvoke(tname, smeth.getName(),
Type.VOID, INT_ARGS, Constants.INVOKEVIRTUAL));
ilist.append(InstructionConstants.RETURN);

// add public setValue method
mgen = new MethodGen(Constants.ACC_PUBLIC, Type.VOID,
INT_ARGS, null, "setValue", cname, ilist, pgen);
addMethod(mgen, cgen);

// return bytecode of completed class
return cgen.getJavaClass().getBytes();
}



Kiểm tra hiệu năng
Bây giờ tôi đã có mã cho cả hai phiên bản Javassist và BCEL về xây dựng phương
thức, tôi có thể tiến hành thử nghiệm chúng để xem chúng sẽ làm việc tốt như thế
nào. Vì lý do ban đầu của tôi về việc tạo mã trong thời gian chạy là để thay thế sự
phản chiếu bằng một cái gì đó nhanh hơn, vì vậy sẽ thật tốt để có một sự so sánh
hiệu năng để xem tôi đã thành công tốt như thế nào. Chỉ cần chú ý đến nó, tôi cũng
sẽ xem xét thời gian cần thiết để xây dựng lớp keo dán với mỗi một trong các
khung công tác.
Liệt kê 6 thể hiện các phần chính của mã kiểm tra mà tôi sẽ sử dụng để kiểm tra
hiệu năng. Phương thức runReflection() chạy phần phản chiếu của thử nghiệm,
runAccess() chạy phần truy cập trực tiếp và run() kiểm soát toàn bộ quá trình (bao
gồm cả in ra các kết quả tính thời gian). Cả hai runReflection() và runAccess() lấy
số các vòng lặp được thực hiện làm một tham số, tham số này được chuyển lần
lượt vào từ dòng lệnh (sử dụng mã không được hiển thị trong Liệt kê này, nhưng
có chứa trong phần tải về). Lớp DirectLoader (ở cuối Liệt kê 6) chỉ cung cấp một
cách dễ dàng để nạp các lớp được tạo ra.

Liệt kê 6. Mã thử nghiệm hiệu năng

/** Run timed loop using reflection for access to value. */
private int runReflection(int num, Method gmeth, Method smeth,
Object obj) {
int value = 0;
try {
Object[] gargs = new Object[0];
Object[] sargs = new Object[1];
for (int i = 0; i < num; i++) {

// messy usage of Integer values required in loop
Object result = gmeth.invoke(obj, gargs);
value = ((Integer)result).intValue() + 1;
sargs[0] = new Integer(value);
smeth.invoke(obj, sargs);

}
} catch (Exception ex) {
ex.printStackTrace(System.err);
System.exit(1);
}
return value;
}

/** Run timed loop using generated class for access to value. */
private int runAccess(int num, IAccess access, Object obj) {
access.setTarget(obj);
int value = 0;
for (int i = 0; i < num; i++) {
value = access.getValue() + 1;
access.setValue(value);
}
return value;
}

public void run(String name, int count) throws Exception {

// get instance and access methods
HolderBean bean = new HolderBean();
String pname = name;
char lead = pname.charAt(0);
pname = Character.toUpperCase(lead) + pname.substring(1);
Method gmeth = null;
Method smeth = null;
try {
gmeth = HolderBean.class.getDeclaredMethod("get" + pname,
new Class[0]);
smeth = HolderBean.class.getDeclaredMethod("set" + pname,
new Class[] { int.class });
} catch (Exception ex) {
System.err.println("No methods found for property " + pname);
ex.printStackTrace(System.err);
return;
}

// create the access class as a byte array
long base = System.currentTimeMillis();
String cname = "IAccess$impl_HolderBean_" + gmeth.getName() +
"_" + smeth.getName();
byte[] bytes = createAccess(HolderBean.class, gmeth, smeth, cname);

// load and construct an instance of the class
Class clas = s_classLoader.load(cname, bytes);
IAccess access = null;
try {
access = (IAccess)clas.newInstance();
} catch (IllegalAccessException ex) {
ex.printStackTrace(System.err);
System.exit(1);
} catch (InstantiationException ex) {
ex.printStackTrace(System.err);
System.exit(1);
}
System.out.println("Generate and load time of " +
(System.currentTimeMillis()-base) + " ms.");

// run the timing comparison
long start = System.currentTimeMillis();
int result = runReflection(count, gmeth, smeth, bean);
long time = System.currentTimeMillis() - start;
System.out.println("Reflection took " + time +
" ms. with result " + result + " (" + bean.getValue1() +
", " + bean.getValue2() + ")");
bean.setValue1(0);
bean.setValue2(0);
start = System.currentTimeMillis();
result = runAccess(count, access, bean);
time = System.currentTimeMillis() - start;
System.out.println("Generated took " + time +
" ms. with result " + result + " (" + bean.getValue1() +
", " + bean.getValue2() + ")");
}

/** Simple-minded loader for constructed classes. */
protected static class DirectLoader extends SecureClassLoader
{
protected DirectLoader() {
super(TimeCalls.class.getClassLoader());
}

protected Class load(String name, byte[] data) {
return super.defineClass(name, data, 0, data.length);
}
}

Với một thử nghiệm tính thời gian đơn giản, tôi gọi phương thức run() hai lần, một
lần cho một trong các thuộc tính trong lớp HolderBean của Liệt kê 1. Chạy qua hai
lần thử nghiệm là quan trọng cho một thử nghiệm công bằng hợp lý lần vượt
qua đầu tiên mã này sẽ nạp tất cả các lớp cần thiết, các lớp này thêm vào nhiều chi
phí hoạt động cho cả hai quá trình tạo lớp Javassist và BCEL. Tuy vậy, chi phí
hoạt động này không cần thiết trong lần vượt qua thứ hai, cung cấp cho bạn một sự
đánh giá tốt hơn về việc tạo lớp sẽ yêu cầu kéo dài bao lâu khi được dùng trong
một hệ thống thực. Đây là một ví dụ về kết quả được tạo ra khi thực hiện cuộc thử
nghiệm này:
[dennis]$$ java -cp .:bcel.jar BCELCalls 2000
Generate and load time of 409 ms.
Reflection took 61 ms. with result 2000 (2000, 0)
Generated took 2 ms. with result 2000 (2000, 0)
Generate and load time of 1 ms.
Reflection took 13 ms. with result 2000 (0, 2000)
Generated took 2 ms. with result 2000 (0, 2000)

Hình 1 cho thấy kết quả thử nghiệm tính thời gian này khi được gọi với số đếm
vòng lặp nằm trong phạm vi từ 2K đến 512K (các thử nghiệm chạy trên một hệ
thống Athlon 2200 XP + đang chạy Mandrake Linux 9.1, sử dụng JVM 1.4.2 của
Sun). Ở đây tôi đã tính đến cả thời gian mã phản chiếu và thời gian mã được tạo
cho thuộc tính thứ hai trong mỗi lần chạy thử nghiệm (vì thế cặp thời gian khi sử
dụng sự tạo mã Javassist là lần đầu tiên, theo sau là cùng cặp thời gian khi sử dụng
sự tạo mã BCEL). Các thời gian thực hiện gần như nhau bất kể Javassist hay
BCEL được sử dụng để tạo các lớp keo dán, các lớp này là những gì tôi mong
muốn nhìn thấy nhưng luôn luôn thích hợp để xác nhận!

Hình 1. Tốc độ mã phản chiếu so với tốc độ mã được tạo (thời gian tính bằng
mili giây)

Như bạn thấy từ Hình 1, mã được tạo ra thực hiện nhanh hơn nhiều so với mã
phản chiếu trong mọi trường hợp. Lợi thế tốc độ với mã được tạo ra tăng lên khi
số vòng lặp lớn lên, bắt đầu ở khoảng 5:1 với các vòng lặp 2K và tăng lên đến
khoảng 24:1 với các vòng lặp 512K. Việc xây dựng và nạp lớp keo dán đầu tiên
cũng mất khoảng 320 mili giây (ms) cho Javassist và 370 ms cho BCEL, trong khi
xây dựng với lớp keo dán thứ hai chỉ mất khoảng 4 ms cho Javassist và 2 ms cho
BCEL (do phân giải đồng hồ chỉ là 1 ms, nên các thời gian này rất thô). Nếu bạn
kết hợp các thời gian này, bạn sẽ thấy rằng ngay cả đối với vòng lặp 2K việc tạo
một lớp sẽ cho tổng hiệu năng tốt hơn khi sử dụng mã phản chiếu (với tổng thời
gian thực hiện khoảng 4 đến 6 ms ms, so với khoảng 14 ms với mã phản chiếu).
Trong thực tế, tình hình nghiêng nhiều hơn về phía ủng hộ mã được tạo ra so với
chỉ thị trên biểu đồ này. Khi tôi đã cố gắng giảm nhỏ bằng 25 vòng lặp, các mã
phản chiếu vẫn còn mất đến 6 ms đến 7 ms để thực hiện, trong khi mã được tạo ra
quá nhanh để ghi nhận. Thời gian được thực hiện bởi mã phản chiếu với tổng số
đếm vòng lặp tương đối nhỏ xuất hiện để phản chiếu một số sự tối ưu hóa đang
xảy ra bên trong JVM khi đạt đến một ngưỡng; nếu tôi hạ thấp số đếm vòng lặp
dưới khoảng 20, mã phản chiếu cũng đã trở nên quá nhanh để ghi nhận.


Tiến nhanh hơn trên con đường của bạn
Bây giờ bạn đã nhìn thấy các loại hiệu năng mà hoạt động lớp trong thời gian chạy
có thể cung cấp cho các ứng dụng của bạn. Hãy chú ý thời gian tới bạn đang phải
đối mặt với một vấn đề tối ưu hóa hiệu năng khó điều chỉnh đó có thể chỉ là một
cách giải quyết nhanh chóng để có thể tránh cho bạn khỏi việc thiết kế lại phần
lớn. Tuy vậy, hoạt động lớp tốt cho nhiều thứ hơn chỉ là hiệu năng. Nó cũng là
cách tiếp cận linh hoạt duy nhất để sửa đổi ứng dụng của bạn theo các yêu cầu
trong thời gian chạy. Ngay cả khi bạn không bao giờ có lý do để sử dụng nó trong
mã của bạn, tôi nghĩ rằng đó là một trong những tính năng của Java để duy trì
niềm vui và sự thú vị trong việc lập trình.
Sự mạo hiểm này trong một ứng dụng thế giới thực của hoạt động lớp kết thúc loạt
bài về động lực học lập trình Java. Nhưng đừng tuyệt vọng bạn sẽ sớm có được
cơ hội để thử một số ứng dụng hoạt động lớp tại buổi tiệc đứng của
developerWorks khi tôi trình bày một số trong những công cụ đã được xây dựng
xung quanh thao tác Java bytecode. Thử nghiệm đầu tiên sẽ là một bài viết về một
cặp công cụ thử nghiệm ngoài Mother Goose.



Mục lục

 Các mã phản chiếu theo hiệu năng
 Xây dựng một lớp keo dán
 Kiểm tra hiệu năng
 Tiến nhanh hơn trên con đường của bạn

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×