Tải bản đầy đủ

Đề tài: Tác động của việc tham gia phong trào đoàn, hội, câu lạc bộ, các cuộc thi trong trường đại học đến việc học tập và rèn luyện kĩ năng mềm của sinh viên" ppsx

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
KHOA KINH TẾ
ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAM GIA PHONG
TRÀO ĐOÀN, HỘI, CÂU LẠC BỘ, CÁC
CUỘC THI TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
ĐẾN VIỆC HỌC TẬP VÀ RÈN LUYỆN KĨ
NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN.
Môn: Lý thuyết thống kê
Giảng viên: ThS Nguyễn Đình Uông
Lớp: K08405A
Nhóm nghiên cứu: Nhóm 1
Danh sách nhóm:
1. Tống Thị Thanh Tuyền K084050869
2. Nguyễn Thị Mai Như K084050815
3. Phạm Thị Hồng Huyên K084050783
4. Hoàng Mai Anh K084050736
5. Nguyễn Thị Thu Nguyệt ( nhóm trưởng) K084050814
1
MỤC LỤC




 !"
#$%&!'()*+
,-!./0123//04-567
!89:;<:=
0>?-50@7-AB10>?
CD-0EFA0-0>?
#GHIJ
KEL0M-0/0N-0-50@7-AB1J
OPAQ71-50@7-AB1=
JR-50SDTU/N@=
<4@/VW-590X?Y@TU/N@Z
=0VK-590F9-50@7-AB1Z
#GOG*H!R'[
O@\A/0D?5@D0]X/T^-5/_V`-5aXAb^/_]-5a89T]N-0^@Ac1aXAb^AdDE@-0Y@7-/_]-5
AFA/_V`-5TX@0eA0@\--D2[
OO4@f1D-0\5@gDY@\A/0D?5@DAFA0]X/T^-5/_]-5/_V`-5TX@0eAT3-63/f1h0eA/i9YN
Y@\A_j-a12\-6S-k-5?U?AdDE@-0Y@7-[
OJ4@f1D-0\5@gD63/f1h0eA/i96S-k-5?U?Al-A>T3-/VK-5aD@-50U-50@\9Y@\A
aN?AdDE@-0Y@7-;
0VK-5J mCn!o
#G<!%pqr=
<3/a1i-=
<O^/E40X-A03AdDTU/N@Z
<J@3--50sZ
<<^/YN@/0N-0f1h?N]N-/_V`-5TX/TVWA/_]-5/0`@5@D-f1DZ
2
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Cơ sở hình thành nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.4 Đối tượng , phạm vi đề tài
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.1Cơ sở hình thành nghiên cứu :
Có rất nhiều con đường để một người thành công , trong thực tế chúng ta có thể bắt
gặp nhiều gương mặt mà sự thành công của họ thật đáng ngưỡng mộ như tỷ phú Bill
Gates của tập đoàn Miscrosoft ; Sergey Brin , Larry Page 2 ông chủ của Google ….ở
trong nước như Đoàn Nguyên Đức – chủ tich tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai ,Võ Quốc
Thắng – Gạch Đồng Tâm Long An .Họ là những con người tài giỏi , đa số họ chưa học
qua trường đại học nào nhưng họ vẫn rất thành công .Nhưng lời khuyên học dành cho ai
muốn được như họ là con đường học tập .Học là con đường tiến tới thành công một cách
vững chắc nhất , ông bà ta thường nói “ không thầy đố mày làm nên “ , học tập để mạng
lại tri thức giúp chúng ta có nền tảng vững chắc để có thể làm việc trong xã hội .Việc học
tập trong trương đại học , cao đẳng chuyên nghiệp là rất quan trong , chuẩn bị những kiến
thức quan trọng chuyên sâu về lĩnh vực mình được đào tạo . Môi trường đại học không
đơn giản chỉ để cho sinh viên học tập mà còn hơn thế nữa đó là môi trường rất tốt để sinh
viên hình thành những kĩ năng căn bản trước khi ra trường đi làm .Những kĩ năng mềm
này thực sự rất quan trọng và các nhà tuyển dung ngày càng đòi hỏi cao về điều này.
Theo thống kê của NSW AMES (tổ chức quốc tế về đào tạo kĩ năng ) kĩ năng mềm chiếm
80 % sự thành công . Việc tham gia các hoạt động do trường đại học tổ chức ,các hoạt
động của Đoàn Thanh niên , Hội Sinh viên và các cuộc thi chuyên để ,các cuộc hội thảo
cho sinh viên trên quy mô lớn thực sự có vai trò rất lớn .Đây là những hoạt động chính
giúp sinh viên rèn luyên kĩ năng mềm như kĩ năng giao tiếp, thuyết trình, phỏng vấn , khả
năng lãnh đạo ; hình thành sự tự tin , năng động cần có khi đi làm việc , những kinh
nghiệm học được từ những con người thành đạt . Ngoài ra nó còn bổ trợ kiến thức chuyên
3
sâu rất nhiều, hình thành được cách làm việc, quản lí thời gian hiệu quả , hoạt động cộng
đồng theo nhóm, làm việc độc lập, quản lí căng thẳng….
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đặt ra yêu cầu trong buổi làm việc của
Thường trực Chính phủ với Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, ngày 5/4/2009, tại trụ sở Chính phủ : Phong trào Đoàn góp phần tạo sức mạnh tổng
hợp thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội , các phong trào của Đoàn Thanh niên cần
được cụ thể hóa bằng các chương trình, hành động cụ thể, thiết thực, hiệu quả, góp phần
tạo sức mạnh tổng hợp triển khai nhanh, quyết liệt những giải pháp cấp bách nhằm ngăn
chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần đưa
các nghị quyết, chính sách đi vào cuộc sống.
Các chương trình, dự án mà Chính phủ giao đã được Trung ương Đoàn triển khai
thực hiện với kết quả tốt như Cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời
Bác”, phong trào “5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “4 đồng
hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”, “Đoàn TN tham gia giữ gìn trật tự an toàn giao
thông”…
Trong điều kiện kinh tế nước nhà gặp nhiều khó khăn, thách thức, các cấp bộ Đoàn
trong cả nước đã nỗ lực, có nhiều sáng kiến, năng động, sáng tạo tổ chức các phong trào
ngày càng phong phú, thiết thực. Hoạt động của Đoàn trên các lĩnh vực đã khẳng định vai
trò xung kích của tuổi trẻ trong tham gia phát triển kinh tế-xã hội, đóng góp tích cực vào
thành tựu chung của đất nước, xứng đáng là lực lượng hậu bị tin cậy của Đảng và Nhà
nước.
Các phong trào thi đua do Đoàn phát động đã cổ vũ thanh niên lập thân, lập nghiệp,
khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, bồi dưỡng và phát huy tiềm năng sức trẻ của thanh niên,
được đông đảo thanh niên hưởng ứng tham gia.
Thủ tướng cho rằng, Việt Nam với tư cách là một nền kinh tế mở, đang trên con
đường hội nhập quốc tế, do đó, khó khăn, thách thức còn rất lớn. Trước yêu cầu nhiệm vụ
của giai đoạn mới, Đảng, Nhà nước luôn đặt niềm tin vào thanh niên, mong đợi và đòi
hỏi Đoàn Thanh niên tiếp tục có những hoạt động giàu sức lôi cuốn, hăng hái tham gia
4
phát triển kinh tế - xã hội. Thủ tướng mong mỏi thế hệ trẻ Việt Nam sẽ luôn luôn kế tục
xứng đáng truyền thống tốt đẹp của cha ông, ra sức học tập, lao động xây dựng Việt Nam
sánh vai với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Từ những điều trên có thể thấy rằng phong trào Đoàn Hội có vai trò rất quan trọng, là
phong trào của thế hệ tiếp nối. Phong trào Đoàn Hội ở các trường Đại học lại càng có vai
trò quan trọng hơn. Để giúp sinh viên và những người tổ chức các hoạt động ,phong trào
này hiểu rõ thực sự được vai trò , tác động tích cực của nó đối với học tập và việc hình
thành nên những kĩ năng mềm và góp phần để những hoạt động này thực sự là bổ ích , có
ý nghĩa thiết thực hơn với sinh viên , chúng tôi đã thực hiện đề tài “ Tác động của việc
tham gia phong trào Đoàn , Hội , các câu lạc bộ ,các cuộc thi trong trường đại học đến
việc học tập và hình thành kĩ năng mềm của sinh viên “.
1.2.Mục tiêu nghiên cứu :
Đề tài được thực hiện với các mục tiêu nghiên cứu sau :
1.Nhận định tác động của việc tham gia hoạt động trong trường đại học đến :


+ Kết quả học tập của sinh viên
+ Rèn luyện kĩ năng mềm
2.Kiểm định mối quan hệ giữa việc tham gia hoạt động trong trường đại học đến 2 yếu tố
trên .
3.Đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao chất lượng các hoạt động ,phong trào trong
trường đại học
1.3 .Ý nghĩa đề tài :
Việc nhận định một cách cụ thể tác động của việc tham gia hoạt động trong trường
đại học đến kết quả hoạt động của sinh viên giúp cho sinh viên hiểu rõ về vai trò của nó
không chỉ đến việc học tập các môn chuyên ngành ,các môn học bắt buộc như anh văn ,
tin học mà còn ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành những kĩ năng, phẩm chất cần
thiết khi đi làm việc, giao tiếp với công chúng . Hiện nay , đa số sinh viên đều có vẻ chưa
xem trọng việc tham gia này, coi chúng là những hoạt động không cần thiết, chỉ tập trung
5
vào việc bổ sung kiến thức, đây là một yếu tố dẫn tới chất lượng đầu ra kém chỉ nặng về
lí thuyết mà không có kĩ năng thực hành căn bản . Ngoài ra việc tổ chức các hoạt động
cho sinh viên còn nhiều hạn chế, đồng thời do sinh viên đánh giá là chưa chất lượng và
thực sự hấp dẫn với họ. Nhận định những ý kiến của sinh viên , phản hồi lại cho những
nhà tổ chức để họ cải tiến chất lượng các hoạt động , thu hút sinh viên tham gia .
1.4.Đối tượng phạm vi đề tài :
+ Đối tượng đề tài : Sinh viên hiện đang học tại các trường đại học thuộc tất cả các khối
ngành
+ Phạm vi : Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh .
1.5.Phương pháp nghiên cứu :
Với mục tiêu , đối tượng ,phạm vi nghiên cứu trên ., đề tài được thực hiện thông qua
2 phương pháp nghiên cứu sau :
Phân tích định tính :
Mục đích của việc sử dụng phương pháp này : Đây là giai đoạn hình thành các chỉ
tiêu, các biến trong mô hình nghiên cứu .
- Thiết kế bảng câu hỏi để phỏng vấn
- Sử dụng các thang đo cho các biến
- Khảo sát thí điểm 10 người nhằm kiểm tra tính tương thích của bảng câu hỏi .
Phân tích định lượng :
Mục đích của phương pháp : Đây là giai đoạn nghiên cứu chính thức ,kiểm định ,
kiểm định mô hình nghiên cứu đã đề ra .
- Thực hiện điều ra không toàn bộ :
+ Số lượng mẫu : Số lượng 100 sinh viên
+ Phương pháp lấy mẫu thuân tiện :Lấy mẫu ở các trường đại học ,gặp trực tiếp sinh
viên để khảo sát ,cô gắng lấy mẫu đồng đều ở các khối ngành .
- Phân tích dữ liệu :
6
+Thống kê mô tả : Mô tả sơ bộ các đặc điểm của mẫu
+ Kiểm định độ tin cậy của dữ liệu thu thập được .
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG
2.1 Việc tham gia hoạt động trường lạc bộ trong lớp, đoàn hội, câu lạc bộ của sinh viên
trong các trường đại học hiện nay
2.2 Mối quan hệ giữa việc tham gia các hoạt động trong trường đại học đến kết quả học
tập và việc rèn luyện kĩ năng mềm của sinh viên.
2.3 Mối quan hệ giữa kết quả học tập, kĩ năng mềm cần có đến tương lai nghề nghiệp,
việc làm của sinh viên.
2.1 Việc tham gia hoạt động trường lạc bộ trong lớp, đoàn hội, câu lạc bộ
của sinh viên trong các trường đại học hiện nay
Hiện nay trong các trường đại học ở Việt Nam, các hoạt động trường lớp, đoàn hội,
câu lạc bộ ngày càng được tổ chức rộng rãi và đa dạng, thu hút nhiều sinh viên tham gia (
các buổi giao lưu ngoại khóa, các hoạt động công tác xã hội, câu lạc bộ ngoại ngữ, câu
lạc bộ thể dục thể thao – nghệ thuật…) với mục tiêu đưa ra: giúp cho sinh viên nâng cao
vốn kiến thức, giúp sinh viên năng động, tự tin hơn, rèn luyện các kĩ năng mềm… Tuy
nhiên số lượng sinh viên tham gia vào các hoạt động đó trong một trường đại học không
phải là nhiều.
Sinh viên có tham gia vào các hoạt động, các câu lạc bộ đó hay không tùy thuộc vào
nhu cầu và suy nghĩ ở bản thân họ. Và sinh viên tham gia các hoạt động, câu lạc bộ nói
riêng cũng có nhiều lí do và mục đích khác nhau như điểm rèn luyện hay để phát triển,
thể hiện bản thân…
2.2 Mối quan hệ giữa việc tham gia các hoạt động trong trường đại học
đến kết quả học tập và việc rèn luyện kĩ năng mềm của sinh viên.
Với mục tiêu mà các hoạt động, các câu lạc bộ đưa ra, sinh viên tham gia sẽ được tạo
điều kiện và được rèn luyện để phát triển bản thân một cách hiệu quả. Bởi nhà tổ chức,
7
lãnh đạo những hoạt động, câu lạc bộ này là những người có kĩ năng tốt, có kinh nghiệm
nhiều năm trong trường đại học.
Các buổi hoạt động của các phong trào, các câu lạc bộ này đều vô cùng có ích cho
sinh viên, những người luôn có nhu cầu tìm hiểu và ham học hỏi, đây sẽ là môi trường
học tập và nghiên cứu hiệu quả, giúp họ nâng cao kiến thức về nhiều lĩnh vực, đặc biệt là
lĩnh vực chuyên môn của mình. Những buổi giao lưu do các câu lạc bộ tổ chức thường là
hướng dẫn và giải đáp thắc mắc về các môn học căn bản và chuyên ngành cho sinh viên,
giúp sinh viên giảm bớt căng thẳng sau học tập. Ngoài ra sinh viên khi tham gia các hoạt
động, các câu lạc bộ do trường lớp tổ chức cũng sẽ được cộng nhiều điểm rèn luyện, là
một phần quan trọng để đánh giá khả năng của sinh viên. Vì vậy tham gia các hoạt động
trường lớp, câu lạc bộ sẽ tạo cho sinh viên có một kết quả học tập tốt hơn.
Những buổi hoạt động đó cũng là môi trường thực nghiệm cho sinh viên, giúp sinh
viên làm quen dần với môi trường bên ngoài cuộc sống nhiều khó khăn, phức tạp để sinh
viên sau này bước ra làm việc khỏi gặp nhiều bỡ ngỡ và vướng phải sai lầm. Sinh viên sẽ
được hướng dẫn và rèn luyện kĩ năng giao tiếp, kĩ năng quản trị, lãnh đạo… là những kĩ
năng cơ bản và cần thiết cho cơ hội việc làm cũng như cơ hội thăng tiến sau này của mỗi
sinh viên. Ngoài ra còn những kĩ năng khác như kĩ năng quản lí căng thẳng, kĩ năng vận
động bản thân, kĩ năng tranh luận, thuyết phục… rất cần thiết cho sinh viên trong môi
trường học tập hiện tại. Tất cả trên là những kĩ năng mềm mà sinh viên được rèn luyện
khi tham gia các phong trào hoạt động, câu lạc bộ.
2.3 Mối quan hệ giữa kết quả học tập, kĩ năng mềm cần có đến tương lai
nghề nghiệp, việc làm của sinh viên.
Nhà tuyển dụng ngày càng yêu cầu cao hơn về chất lượng sinh viên sau khi ra trường,
bao gồm kết quả học tập và những kĩ năng mềm phù hợp với yêu cầu tuyển dụng. Trong
đó kĩ năng mềm cần có ở sinh viên là quan trọng hơn cả. Nhà tuyển dụng yêu cầu rất
nhiều kĩ năng: ngoại ngữ, tin học văn phòng, giao tiếp, làm việc độc lập, tổ chức, quản lý,
làm việc nhóm, lãnh đạo, hoạch định, đàm phán… Tùy theo mỗi ngành nghề, lĩnh vực mà
nhà tuyển dụng có yêu cầu khác nhau về những kĩ năng trên, nên sinh viên phải trang bị
cho mình những kĩ năng phù hợp để có thể được nhà tuyển dụng chấp nhận.
8
Chương 3 : PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
Tổng thể nghiên cứu của đề tài này là toàn bộ sinh viên hiện đang học ở thành phố
Hồ Chí Minh.
Nhóm chúng tôi đã thực hiện cuộc khảo sát về đề tài “ Tác động của việc tham gia
các hoạt động Đoàn Hội,các câu lạc bộ ” của sinh viên các trường Đại học hiện nay trên
một mẫu phi xác suất, gồm 100 sinh viên từ nhiều trường Đại học khác nhau trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
Cuộc khảo sát được thực hiện đối với sinh viên của hơn 20 trường Đại học – cao
đẳng trên địa bàn TP HCM , để thuận tiện cho việc khảo sát chúng tôi chia 100 sinh viên
viên này theo các chuyên ngành : khoa học xã hội – kinh tế - luật , kỹ thuật – công nghệ ,
khoa học tự nhiên , y dược , thể dục thể thao… Chia theo các nhóm đối tượng như trên vì
chúng tôi cho rằng có thể có mối liên hệ nào đó giữa việc tham gia các hoạt động Đoàn
Hội , các câu lạc bộ với chuyên ngành học của sinh viên. Vì các sinh viên thuộc khối
ngành Khoa học xã hội- kinh tế - luật rất năng động , việc tham gia các hoạt động cũng
nhiều hơn ( Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Kinh tế , Khoa Kinh tế -
Luật , Đại học Luật , Cao đẳng Kinh tế đối ngoại… ) ,họ có nhu cầu cần hiểu biết nhiều
về các vấn đề Kinh tế - xã hội để phục vụ cho việc học tập đạt kết quả tốt hơn. Tham gia
vào các Câu lạc bộ công tác – xã hội, CLB kỹ năng, CLB ngoại ngữ, các sàn chứng
khoán ảo (như ở trường ĐH Kinh tế,Khoa Kinh tế - Luật ĐHQG TPHCM)…có thể mang
lại những kỹ năng, những kinh nghiệm, những hiểu biết ích lợi. Các ngành kỹ thuật, khoa
học tự nhiên, y dược thì lại cần thiết những hiểu biết về khoa học, ngoại ngữ ( sinh viên
Y dược cần có vốn Pháp ngữ,Anh ngữ tốt để nghiên cứu chuyên ngành ).Họ có thể tham
gia các CLB khoa học, ngoại ngữ để nâng cao năng lực của mình. Hay như sinh viên của
các trường ĐH thể dục thể thao thì chủ yếu tham gia vào các CLB thể dục thể thao. Sinh
viên một số ngành thì hứng thú tham gia các hoạt động Đoàn hội,các cuộc thi trí tuệ
( triết học Mac-Lenin, rung chuông vàng…) hơn là các cuộc thi đấu về thể thao
Không thể không kể đến yếu tố con người trong việc tham gia các hoạt động đoàn
hội,các CLB,đó còn là quyết định chủ quan muốn hay không muốn tham gia của mỗi cá
9
nhân,không hẳn là nếu ý thức được ích lợi của các hoạt động này thì họ sẽ tham gia và
ngược lại.
Bên cạnh đó đề tài cũng phân tích các yếu tố khách quan tác động tới việc tham gia
các hoạt động Đoàn Hội,các CLB của sinh viên hiện nay.
Dựa trên các tiền đề đó,nhóm chúng tôi tiếp tục khảo sát về kết quả học tập của 100
sinh viên và xem xét xem liệu có mối quan hệ nào giữa việc tham gia hay khong tham gia
các hoạt động Đoàn Hội với kết quả học tập của họ hay không. Đồng thời chúng tôi cũng
quan tâm nghiên cứu những nhận xét đánh giá của các sinh viên đối với chất lượng và ích
lợi của các hoạt động này. Việc tham gia các hoạt động Đoàn hội,CLB liệu thực sự có ý
nghĩa hay không,và nếu có ý nghĩa thì yêu cầu đặt ra với các trường ĐH hiện nay là gì?
Thông tin cá nhân của những người tham gia phần lớn được tổng hợp trên bảng 1
cho thấy rằng cơ cấu sinh viên thuộc ngành Khoa học xã hội – Kinh tế chiếm tỉ lệ cao
nhất 29% , tiếp theo là khối ngành Kỹ thuật công nghệ xấp xỉ 23% , Khoa học tự nhiên
chiếm 17% , Nông lâm thủy sản chiếm 13% , Y dược 11% , và chiếm tỉ lệ khảo sát thấp
nhất là Thể dục thể thao 7%.
Cơ cấu về trình độ học vấn cũng tương đối hợp lý, số có tham gia đào tạo chính quy
một năm là 18%, phổ biến nhất là sinh viên năm 2 chiếm 48% sinh viên năm 3 chiếm
22% và sinh viên năm 4 chiếm 12%
Qua cuộc nghiên cứu và khảo sát khi được hỏi “ Bạn có tham gia hoạt động trường
lớp, Đoàn Hội, câu lạc bộ, các cuộc thi do trưòng tổ chức không ? ” thì phần lớn các sinh
viên đều trả lời là có và con số đó chiếm đến 78%, những người trả lời ” chưa bao giờ
chiếm 22%
Đề tài sử dụng các đo lường tần số chung của mục đích và phần lớn khi đựợc hỏi
mục đích tham gia phần lớn của các sinh viên họ đều trả lời với mục đích hoàn thiện
phẩm chất , năng lực bản thân và tỉ lệ ấy chiếm 52.6% . kế đến là ảnh hưởng đến kết quả
học tập ( điểm rền luyện ) chiếm 33 % , với mục đích thể hiện bản thân chiếm tỷ lệ thấp
nhất 6,4% và hơn 7 % sinh viên trả lời với mục đích khác Những số liệu này cho thấy
rằng đa số những sinh viên tham gia các hoạt động này là vì nó ảnh hưởng đến kết quả
học tập và để hoàn thiện năng lực phẩm chất của bản thân. Trong đó có tới 52.6% trả lời
cho lý do thứ hai, gấp gần 1.5 lần số trả lời cho lý do thứ nhất. Điều đó cho thấy bộ phận
10
sinh viên tham gia các hoạt động này là vì lý do tích cực muốn hoàn thiện bản thân mình,
cũng cho thấy rằng những hoạt động này có ý nghĩa tích cực đối với sinh viên. Tuy nhiên
bên cạnh đó có tới 1/3 số sinh viên tham gia các hoạt động này cho biết họ tham gia vì
điều đó ảnh hưởng đến điểm số của mình. Với lý do này có vẻ như việc tham gia các hoạt
động của trường lớp là một điều cần thiết bắt buộc để có một hạnh kiểm tốt khi ra trường,
cũng như một điều dễ thấy là điểm rèn luyện sẽ là yếu tố vô cùng quan trọng đối với
những sinh viên thuộc diện xét học bổng. Tất nhiên những yếu tố này cũng quan trọng
nhưng liệu có phải việc tham gia các hoạt động này chỉ đem lại lợi ích về điểm số hay
không, và có thực sự đem lại những lợi ích nào khác đối với sinh viên hay không. Nhóm
chúng tôi tiếp tục khảo sát sự đánh giá của sinh viên về tác động của các hoạt động này
đối với cả vấn đề điểm số và cả việc hoàn thiện bản thân.
Trước hết một căn cứ để có thể đánh giá về việc các hoạt động này tác động thế nào
đối với bản thân sinh viên và đối với kết quả học tập của họ đó là mức độ tham gia các
hoạt động này có thường xuyên hay không.
Về mức độ thường xuyên tham gia các hoạt động thuộc các lĩnh vực mà các sinh
viên yêu thích thì phần lớn các sinh viên thường tham gia bất cứ hoạt động nào do trưòng
lớp tổ chức còn các hoạt động liên quan đến ngành học chỉ chiếm 17, 9% và có đến
11,5% tham gia hoạt động có nhiều giải thưỏng hấp dẫn, cuối cùng việc tham gia hoạt
động theo phong trào chiếm tỉ lệ thấp nhất 7.7%. Qua đó cho ta thấy các hoạt động liên
quan đến ngành học chưa thực sự phổ biến và chưa thực sự thu hút được nhiều sinh viên
tham gia.
Khi để cho các sinh viên tự đánh gía về mức độ thường xuyên tham gia các hoạt
động đó thì đa số các sinh viên đều trả lời : họ tham gia phần lớn từ 25-50% và tỉ lệ này
chiếm 46% , còn tỷ lệ tham gia lớn hơn 75% tổng số các hoạt động - phong trào chỉ
chiếm 7.7%, đây là tỉ lệ thấp nhất. Điều này cho chúng ta thấy rằng mặc dù họ tham gia
vào các hoạt động mà họ thấy ưa thích nhưng đa phần họ chỉ tham gia từ 25 -50 % các
hoạt động đó .
Các lĩnh vực mà sinh viên thường xuyên tham gia nhất là câu lạc bộ về công tác xã hôi
chiếm đến 31,7% tiếp theo là câu lạc bộ thể thao nghệ thuật chiếm 25,4% , ngoại ngữ
chiếm 22,2% , thấp nhất là tỉ lệ tham gia câu lạc bộ kĩ năng . Các con số này cho biết
11
rằng các câu lạc bộ kĩ năng ( thực sự là rất quan trọng trong việc hình thành các kĩ năng
mềm ) chưa thực sự thu hút được sinh viên như câu lạc bộ công tác xã hội.
Đề tài sử dụng cách đo lường tần số chung của sinh viên theo thang điểm 10 và để
người trả lời tự cho điểm về những tác động của việc tham gia các hoạt động , các cuộc
thi của trường lớp tác động đến mỗi sinh viên trên các kĩ năng như năng động ,tự tin,
sáng tạo , khả năng lãnh đạo ,kinh nghiệm ………
+ Đối với kĩ năng năng động, thang điểm chiếm tỉ lệ cao nhất là từ 5- 8 điểm , trong đó
thang điểm 5, 6 chiếm tỉ lệ cao nhất 19.2% còn thang điểm 1 và 10 chiếm tỷ lệ 2,6 %
cũng là tỷ lệ thất nhất. Ta nhận thấy rằng kĩ năng động của sinh viên do các hoạt động
đem lại chỉ ở mức trung bình.
+ Đối với kĩ năng tự tin thang điểm chiếm tỷ lệ cao nhất là tự 5 đến 7 điểm trong đó 5
điểm chiếm tỷ lệ cao nhất là 29,5 % ; điểm 7 chiếm tỷ lệ 19,2% ; điểm 6 chiếm 17.9% và
tỷ lệ thấp nhất là thang điểm 10. Đối với kĩ năng sáng tạo, thang điểm chiếm tỷ lệ cao
nhất là từ 4 - 6 điểm trong đó điểm 5 chiếm tỷ lệ 25,6% ; điểm 6 là 21.8% ; điểm 4 là
12,8% ; thang điểm 2 và 10 chiếm tỷ lệ thấp nhất chiếm tỷ lệ 3,8% . Kết luận : kĩ năng
sáng tạo do các hoạt động đem lại thấp hơn kĩ năng tự tin và năng động do các hoạt động
đó đem lại. Điều này chứng tỏ nội dung các hoạt động chưa khơi dậy sự sáng tạo, tư duy,
trí tuệ của sinh viên .
+ Đối với kĩ năng lãnh đạo các thang điểm tương đối trải đều và chiếm tỷ lệ cao từ 4- 8
điểm và cao nhất vẫn là thang điểm 5. Chứng tỏ những kĩ năng như năng động tự tin sáng
tạo và khả năng lãnh đạo do các hoạt động trường lớp chỉ chiếm tỷ lệ trung bình .Việc rèn
luyện khả năng hoạt động theo nhóm , lãnh đạo tập thể thực sự là rất quan trọng đặc biệt
là sau khi ra trường nhưng thực sự các chương trình chưa mang lại nhiều bổ ích và rèn
luyện nhiều kĩ năng cho sinh viên.
Đánh giá về chất lượng các hoạt động trường lớp, đoàn hội mà sinh viên tham gia tại
thành phố HCM thực hiện tại các trưòng đại học trên địa bàn. Kết quả tìm ra thang đo về
chất lượng của các hoạt động công tác đoàn hội bao gồm 3 nhân tố chính : tính bổ ích,
tính hấp dẫn, tính thiết thực.
Theo đánh giá của sinh viên về tính bổ ích của các hoạt động thì có đến 42.6% sinh
viên đánh giá là bình thường , hài lòng, 5.1% rất hài lòng, không hài lòng chiếm 2.6%.
12
Phần lớn các sinh viên cho rằng họ cảm thấy bình thường về tính hấp dẫn của hoạt
động trường lớp và tỉ lệ này chiếm 69.2% khi được hỏi về mức độ hài lòng, chỉ có 19%
sinh viên cho rằng họ hài lòng với tính hấp dẫn của hoạt động này, 5.1% sinh viên cảm
thấy rất hài lòng, 7.7% cho rằng những hoạt động này không thật sự hấp dẫn và thu hút.
Khi được hỏi về tính thiết thực của các hoạt động thông qua khảo sát ta thấy rằng có
đến 51.3% đánh giá bình thường , 34.6% cảm thấy hài lòng, 10.3% cảm thấy rất hài lòng
và có đến 3.8% sinh viên cho rằng những hoạt động này không thật sự thiết thực.
Khi đánh giá về vai trò của các hoạt động trường lớp, đoàn hội, câu lạc bộ hầu hết
các sinh viên cho rằng những hoạt động này quan trọng đối với họ và tỉ lệ này chiếm đến
50% , 34.6% đánh giá bình thường, 12.8% cho rằng quan trọng, và không quan trọng
chiếm 2.6%.
Khi tham gia công tác đoàn hội ắt hẳn phải có những sinh viên tham gia giữ chức bộ
cán bộ lớp,đoàn,hội, đề tài đã khảo sát về mức độ yêu thích của mỗi người đối với chức
vụ của mình , và cuộc khảo sát giúp chúng tôi nhận ra 38% cho biết họ tham gia vào ban
cán bộ lớp, trường, đoàn, hội vì lợi ích của bản thân chứ không phải vì yêu thích công
việc này.
Cuộc khảo sát này cũng được thực hiện đối với những sinh viên năm cuối, những
người mà chúng tôi cho rằng sẽ có đánh giá tốt nhất về sự tác động của việc tham gia các
phong trào đoàn hội. Kết quả thu được đó là có tới 50% các sinh viên năm cuối được thực
hiện khảo sát cho rằng 50% kỹ năng mềm và cơ hội tìm kiếm việc làm là do việc tham
gia vào các hoạt động trường lớp, đoàn hội.
Đề tài cũng khảo sát về những yêu cầu và những ý kiến đóng góp của các bạn sinh
viên đối với phong trào trường lớp, đoàn hội. 69 trong tổng số 100 sinh viên được khảo
sát mong các Câu lạc bộ được tổ chức tốt hơn. Ngoài ra còn một số ý kiến đóng góp khác
như cần tổ chức thêm nhiều hoạt động nữa để sinh viên có nhiều cơ hội tham gia phong
trào đoàn hội hơn nữa, thời gian tổ chức các hoạt động cần hợp lý hơn , tổ chức và phổ
biến các phong trào hoạt động một cách tích cực sôi nổi hơn, một vài ý kiến khác cũng
cho rằng cần có sự cải biến ở bộ phận cán bộ lãnh đạo. Từ điều này có thể thấy rằng, sinh
viên rất quan tâm đến các CLB, mong muốn tham gia vì thực sự CLB là môi trường rèn
luyện cả về kiến thức chuyên ngành – kiến thức xã hội – các kỹ năng cần có (ngoại ngữ,
tin học…),đó cũng là nơi mà sinh viên có cơ hội thể hiện tài năng của bản thân và trao
13
đổi học hỏi thêm kinh nghiệm của những người đi trước, nhưng thực tế cho thấy hầu hết
sinh viên cho rằng, chất lượng các CLB này chưa đáp ứng được nhu cầu của họ. Vấn đề
này là vấn đề mà các trường cần chú ý tới, làm cho các hoạt động phong trào đoàn hội,
các CLB trở nên phong phú, thiết thực, hấp dẫn hơn, tổ chức chặt chẽ và thời gian tổ
chức hợp lý để sinh viên tham gia được nhiều hơn.
Mặc dù kiến thức là điều quan trọng nhưng điểm số mới là mối quan tâm lớn nhất
của hầu hết sinh viên hiện nay, làm sao để có kết quả tốt và điểm số tốt. Kết quả khảo sát
cho biết có 67.1% sinh viên (không bao gồm sinh viên năm nhất) nói rằng điểm trung
bình học tập của họ trong các học kỳ qua đạt 6.5 đến 8.0 ; 29.2% cho biết điểm học tập
trung bình của họ là trên 8.0 và chỉ có 3.7% trả lời điểm số của họ dưới mức 6.5 . Có thể
nói đây cũng là một kết quả khá tốt.
Qua bảng crosstaps ta cũng thấy được rằng những người được khảo sát là có tham
gia thường xuyên các phong trào, hoạt động, các câu lạc bộ có tỉ lệ điểm 6.5 – 8.0 là cao
nhất, kết quả này cho thấy tham gia thường xuyên các hoạt động này sẽ cho điểm số học
tập tốt hơn là không tham gia hoặc tham gia không thường xuyên.
Bên cạnh kiến thức thì hạnh kiểm là một phần không thể thiếu để đánh giá một cách
đầy đủ về cả về vấn đề học tập và vấn đề đạo đức của sinh viên. Khi còn ngồi trên giảng
đường đại học, điểm rèn luyện của mỗi sinh viên được đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí,
từ việc tham gia các hoạt động của nội bộ lớp tới các hoạt động, các cuộc thi của
ngành,của khoa,của trường, các phong trào của đoàn hội, việc tham gia các câu lạc bộ.
Nếu điểm rèn luyện không đạt thì dù điểm học tập cao đến đâu sinh viên cũng không
được đánh giá tốt. Đối với những sinh viên có điểm học tập cao thì điểm rèn luyện là yếu
tố để đánh giá xem họ có được nhận học bổng hay không. Ngay cả trong hồ sơ xin việc,
một bản hạnh kiểm tốt cũng là một yêu cầu không thể thiếu của nhà tuyển dụng. Đề tài
của nhóm chúng tôi cũng đã thực hiện khảo sát về điểm rèn luyện của các sinh viên
(không bao gồm sinh viên năm nhất), số liệu thu được là 61% điểm rèn luyện rơi vào
khoảng 0.6 đến 0.8 , chỉ có 4.9% có điểm rèn luyện dưới 0.4 .
Cũng tương tự như điểm số, qua bảng crosstaps ta có thể nhận xét được rằng tỉ lệ
những sinh viên có điểm rèn luyện tương đối cao ( 0,6 – 0.8) là cao nhất đối với những
sinh viên tham gia khá thường xuyên.
14
Đối với những sinh viên trả lời rằng chưa bao giờ tham gia các hoạt động của trường
lớp, các phong trào đoàn hội, các CLB, đề tài đã khảo sát họ về những lý do nào khiến họ
không tham gia. Kết quả 77.3% trả lời với lý do những hoạt động này chỉ tốn thời gian.
21.2% nói rằng các hoạt động này quá nhàm chán và vì thế họ không muốn tham gia.
Một số ít 2.5% thờ ơ rằng các hoạt động này thực sự chẳng cho họ thấy một lợi ích thực
tế nào cả. Đó là ý kiến của 22% số sinh viên được thực hiện khảo sát. Đây quả là một
con số không hề nhỏ, và chưa thực sự hiểu được lợi ích mà các hoạt động các phong trào
của trường lớp, đoàn hội mang lại.
Đối với các sinh viên chưa bao giờ tham gia các hoạt động của trường lớp, đoàn hội,
đề tài cũng tìm hiểu về ý kiến của họ sẽ tham các hoạt động này trong tương lai hay
không, hay là vẫn không muốn tham gia, tỉ lệ có và không tham gia là 50 – 50. Như vậy
một số đang bắt đầu thay đổi cái nhìn của mình về việc tham gia các hoạt động trường
lớp, đoàn hội. Còn một số vẫn giữ nguyên ý kiến không muốn tham gia.
Cuộc khảo sát đã đưa đến một kết quả ,mặc dù phần lớn sinh viên đều có nhận thức
rằng việc tham gia các hoạt động trường lớp,đoàn hội,các CLB sẽ đem lại những lợi ích
to lớn cho cả việc học tập rèn luyện của họ ở hiện tại và cả trong tương lai những lợi ích
đó vẫn còn nguyên giá trị. Nhưng đánh giá của họ về tính bổ ích,thiết thực,hấp dẫn của
các hoạt động này tại môi trường học tập của họ cũng như tác động của nó tới các kỹ
năng tự tin, năng động, sáng tạo, khả năng lãnh đạo, kinh nghiệm đều chỉ dừng lại ở mức
trung bình.
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN – HẠN CHẾ - KIẾN NGHỊ
4.1 Kết luận
Mục đich của nghiên cứu này là tác động của việc tham gia các hoạt động trường
lớp, đoàn hội, các câu lạc bộ đến việc học tập và rèn luyện kĩ năng mềm của sinh viên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tham gia các hoạt động trường lớp, đoàn hội, các câu
lạc bộ của sinh viên có những tác động khá quan trọng đến việc học tập và rèn luyện kĩ
năng mềm của họ qua những con số đã được thống kê và phân tích một cách chính xác và
đáng tin cậy. Đề tài này đã giải quyết tốt mục tiêu nghiên cứu đề ra.
15
4.2 Một số hạn chế của đề tài
Mặc dù đề tài đã giải quyết tốt mục tiêu nghiên cứu đề ra nhưng vẫn còn tồn tại một
vài hạn chế như sau: thủ tục lấy mẫu thuận tiện, lấy mẫu chưa đề ở khối ngành và khóa
học: số lượng sinh viên được khảo sát thuộc ngành thể dục thể thao là quá ít so với mẫu,
tỉ lệ sinh viên năm 2 cao hơn khá xa so với các năm khác.
4.3 Kiến nghị
Từ một vài ý kiến đóng góp của những sinh viên được khảo sát, chúng tôi xin đưa ra một
vài kiến nghị để Đoàn trường, những người tổ chức các phong trào hoạt động trường, lớp,
các câu lạc bộ trong trường Đại học có thể tham khảo như:
- Tổ chức đa dạng các hoạt động phong trào đoàn hội, các CLB, phong phú hơn, thiết
thực hơn, hấp dẫn hơn để lôi cuốn sinh viên
- Tổ chức chặt chẽ và thời gian tổ chức hợp lý hơn nữa để sinh viên tham gia được nhiều
hơn.
- Giới thiệu và phổ biến một cách rộng rãi và hiệu quả hơn các hoạt động, cuộc thi, phong
trào… để sinh viên nắm bắt được, quan tâm và thấy được lợi ích của họ khi tham gia.
- Đội ngũ lãnh đạo, tổ chức các phong trào, hoạt động, các câu lạc bộ cần phát huy tốt
hơn vai trò lãnh đạo của mình, hòa đồng thân thiết hơn với sinh viên… để có thể hướng
dẫn và truyền đạt lại những kinh nghiệm của thế hệ đi trước.
4.4 Một vài thành quả mà Đoàn trường ĐHQG TP.HCM đạt được trong
thời gian qua.
Không chỉ là đơn vị trọng điểm của miền Nam nói riêng cả nước nói chung trong
lĩnh vực Giáo dục đào tạo và Nghiên cứu khoa học, ĐHQG TP.HCM còn là một trong
những đơn vị xuất sắc trong công tác Đoàn và phong trào Học sinh - Sinh viên TP.HCM
trong nhiều năm qua. Nhìn lại những hoạt động trong năm học 2007-2008, Đoàn viên,
HS-SV ĐHQG-HCM có quyền tự hào với những thành quả thiết thực.
Với quy mô 7 Đoàn đơn vị thành viên (Đoàn Trường ĐH Bách Khoa, Đoàn Trường
ĐH Khoa học Tự nhiên, Đoàn Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đoàn Trường
ĐH Quốc tế, Đoàn Trường ĐH Công nghệ Thông tin, Đoàn Khoa Kinh tế và Đoàn Cơ
quan Văn phòng ĐHQG-HCM) bao gồm 45 Đoàn cơ sở và 48 Chi đoàn trực thuộc, 634
Chi đoàn với tổng số 33.006 Đoàn viên (chiếm trên 20% tổng số đoàn viên khu vực ĐH –
16
CĐ – THCN toàn Thành phố) trên tổng số 46.926 sinh viên hệ chính quy (chiếm trên
24% tổng số sinh viên toàn Thành phố), đồng thời bằng chính sự nỗ lực và cố gắng trong
học tập, công tác và rèn luyện cuả cả tập thể Đoàn viên, HS-SV ĐHQG, công tác Đoàn
và phong trào sinh viên ĐHQG-HCM không chỉ được đánh giá là đơn vị luôn đi đầu và
đang ngày một phát triển với những tầm cao mới trong phong trào sinh viên thành phố,
góp phần tạo nên diện mạo cuả một lớp HS-SV trong thời đại mới, đáp ứng được những
yêu cầu ngày càng cao đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá cuả đất nước.
ĐHQG TP.HCM có 3 đơn vị Đoàn trường là đơn vị Đoàn tương đương cấp Quận-Huyện
trực thuộc Thành Đoàn TP. Hồ Chí Minh: ĐH KHTN, ĐH KHXH&NV, ĐHBK và cả 3
đơn vị này đều nằm ở cụm thi đua số 1 - cụm của 9 trường vững mạnh nhất– trong phong
trào thi đua của các trường CĐ-ĐH-THCN trên toàn Thành phố nhiều năm qua. Nhiều
đơn vị Đoàn của ĐHQG TP.HCM là Đoàn cơ sở trực thuộc vững mạnh như: Khoa Kinh
tế, ĐHQT, ĐHCNTT…
Nhắc đến các hoạt động tiêu biểu của ĐHQG TP.HCM trong năm học 2006-2007
chúng ta lại nhớ ngay đến những chương trình tiêu biểu quy mô như :
Ngày hội “Sinh viên ĐHQG-HCM làm theo lời Bác” với hàng loạt các hoạt động
như: Triển lãm tranh ảnh, tư liệu về thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại
sảnh lớn Nhà điều hành ĐHQG- HCM; hoạt động của các gian hàng đố vui có thưởng về
kiến thức lịch sử, văn hóa; thân thế và sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh; Các hoạt động
của khu “Tuổi trẻ và Bác” ghi lại những suy nghĩ, tình cảm của thanh niên đối với tấm
gương đạo đức của Bác, đối với những kỷ niệm, kỷ vật … trong cuộc đời cách mạng của
Bác; Giao lưu với ông Giản Tư Trung, người sáng lập ra tổ hợp giáo dục PACE; Tổ chức
hội thi karaoke hát về Bác Hồ, chiếu phim về Bác Hồ; Lập kỷ lục Việt Nam về vẽ bức
tranh lớn nhất về Bác Hồ; Lễ tuyên dương sinh viên 3 tốt ĐHQG-HCM năm 2007: tuyên
dương 80 gương mặt sinh viên đạt danh hiệu “Sinh viên 3 tốt cấp ĐHQG-HCM” năm
2007, trong đó 9 gương mặt tiêu biểu nhất đã được trao bằng khen của Giám đốc ĐHQH-
HCM. Ngày hội đã để lại ấn tượng sâu sắc cho các bạn sinh viên, giúp cho các bạn hiểu
biết nhiều hơn về Bác, đồng thời giúp các bạn có thể định hướng phấn đấu và nỗ lực
không ngừng trong học tập và rèn luyện .
Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo lời Bác trong đoàn viên thanh niên
ĐHQG-HCM, Ban Cán sự Đoàn đã tổ chức Hội thi học tập và làm theo lời Bác “Sáng
17
mãi tên Người” lần I năm 2008. Hội thi được chia thành 2 bảng cho 2 đối tượng: cán bộ
trẻ và sinh viên. Các vòng thi diễn ra với hình thức đối kháng trên sân khấu, bao gồm các
phần thi: Đường về làng Sen, Theo chân Bác, Con đường vạn dặm, Ánh sáng soi đường,
riêng vòng chung kết có thêm phần thi kể chuyện Hồ Chí Minh – Sáng mãi tên Người và
hùng biện Tuổi trẻ làm theo lời Bác. Hội thi đã thu hút được 14 đội cán bộ trẻ và 25 đội
sinh viên đến từ Đoàn các đơn vị thành viên và trực thuộc ĐHQG-HCM tham gia.
Chào mừng tháng Thanh niên, đồng thời tạo sân chơi lành mạnh góp phần nâng cao đời
sống văn hóa tinh thần cho đoàn viên thanh niên, sinh viên, Ban Cán sự Đoàn đã tổ chức
Liên hoan tiếng hát sinh viên ĐHQG-HCM lần VI - năm 2008. Trong đợt liên hoan lần
này, BCS Đoàn đã tổ chức một chuyến đi công tác xã hội tại Trung tâm Chắp cánh.
Mỗi chương trình đều để lại những tiếng vang nhất định vì sự đầu tư nghiêm túc, sự
phối hợp làm việc nhịp nhàng, bài bản, tính quy mô và trên hết là sự sáng tạo, đổi mới
trong nội dung, hình thức thể hiện các hoạt động, ngày càng trẻ trung, tạo sức hút đối với
đoàn viên, sinh viên ĐHQG-HCM.
Trong năm học 2007-2008, các cơ sở Đoàn của ĐHQG-HCM đã kiên trì tuyên
truyền các nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng HCM bằng nhiều hình
thức: Hội thi, toạ đàm, tuyên truyền giới thiệu qua bảng tin, các website… Trong Cuộc
thi tìm hiểu Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh “Ánh sáng thời đại” lần III
năm 2008, với sự tham dự của 53 đội tuyển là những giáo viên, giảng viên trẻ đến từ các
quận huyện, các trường CĐ, ĐH của TP.HCM, đội tuyển giảng viên và sinh viên Trường
ĐH KHTN - ĐHQG-HCM đã xuất sắc đoạt Giải nhất.
Cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học và làm theo lời Bác” được 100% các cơ sở
Đoàn triển khai thực hiện. Theo kết quả của Thành Đoàn Tp.HCM, trong cụm thi đua số
1, Đoàn TNCS Trường ĐH KHTN là đơn vị dẫn đầu về kết quả thi đua trong toàn thành
phố với số điểm cao nhất 927/1000 điểm, tiếp đó là Đoàn Trường ĐH KHXH&NV đứng
thứ 5 với 871 điểm, Trường ĐH Bách Khoa với 840 điểm. Trong cụm thi đua số 3 Đoàn
TNCS Khoa Kinh tế - ĐHQG-HCM đứng vị trí số 2 với 970.5 điểm.
Nhắc đến Trường ĐH KHTN đơn vị suất sắc nhất toàn Thành phố Hồ Chí Minh năm
qua phải nhắc ngay đến các mô hình giải pháp. Đặc biệt hai giải pháp được đánh giá cao
đó là hệ thống giải pháp thực hiện cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập làm theo lời
Bác”. Thực hiện cuộc vận động của Ban Bí thư Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam
18
“Học tập làm theo tấm gương đạo đức HCM”. BCH Đoàn Trường ĐH KHTN đã sớm
xây dựng triển khai chương trình hành động một cách cụ thể với nội dung và tiêu chí
hành dộng cho từng đối tượng đặc thù. Hệ thống giải pháp được đánh giá cao về tính cụ
thể và khoa học. Với những giải pháp chiều rộng, chiều sâu, Đoàn trường đang từng bước
đẩy mạnh nội dung “Làm theo lời Bác”, chọn lọc những vấn đề cụ thể, thân thiết, tạo
thành một cuộc vận động lớn trong toàn trường, từ đó tác động đến suy nghĩ và hành
động của Đoàn viên, Thanh niên một cách tích cực hơn.
Với giải pháp “Ý tưởng sáng tạo sinh viên S-IdeaS”- sức sống mới cho phong trào
nghiên cứu khoa học. Nhằm hỗ trợ tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận sớm hình thức và
phương pháp luận trong NCKH, cuộc thi “Ý tưởng sáng tạo sinh viên S-Ideas” lần dầu
tiên đã được BCH Đoàn phát động vào tháng 10/2007. Cuộc thi ra đời với mong muốn
đây sẽ là một nơi phát huy được tính sáng tạo và tinh thần ham học hỏi NCKH trong sinh
viên. Những ý tưởng sẽ được đánh giá dựa trên tính khả thi và khả năng ứng dụng thực
tế. Cuộc thi đã thu hút được sự chú ý của đông đảo sinh viên và được sự quan tâm đánh
giá cao của Đảng Uỷ- Ban giám hiệu trường cũng như thầy cô giảng dạy tại các khoa.
Ngoài ra giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ từ phong trào “Cán bộ Đoàn- Hội
giỏi chuyên môn, vững nghiệp vụ” cũng được đánh giá là một giải pháp thiết thực. Nhằm
đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ Đoàn- Hội trong nhà trường từ trình độ học tập cho
đến chuyên môn nghiệp vụ. Xây dựng Đoàn phát triển toàn diện…
Trường ĐH Bách Khoa tiếp tục xây dựng nên những công trình thiết thực, mang đậm
dấu ấn của sinh viên trường trong chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh năm 2008. Khi
mùa thi vẫn còn đồng hành cùng các bạn sinh viên các trường ĐH, CĐ thì mùa hè tình
nguyện của sinh viên Bách Khoa đã chính thức phát lệnh xuất quân từ ngày 1/7/2008. Là
đội hình tiên phong xuất quân sớm nhất, 1093 thầy cô và sinh viên Trường ĐHBK tiến về
4 mặt trận: mặt trận quận 10 - Thành Phố Hồ Chí Minh (115 chiến sĩ), mặt trận huyện Củ
Chi – Thành phố Hồ Chí Minh (44 chiến sĩ), mặt trận huyện Thạnh Phú – tỉnh Bến Tre
(961 chiến sĩ) và mặt trận tỉnh Champasack – nước CHDCND Lào (6 chiến sĩ). Tại huyện
Thạnh Phú (Bến Tre), các chiến sĩ tình nguyện của Trường đã xây dựng 18000 m đường
bê tông, một phòng học mẫu giáo, một cầu bê tông dài 45m, 18 ngôi nhà tình thương (10
triệu/căn), 12 cầu nông thôn với chiều dài tổng cộng 297m và 21 đoạn đường nông thôn
dài tổng cộng 11.210 m.
19
Hỗ trợ học thuật, NCKH cho Đoàn viên, sinh viên là hoạt động được Đoàn Trường
ĐH KHXH&NV tập trung thực hiện trong năm học 2007-2008. Giải pháp động lực cho
các hoạt động hỗ trợ học thuật, NCKH cho Đoàn viên, sinh viên của trường trong năm
học này chính là Trung tâm Khoa học Trẻ (tiền thân là Trung tâm Hỗ trợ sinh viên
NCKH) trực thuộc Đoàn trường. Trong năm học vừa qua, Trung tâm Khoa học Trẻ của
Đoàn trường đã bắt đầu triển khai thực hiện đề án “Nâng cao năng lực Anh ngữ” cho
Đoàn viên, sinh viên. Mục tiêu của đề án này là tạo thêm điều kiện, môi trường cho Đoàn
viên, sinh viên nâng cao trình độ tiếng Anh đáp ứng được việc xét tốt nghiệp đối với sinh
viên khối ngành xã hội. Điểm nổi bật trong việc thực hiện phong trào “Sinh viên 3 tốt”
trong năm học này của Trường ĐH KHXH&NV chính là sự ra đời của CLB “Sinh viên 3
tốt” với tiêu chí hoạt động là “kết nối với cơ quan, doanh nghiệp để tạo đầu ra cho sinh
viên 3 tốt”.
Các hoạt động tình nguyện, CTXH vẫn luôn là thế mạnh của trường ĐH
KHXH&NV và năm học 2007 – 2008 vẫn tiếp tục được phát huy tốt. Bên cạnh chiến
dịch Mùa hè xanh, Chiến dịch Xuân tình nguyện 2008 năm nay của Trường thu hút hơn
400 Đoàn viên, sinh viên tham gia tình nguyện tại các mặt trận Bà Rịa – Vũng Tàu, các
mái ấm, nhà mở ở địa bàn TP.HCM. Xuân tình nguyện 2008 không chỉ thu hút Đoàn
viên, sinh viên trong trường và còn thu hút các Đoàn viên, sinh viên từ một số trường bạn
trên địa bàn thành phố như: Đại học Công nghiệp, Đại học Nông lâm, Đại học Ngoại
thương, Đại học Sư phạm kỹ thuật,Khoa Kinh tế - ĐHQG-HCM, …
Trong năm học 2007 – 2008 vừa qua, Đoàn trường đã thực hiện tương đối trọn vẹn
các nội dung công tác, góp phần chăm lo mọi mặt cho Đoàn viên, sinh viên, thể hiện
được vai trò là người bạn của sinh viên. Thêm vào đó, trong năm học này, Đoàn trường
cũng đã có nhiều cố gắng trong việc tìm những hướng đi mới trong công tác hỗ trợ học
thuật và NCKH cho Đoàn viên, sinh viên, bước đầu đạt được những thành tích đáng
khích lệ.
Khoa Kinh tế - ĐHQG TP.HCM tổ chức thành công FESE sàn giao dịch chứng
khoán ảo
20
BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT
Xin chào các bạn, nhóm chúng tôi đang thực hiện đề tài nghiên cứu về “tác động của
việc tham gia phong trào đoàn, hội, câu lạc bộ, các cuộc thi trong trường đại học đến việc
học tập và rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên” nhằm giúp cho sinh viên hiểu rõ hơn về
vai trò và tác động của các hoạt động này, lợi ích mà chúng mang lại cho sinh viên, đồng
thời từ những ý kiến đóng góp của các bạn chúng tôi sẽ phản hồi lại cho những nhà tổ
chức để họ cải tiến chất lượng các hoạt động , thu hút sinh viên tham gia. Rất mong sự
đóng góp của các bạn!
1. Bạn học khối ngành nào?
a. Khoa học xã hội, kinh tế, luật d. Nông – lâm – thủy sản
b. Kỹ thuật, công nghệ e .Y dược
c. Khoc học tự nhiên f. Thể dục thể thao
2. Bạn là sinh viên năm mấy?
a. Năm nhất c.Năm ba
b. Năm hai d.Năm tư
3. Bạn có tham gia hoạt động trường lớp, đoàn hội, CLB, các cuộc thi do trường tổ
chức không?
a. Có b. Chưa bao giờ
Nếu tham gia thì trả lời các câu 4 đến câu 15
Nếu không tham gia thì trả lời các câu 14 đến 17
4. Mục đích tham gia các hoạt động đó
a. Vì nó ảnh hưởng đến kết quả học tập ( điểm rèn luyện)
b. Hoàn thiện phẩm chất, năng lực của bản thân ( kỹ năng giao tiếp, kinh nghiệm
sống, khả năng hoạt động nhóm, năng lực lãnh đạo…)
c. Thể hiện bản thân .
d. Lí do khác
5. Bạn thường tham gia các hoạt động thuộc lĩnh vực nào?
a. Các hoạt động liên quan đến ngành học của bạn
b. Bất cứ các hoạt động bạn cảm thấy thích
c. Các hoạt động nhiều người tham gia
d. Hoạt động có giải thưởng hấp dẫn .
6. Đánh giá mức độ thường xuyên tham gia các hoạt động đó của bạn?
a. < 25% c. 25-50% c.50 – 75 % d. > 75%
7. Bạn có tham gia câu lạc bộ thuộc lĩnh vực nào sau đây:
a. CLB ngoại ngữ d .CLB kỹ năng
b. CLB thể thao - nghệ thuật e. CLB công tác xã hội
c. CLB nghiên cứu khoa học
8. Bạn hãy đánh giá tác động của việc tham gia hoạt động Đoàn, Hội , CLB, các
cuộc thi do trường tổ chức đến bạn dựa trên những tiêu chí sau:
21
Tiêu chí 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
1. Năng động
2. Tự tin
3. Sáng tạo
4. Khả năng lãnh
đạo
5. Kinh nghiệm
9. Đánh giá của bạn về chất lượng các hoạt động trường lớp. Đoàn hội, CLB bạn
tham gia:
Tiêu chí Không
hài lòng
Bình
thường
Hài
lòng
Rất hài
lòng
1. Tính bổ ích
2. Tính hấp dẫn
3. Tính thiết thực
10. Đánh giá của bạn về vai trò của các hoạt động trường lớp, Đoàn hội, CLB như thế
nào
a. Không quan trọng c.Quan trọng
b. Bình thường d.Rất quan trọng
11. Bạn có là cán bộ lớp, Đoàn, Hội không, nếu có bạn có thấy yêu thích công việc
hiện tại của mình không?
a. Rất thích và sẽ tiếp tục tham gia đóng góp cho Đoàn, Hội
b. Bình thường, tham gia công tác vì những lợi ích mà nó mang lại
c. Không thích nhưng vì trách nhiệm nên sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ.
d. Ý kiến khác.
12. Nếu bạn là sinh viên năm cuối, bạn đánh giá như thế nào về cơ hội nghề nghiệp
và khả năng chuyên môn cũng như các kỹ năng mềm mà các hoạt động này mang
lại:
a. < 25% b. 25- 50 % c. > 50 %
13. Ý kiến đóng góp cho các hoạt động này phát triển?
………………………………………………………………………………………
…….
………………………………………………………………………………………

14. Điểm trung bình học tập của bạn các học kì qua
22
a. Dưới 5.0 c. 6.5 - 8.0
b. 5.0 – 6.5 d. Trên 8.0
15. Điểm rèn luyện của bạn các học kì qua
a. Dưới 0.4 c. 0.6-0.8
b. 0.4 – 0.6 d.Trên 0.8
®
16. Lí do bạn không tham gia các hoạt động trường lớp, Đoàn hội, CLB
a. Nhàm chán
b. Tốn thời gian
c. Không có lợi ích gì cho bản thân
17. Bạn có ý định tham gia sau này không?
a. Sẽ tham gia
b. Vẫn không tham gia .
Cảm ơn các bạn!
23

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×