Tải bản đầy đủ

TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG : QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
o0o
TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ NGÂN
HÀNG
ĐỀ TÀI: QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
GVHD : PGS.TS Trần Huy Hoàng
Lớp : Cao học K19 – Ngân hàng đêm 4
TPHCM – NĂM 2011
DANH SÁCH NHÓM THỰC HIỆN
1. Nguyễn Thị Nguyệt Nga
2. Đoàn Diên Khánh
3. Nguyễn Thị Kim Lý
4. Trần Ái Mỹ
5. Hồ Phương Minh
6. Nguyễn Chí Văn Luân
7. Phạm Thị Trúc Ly
8. Bùi Thành Nam
MỤC LỤC

Chương 1: Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái và rủi ro tỷ giá hối đoái
1.1. Đôi nét về tỷ giá hối đoái
1.1.1 Khái niệm:
1.1.2 Cách niêm yết tại các NHTM Việt Nam
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá hối đoái
1.2. Một số rủi ro tỷ giá hối đoái thường gặp
1.2.1 Rủi ro thị trường
1.2.2 Rủi ro chính sách
1.2.3 Rủi ro tâm lý
1.2.4 Rủi ro khác
Chương 2: Thực trạng chính sách điều hành - quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái và các rủi ro tỷ
giá hối đoái tại các NHTM Việt Nam
2.1. Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng nhà nước qua các năm:
2.1.1 Quy định quản lý ngoại hối
2.1.2 Quy định niêm yết tỷ giá và biên độ tỷ giá,…………
2.1.3 Ưu khuyết điểm của chính sách và tác động đến các NHTM Việt Nam
2.2. Thực trạng các rủi ro tỷ giá hối đoái thường gặp
2.2.1 Rủi ro thị trường xuất nhập khẩu
2.2.2 Rủi ro đầu tư ra nước ngoài
2.2.3 Rủi ro lạm phát
2.2.4 Rủi ro tâm lý
2.3. Thực trạng chính sách điều hành – quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái tại các NHTM Việt
Nam
Chương 3: Một số kiến nghị về quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái ở các NHTM Việt Nam
3.1 Những khó khăn vướng mắc trong điều hành quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái tại các NHTM
Việt Nam
3.2 Một số kiến nghị
3.2.1 Sử dụng phương pháp dự báo tỷ giá
3.2.2 Giải phàp về công nghệ
3.2.3 Giải pháp về tổ chức nhân sự
3.2.4 Giải pháp về kỹ thuật kinh doanh
3.2.5 Giải pháp đa dạng hóa đồng tiền thanh toán
3.2.6 Giải pháp sử dụng Hợp đồng xuất nhập khẩu song hành
3.2.7 Sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tỷ giá
Chương 1: Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái và rủi ro tỷ giá hối đoái
1.1 Đôi nét về tỷ giá hối đoái:
1.1.1 Khái niệm:
Rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động ngân hàng là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay
ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi
cho ngân hàng.

1.1.2 Cách niêm yết tại các NHTM Việt Nam
Cách yết và công bố tỷ giá:
Tỷ giá mua của ngân hàng: Bid rate
Tỷ giá bán của ngân hàng: Ask rate
→ Bid rate/Ask rate: tỷ giá mua và bán của ngân hàng
(Thông thường tỷ giá thường được niêm yết theo tỷ giá này)
Tỷ giá mua của khách hàng: Bid ratec (= Ask rate)
Tỷ giá bán của khách hàng: Ask ratec (= Bid rate)
→ Bid ratec/Ask ratec: tỷ giá mua và bán của khách hàng
Trong cùng thời điểm và cùng 1 loại ngoại tệ thì tỷ giá mua của khách hàng chính là tỷ giá
bán của ngân hàng và ngược lại tỷ giá bán của khách hàng chính là tỷ giá mua của ngân
hàng.
a/ Các cách công bố tỷ giá:
- Cách công bố tỷ giá rời nhau:
Vd: Bid rate: 1USD = 17,780VND
Ask rate: 1USD = 17,782VND
- Cách công bố tỷ giá rút gọn:
Vd: USD/VND: 17,780/17,782 (phổ biến)
hoặc USD/VND: 17,780/82
Nếu tỷ giá được yết như sau: USD/VND: 17,780/00 tức USD/VND: 17,780/17,800
♦ Đồng tiền đứng trước là đồng tiền yết giá (còn gọi là đồng tiền định danh, đồng tiền cơ
sở hay đồng tiền hàng hóa_commodity currency). Đồng tiền định danh có đặc điểm như
sau:
+ Thường là 1 đơn vị
+ Là đồng tiền để mua bán trên thị trường (thị trường ngoại tệ) như là hàng hóa.
♦ Đồng tiền đứng sau là đồng tiền định giá (term currency), nói cho dễ hiểu thì nó còn có
thể được gọi là đồng tiền thanh toán (payment currency). Đồng tiền định giá có đặc điểm
như sau:
+ Thường không phải là 1 đơn vị
+ Là đồng tiền được dùng để thanh toán khi mua hoặc bán đồng tiền yết giá
b/ Cách yết giá ngoại tệ:
- Yết giá ngoại tệ trực tiếp: là cách yết giá mà khi nhìn vào ta có thể biết ngay là giá của 1
đồng ngoại tệ đó bằng bao nhiêu đồng nội tệ mà không cần phải thực hiện phép tính nào.
Đây là cách yết giá phổ biến.
- Yết giá ngoại tệ gián tiếp: là cách yết giá không thể hiện trực tiếp giá của ngoại tệ thông
qua nội tệ mà thể hiện giá của nội tệ thông qua ngoại tệ. Để biết được giá của ngoại tệ
thông qua nội tệ thì phải thực hiện phép chia.
Vd: Ở VN giá USD được yết như sau: USD/VND: 17,780 thì ta vừa nhìn vào có thể biết
ngay là 1USD = 17,780VND (đây là cách yết giá trực tiếp; giá của ngoại tệ được thể hiện
thông qua nội tệ)
Và giả sử khi ta sang Mỹ, ta thấy được giá VND được yết ở Mỹ cũng là USD/VND:
17,780. Như vậy khi ta nhìn vào, ta không thể biết được ngay là 1VND = ?USD mà ta cần
phải thực hiện phép chia (1USD = 17,780VND → 1VND = 1/17,780USD) (đây là cách yết
giá gián tiếp: giá của nội tệ được thể hiện thông qua ngoại tệ)
Hầu hết các nước trên thế giới đều yết giá ngoại tệ trực tiếp, ngoại trừ Anh, Mỹ,
Newzealand, Úc và liên minh châu Âu là thể hiện giá gián tiếp.
Khi TGHĐ tăng, đồng tiền định giá bị mất giá so với đồng tiền yết giá. Còn giá ngoại tệ
tăng hay giảm so với nội tệ thì còn tùy thuộc vào cách yết giá ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực
(đó là yết giá trực tiếp hay gián tiếp?)
- Nếu là yết giá trực tiếp thì khi TGHĐ tăng, đồng nghĩa với giá ngoại tệ cũng tăng so với
nội tệ và ngược lại.
- Nếu là yết giá gián tiếp thì khi TGHĐ tăng, đồng nghĩa với giá ngoại tệ giảm so với nội
tệ và ngược lại.
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá hối đoái:
Các hoạt động của ngân hàng có liên quan đến ngoại hối làm phát sinh rủi ro tỷ giá. Bao
gồm:
Hoạt động ngoại tệ ngoại bảng: ngân hàng kinh doanh ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
Hoạt động ngoại tệ nội bảng: ngân hàng huy động vốn và đầu tư vào tài sản bằng ngoại tệ.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá hối đoái:
Nguyên nhân chủ quan: do trạng thái ngoại hối của ngân hàng không cân xứng, tức là có
sự chênh lệch giá trị tài sản Có và tài sản Nợ ngoại hối hoặc chênh lệch giữa doanh số mua
vào và bán ra của đồng tiền nước ngoài. Từ sự không cân xứng đó, khi ngân hàng thực
hiện mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho chính ngân hàng nhằm mục đích đầu cơ
kiếm lãi khi tỷ giá biến động thì rủi ro sẽ xuất hiện khi tỷ giá biến động theo chiều hướng
bất lợi cho ngân hàng.
Nguyên nhân khách quan: do sự biến động tỷ giá theo chiều hướng bất lợi đối với ngân
hàng. Nguyên nhân của sự biến động này là: mất cân đối giữa cung – cầu ngoại tệ trên thị
trường, cán cân thanh toán quốc tế; chính sách thuế quan, năng suất lao động, tình hình
kinh tế chính trị của mỗi nước, lãi suất giữa đồng ngoại tệ và nội tệ….
1.2 Một số rủi ro tỷ giá hối đoái thường gặp
1.2.1 Rủi ro thị trường: khi thị trường xảy ra các biến động: Hoạt động ngoại hối mà đặc biệt
là tỷ giá luôn gắn liền và chịu ảnh hưởng của tình hình vĩ mô nền kinh tế, đặc biệt là tình hình biến
động lãi suất, xuất nhập khẩu, nhập siêu… những nhân tố này có tác động rất lớn đến sự biến động
của tỷ giá hối đoái.
1.2.2 Rủi ro chính sách: đặc biệt các chính sách tài chính và tiền tệ của quốc gia có tác động
rất lớn đến thị trường hối đoái và tỷ giá hối đoái
1.2.3 Rủi ro tâm lý: tâm lý của dân chúng cũng có tác động không nhỏ đến tỷ giá hối đoái, đặc
biệt là tâm lý số đông, các hoạt động cung cầu ngoại tệ trên thị trường bị chi phối bởi yếu tố tâm
lý, các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai
1.2.4 Rủi ro khác: thiên tai, lũ lụt,…ảnh hưởng đến đời sống và tác động đến lượng kiều hối,
… tạo ra những tác động lên tỷ giá hối đoái.
Chương 2: Thực trạng chính sách điều hành - quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái và các rủi ro tỷ
giá hối đoái tại các NHTM Việt Nam
2.1 Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng nhà nước qua các năm:
2.1.1 Các quy định về quản lý ngoại hối:
Được ban hành vào ngày 13/12/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/6/2006, Pháp lệnh Ngoại hối số
28/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội (“Pháp lệnh 28”) được ban hành
nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm lợi ích hợp pháp của các cá nhân tham gia hoạt động
ngoại hối, trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam.
Trong bài viết này, tôi xin giới thiệu các quy định của Việt nam về quản lý ngoại hối tại Việt nam
nói chung và quản lý ngoại hối đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói
riêng.
Phạm vi điều chỉnh: Pháp lệnh 28 điều chỉnh hoạt động ngoại hối giữa người cư trú và người
không cư trú tại Việt nam. Pháp lệnh 28 cũng phân biệt sự khác nhau giữa giao dịch “vãng lai” và
giao dịch “vốn”. Theo đó, giao dịch vãng lai là giao dịch giữa người cư trú với người không cư trú
(ngoại trừ việc chuyển vốn) và giao dịch vốn là các giao dịch chuyển vốn giữa người cư trú với
người không cư trú trong lĩnh vựa đầu tư trực tiếp, đầu tư vào các giấy tờ có giá, vay và trả nợ
nước ngoài và các hình thức khác theo quy định của Pháp luật Việt Nam
Theo Pháp lệnh 28, các giao dịch thanh toán và chuyển tiền được phép trong giao dịch quốc tế đã
được mở rộng và bao gồm:
a. Các khoản thanh toán liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và các giao dịch
vãng lai khác;
b. Các khoản thu nhập từ đầu tư trực tiếp và gián tiếp;
c. Các khoản chuyển tiền khi một công ty giảm vốn (một khi được thông qua);
d. Các khoản thanh toán tiền lãi và trả nợ dần nợ gốc của khoản vay nước ngoài (nếu khoản vay đã
đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (“SBV”);
e. Các khoản thanh toán một chiều cho mục đích tiêu dùng (có nghĩa là các giao dịch chuyển tiền
từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc ngược lại thông qua ngân hàng hoặc qia bưu điện mang tính
chất tài trợ, viện trợ hoặc giúp đỡ thân nhân gia đình hoặc sử dụng chi tiêu cá nhân không liên
quan đến việc thanh toán xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ);
f. Các giao dịch tương tự khác.
Người cư trú hoặc không cư trú được mua ngoại tệ tại ngân hàng được phép giao dịch vãng lai.
Người cư trú và người không cư trú được phép chuyển ngoại tệ khi có đủ chứng từ hợp lệ mà
không cần phải xin giấy phép. Các thủ tục cho việc xin phê duyệt trong một số giao dịch cụ thể đã
được đơn giản hóa rất nhiều.
Giao dịch vốn
Đầu Tư Nước Ngoài Vào Việt Nam
Liên quan đến giao dịch vốn, Pháp lệnh 28 quy định đầu tư gián tiếp là việc mua bán chứng khoán
và các giấy tờ có giá khác và góp vốn hoặc mua cổ phần dưới mọi hình thức theo quy định của
pháp luật Việt Nam được thực hiện bởi người không cư trú không tham gia vào quản lý công ty
mà người này hoặc công ty đã đầu tư. Vốn ngoại tệ vãng lai cho đầu tư gián tiếp phải được quy
đổi thành đồng Việt Nam và bất cứ lợi nhuận bằng đồng Việt Nam phải được quy đổi thành ngoại
tệ trước khi chuyển ra nước ngoài. Các giao dịch này phải được thực hiện thông qua tổ chức tín
dụng được phép.
Vay và Trả Nợ Vay Nước Ngoài
Pháp lệnh 28 quy định nguyên tắc đối với các khoản vay từ Việt Nam ra nước ngoài mặc dù các
giao dịch như vậy rất ít. Người vay được tự do cung cấp các khoản vay cho người vay ở nước
ngoài là các tổ chức tín dụng. Các tổ chức kinh tế khác để thực hiện các khoản vay cho tổ chức, cá
nhân vay nước ngoài không được phép thực hiện các khoản vay phải được sự chấp thuận của
Chính phủ. Tuy nhiên, Pháp lệnh 28 đã cho phép cá nhân Việt Nam vay nước ngoài.
Các khoản vay nước ngoài với thời hạn một năm trở lên phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam và báo cáo tình hình thực hiện khoản vay thường xuyên.
Giao Dịch Ngoại Tệ Vãng Lai
Pháp lệnh 28 không bỏ các hạn chế đối với giao dịch ngoại tệ vãng lai tại Việt Nam. Các giao dịch
ngoại tệ vãng lai chỉ được thực hiện thông qua ngân hàng được phép thực hiện giao dịch ngoại hối
vãng lai – giao dịch ngoại tệ vãng lai trực tiếp vẫn bị cấm (trừ khi được tiến hành giữa các nhân
nước ngoài tại Việt Nam với mục đích hợp pháp). Tất cả các biển hiệu về giá cả (như menu và
mẫu quảng cáo) phải dùng đồng Việt nam.
Về quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngoại hối, Pháp lệnh 28 trao cho Chính phủ quyền áp
dụng một số biện pháp như hạn chế việc mua, mang, chuyển, thanh toán đối với các giao dịch trên
tài khoản vãng lai, tài khoản vốn; áp dụng các quy định về nghĩa vụ bán ngoại tệ của người cư trú
là tổ chức; áp dụng các biện pháp kinh tế, tài chính, tiền tệ; và các biện pháp khác khi Chính phủ
xét thấy là cấn thiết để bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia.
Cá Nhân Mang Ngoại Tệ Khi Xuất Nhập Cảnh
Theo quy định tại Quyết định 921/2005/QĐ-NHNN ngày 27/6/2005 của Ngân hàng Nhà nước về
việc mang ngoại tệ bằng tiền mặt và đồng Việt nam bằng tiền mặt khi xuất nhập cảnh thì một cá
nhân khi xuất nhập cảnh được phép mang lượng tiền mặt tối đa 7.000 USD (hoặc các loại ngoại tệ
khác có giá trị tương đương) và 15.000.000 đồng Việt nam
MỘT SỐ QUY ĐỊNH RIÊNG VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA DOANH NGHIỆP CÓ
VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM (“FIEs”)
Mặc dù đã có hiệu lực kể từ ngày 1/6/2006, cho đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn nào quy
định riêng về việc quản lý ngoại hối của FIEs để thay thế Thông tư 04/2001/TT-NHNN ngày
18/5/2001 của Ngân hàng Nhà nước (“Thông tư 04”). Nói cách khác, việc quản lý ngoại hối của
FIEs hiện nay vẫn chịu sự điều chỉnh của Thông tư 04.
Phạm Vi Điều Chỉnh
Thông tư 04 điều chỉnh hoạt động ngoại hối của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh
nghiệp liên doanh với nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh. Hoạt
động ngoại hối bao gồm mở và sử dụng tài khoản tại ngân hàng trong và ngoài nước; chuyển đổi
ngoại tệ; chuyển vốn vào và ra khỏi Việt nam; chuyển lợi nhuận ra nước ngoài; tỷ giá và thông tin
báo cáo.
Mở & Sử Dụng Tài Khoản Ngân hàng
Mở và sử dụng tài khoản tiền gửi vốn chuyên dùng bằng ngoại tệ
Liên quan đến việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi vốn chuyên dùng bằng ngoại tệ, FIEs và bên
hợp doanh nước ngoài phải mở tài khoản tiền gửi vốn chuyên dùng bằng ngoại tệ tại một Ngân
hàng được phép kinh doanh ngoại hối (sau đây gọi là Ngân hàng được phép) để thực hiện các giao
dịch chuyển vốn của nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm:
a. Vốn pháp định hoặc vốn thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh của Nhà đầu tư nước ngoài
chuyển vào và ra khỏi Việt Nam;
b. Tiền gốc của các khoản vay nước ngoài trung và dài hạn chuyển vào và ra khỏi Việt Nam;
c. Lãi và phí của khoản vay nước ngoài trung và dài hạn chuyển ra khỏi Việt Nam để trả nợ nước
ngoài;
d. Lợi nhuận và các khoản thu nhập hợp pháp của Nhà đầu tư nước ngoài chuyển ra khỏi Việt
Nam;
e. Các khoản vốn rút ra để chuyển vào tài khoản tiền gửi ngoại tệ của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài hoặc bên nước ngoài hợp doanh;
f. Các khoản vốn gửi vào từ tài khoản tiền gửi ngoại tệ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài hoặc bên nước ngoài hợp doanh.
Mở và sử dụng tài khoản tiền gửi ngoại tệ
FIEs được mở và sử dụng tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại các Ngân hàng được phép để phục vụ cho
hoạt động của mình. Mọi khoản thu, chi bằng ngoại tệ của FIEs đều phải thực hiện thông qua các
tài khoản của mình mở ở Ngân hàng được phép.
Mở và sử dụng tài khoản tiền đồng Việt Nam
FIEs được mở tài khoản tiền gửi bằng đồng Việt Nam tại các ngân hàng được phép hoạt động tại
Việt nam theo quy định của pháp luậT hiện hành.
Mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài
FIEs được mở tài khoản tại các ngân hàng ở nước ngoài để thực hiện các khoản vay vốn trung và
dài hạn nước ngoài với điều kiện là các khoản vay này phải được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt.
Các dự án đầu tư thuộc đối tượng của Luật Dầu Khí được mở tài khoản ở nước ngoài theo quy
định của Luật Dầu Khí và chậm nhất, sau 15 ngày kể từ ngày mở tài khoản ở nước ngoài phải thực
hiện đăng ký tài khoản với Ngân hàng Nhà nước - Vụ Quản lý ngoại hối.
Chuyển Vốn Vào, Ra Khỏi Việt nam
Chuyển Vốn Vào Việt nam
FIEs phải góp vốn đầu tư theo đúng tiến độ được ghi trong Hợp đồng liên doanh, Điều lệ của
Doanh nghiệp hoặc Hợp đồng hợp tác kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. FIEs có
nguồn thu ngoại tệ từ các giao dịch vãng lai ở nước ngoài phải chuyển về nước vào tài khoản tiền
gửi ngoại tệ của mình mở tại các Ngân hàng được phép.
Chuyển Vốn Ra Khỏi Việt nam
Nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các khoản sau đây sau khi đã hoàn thành nghĩa
vụ tài chính với Nhà nước Việt Nam:
a. Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh, khoản thu được chia, thu nhập do cung ứng dịch
vụ và chuyển giao công nghệ, các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của
mình
b. Vốn pháp định, vốn tái đầu tư, vốn thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh và tài sản thuộc sở
hữu hợp pháp khi chấm dứt hoạt động hoặc giải thể công ty;
c. Ngoại tệ để trả nợ nước ngoài, bao gồm gốc, lãi, phí.
Nghĩa vụ Báo cáo
Hàng năm, chậm nhất vào ngày 15/1 (đối với báo cáo năm) và 15/7 (đối với báo cáo 6 tháng đầu
năm), FIEs phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Vụ Quản lý ngoại hối) và Chi nhánh ngân hàng
Nhà nước tỉnh, thành phố trên địa bàn về tình hình thực hiện vốn đầu tư.
Đối với FIEs được phép mở tài khoản ở nước ngoài thì phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Vụ
Quản lý ngoại hối) tình hình sử dụng của các tài khoản được phép mở ở nước ngoài một năm hai
lần vào thời hạn nêu trên.
Chuyển Lợi Nhuận Ra Nước Ngoài
Kể từ ngày 1/1/2004, ngày Luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp năm 2003 có hiệu lực, quy định về
thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đã bị bãi bỏ. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài, sau khi đã hoàn
thành nghĩa vụ thuế với Nhà nước Việt nam, khi chuyển lợi nhuận về nước không phải nộp thuế.
* Tóm lại, quản lý ngoại hối là một nhiệm vụ quan trọng của NHNN, chính sách quản lý
ngoại hối hiệu quả sẽ góp phần đáng kể trong cân bằng cán cân thanh toán, kiểm soát sức
mua của đồng tiền, kiềm chế lạm phát , tận dụng nguồn vốn trong nước, thu hút vốn đầu tư
nước ngoài ,mặc khác gíup cho các ngân hàng thương mại hạn chế được các rủi ro về tỷ giá
hối đoái tạo điều kiện ổn định và phát triển nền kinh tế.
- Cùng với sự biến động của nền kinh tế, chính sách quản lý ngoại hối ở nước ta được đổi mới triệt
để về tư duy lẫn điều hành qua các giai đoạn lịch sử. Chính sách nới lỏng quản lý ngoại hối dần
dần thay thế cho chính sách độc quyền kiểm soát và kinh doanh ngoại hối Nhà nước. Cơ chế điều
hành tỷ giá cũng đượcthay đổi căn bản từ chế độ tỷ giá cố định sang chế độ tỷ giá thả nổi có kiểm
soát. Các công cụ quản lý ngoại hối được sủ dụng tương đối có hiệu quả.
2.1.2 Quy định niêm yết tỷ giá và biên độ tỷ giá:
− Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ xác định và công bố tỷ giá hối đoái. Ví như Việt nam áp
dụng phương pháp công bố trực tiếp: lấy ngoại tệ làm đơn vị để so sánh với tiền trong nước,
ngoại tệ được chọn là USD. Tỷ giá giữa VND với các ngoại tệ khác được xác định theo
phương pháp tính chéo.
− NHNN công bố tỷ giá USD/VND dựa trên cơ sở quan hệ cung-cầu về ngoại tệ theo mục tiêu
phù hợp với chính sách tiền tệ.
− NHNN công bố tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và công bố biên độ
dao động để các Ngân hàng thương mại (NHTM), các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh
ngoại tệ xác định tỷ giá mua, tỷ giá sức ngoại tệ.
Tỷ giá mua(thấp nhất) = Tỷ giá bình quân*(1 – biên độ quy định)
Tỷ giá bán (cao nhất) = Tỷ giá bình quân*(1 + biên độ quy định)
− Biên độ do NHNN công bố từng thời kỳ.
− Ngoài việc công bố tỷ giá và biên độ dao động thì NHNN còn quy định ‘giới hạn trạng thái
ngoại hối’ và bắt buộc các NHTM, các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ phải
báo cáo định kỳ trạng thái ngoại hối của mình.
Trạng thái ngoại hối = Tài sản có ngoại tệ - Tài sản nợ ngoại tệ
Trong đó:
Tài sản có ngoại tệ: tiền mặt ngoại tệ, tiền gửi ngoại tệ tại NHNN, cho vay ngoại tệ, tài sản có
ngoại tệ khác
Tài sản nợ ngoại tệ: vốn huy động bằng ngoại tệ, vốn vay bằng ngoại tệ, tài sản nợ ngoại tệ
khác
 Nếu A>B gọi là trạng thái ngoại hối dương, nếu A<B gọi là trạng thái ngoại tệ âm.
 Gíơi hạn trạng thái ngoại hối chính là ‘giới hạn cao nhất’ của trạng thái ngoại hối dương so
với vốn tự có hoặc của trạng thái ngoại hối âm so với vốn tự có.
 Giới hạn trạng thái ngoại hối => Tỷ lệ quy định
 Hiện nay ở Việt nam là giới hạn không quá 30% đối với tổng trạng thái dương hoặc âm
cao nhất với tất cả các loại ngoại tệ và không quá 15% đối với trạng thái là USD.
− Trạng thái ngoại hối được NHNN quy định nhằm tránh trường hợp các NHTM hoặc các tổ
chức tín dụng đầu cơ hoặc bán tháo ngoại tệ. Tuy nhiên trạng thái ngoại hối không được quy
định cho các tổ chức tài chính phi ngân hàng (bảo hiểm, công ty tài chính ) nên tình trạng đầu
cơ hoặc bán tháo trên thị trường vẫn xảy ra.
2.1.3 Ưu điểm và khuyết điểm của chính sách tỷ giá hối đoái và tác động đến các NHTM Việt
Nam từng thời kỳ:
a. Giai đoạn trước 1996:
− Lạm phát xuất hiện từ nhiều năm nhưng năm 1986 là năm có tỷ lệ lạm phát cao nhất (775%),
nền kinh tế bước vào thời kỳ lạm phát dữ dội với tỉ lệ tăng 3 chữ số kéo dài trong 2 năm tiếp
theo. Tuy nhiên đến cuối năm 1988 nhiều biện pháp về tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát mới
được đưa ra. Lần đầu tiên NHNN mạnh tay nới lỏng tỷ giá VND/USD vào cuối 1988 và tiếp
tục cơ chế linh hoạt đến năm 1991, trước khi bước vào giai đoạn đóng băng tỷ giá từ năm
1992.
− Từ năm 1989-1992: NHNN đã bắt đầu thả nổi tỷ giá, mối quan hệ cung cầu được quan tâm
hơn. Tuy nhiên việc thả nổi tỷ giá đã tác động đến nền kinh tế như sau:
 Kích thích tâm lý nắm giữ USD để đầu cơ ăn chênh lệch gía;
 Tỷ giá thường xuyên thay đổi và tình trạng thiếu ngoại tệ đã gây mất ổn định nền kinh tế;
 Nhà nước không kiểm soát được việc lưu thông tiền tệ.
− Từ năm 1992-1993: chính sách đã có những điều chỉnh cải cách như: Quy định biên độ dao
động của tỷ giá so với tỷ giá chính thức được công bố hàng ngày bởi Ngân hàng nhà nước,
buộc các đơn vị kinh tế có ngoại tệ phải bán cho ngân hàng theo tỷ giá ấn định, bãi bỏ hoàn
toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại thương giữa ngân sách với
các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động ngoại thương.
− Chính sự thay đổi này mà nạn đầu cơ ngoại tệ về cơ bản đã được giải tỏa, tình hình cung-cầu
ngoại tệ đã được cải thiện. NHTW còn khuyến khích tích lũy giá trị dưới dạng nội tệ hơn là
ngoại tệ, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút lượng ngoại tệ lớn từ kiều hối, ổn định giá trị
đồng Việt nam và tỷ lệ lạm phát duy trì ở mức chấp nhận được.
− Từ năm 1993 trở đi: giá USD trên thị trường thế giới biến động mạnh, tình trạng nhập siêu ở
Việt Nam tăng, thâm hụt trong ngoại thương, nợ nước ngoài tăng, dự trữ ngoại tệ tăng chậm,
nguy cơ khủng hoảng nợ nước ngoài…cơ chế tỷ giá cố định trong 1 thời gian dài không kích
thích được xuất khẩu làm thương mại kém phát triển dẫn đến không thể thực hiện được mục
tiêu cân bằng ngoại tệ.
− Năm 1994: NHNN cho phép thị trường liên ngân hàng ra đời, có quy mô lớn hơn và mang tính
thị trường khách quan, linh hoạt hơn, tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành của NHNN càng sát
thực tế hơn, NHNN có thể nắm bắt được diễn biến của nền kinh tế và kịp thời điều tiết tỷ giá
hối đoái. NHNN bắt đầu công bố tỷ giá chính thức với ngoại tệ với VND với tỷ giá mua bán
trên thị trường chỉ dao động vói biên độ cho phép là +_5% so với tỷ gía chính thức (Quyết
định số 245/QĐ-NH7 ngày 1/10/1994). Đồng thời khuyến khích các ngân hàng tham gia tích
cực hơn trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, cho phép các ngân hàng được điều chỉnh tỷ
giá hối đoái linh hoạt hơn. Năm 1996 thì mức biên độ giao động được nâng lên +_1%. Nhờ
chế độ tỷ giá cố định có điều chỉnh đã phát huy nhiều mặt tích cực góp phần ổn định nền kinh
tế.
b. Giai đoạn 1997-2006:
− Năm 1997 là năm khủng hoảng tài chính ở các nước khu vực Đông Nam Á bùng nổ và tăng
nhanh, các nước trong khu vực hầu như phá giá đồng nội tệ của mình, dẫn đến khan hiếm
ngoại tệ. Nhu cầu ngoại tệ để thanh toán LC trả chậm và trả nợ vay nước ngoài của các ngân
hàng càng làm thị truờng ngoại tệ căng thẳng hơn trong khi cán cân vãng lai đã bội chi đến
mức báo động. Chính vì vậy, để giảm tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế
Việt Nam, cân bằng cung-cầu trên thị trường và giảm áp lực căng thẳng ngoại tệ, NHNN đã
điều chỉnh chính sách tỷ giá và cho phá giá đồng VND, mở rộng biên độ giao dịch từ +_1%
lên +_5% và sau đó là +_10% làm cho tỷ giá thị trường tăng mạnh, tuy nhiên giá cả trên thị
trường không có biến động đáng kể. Tuy nhiên điều này buộc các NHTM phải giao dịch ở
mức tối đa (sát trần) mà vẫn thấp hơn 10% so với thực tế. Điều này sẽ rất nguy hiểm và nhận
thấy kinh nghiệm từ Thái Lan và việc cần thiết phải phá giá đồng VND.
− Năm 1998: NHNN giảm biên độ giao dịch còn +_7%, tỷ giá chính thức điều chỉnh từ 11.815
lên 12.298, tức VND giảm giá 4.1%, dù biên độ được điều chỉnh giảm nhưng tỷ giá chính
thức tăng nên thực chất VND bị phá giá. Tỷ giá chính thức này được ấn định trên cơ sở tỷ giá
mua bán trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nên tỷ giá này sẽ phản ánh tốt hơn quan hệ
cung cầu trên thị trường, các giao dịch sôi động hơn, nhiều doanh nghiệp, ngân hàng chủ động
hơn, cân đối cung cầu ngoại tệ, bước đầu giải toả tâm lý đầu cơ ngoại tệ. Ngày 12/09/1998 với
quyết định 173/QĐ-TTg của chính phủ đã giúp cho doanh số mua bán ngoại tệ tăng, cung cầu
ngoại tệ được cải thiện, tỷ giá giao dịch củ thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được duy trì
trong biên độ quy định, khoảng cách chênh lệch về tỷ giá giữa thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng và thị trường tự do được giảm thiểu khá thấp. Tuy nhiên việc điều chỉnh tỷ giá cũng co
tác động tiêu cực đến nền kinh tế bởi vì VND giảm giá làm tăng thêm gánh nặng nợ nước
ngoài của cả chính phủ và doanh nghiệp có vốn vay nước ngoài, giảm đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
− Thực tế, việc thay đổi tỷ giá có tác động nhất định đối với nền kinh tế, nếu không cân nhắc kỹ
sẽ dẫn đến những biến động bất thường trên thị trường. Do đó việc thay đổi các xác định tỷ giá
là rất cần thiết.
− Năm 1999-2006: Đông Nam Á đã bước ra cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ, chính sách tỷ
giá Việt nam đã có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế giai đoạn sau khủng hoảng
trên cơ sỏ học hỏi kinh nghiệm của các nước trong khu vực:
− Bỏ hình thức công bố tỷ giá trước đây, tỷ giá công bố hàng ngày là tỷ giá giao dịch bình quân
liên ngân hàng, NHTM được phép giao dịch trong biên độ giao dịch của NHNN (đầu tiên là
+_0.1% sau đó là +_0.25%). Tỷ giá này được NHNN lấy bình quân giữa các ngân hàng và cho
công bố là tỷ giá chính thức của ngày hôm sau. Đây là việc chuyển từ cơ chế tỷ giá cố định
sang tỷ giá thả nổi có đìeu tiết.
Ưu điểm:
− Tạo quyền chủ động cho các NHTM trong vệc tự quy định tỷ giá của VND so với các ngọai tệ
khác.
− Gỉai quyết tâm lý hoang mang dao động khi đìeu chỉnh tỷ giá, lòng tin vào đồng tiền ít bị lung
lay, giảm tình trạng đầu cơ ngoại tệ.
− Các DN chủ động hơn trong kinh doanh mà vẫn đảm bảo sự kiểm soát của nhà nước, giải
quyết vần đề thíêu ngoại tệ của các DN.
− Khơi thông thị trường ngọai tê.
− Tỷ giá mềm dẻo, linh hoạt hơn và phù hợp với thông lệ quốc tế giúp nước ta dễ hòa nhập với
nền kinh tế quốc tế hơn.
Nhược điểm:
− Việc lấy tỷ giá của ngày hôm trước cho dao động trong biên độ cho phép để làm tỷ giá giao
dịch của ngày hôm sau không mang ý nghĩa kinh tế. Vì tỷ giá của ngày hôm trước không có ý
nghĩa trong ngày hôm nay.
− Tỷ giá được công bố sẽ có giá trị trong một ngày sẽ bất lực khi thị trường có bíên động mạnh
về quan hệ cung cầu.
− Nền kinh tế yếu, tâm lý chờ phá giá VND luôn thường trực, khiến tỷ giá thực tế ở thị trường
liên ngân hàng luôn ở xu hướng tăng thêm với mức độ cho phép là 0,1%. Để tránh xu hướng
này NHNN luôn phải thường xuyên dùng ngoại tệ can thiệp vào thị trường mà dự trữ ngoại tệ
thì rất hạn chế. Tuy nhiên việc thay đổi cách xác định tỷ giá như trên tuy là sự thay đổi về cơ
chế quản lý, điều hành tỷ giá cho phù hợp nhưng vẫn chưa đủ giải quyết bất hợp lý của cơ chế
điều hành tỷ giá đã có từ trước.
c. Giai đoạn 2007-nay:
− Năm 2007: Việt Nam gia nhập trở thành thành viên chính thức của WTO, mang tới những cơ
hội và thách thức mới cho Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế: thị trường xuất khẩu mở
rộng, các rào cản thương mại được dỡ bỏ hoặc hạn chế, lượng vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp
gia tăng, vốn ODA, kiều hối cũng tăng cao. Tuy nhiên năm 2007 cũng là ảm đạm của nền kinh
tế Mỹ khi đồng USD xuống giá nghiêm trọng, sự suy thoái của nền kinh tế lớn nhất thế giới
này đã ảnh hưởng tới nhiều nền kinh tế khác, trong đó có Viêt nam, đặc biệt là thực trạng tỷ
giá đã có nhiều diễn biến phức tạp hơn so với thời gian trước. Đối mặt với sự thay đổi của nền
kinh tế, NHTW đã có những biện phán can thiệp vào chính sách tỷ giá: như thực hiện chính
sách tỷ giá linh hoạt, nới rộng biên độ tỷ giá từ +-0.25% lên +-1.75%, tỷ giá tháng 1 là
1USD=16.080VND và cuối năm ở mức 1 USD=16.164VND. Việc nới rộng biên độ tỷ giá
cũng làm cho các ngân hàng và nhà đầu tư có sự chủ động và linh hoạt hơn trong tính toán
hiệu quả đầu tư, làm cho tỷ giá sát với điều kiện thị trường hơn, hổ trợ cho các DN xuất khẩu
và hạn chế các DN nhập khẩu.
Tuy nhiên, do nền kinh tế toàn cầu chịu nhiều ảnh hưởng bởi những biến động về tỷ giá
hàng hoá, dấu hiệu suy thoái kinh tế Hoa Kỳ, đồng USD mất giá nhanh so với các ngoại tệ
khác đã tác động không tốt và lan tỏa tới nhiều nền kinh tế.
− Năm 2008: là năm tăng trưởng kinh tế toàn cầu sụt giảm đáng kể, nền kinh tế phát triển đều
rơi vào suy thoái. Tình hình tỷ giá Việt Nam có những biến động nóng-lạnh với cường độ
mạnh mẽ qua các giai đoạn:
 Giai đoạn 1(1/1/2008-25/3/2008): Tỷ giá VND/USD giảm chỉ còn 15.400VND/USD, lạm
phát tăng 12.63%. NHTW đã gấp rút thực hiện một loạt các biện pháp như: điều chỉnh lãi
suất cơ bản, lãi suất chiết khấu tăng, phát hành tín phiếu bằng VND, thực hiện dưới hình
thức bắt buộc đối với các NHTM, đồng thời không thực hiện mua USD vô nhằm hạn chế
bơm tiền vào lưu thông.
 Giai đoạn 2(26/3/2008-16/7/2008): Tỷ giá tăng tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt USD trên cả
thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do gây nhiều tiêu cực: lạm phát cao, người dân
muốn giũ tiền hơn là gửi tiết kiệm, nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi Việt Nam khi lo
ngại tình hình kinh tếViệt Nam và tình hình thanh khoản yếu trên thi trường thế giới đẩy
nhu cầu đẩy USD về nước lên cao dẫn đến việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN trở nên phức
tạp hơn, và sau đó NHHN đã nới rộng biên độ dao động lên 2%.
 Giai đoạn 3(17/7/2008-15/10/2008): Tỷ giá giảm mạnh và đi vào bình ổn. Giai đoạn này,
NHNN thực hiện kiểm soát chặt chẽ các đại lý thu đổi ngoại tệ (cấm mua bán ngoại tệ trên
thị trường tự do không đăng ký với các NHTM), cấm mua bán USD thông qua ngoại tệ
khác để lách biên độ…
 Giai đoạn 4(16/10/2008-30/12/2008): Tỷ giá USD tăng trở lại do tác động của cuộc khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu làm xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng, ảnh
hưởng tới việc tiêu thụ sản phẩm trong nước làm nền kinh tế suy giảm. Và cuối năm,
NHNN đã bán hơn 1 tỷ USD cho các NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu nhập khẩu một số mặt
hàng thiết yếu.
 Nhìn chung chính sách tỷ giá của Việt Nam trong năm 2008 khá hợp lý và kịp thời. Trong năm
2008 có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam sẽ phá giá nội tệ và kịch bản khủng hoảng kinh tế
1997-1998 Thái Lan sẽ gặp lại ở Việt Nam. Tuy nhiên kết thúc năm 2008 Việt Nam vẫn kiểm
soát được tỷ giá không quá cao và không biến động nhiều NHNN đã điều chỉnh tỷ giá bình
quân trên thị trường ngạoi tệ liên ngân hàng ngày 25/12/2008 là 16.989 VND/USD, không cao
như dự báo trước đó.
Tuy nhiên chính sách giảm giá VND cũng không tránh khỏi một số rủi ro nhất định:
 Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã vay USD từ các ngân hàng trong và ngoài nước, gánh
nặng tỷ giá lên khoản nợ tăng lên, rủi ro không trả được nợ và ngân hàng phải chịu thêm
các khoản nợ xấu.
 Gía nội tệ giảm làm hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn, mà trong khi có nhiều sản phẩm trong
nước không thể sản xuất do đó phải nhập khẩu, kết quả là nền kinh tế nhập khẩu lạm phát
từ bên ngoài khi VND giảm giá.
 Khi tỷ giá tăng quá mức, người dân trong nước và các nhà đầu tư mất niềm tin vào khả
năng quản lý cung tiền của cơ quan điều hành chính sách tiền tệ. Khi đó người dân và
doanh nghiệp sẽ đua nhau mua ngoại tệ khi đồng nội tệ bị mất giá và họ có thể chấp nhận
mua vói bất kỳ giá nào miễn là mua được ngoại tệ.
− Năm 2009: Nền kinh tế thế giới vẫn trong thời kỳ suy thoái mạnh đã tác động đến cung cầu
ngoại tệ ở Việt Nam. Tỷ giá tăng mạnh, số lượng kiều hối, vốn FDI, FPI vào Việt Nam giảm
mạnh, điều này làm giảm cung ngoại tệ trên thị trường. Chính sách kích cầu của Chính phủ
cùng với đi kèm nới lỏng chính sách tiền tệ, cùng với việc nới rộng biên độ tỷ giá lên +- 5%
đã làm tăng tỷ giá suốt năm 2009, yếu tố tâm lý kỳ vọng bắt đầu xuất hiện: lo sợ lạm phát tăng
cao từ việc kích thích kinh tế tăng trưởng và sự mất giá VND trong thời gian tới dẫn đến tình
trạng găm giữ USD làm căng thẳng thêm cung cầu ngoại tệ.
 Tháng 11/2009: cùng với quyết định tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% của NHNN, tỷ giá
liên ngân hàng được nới rộng lên 5,5%, đồng thời thu hẹp biên độ tỷ giá mới cho ngiao
dịch mua bán giao ngay còn +_3%. Chính sự điều chỉnh này đã kéo tỷ giá thị trường chính
thức gần hơn với thị trường tự do làm giảm các giao dịch ngoài luồng, giải tỏa bớt các yếu
tố kỳ vọng , giảm bớt tình trạng đô la hoá trong nền kinh tế, đưa tỷ giá USD/VND bám sát
động thái của tỷ giá chung trên thế giới.
 Nhìn chung thực trạng điều hành chính sách tỷ giá năm 2009 khá ổn định, đảm bảo sự ổn định
củ thị trường ngoại hối, tuy nhiên vẫn còn một số bất cập nhất định:
 Điều chỉnh tỷ giá cũng làm xói mòn niềm tin vào chính sách vì trước đó NHNN tuyên
bố rằng không nhất thiết phải phá giá đồng tiền,trong khi thực chất tỷ giá USD/VND
tăng 9,08% so với cùng kỳ năm 2008.
 Sự bất nhất trong điều chỉnh chính sách, sự thiếu minh bạch thông tin tạo ra kỳ vọng
méo mó, tạo cơ hội cho đầu cơ nắm giữ ngoại tệ làm cho tình hình thêm căng thẳng.
 Bên cạnh, vẫn thiếu những công cụ phòng ngừa rủi ro dẫn đến quản lý thị trường ngoại
hối có những hạn chế nhất định trong việc chuyển đổ tiền tệ.
 Hạ giá đồng nội tệ cũng làm chi phí vốn của các doanh nghiệp vay vốn tăng cao, về
tổng thể nợ nước ngoài cũng sẽ bị ảnh hưởng.
− Năm 2010: Tỷ giá giảm nhẹ nguyên nhân do nguồn cung ngoai tệ USD, các vốn đầu tư nước
ngoài tăng do đầu tư vào thị trường chứng khoán, kiều hối và nguồn thu từ khách quốc tế đến
Việt Nam gia tăng trở lại, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng dương. NHNN đã có 2 đợt điều
chỉnh tỷ giá, USD đã tăng 5,46% so với VND trong khi ngưỡng an toàn là 6%(là mức chênh
lệch lãi suất USD và VND), biên độ tỷ giá là +-3%, tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ
17.941VND/USD lên 18.932 VND/USD. Điều chỉnh tỷ giá lần này mang lại một số kết quả
như sau:
 Tác động của điều chỉnh tỷ giá làm sự gia tăng lạm phát được giảm thiểu.
 Thu hẹp chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do, giúp cải thiện dự
trữ ngoại hối của Việt Nam
 Gíup các DN hạch toán kinh doanh, tránh phải hợp lý hoá các khoản mua USD trên thị
trường tự do cao hơn giá chính thức.
 Ngoài ra cũng giúp các ngân hàng cải thiện nguồn vốn ngoại tê, hạn chế xu hướng chênh
lệch cao giữa mức tăng huy động và cho vay tín dụng bằng ngoại tệ và từ đó cải thiện tính
thanh khoản ngoại tệ khi mà lãi suất huy động USD của các ngân hàng đua nhau tăng nhẹ.
 Tuy nhiên , điều chỉnh tỷ giá lần này cũng đem lại những thách thức mới khi các khoản nợ
USD hiện nay đã đến hạn, áp lực nảy sinh và rủi ro không chỉ đối với các doanh nghiệp
không có nguồn thu ngoại tệ mà còn gây trở ngại đối với cả mục tiêu ổn định vĩ mô của
chính phủ.
Tóm lại: Tỷ giá liên ngân hàng và quy định về biên độ giao động hiện nay theo lý thuyết là một
công cụ để ngân hàng nhà nước kiểm soát tỷ giá mua vào bán ra của các ngân hàng. Nhưng trên
thực tế thì không phải điều này luôn luôn chính xác. Sự tác động của thị trường, tình hình thế
giới, tâm lý của người mua bán ngoại tệ đã gây ra nhiều rủi ro, phần nào tác động đến doanh
nghiệp và các ngân hàng thương mại.
2.2. Thực trạng các rủi ro tỷ giá hối đoái thường gặp
2.2.1 Rủi ro về tình hình thị trường xuất nhập khẩu: Một nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hoá
và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ. Để tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán
ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hoá dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài. Trên thị trường
cung ngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hoá dịch vụ, các
nhà nhập khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường. Hành
động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tác động của hai hiện tượng trên là ngược
chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc
vào mức độ tác động mạnh yếu của các nhân tố, đó chính là cán cân thương mại. Nếu một nước có
thặng dư thương mại, cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên
giá. Khi thâm hụt thương mại, tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá.
Việt Nam là nước " tới que tăm cũng phải nhập ", Năm 2009, cán cân tổng thể thâm hụt tới 8,8 tỷ
USD. Năm 2010, có cải thiện nhưng vẫn thâm hụt hơn 4 tỷ USD. Mức nhập siêu của Việt Nam
trong hai tháng đầu năm nay lên đến 1 tỉ 830 triệu đôla. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, ước tính kim ngạch nhập khẩu trong cả nước từ đầu năm đến nay là trên 14 tỉ đôla, tăng hơn
28% so với cùng thời gian này năm ngoái.Các ngân hàng đang chờ các doanh nghiệp xuất khẩu
thu được ngoại tệ sẽ bán lại cho ngân hàng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp lại không bán. Hiện
nay nguồn ngoại tệ ngân hàng có thể đáp ứng cho doanh nghiệp và các nhu cầu chính đáng khác
về ngoại tệ là không đủ. Năm 2010, chúng ta còn 16 tỷ USD dự trữ ngoại tệ, tính đến thời điểm
hiện nay, chỉ còn khoảng 10 tỷ USD.
Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), ngưỡng an toàn nhất là có đủ khả năng nhập khẩu khoảng 4
tuần, tuy nhiên, dự trữ của chúng ta chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu trong 2 tuần.
Nhập siêu lớn, bội chi ngân sách lớn, lạm phát còn tiếp diễn… chắc chắn tình hình tỷ giá sẽ tiếp
tục diễn biến như hiện nay.
Ngày 1/1/1994, Trung Quốc tuyên bố phá giá đồng Nhân dân tệ tới 50%. Thế giới xáo động
nhưng Trung Quốc đứng vững. Những năm sau đó, cán cân thương mại của nước này cải thiện
và xuất siêu.
Trung Quốc làm được điều đó vì họ có sự chuẩn bị chu đáo cả một quá trình trước đó. Còn Việt
Nam, hiện nay cần phải xây dựng một chiến lược từ gốc.
2.2.2 Nhu cầu đầu tư ra nước ngoài: cư dân trong nước dùng tiền mua tài sản ở nước ngoài, có
thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng nhà máy, thành lập các doang nghiệp ) hay đầu tư gián tiếp
(mua cổ phiếu, trái phiếu ). Những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt động kinh doanh trên
cần phải có ngoại tệ. Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài, tỷ
giá hối đoái sẽ tăng. Ngược lại một nước nhận đầu tư từ nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ chảy vào
trong nước, làm cho cung ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm. Đầu tư ra nước ngoài ròng là hiệu
số giữa luồng vốn chảy ra và luồng vốn chảy vào một nước. Khi đầu tư ra nước ngoài ròng
dương, luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài,tỷ giá hối đoái
tăng. Tỷ giá hối đoái sẽ giảm trong trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm. Theo
quy luật tối ưu hoá, luồng vốn sẽ chảy đến nơi nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất.
Một nền kinh tế sẽ thu hút được các luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi trường đầu tư
thuận lợi, nền chính trị ổn định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn lao động dồi dào có tay
nghề, thị trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và sự thông thoáng trong chính sách thu hút đầu tư
nước ngoài của Chính phủ.
2.2.3 Lạm phát: Khi một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không
đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nứơc ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ
nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nứơc. Theo quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ
chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá
hối đoái tăng. Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn. Hoạt
động xuất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng. Như vậy lạm
phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp làm
cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trưòng tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá,
người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ
giá hối đoái tăng. Trong trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ
thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn,
đồng nội tệ quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối đoái tăng.
2.2.4 Tâm lý số đông: Người dân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các tổ chức kinh doanh
ngoại tệ là các tác nhân trực tiếp giao dịch trên thị trường ngoại hối. Hoạt động mua bán của họ
tạo nên cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Các hoạt động đó lại bị chi phối bởi yếu tố tâm lý, các
tin đồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai. Điều này giải thích tại sao, giá ngoại tệ hiện tại lại
phản ánh các kỳ vọng của dân chúng trong tương lai. Nếu mọi ngưòi kỳ vọng rằng tỷ giá hối
đoái sẽ tăng trong tương lai, mọi người đổ xô đi mua ngoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện
tại; Mặt khác, giá ngoại tệ rất nhậy cảm với thông tin cũng như các chính sách của chính phủ.
Nếu có tin đồn rằng Chính phủ sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để giảm thâm hụt thương
mại, mọi người sẽ đồng loạt bán ngoại tệ và tỷ giá hối đoái sẽ giảm nhanh chóng.
Tâm lý e ngại những yếu tố tiềm ẩn về lạm phát, nên người dân tích trữ vàng, USD và bất động
sản. Trong khi thị trường bất động sản đang đóng băng ở giá rất cao, giá vàng cũng ở mức cao và
có độ rủi ro lớn, nên việc người dân chọn USD là điều dễ hiểu. Ngay trước Tết Nguyên đán,
người ta đã tiên đoán được sẽ điều chỉnh tỷ giá nên tìm mua USD. Rất nhiều người dân rút tiền
mua USD, chính vì thế cầu về USD lớn.Trong bối cảnh hiện nay, những người có tiền với tâm lý
cho rằng, đang có sự mất giá của đồng Việt Nam nên họ sẽ tìm cách trú ẩn vào ngoại tệ, vàng và
các loại tài sản khác. Trong khi bất động sản đang có xu hướng đóng băng, việc người ta tìm
kiếm USD và vàng là điều dễ hiểu để đảm bảo giá trị tài sản của họ.Thêm một nguyên nhân quan
trọng tác động tới đà tăng nóng của giá USD vừa qua là việc gom USD để nhập lậu vàng. Dù
mới đây, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép một số doanh nghiệp và ngân hàng được phép nhập
khẩu vàng trở lại, tuy nhiên giá vàng trong nước vẫn không kéo sát được với giá thế giới. Chênh
lệch giá vàng bán ra trong nước vài ngày nay vẫn cao hơn giá thế giới khoảng 800.000 đồng mỗi
lượng, thậm chí có thời điểm mức chênh lệch lê tới hơn một triệu đồng. Điều này đã khiến một
số tổ chức, cá nhân sốt sắng gom USD để nhập lậu vàng về bán ra trong nước.
Từ năm 2008 đến nay, VND đã trải qua những giai đoạn biến động đảo chiều. Lượng kiều hối và
vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) dồi dào và mức giải ngân tương đối cao của vốn đầu tư
trực tiếp (FDI) trong quý I/2008 khiến các NH dư thừa tạm thời USD, 1USD Mỹ trên thị trường
tự do khoảng giữa tháng 3.2008 xuống mức rất thấp, tương đương 15.500 đồng/USD. Thời điểm
này, DN có ngoại tệ, đặc biệt là DN XK khốn khổ vì không bán được ngoại tệ cho NH. Đối với
khách hàng cá nhân thì NH rất hạn chế mua, nếu có chỉ từ 100-300USD, một số NH thì từ chối
mua của khách hang vãng lai.Tuy nhiên, từ cuối tháng 3.2008 đến nay, giá USD trên thị trường
tự do hầu như luôn cao hơn tỉ giá bình quân liên ngân hàng (LNH) do Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) công bố. Đặc biệt vào một số thời điểm (tháng 5, 6, 11.2008) thị trường khá khan hiếm
USD khi nhu cầu ngoại tệ của các DN tăng và áp lực rút vốn của của một số quỹ đầu tư nước
ngoài. Tỉ giá VND/USD trên thị trường tự do có thời điểm lên mức 19.400 đồng (tính ra VND
mất giá đến 21% so USD). Thời điểm này, dư luận có tổ chức đã mua kì hạn lên
24000đồng/USD. Từ đầu tháng 1.2009 đến nay tuy không biến động mạnh, nhưng giá USD trên
thị trường tự do trong xu hướng tăng. Tuần qua, giá USD xoay quanh mức 17.600 đồng - 17.700
đồng và có thời điểm lên đến mức 17.800 đồng, có lúc lên đến 18.000đ, Cao hơn tỉ giá niêm yết
của các ngân hàng thương mại khoảng 220 -315đ/USD.
Chiều 22.2, giá bán USD trên thị trường tự do ở mức 17.700 đồng. Cùng với vàng, hiện nay
USD đang là một kênh đầu tư thu hút sự quan tâm của các tổ chức tài chính và các NĐT. Nhiều
người dân chuyển từ VND sang cất giữ USD. Thị trường chính thức hiện nay vẫn có sự can thiệp
của Nhà nước nên nhiều khả năng chưa hẳn đã phản ánh đúng cung - cầu. Thị trường tự do tuy
chiếm khối lượng giao dịch ít hơn nhiều so với thị trường chính thức, nhưng cũng là một thước
đo cung cầu khá khách quan. Vì vậy, không nên bỏ qua tín hiệu này và cũng không nên luôn
quy kết là do tâm lý đầu cơ. Vì theo kinh nghiệm quốc tế, kỳ vọng của các tổ chức và dân cư có
những lúc đã làm vô hiệu chính sách tỉ giá của các quốc gia.Sự kì vọng của ngân hang thương
mại. USD đang được kỳ vọng là sẽ tăng giá trong thời gian tới, tuy một vài thông tin chính thức
được công bố là sẽ ổn định tỉ giá trong năm 2009. Tuy nhiên, bối cảnh và thực trạng nền kinh tế,
đặc biệt tình hình XNK của VN trong năm 2009 nhiều khả năng sẽ khó khăn hơn năm 2008 thì
làm được điều này không dễ. Tăng trưởng của các nền kinh tế chủ chốt đang vẫn dấu hiệu xấu đi.
Kinh tế VN là nền kinh tế mở với XK chiếm trên 70%/GDP chắc chắn tiếp tục bị ảnh hưởng vì
các thị trường XK truyền thống thu hẹp và gia tăng cạnh tranh. Nguồn thu ngoại tệ được trông
mong nhất là XK sẽ bị ảnh hưởng. Hiện tượng tỉ giá mua/bán USD (luôn bằng nhau) của các
NHTM lâu nay cho thấy các NH đang cần ngoại tệ. Kinh nghiệm đối phó với biến động ngoại tệ
năm 2008 đã khiến hầu hết các NH luôn quan tâm đặc biệt đối với các DN XK. Đặc biệt là
khuyến khích các khoản tài trợ vốn lưu động, cho khách hàng có thị trường ít bị ảnh hưởng do
tác động của khủng hoảng tài chính thế giới. Ưu tiên tài trợ XK trước khi giao hàng và chiết
khấu bộ chứng từ hàng XK cho các DN XK sang các thị trường và khách hàng truyền thống.
Nhiều NH công bố cho vay VND ưu đãi lãi suất (LS) đến mức chỉ còn 1%/năm (sau hỗ trợ LS
của Chính phủ) đối với các DN XK với điều kiện là DN cam kết bán lại ngoại tệ (tiền hàng thu
được từ nước ngoài) cho NH theo tỉ giá tại thời điểm ngân hàng giải ngân cho vay VND. Sự thua
thiệt thường rơi vào DN vì tỉ giá từ năm 2008 đến nay luôn biến động theo chiều hướng tăng đã
làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh của nhiều DN.
Trong thực tế, tỷ giá hối đoái bị chi phối đồng thời bởi tất cả các yếu tố trên với mức độ mạnh
yếu khác nhau của từng nhân tố, tuỳ vào thời gian và hoàn cảnh nhất định. Việc tách rời và
lượng hoá ảnh hưởng của từng nhân tố là việc làm không thể. Các nhân tố trên không tách rời mà
tác động tổng hợp, có thể tăng cường hay át chế lẫn nhau, đến tỷ giá hối đoái làm cho tỷ giá hối
đoái luôn biến động không ngừng.
2.3. Thực trạng chính sách điều hành – quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái tại các NHTM Việt
Nam
Trong những năm gần đây, nền kinh tế toàn cầu nói chung, kinh tế Việt Nam nói chung có những
diễn biến thật phức tạp rất khó lường. Do đó, chính phủ đặt ra những mục tiêu khác nhau cho từng
năm:
 Năm 2007: mục tiêu ưu tiên của Việt Nam là kiểm soát lạm phát.
Trong bối cảnh kinh tế và thị trường tài chính quốc tế có những biến động khó lường, NHNN
hầu như vẫn duy trì tỷ giá cố định nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát.
 Năm 2008: vẫn giữ mục tiêu kiểm soát lạm phát trong 06 tháng đầu năm. Tuy nhiên, trước ảnh
hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra đối với toàn bộ nền kinh tế thế
giới, tác động bất lợi đến nền kinh tế trong nước, chính phủ đã chuyển hướng mục tiêu từ kiểm
soát lạm phát sang mục tiêu ngăn ngừa suy giảm kinh tế trong 06 tháng cuối năm.
 Năm 2009 và năm 2010: vẫn tiếp tục mục tiêu phòng ngừa lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì
tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý và bền vững.
• Tóm lược chính sách tỷ giá của Việt Nam năm 2006-2010:
Thời gian Mục tiêu của chính sách tỷ giá Phân loại chế độ tỷ giá Việt Nam của
IMF
Năm 2006 Kiểm soát lạm phát Chế độ tỷ giá cố định thông thường, biên
độ giao dịch ± 0,25%
Năm 2007 Kiểm soát lạm phát Chế độ tỷ giá cố định thông thường, biên
độ giao dịch ± 0,5% sau đó nâng lên ±
0,75%
Năm 2008 - Kiểm soát lạm phát
- Ngăn ngừa suy giảm kinh tế
- Chế độ tỷ giá cố định thông thường, biên
độ giao dịch ± 1%
- Chế độ tỷ giá cố định thông thường, biên
độ giao dịch ± 2% sau đó nâng lên ± 3%
Năm 2009 & 2010 Ngăn chặn suy giảm kinh tế và
Kiểm soát lạm phát
Chế độ tỷ giá cố định thông thường, biên
độ giao dịch ± 5% sau đó giảm xuống ±
3%
Từ ngày 01/01/2011, Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi có hiệu lực. Đồng thời, chính sách tiền tệ
trong năm 2011 theo hướng chủ động, linh hoạt và thận trọng theo nguyên tắc thị trường, phối hợp
chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát và
ổn định kinh tế vĩ mô.
Mục tiêu tổng phương tiện thanh toán tăng 21-24%, tín dụng đối với nền kinh tế tăng khoảng 23%.
Lãi suất và tỷ giá được điều hành ở mức phù hợp với các cân đối kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn
hệ thống, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của NHNN.
Với định hướng như trên dự báo năm 2011, hoạt động tín dụng của các ngân hàng giảm nhiệt hơn,
đồng thời kỳ vọng lãi suất sẽ ổn định hơn so với năm 2010. Điều này ảnh hưởng ít nhiều đến kết
quả hoạt động của hệ thống NHTM.Tuy nhiên, một số ngân hàng sẽ được hưởng lợi từ việc điều
chỉnh tỷ giá ngày 11/02/2011, bởi khoản hoàn nhập dự phòng rủi ro tỷ giá. Ngoài ra, khoản dự
phòng rủi ro cho vay ngoại tệ của các ngân hàng có thể mang lại một khoản lợi nhuận khá lớn khi
khoản mục cho vay này được hoàn nhập.
Trước tháng 3/2009, Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại triển khai một số
nghiệp vụ phái sinh như hoán đổi lãi suất, hoán đổi tiền tệ chéo, tương lai, quyền chọn,…
Giữa lúc nghiệp vụ “quyền chọn Đô - Đồng” đang nhộn nhịp thì đến ngày 18/3/2009, Ngân hàng
Nhà nước ban hành Văn bản số 1820/NHNN - QLNH, yêu cầu tất cả các ngân hàng thương mại
kể từ 23/3/2009 phải dừng thực hiện nghiệp vụ này.
Quyền chọn (option) ngoại tệ với VND được hiểu là giao dịch giữa bên mua quyền và bên bán
quyền. Bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua/bán số lượng ngoại tệ nhất định ở
một mức tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian thỏa thuận trước. Nhưng, nếu bên mua quyền
thực hiện quyền của mình thì bên bán quyền có nghĩa vụ bán hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp
đồng theo tỷ giá và thời gian thỏa thuận trước.
Có hai loại quyền chọn: Mỹ và châu Âu. Nếu áp dụng “quyền chọn châu Âu” thì đến ngày đáo
hạn mới xem xét có thực hiện quyền hay không, còn “quyền chọn Mỹ” thì có thể thực hiện bất cứ
thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
Năm 2009 được coi là năm thị trường ngoại hối không ổn định, tỷ giá liên tục tăng cao và khoảng
cách chênh lệch tỷ giá giữa trong và ngoài hệ thống có lúc lên tới mấy nghìn đồng mỗi USD.
Nhiều doanh nghiệp dưới sự “tư vấn” của ngân hàng thương mại đã ký hợp đồng quyền chọn
mua/bán ngoại tệ dưới hình thức “quyền chọn Mỹ”.
Trong các hợp đồng này, hai bên ký với nhau giá mong muốn, cộng với phí và hầu hết đều tất toán
trước thời điểm đáo hạn.
Nhờ đó, hai bên thoải mái giao dịch với nhau với mức giá vượt nhưng vẫn vượt tầm kiểm soát của
Ngân hàng Nhà nước, và lúc đó, tỷ giá công bố của Ngân hàng Nhà nước bỗng trở thành tỷ giá
danh nghĩa. Ví dụ, tỷ giá kịch trần của Ngân hàng Nhà nước là 18.500 VND/USD, giá tự do là
19.500 VND/USD thì hợp đồng vẫn ký là 18.500 VND/USD nhưng doanh nghiệp phải trả thêm
mức phí “quyền chọn” là 1.000 VND/USD và tất toán hợp đồng.
Với vai trò điều hành thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước đã biết hành động lách luật về tỷ giá
của các NHTM nhưng không thể đưa ra hình phạt vi phạm bởi vì các ngân hàng thương mại và
doanh nghiệp có thừa lý do để biện minh, giá mua bán giống niêm yết đã đành nhưng phí quyền
chọn không thể ép buộc ngân hàng chỉ thu bằng này mà không được thu bằng kia? Thực chất, phí
quyền chọn này phụ thuộc vào sự biến động tỷ giá: tỷ giá tăng thì NHTM tăng phí quyền chọn,
nhưng khi tỷ giá giảm thì phí quyền chọn cũng giảm theo!”.
Vì thế đến nay, nghiệp vụ quyền chọn giữa VND và ngoại tệ biến mất hoàn toàn trên thị trường.
Khi Ngân hàng Nhà nước cấm quyền chọn VND với ngoại tệ thì vẫn còn nhiều công cụ khác như
hoán đổi lãi suất, hoán đổi tiền tệ chéo mà doanh nghiệp vẫn có thể sử dụng để bảo hiểm rủi ro tỷ
giá. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp có giao dịch ngoại tệ vẫn chưa tiếp cận với công cụ này.
Có thể nhận thấy rằng giá trị các công cụ phái sinh trong giao dịch ngoại tệ mang lại ba lợi ích:
doanh nghiệp được phòng ngừa rủi ro tỷ giá, chốt được chi phí đầu vào cho một kế hoạch tài chính
dài hơi và trong trường hợp thị trường tốt còn có lãi. Và dĩ nhiên, cái giá ở đây là doanh nghiệp
phải trả trước một khoản chi phí cho các NHTM.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×