Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Đông Phong (nhật ký chung - ko lý luận)

Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và tình hình tài chính thế giới hiện
nay, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ chịu sức ép cạnh tranh với các công ty
trong nước mà gay gắt, quyết liệt hơn từ các tập đoàn đa quốc gia, những công ty
hùng mạnh cả về vốn, thương hiệu và trình độ quản lý. Sự cạnh tranh quyết liệt tất
yếu sẽ dẫn đến hệ quả là có những doanh nghiệp kinh doanh làm ăn phát đạt, mở
rộng thị trường. Bên cạnh đó cũng có những doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất
thậm chí là phải tuyên bố giải thể, phá sản. Do vậy, để cạnh tranh được, các doanh
nghiệp Việt Nam phải tìm được cho mình một hướng đi hợp lý để tồn tại và phát
triển. Muốn vậy doanh nghiệp phải áp dụng tổng hợp các biện pháp, trong đó quan
trọng hàng đầu không thể thiếu được là phải quản lý tốt mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng
lớn trong giá thành. Chỉ cần một sự biến động nhỏ trong chi phí nguyên vật liệu
cũng làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, lợi nhuận và ảnh hưởng tới sự tồn tại
của doanh nghiệp. Ổn định nguồn nguyên liệu, tính toán đúng đắn, vừa đủ lượng
nguyên liệu cần dùng, giảm các chi phí bảo quản...là một trong những yêu cầu và
mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt
hiện nay. Kế toán nguyên vật liệu có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các
mục tiêu nói trên. Tổ chức tốt công tác kế toán nguyên vật liệu sẽ giúp cho quá

trình sản xuất diễn ra nhịp nhàng, tránh làm ứ đọng vốn và phát sinh những chi phí
không cần thiết, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Với ý nghĩa đó,
cải tiến nâng cao và hoàn thiện công tác quản lý và hạch toán nguyên vật liệu trong
doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất là một vấn đề hết sức cần thiết.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Xuất phát từ việc hiểu được tầm quan trọng của công tác này, kết hợp với
việc tìm hiểu thực tế công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Đầu tư và
Xây dựng Đông Phong, được sự giúp đỡ tận tình của ban lãnh đạo, các anh chị
trong Công ty và sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn, em chọn đi sâu vào
nghiên cứu vào đề tài. “Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty
TNHH Đầu tư và Xây dựng Đông Phong” và hoàn thành chuyên đề này.
Luận văn tốt nghiệp ngoài lời mở đầu và kết luận, gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kế toán nguyên vật
liệu trong doanh nghiệp sản xuất..
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH
Đầu tư và Xây dựng Đông Phong.
Chương 3: Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH
Đầu tư và Xây dựng Đông Phong.
Do hạn chế về năng lực, trình độ cũng như kinh nghiệm, luận văn tốt nghiệp
này không tránh khỏi những khuyết điểm nhất định, em xin chân thành cảm ơn sự
giúp đỡ, đóng góp ý kiến của thầy Trương Anh Dũng và các anh chị trong Công ty
TNHH đầu tư và xây dựng Đông Phong để luận văn này thêm hoàn thiện hơn.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN
VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu trong
doanh nghiệp sản xuất
a. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nguyên vật liệu
Nguyên liệu là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là đối
tượng lao động được thể hiện dưới dạng vật hóa như: sợi trong doanh nghiệp dệt,
da trong doanh nghiệp đóng giày, vải trong doanh nghiệp may mặc…Nó là thứ mà
con người bằng sức lao động của mình tác động vào để làm thay đổi nó thành sản
phẩm có ích cho con người.
Khác với tư liệu lao động, nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất kinh doanh. Về mặt hiện vật, khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác
động của lao động, chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đổi hình thái vật chất ban
đầu để tạo ra hình thái của sản phẩm. Giá trị của nguyên vật liệu được chuyển dịch
toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra hoặc vào chi phí sản xuất kinh
doanh trong kỳ.
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh
doanh, là cơ sở để tạo ra sản phẩm mới. Do đó, nguyên vật liệu giữ vai trò hết sức
quan trọng đối với doanh nghiệp, kế hoạch sản xuất kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng
lớn nếu việc cung cấp nguyên vật liệu không được đảm bảo kịp thời
Mặt khác, chất lượng sản phẩm có được đảm bảo hay không lại phụ thuộc rất
lớn vào chất lượng nguyên vật liệu bởi vì nguyên vật liệu là thực thể cấu thành sản
phẩm, chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá thành sản phẩm. Ví
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
dụ: Chi phí nguyên vật liệu chiếm 50% - 60% giá thành sản phẩm cơ khí, trong
công nghiệp chế biến chiếm 80%, trong công nghiệp nhẹ chiếm 70%...
Vậy có thể nói nguyên vật liệu chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất kinh
doanh, phải quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu cả về số lượng, chủng loại, giá cả,
chất lượng ở tất cả các khâu, từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ, đến khâu sử dụng.
b. Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là một yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất. Như trên
đã nói, giá trị nguyên vật liệu thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản
xuất, do đó quản lý nguyên vật liệu là công việc không thể thiếu trong bất kỳ một
doanh nghiệp sản xuất nào. Tuy nhiên, do trình độ sản xuất khác nhau, quy mô
doanh nghiệp khác nhau nên mức độ, phương pháp quản lý nguyên vật liệu cũng
khác nhau. Quản lý tốt khâu thu mua, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu là điều
kiện cần thiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành,
tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Đó là yếu tố khách quan và cũng là yêu cầu trong
kinh doanh của từng doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, nhằm đem lại hiệu
quả kinh tế cao, giúp các doanh nghiệp trong nước không những tồn tại và phát
triển được, mà còn có khả năng vươn ra thị trường quốc tế.
Để có được nguyên vật liệu đáp ứng kịp thời quá trình sản xuất kinh doanh ở
doanh nghiệp thì nguồn cung cấp chủ yếu vẫn là thu mua. Do đó, ở khâu này đòi
hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ về số lượng, chất lượng, quy cách, chủng loại, giá
cả, chi phí thu mua và cả tiến độ về thời gian sao cho phù hợp với kế hoạch sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Trong khâu bảo quản và dự trữ, doanh nghiệp phải tổ chức tốt hệ thống kho
tàng, bến bãi đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, bố trí nhân viên thủ kho có đủ phẩm chất
đạo đức và trình độ chuyên môn để quản lý nguyên vật liệu tồn kho và thực hiện
các quy trình nhập, xuất kho, tránh bố trí thủ kho kiêm nhân viên tiếp liệu và kế
toán nguyên vật liệu. Ngoài ra doanh nghiệp cần phải xây dựng định mức tồn kho
tối đa và tối thiểu cho từng loại nguyên vật liệu, tránh dự trữ quá nhiều nguyên vật
liệu không thường xuyên và quá ít nguyên vật liệu chủ yếu.
Trong khâu sử dụng, phải tuân thủ việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở
kế hoạch, định mức, dự toán chi phí, đảm bảo hạ thấp chi phí sản xuất, hạ giá thành
sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
c. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu
Kế toán là công cụ phục vụ cho việc quản lý kinh tế tài chính trong doanh
nghiệp, trong đó kế toán nguyên vật liệu giữ vai trò quan trọng trong công tác quản
lý và sử dụng nguyên vật liệu. Để có thể đáp ứng được các yêu cầu quản lý này, kế
toán nguyên vật liệu phải thực hiện được các nhiệm vụ sau:
- Thực hiện chính xác việc phân loại, đánh giá nguyên vật liệu cho phù hợp
với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và quy chế của doanh nghiệp.
- Tổ chức chứng từ tài khoản kế toán, sổ kế toán phù hợp, ghi chép, tính
toán, phản ánh chính xác, trung thực, kịp thời số lượng, chất lượng, tình hình hiện
có, tình hình biến động tăng, giảm, giá thành thực tế của nguyên vật liệu trong quá
trình sản xuất kinh doanh.
- Phân bổ hợp lý giá trị nguyên vật liệu sử dụng vào các đối tượng tập hợp
chi phí sản xuất kinh doanh.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
- Kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về thu mua nguyên vật liệu,
kế hoạch sử dụng nguyên vật liệu cho sản xuất và kế hoạch bán hàng.
d. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu
Trong các doanh nghiệp khác nhau, quy trình sản xuất cũng khác nhau do đó
mô hình tổ chức bộ máy kế toán cũng khác nhau. Xuất phát từ vị trí, vai trò của kế
toán ta có thể khẳng định kế toán nguyên vật liệu là không thể thiếu được trong các
doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất, do đó cần thiết phải tổ chức
công tác kế toán nguyên vật liệu.
Thông qua kế toán nguyên vật liệu, giúp doanh nghiệp quản lý và sử dụng tốt
nguyên vật liệu cả về mặt số lượng cũng như chất lượng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu
nguyên vật liệu cho sản xuất, giúp tính toán, xác định chi phí nguyên vật liệu phục
vụ cho việc tính giá thành.
Kế toán nguyên vật liệu giúp cho công tác lập kế hoạch tiết kiệm chi phí, tính
giá thành, tăng tốc độ lưu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng
cao chất lượng sản phẩm, giúp doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và ngày
càng phát triển.
Kế toán nguyên vật liệu cần phải có sự liên kết chặt chẽ với tất cả các phòng
ban, các bộ phận trong đơn vị giúp nâng cao hiệu quả trong công tác thu mua, xuất
kho, nhập kho, bảo quản và dự trữ.
1.2. Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu
1.1.1. Phân loại nguyên vật liệu
Do tính chất đặc thù trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà các doanh
nghiệp phải sử dụng nhiều nguyên vật liệu khác nhau, mỗi loại nguyên vật liệu lạ
có tính chất lý hóa, vai trò, công dụng khác nhau. Trong điều kiện đó, đòi hỏi các
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
doanh nghiệp phải phân loại nguyên vật liệu, tạo điều kiện quan trọng để tổ chức
tốt việc quản lý và hạch toán nguyên vật liệu.
Có nhiều căn cứ để tiến hành phân loại nguyên vật liệu tùy thuộc vào đặc
trưng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong thực tế, căn cứ dùng để phân loại nguyên vật liệu thông dụng nhất là
vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh tức là theo nội dung
kinh tế và yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Theo cách phân loại này, nguyên vật liệu
được chia thành các loại sau:
- Nguyên vật liệu chính: Là nguyên liệu, vật liệu khi tham gia vào quá trình
sản xuất kinh doanh sẽ cấu thành nên hình thái vật chất của sản phẩm. Vì vậy, ở các
doanh nghiệp khác nhau thì có nguyên vật liệu chính khác nhau:
Ví dụ:
Trong doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo, nguyên vật liệu chính là đường, bột,
trứng…
Trong doanh nghiệp mía đường thì nguyên vật liệu chính là mía.
- Vật liệu phụ: là những vật liệu có tác dụng phụ trong quá trình sản
xuất,nhưng có thể kết hợp với nguyên vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị,
hình dáng bên ngoài, hoàn chỉnh, tăng chất lượng sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho
quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường hoặc sử dụng để phục vụ
cho nhu cầu kỹ thuật: bảo quản, đóng gói…, nhu cầu quản lý.
Ví dụ:
Trong doanh nghiệp dệt, thuốc tẩy, thuốc nhuộm là vật liệu phụ giúp tăng giá
trị sản phẩm.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Trong doanh nghiệp cơ khí, giẻ lau, dầu nhớt cũng là vật liệu phụ giúp bảo
dưỡng, duy trì hoạt động của máy móc, tránh hỏng hóc, giúp quá trình sản xuất
diễn ra bình thường…
- Nhiên liệu: Là các loại vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá
trình sản xuất kinh doanh như: than đá, xăng dầu, than củi…
- Phụ tùng thay thế: Là các loại phụ tùng, chi tiết được sử dụng để thay thế,
sửa chữa bảo dưỡng TCSĐ, máy móc, thiết bị phương tiện vận tải…
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những loại vật liệu, thiết bị, công
cụ, khí cụ, vật kết cấu được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản như giàn, giáo,
cốt pha…
- Vật liệu khác: Là các loại nguyên vật liệu chưa được xếp vào các loại vật
liệu trên, thường là các phế liệu thu hồi sau khi thanh lý tài sản hay loại ra từ quá
trình sản xuất.
Ngoài ra tùy thuộc vào nhu cầu quản lý và hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
trong doanh nghiệp mà trong từng loại nguyên vật liệu trên có thể được chia thành
từng nhóm từng thứ chi tiết. Cách phân loại này là cơ sở xác định mức tiêu hao,
định mức dự trữ cho từng loại, từng thứ nguyên vật liệu, là cơ sở để tổ chức hạch
toán chi tiết nguyên vật liệu.
Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại nguyên vật liệu khác như: Phân loại
nguyên vật liệu theo nguồn hình thành. Nguyên vật liệu được chia thành hai nguồn
sau:
-Nguyên vật liệu doanh nghiệp nhập từ bên ngoài: Do mua ngoài, nhận vốn
góp kinh doanh, nhận biếu tặng…
-Nguyên vật liệu tự chế: Do doanh nghiệp tự sản xuất.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Ví dụ:
Doanh nghiệp sản xuất chè có tổ đội sản xuất và trồng chè, tự cung cấp chè
tươi cho bộ phận chế biến để sản xuất chè khô và chè xuất khẩu.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp lập được kế hoạch thu mua nguyên
vật liệu từ các nguồn khác nhau với giá cả phù hợp, và việc lập kế hoạch sản xuất,
chế biến, là cơ sở để hạch toán xác định giá vốn thực tế nhập kho.
1.1.2. Đánh giá nguyên vật liệu
Đánh giá nguyên vật liệu là công tác quan trọng trong việc tổ chức hạch toán
nguyên vật liệu. Đánh giá nguyên vật liệu là việc xác định giá trị nguyên vật liệu ở
những thời điểm nhất định và theo những nguyên tắc đã được quy định:
 Nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu:
∗ Nguyên tắc giá gốc (Theo chuẩn mực 02 – Hàng tồn kho).
Theo nguyên tắc này, nguyên vật liệu được đánh giá theo giá gốc, giá gốc
hay còn gọi là giá vốn thực tế, là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có
được nguyên vật liệu ở địa điểm và trạng thái hiện tại.
∗ Nguyên tắc thận trọng.
Nguyên vật liệu được tính theo giá gốc, trường hợp giá trị thuần có thể thực
hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được.
Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của hàng tồn kho
trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành
sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng (Chuẩn mực kế toán
số 02 – Hàng tồn kho)
∗ Nguyên tắc nhất quán
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Theo nguyên tắc này, các phương pháp kế toán áp dụng để đánh giá nguyên
vật liệu phải được đảm bảo nhất quán, tức là kế toán lựa chọn phương pháp nào thì
phải nhất quán trong niên độ kế toán đó. Doanh nghiệp có thể thay đổi phương
pháp đã chọn nhưng phải trình bày lý do, giải thích ảnh hưởng của sự thay đổi một
cách đầy đủ, hợp lý, trung thực.
 Đánh giá nguyên vật liệu
Sự hình thành giá vốn thực tế nguyên vật liệu được phân biệt ở từng thời
điểm khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ví dụ, ở thời điểm nhập kho
thì phải xác định trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho, việc đánh giá này
giúp tính được chi phí bỏ ra để mua nguyên vật liệu giúp tính toán được chi phí sản
xuất, công tác lập kế hoạch thu mua nguyên vật liệu, lập dự phòng giảm giá nguyên
vật liệu…
∗ Xác định trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu nhập kho
Giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho được xác định theo từng nguồn
nhập:
- Đối với nguyên vật liệu mua ngoài:
Giá thực
tế NVL
nhập kho
=
Giá mua
NVL
+
Các loại thuế
không được
hoàn lại
+
Chi phí
thu mua
khác
-
Các khoản chiết
khấu thương mại,
giảm giá hàng mua
Giá mua NVL là giá hóa đơn kể cả thuế nhập khẩu (nếu có):
Đối với trường hợp doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ thì giá mua hàng hóa chưa có thuế GTGT đầu vào.
Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và hàng
không chịu thuế GTGT thì giá mua là tổng giá thanh toán.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Chi phí thu mua: Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt trong định mức…
- Đối với nguyên vật liệu nhập kho do tự sản xuất: Trị giá vốn thực tế nhập
kho là giá thành sản xuất nguyên vật liệu tự gia công chế biến.
- Đối với nguyên vật liệu nhập kho do thuê ngoài gia công chế biến: Trị giá
vốn thực tế nhập kho là trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu xuất kho cộng số tiền
phải trả cho người nhận gia công chế biến và các chi phí vận chuyển gia công, bốc
dỡ khi giao nhận.
- Đối với nguyên vật liệu nhận vốn góp liên doanh liên kết: Trị giá vốn thực
tế nguyên vật liệu nhập kho là giá được các bên tham gia góp vốn thừa nhận.
- Đối với nguyên vật liệu được biếu tặng viện trợ: Trị giá vốn thực tế nhập
kho là giá trị hợp lý cộng các chi phí khác phát sinh.
- Đối với nguyên vật liệu được cấp: Trị giá vốn nguyên vật liệu nhập kho là
giá trị được ghi trên biên bản giao nhận và các chi phí khác phát sinh khi nhận
nguyên vật liệu.
∗ Xác định trị giá vốn nguyên vật liệu xuất kho
Nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp tăng từ nhiều nguồn khác nhau với
các đơn giá khác nhau, vì vậy doanh nghiệp cần lựa chọn phương pháp tính giá
thực tế nguyên vật liệu xuất kho… Việc lựa chọn phương pháp nào còn tuỳ thuộc
vào đặc điểm của nguyên vật liệu, yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Để tính giá hàng tồn kho xuất, doanh nghiệp có thể áp dụng một trong các phương
pháp sau đây:
- Phương pháp tính theo giá thực tế đích danh:
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Theo phương pháp này, khi xuất kho nguyên vật liệu, căn cứ vào số lượng
xuất kho thuộc lô nào và đơn giá thực tế của lô đó để tính giá vốn thực tế của
nguyên vật liệu xuất kho.
Phương pháp này chỉ được áp dụng với những doanh nghiệp có chủng loại
nguyên vật liệu ít, có giá trị lớn, ổn định và có thể nhận diện được.
- Phương pháp giá bình quân:
Theo phương pháp này, giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá
trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại hàng
tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo
thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc vào tình hình của doanh
nghiệp.
+ Giá bình quân cả kỳ dự trữ:
Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của nguyên vật liệu
xuất kho trong kỳ. Tuỳ theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán căn cứ
vào giá mua, giá nhập, lượng nguyên vật liệu đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá
đơn vị bình quân:
Đơn giá
bình quân
= Trị giá thực tế NVL tồn đầu kỳ + Trị giá thực tế NVL nhập trong kỳ
Số lượng NVL tồn đầu kỳ + Số lượng NVL nhập trong kỳ
Phương pháp này tuy khá đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào
cuối kỳ nhưng có nhược điểm lớn là công tác kế toán dồn vào cuối kỳ ảnh hưởng
đến tiến độ của các phần hành khác. Hơn nữa, phương pháp này chưa đáp ứng yêu
cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.
+ Giá bình quân sau mỗi lần nhập:
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Sau mỗi lần nhập nguyên vật liệu, kế toán phải xác định lại giá trị thực của
nguyên vật liệu và giá đơn vị bình quân. Căn cứ vào giá đơn vị bình quân và lượng
xuất giữa 2 lần nhập kế tiếp để tính giá xuất theo công thức sau
Đơn giá
bình quân
= Trị giá thực tế NVL tồn kho sau mỗi lần nhập
Số lượng NVL tồn kho sau mỗi lần nhập
Phương pháp này có ưu điểm là khắc phục được những hạn chế của phương
pháp trên nhưng việc tính toán phức tạp, nhiều lần, tốn nhiều công sức. Do đặc
điểm trên mà phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại
hàng tồn kho, có lưu lượng nhập xuất ít.
+ Giá bình quân cuối kỳ trước:
Dựa vào trị giá và số lượng nguyên vật liệu cuối kỳ trước, kế toán tính giá
đơn vị bình quân cuối kỳ trước để tính giá xuất:
Đơn giá
bình quân
= Trị giá thực tế NVL tồn kho cuối kỳ trước
Số lượng NVL tồn kho cuối kỳ trước
Phương pháp này có ưu điểm: Đơn giản, dễ tính toán nhưng trị giá hàng xuất
không chịu ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả trong kỳ hiện tại. Vì vậy, phương
pháp này làm cho chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh không sát với giá thực tế
- Phương pháp Nhập trước – Xuất trước (FIFO):
Theo phương pháp này, giá thực tế NVL xuất kho dựa trên cơ sở giả định là
lô nguyên vật liệu nào nhập vào kho trước sẽ được xuất dùng trước. Vì vậy, lượng
nguyên vật liệu xuất kho thuộc lần nhập nào thì tính theo giá thực tế của lần nhập
đó.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Phương pháp này có ưu điểm là cho phép kế toán có thể tính được ngay trị
giá vốn nguyên vật liệu xuất kho cho từng lần xuất một cách kịp thời, nhưng nhược
điểm của nó là làm chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc kế
toán tăng lên rất nhiều, và còn làm cho chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp không phản ứng kịp thời với giá cả thị trường. Phương pháp này chỉ thích
hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm nguyên vật liệu, số lần nhập kho của
mỗi danh điểm không nhiều.
- Phương pháp Nhập sau – Xuất trước (LIFO):
Theo phương pháp này, giá thực tế NVL xuất kho dựa trên cơ sở giả định là
lô nguyên vật liệu nào nhập vào kho sau sẽ được xuất dùng trước. Vì vậy việc tính
giá xuất của nguyên vật liệu được làm ngược lại với phương pháp Nhập trước –
Xuất trước.
Về cơ bản, ưu, nhược điểm và điều kiện vận dụng của phương pháp này cũng
giống như phương pháp Nhập trước – Xuất trước, nhưng sử dụng phương pháp này
giúp cho chi phí kinh doanh của doanh nghiệp phản ứng kịp thời với giá cả thị
trường.
- Phương pháp giá hạch toán:
Đối với các doanh nghiệp có nhiều loại NVL, giá cả thường xuyên biến
động, nghiệp vụ nhập, xuất NVL diễn ra thường xuyên thì việc hạch toán theo giá
thực tế trở nên phức tạp, tốn nhiều công sức và nhiều khi không thực hiện được. Do
đó việc hạch toán hàng ngày nên sử dụng giá hạch toán.
Giá hạch toán là loại giá ổn định, doanh nghiệp có thể sử dụng trong thời
gian dài để hạch toán nhập, xuất, tồn kho NVL trong khi chưa tính được giá thực tế
của nó. Doanh nghiệp có thể sử dụng giá kế hoạch hoặc giá mua NVL ở một thời
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
điểm nào đó hay giá NVL bình quân tháng trước để làm giá hạch toán. Sử dụng giá
hạch toán để giảm bớt khối lượng cho công tác kế toán nhập xuất NVL hàng ngày
nhưng cuối tháng phải tính chuyển giá hạch toán của NVL xuất, tồn kho theo giá
thực tế. Việc tính chuyển dựa trên cơ sở hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán.
Hệ số
giá
= Giá TT NVL tồn kho đầu kỳ + Giá TT NVL nhập kho trong kỳ
Giá HT NVL tồn kho đầu kỳ + Giá HT NVL nhập kho trong kỳ
Sau khi tính hệ số giá, kế toán tiến hành điều chỉnh giá hạch toán trong kỳ
thành giá thực tế vào cuối kỳ kế toán:
Giá TT NVL xuất kho = Hệ số giá NVL x Giá HTNVL xuất kho
Phương pháp hệ số giá cho phép kết hợp chặt chẽ hạch toán chi tiết và hạch
toán tổng hợp về hàng trong công tác tính giá, nên công việc tính giá được tiến
hành nhanh chóng do chỉ phải theo dõi biến động của hàng với cùng một mức giá
và đến cuối kỳ mới điều chỉnh và không bị phụ thuộc vào số lượng danh điểm
hàng, số lần nhập, xuất của mỗi loại nhiều hay ít.
Phương pháp này phù hợp với các doanh nghiệp có nhiều chủng loại hàng và
đội ngũ kế toán có trình độ chuyên môn cao.
1.3. Tổ chức hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp thường có nhiều chủng loại khác
biệt nhau, nếu thiếu một loại nào đó có thể gây ảnh hưởng tới quá trình sản xuất
kinh doanh, do vậy các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống sổ sách chứng từ, mở
các sổ kế toán chi tiết và vận dụng phương pháp hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
cho phù hợp để góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nguyên vật liệu.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
+ Chứng từ sử dụng kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Hệ thống chứng từ về nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp áp dụng theo
chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC do Bộ
Tài chính ban hành ngày 20 tháng 03 năm 2006.
Hệ thống chứng từ theo chế độ kế toán đã ban hành bao gồm:
Hóa đơn GTGT (bên bán lập) Mấu số 01GTKT-3LL
Hóa đơn bán hàng thông thường (bên bán lập) Mẫu số 02GTGT-3LL
Phiếu nhập kho Mấu số 01-VT
Phiếu xuất kho Mẫu số 02-VT
Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ Mẫu số 03 PXK-3LL
Biên bản kiểm nghiệm Mẫu số 03-VT
Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ Mẫu số 04-VT
Biên bản kiểm kê Mấu số 05-VT
Bảng kê mua hàng Mẫu số 06-VT
Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng Mẫu số 07-VT
Trong đó: Biên bản kiểm nghiệm, phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ là chứng
từ hướng dẫn, còn lại các chứng từ phải tuân thủ theo quy định về mẫu biểu, nội
dung, phương pháp lập, người lập chứng từ phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp
của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
+ Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Kế toán chi tiết nguyên vật liệu là việc theo dõi, ghi chép sự biến động nhập
xuất tồn kho của từng thứ vật liệu sử dụng trong sản xuất kinh doanh nhằm cung
cấp thông tin chi tiết để quản trị từng danh điểm vật tư.
Công tác hạch toán chi tiết phải đảm bảo theo dõi được tình hình nhập xuất
tồn kho theo chỉ tiêu hiện vật và giá trị của từng danh điểm vật tư, phải tổng hợp
được tình hình luân chuyển và tồn của từng danh điểm theo từng kho, từng quầy,
từng bãi.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Trong thực tế ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp thường áp dụng một
trong ba phương pháp hạch toán chi tiết nguyên vật liệu là: Phương pháp thẻ song
song, phương pháp sổ số dư và phương pháp đối chiếu luân chuyển.
1.3.2.2. Phương pháp thẻ song song
- Tại kho: Thủ kho tiến hành mở “Thẻ kho” cho từng loại vật tư ở từng kho
để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn của từng loại nguyên vật liệu theo chỉ tiêu số
lượng. Cơ sở ghi “Thẻ kho” là các chứng từ nhập, xuất nguyên vật liệu. Khi nhận
chứng từ, thủ kho kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi tiến hành ghi
chép vào số thực nhập, thực xuất trên “Thẻ kho”. Cuối kỳ, thủ kho tiến hành cộng
nhập, xuất tính ra số tồn kho cuối kỳ trên từng “Thẻ kho”. Định kỳ, thủ kho gửi các
chứng từ nhập, xuất đã được phân loại theo từng nguyên vật liệu cho phòng kế
toán.
- Tại Phòng Kế toán: Kế toán mở “Thẻ kế toán chi tiết vật liệu” tương ứng
với từng “Thẻ kho” và ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho cho từng loại nguyên
vật liệu theo cả hai chỉ tiêu số lượng và giá trị.
Cơ sở ghi “Thẻ kế toán chi tiết vật liệu” là các phiếu nhập, xuất cùng với các
chứng từ khác có liên quan. Khi nhận được chứng từ nhập, xuất của thủ kho gửi
lên, kế toán kiểm tra lại chứng từ, hoàn chỉnh chứng từ, căn cứ vào các chứng từ
nhập, xuất kho để ghi vào “Thẻ kế toán chi tiết vật liệu”, mỗi chứng từ ghi một
dòng. Cuối tháng, kế toán tiến hành lập “Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn vật liệu”
và đối chiếu:
+ Đối chiếu “Thẻ kế toán chi tiết vật liệu” với “Thẻ kho” của thủ kho.
+ Đối chiếu số liệu dòng tổng cộng trên “Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn
vật liệu” với số liệu trên sổ kế toán tổng hợp.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Sơ đồ 1.1: Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
theo phương pháp thẻ song song
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
1.3.2.3. Phương pháp Sổ đối chiếu luân chuyển
- Tại kho: Thủ kho sử dụng “Thẻ kho” để ghi chép giống như phương pháp
thẻ song song.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Phiếu nhập
Thẻ kho
Bảng tổng hợp nhập
– xuất – tồn
Thẻ chi tiết
Phiếu xuất
Sổ kế toán tổng hợp
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
- Tại Phòng Kế toán: Kế toán mở “Sổ đối chiếu luân chuyển” để ghi chép
cho từng loại nguyên vật liệu theo cả chỉ tiêu số lượng và giá trị. Sổ này được mở
cho cả năm và được ghi vào cuối tháng, mỗi danh điểm vật tư được ghi một dòng.
Hàng ngày, khi nhận được chứng từ nhập, xuất kho, kế toán tiến hành kiểm
tra và hoàn chỉnh chứng từ, sau đó tiến hành phân loại chứng từ nhập, xuất theo
từng loại nguyên vật liệu, và theo từng kho. Kế toán lập “Bảng kê nhập vật liệu”,
“Bảng kê xuất vật liệu”
Cuối tháng, kế toán tổng hợp số liệu từ các bảng kê để ghi vào “Sổ đối chiếu
luân chuyển”, tính ra tồn cuối tháng. Việc đối chiếu số liệu được tiến hành giống
như phương pháp thẻ song song.
Trình tự kế toán được khái quát theo sơ đồ:
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Sơ đồ 1.2: Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
theo phương pháp Sổ đối chiếu luân chuyển
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
1.3.2.4. Phương pháp sổ số dư
- Tại kho: Về cơ bản, công việc của thủ kho tương tự như hai phương pháp
trên, tuy nhiên có sự khác biệt, định kỳ, sau khi ghi thẻ kho, thủ kho sẽ tập hợp toàn
bộ chứng từ nhập, xuất theo từng loại vật tư để lập “Phiếu giao nhận chứng từ” và
bàn giao cho kế toán (nhập riêng, xuất riêng) kèm theo chứng từ gốc.
Cuối tháng, thủ kho ghi “Sổ số dư” về số lượng theo từng loại vật tư của
từng kho (“Sổ số dư” do kế toán lập và chuyển cho thủ kho ghi cuối tháng).
- Tại Phòng Kế toán: Kế toán lập “Bảng kê lũy kế nhập – xuất – tồn” theo
chỉ tiêu giá trị dựa trên cơ sở các “Phiếu giao nhận chứng từ” định kỳ.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Thẻ kho
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất kho
Bảng kê nhập
vật liệu
Bảng kê xuất
vật liệu
Sổ đối chiếu luân
chuyển
Bảng
tổng
hợp
nhập,
xuất,
tồn vật
liệu
Sổ kế
toán
tổng
hợp
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Cuối tháng, kế toán đối chiếu số liệu trên “Sổ số dư” với “Thẻ kho” (về mặt
số lượng) đồng thời đối chiếu với sổ kế toán tổng hợp (về giá trị).
Trình tự kế toán được khái quát theo sơ đồ:
Sơ đồ 1.3: Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
theo phương pháp Sổ số dư
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
1.4. Tổ chức hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu
a. Các phương pháp kế toán tổng hợp nguyên vật liệu
Phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp KKTX là phương pháp theo dõi, phản ánh thường xuyên, liên
tục, có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho nguyên vật liệu trên sổ kế toán.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Thẻ kho
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất kho
Phiếu giao nhận
chứng từ nhập
Phiếu giao nhận
chứng từ xuất
Bảng kê lũy kế
nhập, xuất, tồn
Bảng
tổng
hợp
nhập,
xuất,
tồn vật
liệu
Sổ kế
toán
tổng
hợp
vật
liệu
Sổ số

Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Trong trường hợp áp dụng phương pháp này, các tài khoản nguyên vật liệu
được dùng để phản ánh số hiện có, tình hình biến động tăng, giảm của nguyên vật
liệu. Vì vậy, trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu tồn kho trên tài khoản, sổ kế
toán được xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế toán.
Cuối kỳ, căn cứ vào số liệu kiểm kê thực tế nguyên vật liệu tồn kho, so
sánh,đối chiếu với số liệu tồn trên sổ kế toán để xác định số lượng nguyên vật liệu
thừa,thiếu và tìm ra nguyên nhân từ đó có biện pháp xử lý.
Phương pháp KKTX thường áp dụng với doanh nghiệp sản xuất mặt hàng có
giá trị lớn.
Phương pháp kiểm kê định kỳ
Là phương pháp kế toán không tổ chức ghi chép một cách thường xuyên,
liên tục các nghiệp vụ nhập, xuất, tồn kho của nguyên vật liệu trên tài khoản, sổ kế
toán. Các tài khoản này chỉ phản ánh trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu tồn kho
cuối kỳ và đầu kỳ.
Trị giá vốn nguyên vật liệu nhập, xuất kho hàng ngày được theo dõi trên tài
khoản “Mua hàng”.
Việc xác định giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho không căn cứ vào
các chứng từ xuất kho mà căn cứ vào kết quả kiểm kê cuối kỳ để tính theo công
thức:
Trị giá NVL
xuất kho
=
Trị giá NVL
tồn đầu kỳ
+
Tổng trị giá NVL
mua vào trong kỳ
-
Trị giá NVL
tồn cuối kỳ
Phương pháp KKĐK áp dụng cho những doanh nghiệp có nhiều chủng loại
nguyên vật liệu với quy cách mẫu mã khác nhau, giá trị thấp và được xuất thường
xuyên.
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
b. Phương pháp kê khai thường xuyên
1.4.2.1. Tài khoản sử dụng
- Tài khoản 152 “Nguyên vật liệu”.
Tài khoản này dùng để ghi chép số hiện có và tình hình biến động của
nguyên vật liệu theo giá thực tế.
Tài khoản 152 có thể mở thành tài khoản cấp 2 theo từng loại nguyên vật liệu
phù hợp với yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp, thông thường là theo nội dung
kinh tế như:
+ TK 1521: NVL chính.
+ TK 1522: NVL phụ.
+ TK 1523: Nhiên liệu
+ ...
Trong từng tài khoản cấp 2 doanh nghiệp cũng có thể mở chi tiết đến tài
khoản cấp 3... tùy theo yêu cầu quản lý từng doanh nghiệp.
- TK 151 “Hàng mua đang đi đường”.
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị các loại vật tư hàng hóa mà doanh
nghiệp đã mua, đã chấp nhận thanh toán với người bán nhưng chưa về nhập kho
doanh nghiệp và tình hình hàng về.
Ngoài các tài khoản trên, kế toán tổng hợp nguyên vật liệu còn sử dụng nhiều
tài khoản liên quan khác: TK 153, TK 111, TK 112, TK 141, TK 331, TK 411...
1.4.2.2. Phương pháp kế toán
 Kế toán nghiệp vụ nhập kho nguyên vật liệu:
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp được nhập kho từ rất nhiều nguồn
khác nhau: mua ngoài, tự chế, thuê ngoài gia công chế biên, từ nhận vốn góp liên
doanh...
Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ thủ tục nhập kho,
lập các chứng từ theo quy định: Hóa đơn, Phiếu nhập kho, Bảng kê thu mua hàng
hóa nhập vào không có hóa đơn, Biên bản kiểm nghiệm vật tư, Biên bản xử lý vật
tư thiếu...
Căn cứ vào các chứng từ có liên quan , kế toán phản ánh trị giá vốn thực tế
nguyên vật liệu vào sổ kế toán. Cuối tháng, tiến hành tổng hợp số liệu kiểm tra đối
chiếu với số liệu của kế toán chi tiết.
Việc ghi chép nghiệp vụ nhập kho nguyên vật liệu của doanh nghiệp được
hạch toán như sau:
o Trường hợp hàng và hóa đơn cùng về:
Nếu nguyên vật liệu mua về dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc
đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, căn cứ vào hóa đơn, phiếu
nhập kho và các chứng từ kế toán khác có liên quan, kế toán ghi:
Nợ TK 152
Nợ TK 133
Có TK có liên quan (111, 112, 331, 311...)
Nếu nguyên vật liệu mua về dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh không
thuộc đối tượng nộp thuế GTGT hoặc nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
thì trị giá nguyên vật liệu nhập kho là tổng giá thanh toán trên hóa đơn.
Trường hợp được hưởng chiết khấu thương mại, giảm giá hoặc trả lại số
hàng đã mua: Căn cứ vào các chứng từ có liên quan, kế toán ghi:
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Lớp Kế toán tổng hợp 47C
Nợ TK 111, 112, 331...
Có TK 152
Có TK 133
Trường hợp được hưởng chiết khấu thanh toán:
Nợ TK 111, 112, 331...
Có TK 515
o Hóa đơn về, hàng chưa về:
Khi nhận được hóa đơn, kế toán lưu hóa đơn vào hồ sơ hàng mua đi đường.
Nếu trong tháng, hàng về, kế toán tiến hành ghi sổ như bình thường. Nếu cuối
tháng hàng chưa về, căn cứ hóa đơn và các chứng từ có liên quan, kế toán ghi:
Nợ TK 151
Nợ TK 133
Có TK có liên quan (111, 112, 331...)
Sang tháng sau, khi hàng về, căn cứ vào phiếu nhập kho, kế toán ghi:
Nợ TK 152
Có TK 151
o Hàng về chưa có hóa đơn:
Khi kế toán chỉ nhận được phiếu nhập kho, chưa nhận được hóa đơn, kế toán
tạm nhập kho. Nếu trong tháng hàng về, kế toán tiến hành ghi sổ như bình thường.
Nếu cuối tháng hóa đơn chưa về, kế toán ghi sổ theo giá tạm tính:
Nợ TK 152
Có TK liên quan (111, 112, 331…)
Sang tháng sau, khi hóa đơn về, kế toán tiến hành điều chỉnh từ giá tạm tính
thành giá thực tế theo 3 cách:
SVTH: Bùi Anh Thư Khoa Kế toán-Kiểm toán

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×