Tải bản đầy đủ

một số kinh nghiệm rèn kỹ năng đọc đúng trong phân môn tập đọc cho học sinh lớp 3 dân tộc thái


1

PHẦN MỞ ĐẦU

I. Lý do chọn đề tài
1. Lý do khách quan.
Ở trường tiểu học môn Tập đọc chiếm vai trò cực kỳ quan trọng, là công
cụ giao tiếp cần thiết, giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm thực tế đời
sống. Môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập đọc nói riêng giúp con người
hiểu rộng về thiên nhiên, về quê hương đất nước, về phong tục, tập quán ở mọi
miền quê và của các dân tộc, các nước trên thế giới. Từ đó giúp các em biết yêu
và bảo vệ những cái hay, cái đẹp của quê hương, đất nước. Ngoài ra môn Tập đọc
còn góp phần to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh.
Thông qua việc đọc, dạy các em biết yêu cái thiện, cái đẹp. Từ đó các em biết suy
nghĩ đúng đắn về những việc làm tốt, hành động đẹp.
Qua nhiều năm giảng dạy và nghiên cứu, từ việc điều tra thực tế tôi thấy:
Đối với học sinh dân tộc Thái, bên cạnh những em đọc được, đọc khá, đọc tốt còn
có nhiều em đọc chưa thông, đọc yếu, đọc ê - a hoặc khi đọc còn lẫn một số âm,
vần, tiếng, từ, sai, lẫn dấu thanh, ngắt nghỉ chưa đúng
Vậy nguyên nhân do đâu ? làm thế nào để khắc phục tình trạng trên ?

Đó là điều trăn trở của những người đã, đang và sẽ làm thầy đứng trên bục
giảng. Muốn học sinh học tốt thì trước hết học sinh phải biết đọc, phải đọc thông,
viết thạo , chỉ đọc lên mới có thể hiểu, đọc được thì mới viết được, đọc được
mới có thể hiểu và phát triển được tư duy ở tất cả các môn học từ tiểu học đến
các bậc học cao hơn. Vì vậy cần phải dạy cho các em biết đọc và đọc thành thạo.
Từ đó mới có thể nâng cao chất lượng học tập của học sinh tiểu học nhất là đối
với học sinh dân tộc Thái.
Chắc chắn rằng, trong chúng ta ai cũng biết giáo dục thuộc chiến lược con
người. Giáo dục mãi mãi tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người. Với sự
quan tâm của Đảng và Nhà nước chúng ta phải làm thế nào để nâng cao chất
lượng giáo dục nói chung và đặc biệt hơn đối với chất lượng dạy và học ở vùng
sâu, vùng xa, những nơi ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán của mỗi vùng,
mỗi dân tộc có đặc điểm khác nhau. Do vậy những người làm công tác giáo dục
phải dạy cho học sinh đủ các thao tác "Nghe - nói - đọc - viết" tiếng Việt, trong
đó thao tác đọc là một trong những thao tác cần thiết. Học sinh phải biết đọc, đọc
thông thạo thì mới hiểu và tiếp cận được với kiến thức. Đó là một trong những
vấn đề đáng quan tâm của mỗi chúng ta, những người luôn tâm huyết với nghề,
có tình thương yêu học trò sâu sắc.

2

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: "Nghề dạy học là nghề cao quý
nhất trong các nghề cao quý". Người đặt niềm tin cực kỳ to lớn vào thế hệ trẻ.
Đồng thời đó cũng là trọng trách lớn lao của những người làm công tác giáo dục.
Bác nói: " Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt
Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay
không, Chính là nhờ phần lớn công học tập của các cháu". Chính vì vậy mà Đảng
và nhà nước luôn đưa sự nghiệp giáo dục lên hàng đầu.
Chúng ta cần khẳng định: "Trẻ em là tương lai của đất nước". Để giúp các
em sau này trở thành người có ích cho xã hội. Do đó việc giáo dục là một việc
cực kỳ quan trọng đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững đối tượng, làm chủ
phương pháp dạy học và luôn không ngừng thay đổi hình thức tổ chức dạy học để
hướng dẫn học sinh học tập, trong đó việc dạy học cho học sinh yếu phải được
chú trọng, được quan tâm đặc biệt. Để học sinh tiếp nhận được tri thức trước hết
các em phải biết đọc, thích đọc, đọc hiểu, đọc thành thạo
Thực tế cho thấy, có nhiều em học sinh dân tộc Thái qua một thời gian học
tập, kết thúc một năm học mà vẫn đọc chưa thông, viết chưa thạo, đọc vẫn còn
sai, còn nhầm lẫn bởi lẽ tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai, là “Ngoại ngữ” đối với
các em. nghe, đọc, nói, viết tiếng Việt đối với các em chỉ được thực hiện trên lớp.
Trong đó, thời gian nghỉ giữa các tiết học, buổi học các em vẫn sử dụng tiếng mẹ
đẻ thậm chí các em còn bị pha trộn trong quá trình giao tiếp bởi nhiều thứ ngôn
ngữ khác nhau trong cùng một môi trường giao tiếp như tiếng Việt, tiếng Thái,
tiếng Hmông, tiếng Khơmú, tiếng Tày, tiếng Dao
Chính vì vậy để tiếp cận với tiếng Việt một cách chủ động, thực hiện các thao
tác tiếp thu tiếng Việt, giúp các em có hứng thú trong học tập và đạt hiệu quả tốt tôi
đã quan tâm đến việc dạy môn Tập đọc cho học sinh dân tộc Thái.
2. Lý do chủ quan.
Là giáo viên và là cán bộ chuyên môn của Phòng Giáo dục và Đào tạo về
lĩnh vực chuyên môn nhiều năm, tôi muốn giúp các em trở thành con người toàn
diện về mọi mặt, có tri thức, am hiểu về xã hội, biết áp dụng kiến thức thực tiễn
vào đời sống hàng ngày Tôi biết, điều đó phần lớn phụ thuộc vào những người
làm công tác giáo dục. Xác định được trách nhiệm to lớn đó, tôi muốn tìm hiểu
và đề xuất một số kinh nghiệm mang tính sáng tạo của bản thân vào công tác giáo
dục trong việc dạy đọc cho học sinh lớp 3 dân tộc Thái nhằm khắc phục tình
trạng học sinh đọc sai và nhầm lẫn của từng vùng, miền, từng địa phương.
Giúp học sinh biết đọc, đọc thành thạo nhằm nâng cao chất lượng học tập
cho các em, qua nhiều năm thực tế giảng dạy và nghiên cứu trên đối tượng học

3

sinh dân tộc Thái tôi đã tìm cho mình phương pháp dạy đọc nhất là dạy học phân
môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 dân tộc Thái. Rất mong sự quan tâm, bổ sung,
góp ý của bạn bè đồng nghiệp, các thầy cô giáo Trường Tiểu học xã Hua Nà để
sáng kiến kinh nghiệm của tôi được đầy đủ hơn và áp dụng vào thực tiễn đạt hiệu
quả cao.
Chính vì thế, tôi quyết định lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm về "Một số
kinh nghiệm rèn kỹ năng đọc đúng trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp
3 dân tộc Thái"
II. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
1. Phạm vi nghiên cứu: Năm học 2011-2012 nghiên cứu lý thuyết
Năm học 2012-2013 nghiên cứu thực nghiệm và đối chứng trên 77 học
sinh lớp 3 dân tộc Thái thuộc trường Tiểu học xã Hua Nà.
2. Đối tượng nghiên cứu: Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng đọc đúng trong
phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 dân tộc Thái
III. Mục đích nghiên cứu
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy không phải học sinh dân tộc
Thái không biết đọc hoặc không đọc thông, viết thạo, thậm chí có nhiều học sinh
đọc tương đối tốt, song qua một thời gian không được thường xuyên quan tâm
(qua 3 tháng hè) các em ít tiếp xúc với tiếng phổ thông, chủ yếu sử dụng tiếng mẹ
đẻ và có rất ít học sinh tân tộc Thái ở bậc Tiểu học quan tâm đến thao tác đọc nên
việc đọc của các em còn rất nhiều hạn chế. Vào năm học mới, tiếp tục tiếp cận
với kiến thức mọi thao tác với các em gần như hoàn toàn mới mẻ. Từ đó dẫn đến
tình trạng đọc không đúng, đọc sai ngữ âm, sai dấu câu, không diễn cảm, tốc độ
đọc không đảm bảo
Nhận biết những hạn chế trên, tôi đã cố gắng tìm hiểu nguyên nhân và tự
đặt cho mình câu hỏi:
- Tại sao ở cùng một lứa tuổi, cùng một giáo viên dạy mà kết quả thu được
từ các học sinh lại khác nhau ?
- Nếu mỗi tiết dạy có nhiều học sinh đọc không đúng thì tiết dạy đó có hiệu quả
không ?
- Nhiều học sinh đọc không đúng có ảnh hưởng tới thời gian trong một tiết học
không ?
Như vậy trong tôi luôn trăn trở muốn tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên.
IV. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
1. Đối với giáo viên:

4

Giúp giáo viên tích cực hóa công tác tự học, tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng.
Thường xuyên tìm lỗi đọc sai trên từng học sinh, từng nhóm đối tượng trong lớp.
Dành nhiều thời gian quan tâm tới đối tượng học sinh trong mỗi tiết học.
Linh hoạt trong việc sử dụng kiến thức và tổ chức các hoạt động dạy – học.
Áp dụng và vận dụng tốt công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc.
2. Đối với học sinh:
Giúp học sinh đọc đúng, hiểu rõ và phân biệt được sự khác nhau khi đọc
giữa các âm, vần, tiếng, từ, đọc đúng từng câu văn, dòng thơ; đoạn văn, khổ thơ.
Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa các từ vừa đọc. Học sinh đọc đúng sẽ viết
đúng tiếng Việt, có thể vận dụng vào các môn học khác như đọc để viết chính
tả,đọc để hiểu nội dung bài toán, đọc để biết dùng từ khi làm tập làm văn
Thực hiện tốt công tác tuyên truyền tới phụ huynh học sinh trong việc sử
dụng tiếng Việt khi giao tiếp. Gắn kết chặt chẽ ba môi trường giáo dục để cùng
giáo dục học sinh. Tạo cơ hội để học sinh giao tiếp tiếng Việt ở các môi trường
khác nhau như gia đình, nhà trường và xã hội giúp nâng cao vốn tiếng Việt cho
học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 3 dân tộc Thái nói riêng.



















5

PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận
1. Cơ sở lí luận của việc dạy, học môn Tiếng Việt.
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, vấn đề về giáo dục đã được Đảng và
Nhà nước hết sức quan tâm và được đặt lên hàng đầu. Trách nhiệm này được chia
sẻ cho hàng ngàn, hàng vạn con người đang hàng ngày nắn nót cho các em học
sinh thân yêu từng nét chữ, dạy cho các em muôn vàn những điều hay, lẽ phải
Những người vẫn ngày đêm miệt mài bên trang giáo án để truyền đạt kiến thức
tới lớp lớp thế hệ học sinh thân yêu. Cuộc sống xã hội là kho tàng kiến thức vô
tận, người thầy là người cầm chìa khoá mở cửa cho các em khám phá kho tàng
kiến thức vô tận đó.
Chiến lược nâng cao chất lượng giáo dục đang được Đảng và Nhà nước
đặc biệt quan tâm. Luật giáo dục sửa đổi năm 2009 (Điều 27) đã chỉ rõ mục tiêu
của giáo dục là: “Giáo dục giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản
khác để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”. Hơn thế nữa trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng nói: “Giáo dục phải theo hoàn
cảnh và điều kiện” và “Một chương trình nhỏ mà được thực hành hẳn hoi còn
hơn một trăm năm một chương trình lớn mà không thực hiện được”. Lời nói của
Bác đã thể hiện rõ nguyên lý: “Học đi đôi với hành”. Nguyên lý này là bài học để
chúng ta tiếp cận với thế giới trong lĩnh vực giáo dục.
Ở lứa tuổi tiểu học, ngoài vòng tay ấm áp của những người thân trong gia
đình, các em còn được đến trường, được trực tiếp tiếp xúc với cuộc sống. Ngoài
những kiến thức các em đã được tiếp cận ở gia đình, mái trường là nơi để các em
học tập, vui chơi. Ở đây, các em được dạy dỗ, dìu dắt và làm nền móng để các em
đạt được những thành công trong cuộc sống, trở thành người công dân có ích góp
sức xây dựng nước nhà.
Ngay từ khi đến trường, các em đã làm quen với hình thức giao tiếp bằng
tiếng Việt và chữ Việt, một thứ ngôn ngữ khác xa tiếng mẹ đẻ mà các em quen
dùng. Do đó nếu không được tiếp xúc, không biết đọc các em sẽ không tiếp nhận
và trau dồi kiến thức. Như vậy, dạy phân môn Tập đọc cho học sinh dân tộc Thái
bậc Tiểu học là vô cùng quan trọng, mang ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát
triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Vấn đề học sinh đọc sai, phát âm chưa đúng nguyên nhân không sao kể
hết, không phải do nhận thức của các em mà cơ bản vẫn là thiếu sự quan tâm
thường xuyên của cha mẹ, của thầy (cô) hoặc có quan tâm nhưng không thường

6

xuyên, liên tục, quan tâm chưa đều chưa đầy đủ Do áp dụng phương pháp và
hình thức tổ chức dạy học của những người làm công tác giáo dục chưa cập đến
yêu cầu chung của toàn xã hội cũng như yêu cầu chung của sự nghiệp giáo dục.
Như chúng ta đã biết; Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng, tiếng Việt là công
cụ để học sinh chiếm lĩnh tri thức ở các môn học khác. Học sinh biết đọc thì sẽ
học được các môn học khác vì trong 9 môn học cơ bản của bậc Tiểu học đều đòi
hỏi học sinh phải đọc, hiểu để tiếp thu kiến thức.
Trong năm học 2012 – 2013 với chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
chủ trương của Sở Giáo dục và Đào tạo Lai Châu là: “ Tiếp tục đổi mới quản lý
và nâng cao chất lượng giáo dục”. Hơn nữa trong giai đoạn phát triển Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập. Để những chủ nhân tương lai của đất nước
có thể hòa nhập với sự phát triển không ngừng của xã hội hiện nay việc rèn luyện
cho học sinh phát triển toàn diện là một việc làm cần thiết, điều đó sẽ giúp cho
con người dần thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, sử dụng kiến thức của mình để xây
dựng và bảo vệ đất nước.
2. Mục tiêu của môn Tiếng Việt.
Tiếng Việt là công cụ giao tiếp để trao đổi thông tin, là phương tiện để tiếp
nhận thông tin, những tri thức văn hóa, xã hội và đời sống. Do vậy học từng bước
làm quen với tiếng Việt, hiểu được tiếng Việt, đọc được tiếng Việt và biết vận
dụng tiếng Việt là một yêu cầu vô cùng quan trọng.
Mục tiêu dạy học tiếng Việt đã nêu như sau:
Mục tiêu môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển ở học sinh kỹ năng sử
dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường
hoạt động của mọi lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn
các thao tác của tư duy.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt
Nam và nước ngoài.
Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
3. Nội dung dạy học về kiến thức, kĩ năng môn Tiếng Việt lớp 3.
* Nghe: Nghe - hiểu được nội dung chính trong lời nói của người đối thoại; ý
kiến thảo luận trong các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đội.
Nghe - hiểu được nội dung chính của các tin tức, quảng cáo, các bài phổ
biến khoa học.,

7

Nghe - hiểu và kể lại nội dung các mẩu chuyện ngắn, biết nhận xét về các
nhân vật trong các câu chuyện.
* Nói: Biết dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp trong sinh hoạt gia đình,
trong các cuộc họp Đội, họp lớp và các hình thức sinh hoạt khác của nhà trường.
Biết giới thiệu các thành viên, các hoạt động của tổ, của lớp ; biết kể lại một câu
chuyện đã nghe, đã học.
* Đọc: Đọc đúng, rõ ràng, rành mạch các đoạn đối thoại, các văn bản nghệ thuật,
hành chính, báo chí,
Đọc thầm có tốc độ nhanh hơn ở lớp 2. Nắm được ý chính của đoạn văn,
biết đặt đầu đề cho đoạn văn, biết nhận xét về một số hình ảnh, nhân vật hoặc chi
tiết trong bài đọc. Thuộc lòng một số bài văn vần trong sách giáo khoa.
* Viết: Viết đúng, nhanh các kiểu chữ thường và chữ hoa cỡ nhỏ
Viết đúng chính tả, rõ ràng, đều nét những đoạn văn ngắn theo các hình
thức nghe – viết và nhớ – viết; biết viết tên người, tên địa lí nước ngoài; biết phát
hiện và sửa một số lỗi chính tả
Biết viết đơn, viết tờ khai theo mẫu, viết một bức thư ngắn để báo tin tức,
để hỏi thăm người thân, tập trình bày phong bì thư hoặc kể lại một việc đã làm
biết kể lại nội dung một bức tranh đã xem, một văn bản đã học.
* Kiến thức tiếng Việt và văn học.
Ghi nhớ các quy tắc chính tả, đặc biệt là quy tắc viết tên người, tên địa lí
Việt Nam và nước ngoài.
Học thêm khoảng 400 – 450 từ ngữ; tiếp tục học một số thành ngữ và yếu
tố Hán Việt thông dụng; bước đầu biết giải nghĩa một số từ thông dụng trong bài;
nhận ra được các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa. Củng cố về hiểu biết về danh
từ, động từ, tính từ, cách dùng một số từ nối, một số kiểu câu và một số dấu câu.
4. Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học.
Học sinh tiểu học thường tri giác trên tổng thể, sự chú ý không ổn định
chiếm ưu thế. Sự ghi nhớ có chủ định chưa bền vững, chưa có khả năng phán
đoán, suy luận, nhất là học sinh đầu cấp. Đến cuối cấp học, khả năng này của học
sinh tốt hơn nhưng cũng chỉ tập trung chủ yếu ở học sinh khá, giỏi.
Trí nhớ trực quan hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ lôgich
do đó các em dễ quên và dễ nhầm. Trí nhớ tưởng tượng phát triển song còn tản mạn ít
có tổ chức dẫn đến các em hay chán và ít tập trung vào việc học và sửa sai.

Sử dụng công cụ giao tiếp không thường xuyên, chỉ giao tiếp bằng tiếng Việt
trên lớp, khi tan học và thời gian ở nhà hầu hết các em sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp.

8

5. Các phương pháp dạy học chủ yếu.
Dạy học bao gồm một hệ thống các phương pháp đòi hỏi giáo viên phải lựa
chọn sao cho phù hợp với đặc điểm từng môn dựa trên đối tượng học sinh. Sử
dụng phương pháp trong dạy học cần linh hoạt, sáng tạo. Đối với học sinh dân
tộc Thái để rèn kỹ năng nghe – nói – đọc – viết cho các em cần chú ý đến các
phương pháp: làm mẫu, phân tích, tổng hợp, so sánh, thực hành.
Theo điều tra, học sinh dân tộc kinh khi học lớp 1 có khoảng 4000 đến
4500 từ. Như vậy học sinh dân tộc kinh khi vào học lớp 1 với vốn từ tiếng Việt
đã có các em có thể sử dụng vốn từ đó để giao tiếp hằng ngày và trao đổi thông
tin, tiếp thu kiến thức. Trong khi đó học sinh dân tộc (trong đó có học sinh dân
tộc Thái) không có điều kiện đó. Cho nên khi đến trường để sử dụng tiếng Việt
với học sinh dân tộc Thái là khó khăn vì tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai là “Ngoại
ngữ” đối với các em. Việc sử dụng ngôn ngữ thứ hai đối với các em trong quá
trình giao tiếp đã khó vậy mà các em còn phải sử dụng tiếng Việt trong học tập
lại là vấn đề khó hơn đòi hỏi các em phải nghe để hiểu, nghe để biết, nghe để đọc,
nghe để viết và biết để vận dụng.
II. Thực trạng của vấn đề.
1. Điều tra thực tế đối tượng.
Tổng số học sinh lớp 3 trường Tiểu học xã Hua Nà 77 em. 77/77 em là học
sinh dân tộc Thái
Hầu hết học sinh được hỏi đều trả lời thích được đến trường, thích học
nhưng các em chỉ nói học để biết còn học có tác dụng gì không thì các em hoàn
toàn không biết. Các em chưa xác định được động cơ học tập của mình.
Khi bước vào lớp 1 các em mới thật sự thấy ngôn ngữ tiếng Việt là cần
thiết. Nó là cầu nối để giúp các em tiếp cận kiến thức ở tất cả các môn học. Tiếng
Việt không đơn thuần chỉ là ngôn ngữ giao tiếp mà nó phải đạt ở mức cao hơn đó
là nghe - nói - đọc - viết.
Nếu các em không nắm được cấu trúc của tiếng Việt, cách đọc tiếng Việt
thì các em sẽ không thể tiếp thu được kiến thức. Như vậy dạy đọc cho học sinh
lớp 3 là hết sức cần thiết nhất là đối với học sinh lớp 3 dân tộc Thái.
2. Thuận lợi.
Trường Tiểu học xã Hua Nà là trường Chuẩn quốc gia Mức độ I, trường
thuộc xã vùng 2, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học đảm bảo. 100% số
lớp, số học sinh được học 2 buổi/ngày. 100% học sinh vào lớp 1 đã học qua mẫu
giáo 5 tuổi. Học sinh thông minh, hiếu học, các em ngoan, chăm chỉ học tập,
vâng lời thầy cô.

9

Đội ngũ cán bộ, giáo viên ổn định và đồng bộ, có ý thức trách nhiệm cao,
nhiệt tình trong công tác, đoàn kết nội bộ.
Địa bàn nơi trường đóng gần trung tâm huyện, số điểm trường ít (01 điểm
trường) khu lẻ cách trung tâm trường 2km nên tổ chức các hoạt động học tập và
các hoạt động ngoài giờ lên lớp tương đối thuận lợi.
Trường thường xuyên được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo huyện, sự
quan tâm của Phòng Giáo dục và Đào tạo, được sự quan tâm của các cấp chính
quyền địa phương và sự quan tâm, phối hợp của phụ huynh học sinh trong việc
giảng dạy và giáo dục học sinh.
3. Khó khăn.
Những học sinh đọc, phát âm sai hầu hết không phân biệt đúng, sai khi
dùng dấu câu, dùng âm, vần, cách ngắt nghỉ chưa đúng nên bản thân các em
không tự sửa khi nói, khi đọc.
Địa bàn xã rộng nên các em cư trú theo gia đình ở rải rác khá xa nhau.
Nhiều em, đến trường học phải qua một con suối với dòng chảy xiết vào những
ngày mưa lũ. Đây cũng là một đặc điểm không mấy thuận lợi đối với các em học
sinh tiểu học trong những ngày trời mưa.
Cuộc sống sinh hoạt của một số hộ gia đình còn gặp nhiều khó khăn, trong
đó còn gần 40% số dân thuộc gia đình khó khăn (diện hộ nghèo), đời sống của
nhân dân phụ thuộc hoàn toàn vào kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ. Nên tư tưởng còn
trông chờ vào sự đầu tư của cấp trên. Chưa nhận thức được tầm quan trọng của
việc học của con em mình. Việc học của một số em chưa có mục đích, mới chỉ
xác định “học để biết” chưa thấy việc học thực sự thiết thực và cần thiết.
Kinh phí đóng góp cho hoạt động giáo dục gần như không có nên việc tổ
chức các hoạt động văn nghệ, thể thao và các tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp
chưa thật hiệu quả.
4. Nguyên nhân chính.
* Về phía giáo viên:
Cách phát âm của một số thầy cô chưa chuẩn hoặc chưa quan tâm tới việc
sửa lỗi phát âm cho bản thân cũng như cách phát âm cho học sinh trong từng tiết
dạy ngay từ các lớp đầu cấp dẫn đến các em phát âm sai theo thói quen từ lớp 1
đến các lớp cao hơn.
Giáo viên chưa phát hiện được lỗi sai của học sinh để sửa như đọc sai phụ
âm đầu, phần vần hay thanh điệu hoặc nếu có phát hiện ra lỗi sai cũng chỉ sửa
cho học sinh bằng cách nghe bạn hoặc giáo viên đọc, phát âm lại và đọc lại để

10

sửa, giáo viên chưa biết cách hướng dẫn để học sinh phân biệt đúng sai và sửa
hoàn toàn lỗi sai đó.
* Về phía học sinh.
Do các em học sinh dân tộc Thái chịu ảnh hưởng tiếng địa phương. Các em
thường xuyên sử dụng song song hai ngôn ngữ khi giao tiếp (tiếng Việt và tiếng
mẹ đẻ) nên dễ nhầm lẫn khi nói, khi đọc.
Một số em thường đọc sai các âm vị là phụ âm đầu trong tiếng Việt. Đọc
nhầm lẫn giữa hai phụ âm có khẩu hình tương đối giống nhau như (l-đ), (b-v), (t-
th). Bỏ âm cuối khi đọc
Không phân biệt được sự khác nhau giữa các âm vị là nguyên âm đôi, bỏ
âm vị của các tiếng có nguyên âm đôi như: (iê->ê->i), (uô->ô->u), (ươ->ơ->ư)
Không phân biệt được thanh ngã, thanh hỏi, bỏ dấu thanh hoặc nhầm lẫn
giữa các thanh điệu.
Ngắt nghỉ không đúng dấu câu, hiểu không hết nội dung văn bản dẫn đến
khó khăn khi học phân môn Tập làm văn. Chưa biết cách diễn đạt giọng đọc khi
tập đọc diễn cảm.
5. Giải pháp.
5.1. Sửa các lỗi:
Đọc sai, đọc nhầm phụ âm đầu
Đọc sai, đọc thiếu âm vị trong nguyên âm đôi, thiếu âm cuối
Đọc sai, đọc thiếu, nhầm lẫn giữa các dấu thanh.
5.2. Sửa lỗi ngắt nghỉ khi đọc.

III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
1. Biện pháp 1: Khảo sát chất lượng học sinh khối 3. Phân loại đối tượng học
sinh theo nhóm lỗi thường sai khi đọc.
Học sinh từng lớp đọc bài tập đọc theo khả năng của từng trình độ, tối thiểu
học sinh phải được đọc một câu hoặc một đoạn, khổ thơ để dễ phát hiện những lỗi
học sinh đọc sai.
Không yêu cầu học sinh đọc quá nhanh hoặc quá chậm.
Phải khảo sát 100% đối tượng học sinh trong từng lớp.
Giáo viên khảo sát song không nhận xét kết quả đọc của học sinh trước
lớp mà phân loại từng trình độ đọc của học sinh từng lớp để theo dõi.
Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến học sinh đọc sai.
Tìm hiểu những lỗi học sinh từng lớp hay mắc.

11

1.1 Khảo sát đọc.
Áp dụng với 77 học sinh lớp 3 (Tiến hành khảo sát không tính vào kết quả
học tập của lớp của trường)
- Nhóm đối chứng: Tổng số 40 học sinh, dân tộc Thái 40, nữ 18 học sinh.
- Nhóm thực nghiệm: Tổng số 37 học sinh, dân tộc Thái 37, nữ 18 học sinh
Tuần 3 - Bài tập đọc:
QUẠT CHO BÀ NGỦ
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 tập 1.
Sau tiết học một số học sinh đọc bài tập đọc với các lỗi như sau:

Ơi chích chè
ơi !
Chim lừng hót nớ,
Bà em ốm dồi,
Đặng
cho Bà ngủ.

Bàn tai bé nhỏ
Bấy quạt tật lều
Ngớn nắng tiu tiu
Lậu trên tờng tráng.

Căn nhà đá bắng
Côôc chén nằm im.
Lôi
mắt đim dim
Ngủ ngon bà nhé.

Hoa cam, hoa khế
Chín đặng troong bờn,
Bà mơ tai cháu
Quạt lầy hơng tơm.
Học sinh đọc sai: Chích choè -> chích chè; chim đừng hót nữa -> chim
lừng hót nớ; lặng -> đặng; tay -> tai; vẫy quạt thật đều -> bấy quạt tật lều; ngấn
nắng thiu thiu -> ngớn nắng tiu tiu; đậu trên tường trắng -> lậu trên tờng tráng; đã
vắng -> đá bắng; cốc -> côôc; đôi mắt lim dim -> lôi mắt đim dim; chín lặng
trong vườn -> chín đặng troong bờn; bà mơ tay cháu -> bà mơ tai cháu; Quạt đầy
hương thơm -> quạt lầy hơng tơm.

12

Đánh giá kết quả qua khảo sát:
Kết quả khảo sát phần đọc
T
T

Nhóm
Tổng
số
HS
Đọc
đúng

%
Sai
âm
đầu,
âm
cuối

%
Sai,
lẫn
dấu
thanh

%
Ngắt
nghỉ
sai
%
Đọc
sai
cả 3
lỗi
bên
%
1

Đối chứng 40 9 22,5

11 27,5

7 17,5 10 25,0

3 7,5
2

Thực nghiệm

37 8 21,6

10 27,0

5 13,5 9 24,3

5 13,6

Cộng
77 17 21 12 19 8
21 học sinh đọc sai, còn nhầm lẫn giữa chữ l với đ; b với v; th với t
8 học sinh không đọc được nguyên âm đôi.
12 học sinh đọc sai, lẫn dấu thanh.
6 học sinh bỏ âm cuối khi đọc
19 học sinh ngắt nghỉ không đúng khi đọc.
Từ bảng phân kết quả trên, ta thấy khả năng nhận thức, kỹ năng đọc ở hai
nhóm là tương đương nhau. Điều này rất thuận lợi cho việc kiểm tra kết quả của
sáng kiến kinh nghiệm sau thực nghiệm trên đối tượng học sinh đảm bảo tính
chính xác, tính khách quan.
1.2. Khảo sát bằng phiếu điều tra trên 77 học sinh khối 3.
Mục đích của việc dùng phiếu là để thu thập thông tin từ phía học sinh, giúp
giáo viên tìm hiểu rõ hơn nguyên nhân dẫn đến việc đọc sai của từng nhóm đối
tượng. Từ đó có biện pháp khắc phục lỗi sai cho học sinh trong quá trình dạy học.
Phát phiếu cho từng học sinh, hướng dẫn học sinh đánh dấu nhân vào ô
trống ở từng phiếu để thực hiện các yêu cầu sau:
a) Xác định nguyên nhân chính dẫn đến đọc sai, nhầm lẫn khi đọc.
- Nhầm lẫn giữa tiếng Việt với tiếng Thái
- Do chưa nắm vững âm, vần khi đọc
- Sử dụng luồng hơi và khẩu hình miệng chưa đúng
- Không phân biệt rõ các cặp âm tiết có dạng phát âm giống nhau.
- Chưa chú ý đến việc rèn đọc đúng, ít luyện đọc ngoài tiết học.
b) Em thường đạt mức điểm nào khi đọc ở phân môn Tập đọc lớp 2.
- Điểm 9 – 10
- Điểm 7 – 8

13

- Điểm 5 – 6
- Điểm dưới 5
c) Xác định các dòng dưới đây mà em cho là cần thiết khi học phân môn Tập đọc
ở lớp 3.
- Nắm vững cách phát âm và sự khác biệt giữa các âm tiết
- Quan tâm tới luồng hơi và khẩu hình miệng khi đọc
- Tìm hiểu quy tắc chính tả
- Đọc tự do không cần hiểu rõ nội dung
- Thường xuyên luyện đọc đúng
1.3. Kết quả.
a) Câu hỏi xác định nguyên nhân. Nhóm học sinh chọn nguyên nhân do:
- Sử dụng luồng hơi và khẩu hình miệng chưa đúng 33/77 = 42,8 %
- Không phân biệt rõ các cặp âm tiết có dạng phát âm giống nhau 25/77 = 32,5 %
- Chưa chú ý đến việc rèn đọc đúng 11/77 = 14,3 %
- Nguyên nhân khác 8/77 = 10,4 %
b) Câu hỏi về biểu hiện của kết quả.
- Điểm 9 – 10 17/77 = 22,0 %
- Điểm 7 – 8 34/77 = 44,2 %
- Điểm 5 – 6 26/77 = 33,8 %
- Điểm dưới 5 0/77
c) Câu hỏi xác định biện pháp:
- Nắm vững cách phát âm và sự khác biệt giữa các âm tiết 22/77 = 28,6 %
- Quan tâm tới luồng hơi và khẩu hình miệng khi đọc 33/77 = 42,8 %
- Tìm hiểu quy tắc chính tả 5/77 = 6,6 %
- Thường xuyên luyện đọc đúng 17/77 = 22,0 %
Qua kết quả điều tra ở trên, ta thấy thực trạng việc học phân môn Tập đọc
nói chung, luyện đọc đúng của học sinh lớp 3 dân tộc Thái trường Tiểu học Hua
Nà nói riêng vẫn còn hạn chế và khó khăn. Căn cứ kết quả thu được thì nguyên
nhân chính dẫn đến kết quả đọc của các em chưa cao là do các em phát âm còn
ngọng, chưa phân biệt rõ một số âm tiết trong tiếng, từ khi đọc. Ngoài ra còn một
số nguyên nhân khác như chưa chú ý đến việc rèn đọc đúng, chưa thường xuyên
luyện đọc, luyện đọc đúng. Biểu hiện của các nguyên nhân trên là vẫn còn 26/77
học sinh xác nhận mới chỉ đạt điểm trung bình trong phân môn Tập đọc ở lớp 2.
Số lượng học sinh đạt điểm giỏi còn ít 17/77 học sinh.

14

Căn cứ phiếu trắc nghiệm tìm kiếm thông tin về xác định biện pháp chính
trong 77 học sinh được hỏi có tới 42,8% học sinh chưa quan tâm tới việc đọc đúng
(các em đọc còn ngọng). Một số học sinh ít quan tâm tới quy tắc chính tả, số lượng
học sinh đã quan tâm để đọc- viết đúng đạt 6,6%, ít quan tâm tới đọc đúng.
Như vậy, từ kết quả trên tôi có thể xác định nguyên nhân cơ bản, cụ thể
của từng nhóm đối tượng học sinh, tìm biện pháp sửa lỗi trên từng nhóm đối
tượng mắc lỗi, nâng cao hiệu quả trong phân môn Tập đọc và kết quả đọc đúng
của học sinh lớp 3
1.4 Phân loại nhóm đối tượng
Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm
Các lỗi sai khi đọc
3A1 3A2 3A3 3A4
Đọc sai âm đầu, âm cuối, bỏ âm đệm 4 7 5 5
Đọc sai, lẫn dấu thanh 3 4 2 3
Ngắt nghỉ chưa đúng 4 6 4 5
Sai cả 3 lỗi trên 1 2 2 3

2. Biện pháp 2: Sửa các lỗi sai khi đọc
2.1. Nhóm đối chứng.
Giáo viên tiến hành dạy học bình thường theo phương pháp và cách thức tổ
chức đối với phân môn Tập đọc trong thời gian 8 tuần, 21 tiết tập đọc. Từ tuần 5
đến tuần 12 theo đúng quy trình tiết tập đọc
2.2. Nhóm thực nghiệm.
2.2.1. Đối với giáo viên
Giáo viên tiến hành dạy học bình thường trong 4 tuần (khoảng 12 tiết)
nhưng có mở rộng và thường xuyên lưu ý sửa lỗi cho học sinh. Giáo viên cần
nhắc lại kiến thức vào các tiết ôn buổi chiều để học sinh nắm vững các âm tiết
trong tiếng Việt về số lượng, nguyên âm, phụ âm, dấu thanh. Cụ thể:
- Bảng chữ cái tiếng Việt gồm 29 chữ.
Trong đó:
Có 12 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y.
Có 17 phụ âm: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, s, r, t, v, x.
- Bảng chữ cái tiếng Việt gồm 6 dấu thanh: Ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng.
- Các phụ âm ghép chuẩn là: ch, gh, ng, ngh, nh, ph, th, tr, gi, qu.

15

Lưu ý:
Có 3 trường hợp bán nguyên âm là: oe, oa, uy thì có o và u là bán nguyên
âm đóng vai trò đệm cho nguyên âm. Nghĩa là o và u không được cho là nguyên
âm trong tổ hợp 3 âm tiết trên.
ơ
Dấu thanh đặt ở nguyên âm. Riêng dấu nặng đặt dưới nguyên âm.
Hướng dẫn học sinh tìm sự khác biệt khi đọc giữa các âm tiết để có cách
đọc đúng.
Giáo viên hướng dẫn học sinh kỹ thuật phát âm chuẩn đối với những âm dễ
sai, dễ nhầm lẫn.
Khi sử dụng tiếng Việt học sinh thường sai 3 phần: phụ âm đầu, phần vần
và thanh điệu. Học sinh dân tộc Thái khi phát âm thường sai do sử dụng âm tiết
thay thế (Ví dụ: đâu -> lâu; đá -> lá; thì -> tì; và -> bà ) hoặc phát âm sai do bỏ
âm (Ví dụ: thương - > thơng; cuốc -> côốc )
Khi hướng dẫn học sinh đọc giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện 3
yếu tố cơ bản sau:
Một là: Đặt đúng vị trí của các cơ quan phát âm tham gia tạo nên âm đó.
Hai là: Tạo luồng hơi chính xác.
Ba là: Phối hợp điểm đặt vị trí đúng của các cơ quan phát âm tham gia tạo
nên âm đó.
Với 29 chữ trong hệ thống các âm tiết trong tiếng Việt bản thân tôi không
giam tham vọng có thể sửa được lỗi phát âm khi đọc trong phân môn Tập đọc của
học sinh dân tộc Thái bậc Tiểu học. Tôi xin đưa ra 3 cặp âm tiết mà học sinh dễ mắc
lỗi khi đọc đó là: Cặp phụ âm “b” - “v”/ “l” – “đ” / “t” – “th”
Trong từng tiết học, giáo viên lưu ý những cặp phụ âm dễ nhầm và hướng dẫn
cách đọc để học sinh thấy sự khác biệt về cách phát âm của từng cặp âm tiết mà các
em dễ nhầm từng bước hình thành thói quen giúp các em phân biệt và sửa sai.
Cặp âm tiết thứ nhất: “b”; “v”
Phụ âm “b”
- Hai môi chạm vào nhau
- Không đưa hơi thoát lên mũi giữ hơi trong khoang miệng.
- Mở miệng, bật mạnh hơi phát tiếng.
Phụ âm “v”
- Răng hàm trên cắn nhẹ vào môi dưới.
- Đẩy nhẹ hơi ra ngoài (chạm tay vào cổ thấy có sự rung nhẹ do đẩy hơi)

16

- Há miệng và bật hơi ra.
Cặp âm tiết thứ hai: “l”; “đ”
Phụ âm “l”
- Uốn cong lưỡi, đầu lưỡi chạm lên vòm miệng.
- Đẩy hơi qua miệng không đẩy hơi lên mũi.
- Bật lưỡi vào vòm miệng phát tiếng.
Phụ âm “đ”
- Đầu lưỡi chạm vào chân răng trên.
- Chạm nhẹ tay vào cổ thấy có sự rụng nhẹ
- Đẩy nhẹ lưỡi vào chân răng, hạ lưỡi và phát tiếng.
Cặp âm tiết thứ ba: “t”; “th”
Phụ âm “t”
- Đầu lưỡi đẩy vào răng
- Không đưa hơi thoát lên mũi để tạo thành một miệng kín, tập trung hơi ở miệng.
- Đẩy lưỡi vào răng và bật mạnh hơi.
Phụ âm “th”
- Đầu lưỡi chạm vào răng trên (giống như âm t)
- Giữ hơi trong khoang miệng.
- Đẩy lưỡi vào răng và đẩy nhẹ hơi ra ngoài (có thể để tay lên miệng để cảm nhận
luồng hơi thoát ra)
Giáo viên hướng dẫn cụ thể cách đọc từng âm – vần – tiếng – từ. Đặc biệt
quan tâm tới những tiếng có những âm dễ sai, dễ lẫn.
* Lỗi đọc sai, thiếu nguyên âm đôi.
Hướng dẫn học sinh thực hành đọc từ dễ đến khó từng thao tác âm, vần,
tiếng, từ, câu, đoạn. Sử dụng nhiều hình thức tổ chức khác nhau và sử dụng đồ
dùng dạy học (thẻ chữ, hình ảnh minh họa, bảng phụ, đồ dùng quen thuộc với học
sinh ) để học sinh phân biệt, thấy sự khác nhau và nghĩa khi phát âm, khi đọc.
* Lỗi đọc sai, thiếu dấu thanh.
Thường xuyên tổ chức các trò chơi, các hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm
tăng cường vốn tiếng Việt cho học sinh dân tộc Thái. Thường xuyên yêu cầu học
sinh thực hành qua phần hướng dẫn của giáo viên và sửa sai cho bạn.
Giáo viên đối chiếu với các yêu cầu đã đề ra ở mục tiêu cần đạt để đánh giá
chất lượng phân môn Tập đọc cho học sinh. giúp học sinh thấy được hiệu quả đã
đạt được qua giờ Tập đọc.

17

Cho điểm theo đúng quy định, thường xuyên sửa sai, nhận xét, góp ý,
tuyên dương sự tiến bộ của học sinh và có yêu cầu cụ thể đối với học sinh về
cách đọc, quy trình đọc.
Rèn thói quen và nền nếp đọc cho học sinh.
2.2.2. Đối với học sinh.
Áp dụng trong phần kiểm tra bài cũ hoặc tổ chức thành trò chơi trong phần
luyện đọc cuối tiết Tập đọc (thực hiện trong tiết ôn tăng cường tiếng Việt buổi
chiều) giúp học sinh nhận biết, lựa chọn, vận dụng, tự kiểm tra mức độ nhận biết
của bản thân về các lỗi thường mắc. Dưới đây là một số hình ảnh minh họa.
a) Viết tên gọi các đồ vật vào bảng con và đọc cho đúng (lỗi nhầm lẫn các cặp
phụ âm, bỏ âm đệm).



Cặp âm tiết “l” “đ”

18





Cặp âm tiết “b” “v”




19



Cặp âm tiết “t” “th”









20


Một số hình ảnh khác.

b) Khoanh vào các từ thích hợp với các hình ảnh sau (lỗi dấu thanh).


ngã, ngá, ngả




đã, đả, đá

21

c) Đọc các từ viết đúng tiếng Việt.
(cái bàn/cái vàn); (vút chì/bút chì); (quyển vở/quyển bở); (quả lê/quả đê);
(cái thớt/cái tớt); (cái thuyền/cái tuyền); (quả chối/quả chuối); (Nhãn vở/nhán
bở); (tổi sáo/thổi sáo); (tuyên truyền/tên truyền); (quả mãng cầu/ quả máng cầu)

d) Đọc các câu viết đúng tiếng Việt
- Bà em thường đi chợ với chiếc làn rất xinh.
- Bà em thường li chợ với chiếc đàn rất xinh.
+ Người nhạc công chơi làn rất giỏi.
+ Người nhạc công chơi đàn rất giỏi.
- Buổi tối, muốn ra ngoài em thường dùng đèn pin để soi đường.
- Buổi tối, muốn ra ngoài em tường dùng lèn pin lể soi lường.
+ Vút chì, người vạn tân tiết của em.
+ Bút chì, người bạn thân thiết của em.

e) Chọn và điền đúng các tiếng, từ để hoàn thiện đoạn văn sau.
Trích trong bài Tập đọc “Bài tập làm văn” Tuần 6 Tiếng Việt 3 tập 1
Đến đây, tôi bỗng thấy bí. Quả thật, ở nhà, mẹ thường mọi việc thỉnh thoảng
mẹ bận định bảo tôi giúp việc này, việc kia, nhưng thấy tôi đang học, mẹ thôi.
(các tiếng, từ cần điền lần lượt là: làm, lại)
, tôi bỗng thấy bí. Quả thật, ở nhà, mẹ thường làm mọi việc thỉnh
thoảng mẹ bận bảo tôi giúp việc này, việc kia, nhưng thấy tôi học, mẹ lại thôi.
(các tiếng, từ cần điền lần lượt là: Đến đây, định, đang)
Đến đây, tôi bỗng bí. Quả , ở nhà, mẹ làm mọi việc , mẹ bận
định bảo tôi giúp việc này, việc kia, nhưng tôi đang học, mẹ lại
(các tiếng, từ cần điền lần lượt là: thấy, thật, thường, thỉnh thoảng, thấy, thôi)
Em có nhận xét gì về các tiếng, từ cần điền trong mỗi đoạn văn trên ?

f) Thi tìm từ và đọc đúng các từ có các cặp âm tiết (l – đ); (b – v); (t – th) trong
từng đoạn, trong mỗi tiết học của phân môn Tập đọc.

3. Biện pháp 3: Lỗi ngắt nghỉ khi đọc.
a) Đối với giáo viên.
Hướng dẫn học sinh đọc một đoạn trong mỗi tiết Tập đọc bằng cách: giáo
viên đọc một lượt đoạn văn (khổ thơ). Chuẩn bị đoạn văn (khổ thơ) ra bảng phụ
và yêu cầu học sinh đọc lại đoạn văn. Giáo viên đánh dấu cách ngắt nghỉ của học

22

sinh rồi cho học sinh đọc lại và nhận xét. Cuối cùng giáo viên so sánh với bảng
phụ của giáo viên với cách ngắt nghỉ đúng và yêu cầu hai học sinh đọc với hai
cách ngắt nghỉ khác nhau, các bạn dưới lớp nhận xét rồi luyện đọc lại cho đúng.
b) Đối với học sinh.
Học sinh luyện đọc đoạn cần luyện đọc đúng. Lưu ý tới việc ngắt nghỉ
theo dấu câu và ngắt đối với câu dài.
Học sinh cần chú ý đến việc luyện đọc đúng trong các bài tập đọc dạng bài
thơ để ngắt nghỉ đúng dòng thơ, khổ thơ, thể thơ.
Bài Tập đọc Tuần 4: Mẹ vắng nhà ngày bão (Trang 32 Tiếng Việt 3 tập 1)
Nhưng/ chị vẫn hái lá
Cho thỏ mẹ/ thỏ con/
Em/ thì chăm đàn ngan/
Sáng/ lại chiều no bữa/
Bố/ đội nón đi chợ/
Mua cá về/ nấu chua //
Bài Tập đọc Tuần 7: Bận (Trang 59 Tiếng Việt 3 tập 1).
Trời thu/ bận xanh
Sông Hồng/ bận chảy/
Cái xe/ bận chạy/
Lịch bận/ tính ngày/
Ngắt đúng câu dài, bước đầu cảm nhận được cái hay, cái đẹp và nội dung
bài thơ. Luyện đọc đúng dạng bài văn xuôi giúp học sinh hiểu được nội dung
từng đoạn, từ đó hiểu được nội dung cả bài, từng tiết.
Bài Tập đọc Tuần 7: Nhớ lại buổi đầu đi học (Trang 51 Tiếng Việt 3 tập 1).
Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy/ nảy nở trong lòng tôi/
như mấy cánh hoa tươi/ mỉm cười/ giữa bầu trời quang đãng.
Bài Tập đọc Tuần 7: Trận bóng dưới lòng đường (Trang 54 Tiếng Việt 3 tập 1).
Bỗng/ cậu thấy cái lưng của ông cụ sao giống lưng của ông nội thế.// Cậu
bé vừa chạy theo chiếc xích lô,/ vừa mếu máo://
Ông ơi!// Cụ ơi !// Cháu xin lỗi cụ.//

IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
1. Áp dụng thực tiễn
* Chuẩn bị của giáo viên:

23

Bảng 29 chữ cái và các dấu thanh.
Bảng phụ (băng giấy có dán băng dính trong để sử dụng lâu dài có thể viết
bằng bút dạ và xóa đi được)
Bộ chữ rời 29 chữ cái và dấu thanh (Có thể sử dụng bộ chữ của lớp 1).
Giáo viên phải tự rèn kỹ năng đọc cho bản thân: Đọc thành thạo, ngắt nghỉ
đúng quy định, đọc diễn cảm.
Chuẩn bị tốt nội dung bài dạy, xác định rõ mục tiêu theo đối tượng chú ý
học sinh đọc chưa đúng.
Chuẩn bị rõ nội dung cần khắc phục.
* Chuẩn bị của học sinh:
Sách giáo khoa môn Tập đọc.
Đọc kỹ nội dung bài tập đọc đã học, luyện đọc những âm, vần, tiếng, từ
được giáo viên hướng dẫn của bài học hôm trước.
* Lưu ý trong hoạt động dạy - học:
Giáo viên chia đối tượng theo mức độ khảo sát, những học sinh đọc sai âm,
vần, tiếng, từ yêu cầu học sinh hoạt động theo nhóm dưới sự hướng dẫn của
giáo viên.
Giáo viên phải có tác phong mẫu mực, mọi thao tác của giáo viên phải
mang tính chuẩn mực, rõ ràng, lời giảng truyền cảm, mạch lạc, dễ hiểu, ngắn gọn
gắn liền với nội dung. Không làm hộ, nói hộ học sinh mà chỉ là người hướng dẫn,
giúp đỡ các em. Việc đọc mẫu đối với các em, nhất là học sinh tiểu học là rất
quan trọng vì các em học theo kiểu trực quan, quan sát và bắt trước thầy cô và
người lớn. Vì vậy giáo viên đọc phải lưu loát, chính xác. Hướng dẫn đọc những
từ khó, từ học sinh hay sai phải đọc ngắn gọn, rõ ràng.
100% số lượng học sinh trong lớp phải được đọc bài ít nhất 1 lần trong một
tiết học. Học sinh khá giỏi yêu cầu đọc cả đoạn hoặc toàn bài, học sinh trung bình
yêu cầu đọc từng đoạn hoặc từng câu nhưng học sinh đọc chưa đúng chỉ yêu cầu
đọc từng câu và phải đọc thật chính xác.
Thay đổi và kết hợp linh hoạt các hoạt động dạy học nhằm thay đổi không
khí giúp học sinh có hứng thú và chú ý học tập.
Hoạt động theo nhóm cùng mức độ.
Hoạt động theo nhóm cùng năng lực
Hoạt động theo nhóm lệch chiều để học sinh có điều kiện giúp nhau học
tập và sửa sai.

24

Thường xuyên gần gũi những học sinh đọc chưa đúng để kịp thời động
viên khuyến khích các em, giúp các em phát huy hết năng lực vốn có của mình
vươn lên trong học tập sao cho các em dễ tiến kịp với bạn bè cùng lớp.
Chú ý đến việc trang trí lớp học bằng nhiều hình thức khác nhau như: treo
bảng 29 chữ cái, báo nhi đồng để các em được thường xuyên luyện đọc, đọc bất
cứ lúc nào có thể, gây bất ngờ để học sinh có thể tự đọc mà không cần sự hướng
dẫn của giáo viên.
(đánh giá chất lượng qua bài học của một tiết dạy, không tính vào chất lượng học
sinh của trường)
* Đánh giá kết quả áp dụng thực tiễn:
(Các tiết dạy khi áp dụng thực tiễn có phụ lục đính kèm)
Những người cùng tham gia: Lê Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Hồng, Đoàn Tiến
Sỹ, Vũ Thị Xuân, Lý Thị Lan Hương; Hứa Thị Lợi.
Yêu cầu Tuần Tên bài Ghi chú
8 Tiếng ru
Áp dụng thực tiễn
10 Giọng quê hương
Kết quả:
Kết quả
Lớp
Tổng số
học sinh

Số học
sinh tham
gia
Đọc
đúng

Sai
âm
đầu,
bỏ
âm
đệm

Sai,
lẫn
dấu
thanh

Ngắt,
nghỉ
sai
Đọc sai 3
cặp phụ âm
Ghi chú
3A3 18 18 5 4 3 4 2
3A4 19 19 5 5 2 4 3
Cộng

37 37 10 9 5 8 5
Khảo sát bằng phiếu điều tra. Phần này chỉ dành riêng cho nhóm thực
nghiệm, tổng số các em được hỏi là 37 em.
- Em hãy viết 2 đến 3 câu nói lên suy nghĩ của bản thân sau 5 tuần vừa qua và
đánh dấu x vào các yêu cầu sau: (mỗi học sinh viết 1 đoạn và thực hiện 1 yêu cầu)
+ Tiến bộ rõ rệt

+ Hơi tiến bộ



25

+ Bình thường

+ Yếu đi


Đa số các em đều nói lên suy nghĩ của mình là rất thích học vì cảm thấy
không khí vui vẻ, thoải mái, các em được tự thảo luận khi nhận xét về cách đọc
đúng, được tham gia luyện đọc, thi đọc và rất hào hứng chờ đón giờ Tập đọc.
Hăng say phát biểu ý kiến xây dựng bài, các em đã có sự phấn đấu vươn lên và
giúp đỡ nhau khắc phục khó khăn.
Kết quả như sau.
. Tiến bộ rõ rệt: 18 em = 48,6 %
. Hơi Tiến bộ: 11 em = 29,7 %
. Bình Thường: 8 em = 21,6 %
. Yếu đi: Không có
2. Thực nghiệm giáo dục.
Cụ thể: Tuần 17 - Bài tập đọc "Anh đom đóm" - Tập đọc lớp 3 tập 1.
Tuần 19 - Tập đọc- kể chuyện "Hai bà Trưng" - Tập đọc lớp 3 tập 2.
(Các tiết dạy khi áp dụng thực nghiệm có phụ lục đính kèm)
Những người cùng tham gia: Lê Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Hồng, Đoàn Tiến
Sỹ, Vũ Thị Xuân, Lý Thị Lan Hương; Hứa Thị Lợi.
* Ưu điểm:
Giáo viên soạn giảng đảm bảo đúng yêu cầu của Chuẩn kiến thức, kỹ năng.
Thực hiện đúng yêu cầu đã đề ra.
Đã đưa được nội dung kiến thức (âm, vần, tiếng, từ) hay sai, dễ lẫn vào từng
tiết học trong phần kiểm tra đầu giờ, phần luyện đọc cuối tiết học để sửa lỗi đọc sai
của học sinh khi dạy phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 dân tộc Thái.
Tổ chức trò chơi học tập có hiệu quả thu hút 100% học sinh trong lớp tham
gia. Học sinh có ý thức sửa lỗi đọc, phát âm sai thông qua trò chơi học tập.
Học sinh học tập sôi nổi, tiết học đạt hiệu quả cao.
* Tồn tại:
Nhóm thực nghiệm
Một số học sinh chưa phân biệt được những phụ âm dễ sai (l-đ), (b-v) khi
đọc bài tập đọc, sử dụng khẩu hình miệng khi phát âm khi đọc những cặp phụ âm
(l / đ; b / v; t / th) trong bài tập đọc chưa thật đúng.
Ít chú ý ngắt dòng thơ.
Nhóm đối chứng

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×