Tải bản đầy đủ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY
CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
A – MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục- đào tạo ở cơ sở là một vấn đề có ý
nghĩa lớn lao trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chiến lược phát
triển đất nước khi bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá không thể hiện được
nếu không chú ý đúng mức đến xậy dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục ở cơ sở.
Muốn phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo thì một trong những nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu là nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Nghị quyết đại hội Đảng X
nhấn mạnh nhiệm vụ của giáo dục đào tạo trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá : “ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đổi mới
chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường,phát huy khả năng sáng tạo và độc
lập suy nghĩ của học sinh, ”; thực hiện “chuẩn hoá”, “hiện đại hoá”, “xã hội hoá”.Để
thực hiện nhiệm vụ này, kết luận của Hội nghị VI Ban chấp hành trung ương khoá IX
“về tiếp tục thực hiện Nghị quyết trung ương II khoá VIII , phương hướng phát triển
giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ từ nay đến 2005 và 2010” đã nhấn mạnh: “Tạo
chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, trước hết là nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo, thực hiện giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục tư tưởng, chính trị, nhân

cách, đạo đức, lối sống cho người học” .Chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên và các
nhà quản lí giáo dục, tạo động lực cho người dạy và người học. Bởi vì đội ngũ nhà giáo
là nhân tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục. Cần nâng cao chất lượng toàn diện
của đội ngũ nhà giáo, nâng cao địa vị kinh tế- xã hội của giáo viên, thực hiện tiêu
chuẩn hoá giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục, loại bỏ những yếu kém về phẩm chất
đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ ra khỏi hệ thống giáo dục là yêu cầu khách quan để
giáo dục phát triển.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đầu tư rất nhiều cho
giáo dục và đào tạo, do vậy chất lượng và hiệu quả giáo dục hiện nay đã có bước phát
triển đáng kể. Có được điều này là nhờ vào chất lượng giảng dạy ở các loại hình trường
lớp đã có bước phát triển rõ rệt. Tuy nhiên,bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì
giáo dục cũng vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém về chất lượng làm cho cả xã hội phải
quan tâm.
Lịch sử của ngành giáo dục đã cho thấy: nơi nào có đội ngũ thầy cô giáo tốt thì
nơi đó có chất lượng giáo dục tốt và ngược lại. Xác định tầm quan trọng của nguồn lực
con người đối với việc xây dựng đất nước, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, Đảng và Nhà nước ta đã đặt Giáo dục và Đào tạo ở vị trí là “Quốc sách hàng
1
đầu” để đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành nguồn nhân lực thực sự có chất lượng,
đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, trong những năm qua, toàn ngành
giáo dục đã nỗ lực phấn đấu vừa khắc phục tồn tại yếu kém vừa đổi mới công tác giảng
dạy. Vì vậy chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao. Bên cạnh những thành tích
to lớn mà toàn ngành đã làm được thì cũng còn nhiều tồn tại yếu kém đã và đang nảy
sinh như: Chất lượng đạo đức học sinh, thầy cô giáo giảm sút; học sinh ngồi sai lớp,
thầy cô ngồi sai chỗ; các kiến thức, kỹ năng tối thiểu không đạt và nhiều vấn đề bức
xúc khác nữa gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của đội ngũ thầy cô giáo và nhà
trường, làm cả xã hội phải quan tâm, lo lắng. Để khắc phục vấn đề này, trước hết là
mỗi thầy cô giáo ở từng bậc học, cấp học phải tự xem lại, tự tìm ra những nguyên nhân
cơ bản mà trước hết là là ở chính đơn vị mình đang công tác để kịp thời điều chỉnh.
Mặc dù đã sớm tìm ra nguyên nhân. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ
trương, biện pháp lớn để khắc phục tình trạng này, nhưng những tồn tại, yếu kém đó
không dễ dàng khắc phục trong một sớm một chiều mà đòi hỏi phải có thời gian đồng
thời tất cả các nhà trường, trước hết là các trường tiểu học (bậc học nền tảng) dưới sự
chỉ đạo của của ngành giáo dục các cấp phải tìm ra giải pháp để nâng cao chất lượng
giảng dạy và giáo dục của mình.
Cũng như các trường Tiểu học khác trong cả nước, trường Tiểu học tôi nghiên
cứu, huyện Krông Păc thuộc bậc tiểu học của hệ thống giáo dục Quốc dân . Vì vậy
chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên nhà trường luôn là vấn đề mà chính quyền
địa phương, ngành giáo dục Krông Pắc hết sức quan tâm. Ngoài việc góp phần đáp ứng


yêu cầu chung của thời đại, của dân tộc, nhà trường còn phải phấn đấu đạt mức chất
lượng tối thiểu giai đoạn I vào năm 2008 mà lãnh đạo ngành Giáo dục Krông Pắc đã
giao ( Theo Quyết định số 55/2007QĐ- BGD&ĐT ngày 28 /9/2007 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã ban hành ). Khắc phục tình hình nói trên ,việc tìm kiếm giải
pháp nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên trường Tiểu học –
huyện Krông Pắc là vấn đề cấp thiết hiện nay.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ:
a. Mục tiêu:
Trên cơ sở đánh giá đúng chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên trường tiểu
học làm căn cứ cho việc tìm kiếm mô hình giải pháp nâng cao chất lượng giảng
dạy ở trường cho những năm tới.
b. Nhiệm vụ:
Khảo sát và phân tích thực trạng về chất lượng giảng dạy của nhà trường từ năm
học 2004-2005 đến năm học 2010-2011 để tìm ra những ưu điểm cần tiếp tục phát huy
và những tồn tại, yếu kém cần khắc phục. Từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao chất
lượng giảng dạy của nhà trường trong những năm tiếp theo.
3. Phạm vi nghiên cứu:
a. Đối tượng nghiên cứu:
2
- Thực trạng và chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên trường tiểu
học

.
- Những điều kiện cơ sở vật chất, cơ cấu tổ chức bộ máy và hoạt động của các bộ
phận đoàn thể trong nhà trường có ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy.
- Hoàn cảnh, điều kiện thực tế của các thầy cô giáo trong nhà trường hiện nay có
ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy.
- Điều kiện, hoàn cảnh và sự quan tâm của cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể
nhân dân, phụ huynh và học sinh địa phương có ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục
của nhà trường trong thời gian qua.
b. Địa bàn nghiên cứu:
- Trường tiểu học

huyện Krông Pắc, tỉnh Đăk Lắk.
c. Thời gian thực hiện đề tài:
- Từ ngày 28 tháng 11 năm 2009 đến 10 tháng 11 năm 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu:
a. Phương pháp luận:
- Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan
điểm của Đảng, Nhà nước và của ngành về vấn đề Giáo dục và đào tạo.
b. Phương pháp cụ thể:
- Khảo sát thống kê, điều tra xã hội học những số liệu về các đối tượng nghiên
cứu về những vấn đề có liên quan đến đề tài.
- Tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh về các số liệu, các vấn đề có liên quan
đến chất lượng giáo dục của nhà trường.
5. Bố cục đề tài:
Đề tài gồm ba phần: Phần mở đầu; Phần nội dung chính; Phần kết luận và kiến
nghị.
B – NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục
1. Cơ sở lý luận:
Đất nước càng phát triển, dân càng giàu, nước càng mạnh, xã hội ngày càng công
bằng và văn minh thì mọi thành viên trong xã hội và các tổ chức của họ càng ý thức
sâu sắc về tương lai của dân tộc và của chính mình. Do đó càng phải quan tâm đến sự
nghiệp Giáo dục thế hệ trẻ bằng việc phát huy tối đa tiềm năng sẵn có của đất nước.
Muốn vậy phải nhanh chóng tìm ra giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng giảng dạy
của đội ngũ giáo viên ở tất cả các trường học nói chung.
Lê - nin gọi Giáo dục là một phạm trù vĩnh cửu: giáo dục sinh ra cùng với loài
người và tồn tại, phát triển cùng với loài người. Giáo dục là con đường đặc trưng cơ
3
bản để loài người tồn tại và phát triển. Giáo dục chính là nơi gìn giữ, truyền thụ và
phát huy hệ thống giá trị chung của loài người . Thế giới ngày nay coi giáo dục là con
đường cơ bản nhất để gìn giữ và phát triển văn hoá, để khỏi tụt hậu, để tiến lên.Và vì
vậy mà giáo dục ngày nay lại càng phát triển mạnh hơn bao giờ hết mà trước hết là nói
đến chất lượng giáo dục ở tất cả các Quốc gia, các dân tộc nói chung và từng trường
phổ thông nói riêng.
Hồ Chủ Tịch đã từng nói tại Hội nghị cán bộ Đảng trong ngành Giáo dục vào
tháng 6 năm 1957: “ Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần , còn cần có sự giáo
dục ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được
tốt hơn.Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy nhưng thiểu giáo dục trong gia đình
và ngoài xã hội , thì kết quả cũng không hoàn thành” và Người còn nói: “ Một chương
trình nhỏ mà được thực hành hẳn hoi còn hơn một trăm chương trình lớn mà không
làm được”
Giáo dục trong nhà trường có những đặc trưng riêng của nó. Đó là một hoạt động
có tổ chức, có hệ thống và mang tính mục đích rõ ràng. Nó đảm bảo truyền thụ và lĩnh
hội vốn học vấn toàn diện nhằm phát triển toàn diện con người. Nhà trường là một thiết
chế trong hệ thống giáo dục quốc dân, mục tiêu hoạt động của nhà trường là đào tạo
những nhân cách – nhân cách văn hoá, hay là con người có văn hoá. Đó là “con người
phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng
về đạo đức”.
Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, Đảng ta luôn quan tâm đầu tư cho Giáo dục và Đào tạo. Đại hội lần thứ IX Ban
chấp hành Trung ương Đảng và chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của ban Bí thư
Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục đã khẳng định: “Phát triển Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng
đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người. đây là trách
nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực
lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng”.
Tiếp tục quan điểm của Đại hội lần thứ IX, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn Quốc
lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: “Về Giáo dục và Đào tạo, chúng ta phấn đấu để lĩnh
vực này cùng với khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, thông qua
việc đổi mới toàn diện Giáo dục và Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao, chấn hưng nền Giáo dục Việt Nam ”, cũng trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
Quốc lần thứ X của Đảng ta định hướng: “Ưu tiên hàng đầu việc nâng cao chất lượng
dạy và học. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học, nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả
năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên ”.
Cụ thể hoá chủ trương của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk nhấn
mạnh: “Tổng rà soát lại đội ngũ giáo viên ở từng cấp học, từng trường, từng địa
phương để có kế hoạch chủ động bố trí, phân công hợp lý đội ngũ giáo viên có trình
độ tương đối đồng đều nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ”. để đạt mục tiêu đó
4
trong giai đoạn hiện nay, nhất thiết phải nâng cao chất lượng giảng dạy ở từng nhà
trường mà trước hết là các nhà trường thuộc bậc tiểu học – bậc học nền tảng của bậc
học phổ thông, của hệ thống giáo dục Quốc dân.
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà giáo ưu tú, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo Đặng Huỳnh Mai đã đưa ra định hướng phát triển bền vững đối với Giáo dục tiểu
học ở Việt Nam: “Nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của từng trường tiểu
học, thực hiện mức chất lượng tối thiểu và thực hiện các tiêu chuẩn để tạo niềm tin
của nhân dân và địa phương đối với nhà trường ”
Mặc dù trong những năm qua, ngành Giáo dục và Đào tạo nói chung và Giáo dục
tiểu học nói riêng đã có nhiều cố gắng và đạt được những thành tích đáng kể nhưng
cũng còn bộc lộ nhiều yếu kém mà Đại hội đại biểu toàn Quốc lần thứ X của Đảng đã
đánh giá: “Chất lượng Giáo dục còn nhiều yếu kém; khả năng chủ động, sáng tạo của
học sinh, sinh viên ít được bồi dưỡng, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên còn
yếu ” nhất là đối với bậc tiểu học.
Ở bậc tiểu học, do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học nên nhìn chung
phương pháp giảng dạy còn nặng về truyền thụ kiến thức một chiều dẫn đến việc học
của học sinh còn thụ động, chưa phát huy hết tính tích cực chủ động, sáng tạo của các
em. Bên cạnh đó, tỉ lệ giáo viên có trình độ tin học thực sự sử dụng được máy vi tính
lại quá ít, hầu như chưa biết sử dụng nên việc áp dụng tin học vào công tác soạn giảng,
chuẩn bị phiếu học tập, sử dụng máy chiếu gặp rất nhiều khó khăn.
Ngoài ra, trung thực, thẳng thắn nhìn nhận thì chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu
học hiện nay chưa đồng đều, nhiều giáo viên còn yếu về trình độ chuyên môn. Một bộ
phận giáo viên do điều kiện kinh tế khó khăn nên chưa thật sự an tâm công tác, chưa có
đầu tư thoả đáng cho công tác giảng dạy. Mặc dù có thuận lợi hơn so với một số huyện
vùng sâu, vùng xa,vùng biên giới của tỉnh Đắk Lắk, song Krông Pắc vẫn còn là một
trong các huyện về điều kiện cơ sở vật chất đầu tư cho dạy và học còn thiếu thốn, lạc
hậu chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của thời đại. Tất cả những vấn đề trên đều
có ảnh hưởng lớn,có vai trò quyết định đến chất lượng giảng dạy hiện nay của các nhà
trường nói chung và trường tiểu học

, Krông Pắc nói riêng.
Thực tế đặt ra một câu hỏi lớn: Làm thế nào để nâng cao chất lượng giảng dạy
của đội ngũ giáo viên trường Tiểu học

? Từ đó nhằm đưa nhà trường hoàn
thành giai đoạn I mức chất lượng tối thiểu (Chuẩn Quốc gia giai đoạn I) là điều mà bản
thân người cán bộ quản lý nói chung và cá nhân tôi nói riêng luôn trăn trở suy nghĩ để
tìm ra giải pháp , định hướng phát triển bền vững cho nhà trường.
2. Thực trạng chất lượng giảng dạy ở trường tiểu học


a. Đặc điểm tình hình và quy mô trường lớp:
Trường tiểu học

, từ trước năm 2009 tên cũ là trường Tiểu học ………
được tách ra từ trường Phổ thông cơ sở

………. (cấp I, II) năm 1989 do chủ trương tách
cấp học ở các trường ghép của ngành. Trường thuộc hệ thống giáo dục công lập, chịu
sự quản lý trực tiếp của phòng giáo dục Krông Pắc tỉnh Đắk Lắk.
5
Trường có diện tích 6.087m
2
, nằm trên địa bàn của thôn ……, xã , huyện
Krông Pắc.
Xã được thành lập từ ngay sau giải phóng 1975, khi mới thành lập, địa
bàn xã rất rộng bao gồm cả địa bàn Thị trấn Phước An và xã EaYông hiện nay. Sau đó,
xã thu nhỏ lại do thành lập Thị trấn Phước An và xã EaYông được tách ra.
Xã hiện có diện tích tự nhiên là khoảng 2.369.000 ha, trong đó đất nông nghiệp
khoảng 1.233.000 ha. Đến nay, toàn xã có 18 thôn gồm có 2.686 hộ gia đình với
khoảng 11.758 nhân khẩu.
Học sinh trong địa bàn nhà trường tuyển sinh là con em của nhân dân ở 6 thôn:
Thôn Tân Tiến, Thôn Tân Thành, Thôn 2, Thôn 3

, Thôn 4, Thôn Tân Lập. Dân cư chủ
yếu là người kinh thuộc vùng Thăng Bình – Quảng Nam vào làm ăn, sinh sống (địa bàn
trường phụ trách không có dân tộc tại chỗ). Qua điều tra có tới 95% hộ gia đình làm
nông nghiệp, nhìn chung có trình độ học vấn thấp, điều kiện, hoàn cảnh kinh tế còn
khó khăn. Thực tế, trong địa bàn một bộ phận hộ có kinh tế khá giả, thì tập trung gần
mặt đường giao thông, con em họ thường chọn học trường có điều kiện vật chất khá
hơn (trường chuẩn Quốc gia) để theo học. Theo thống kê, hàng năm, số học sinh thuộc
địa bàn trường phụ trách, chọn trường khác học vào khoảng 30 đến 35 học sinh.Bởi
vậy, số học sinh học đúng tuyến ở trường thường là gia đình có điều kiện kinh tế khó
khăn hơn. Số hộ thuộc diện nghèo vẫn còn khá đông. Những năm học gần đây, số học
sinh thuộc diện nghèo, khó khăn đột xuất phải nhận trợ cấp của Dự án PEDC (Dự án
dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn) là khoảng 25%. Nhiều gia đình cả vợ chồng
phải đi làm nương rẫy cà phê cách nhà rất xa, khoảng 10 đến 15 cây số, phải ở lại rẫy
hàng tuần mới về nhà, nhất là trong các đợt vào mùa. Vì vậy việc quan tâm chăm sóc
con cái học hành, việc tiếp cận thông tin và nhận thức về giáo dục còn nhiều hạn chế.
Mặt khác, cán bộ chính quyền địa phương và các đoàn thể mặc dù đã có nhiều
quan tâm chỉ đạo công tác giáo dục của địa phương, song cũng mới chỉ tập trung quan
tâm về xây dựng cơ sở vật chất.Kinh nghiệm chỉ đạo, lãnh đạo về giáo dục tại địa
phương còn hạn chế nhất định như công tác điều tra, vận động phối hợp với gia đình để
giáo dục học sinh Tất cả vấn đề nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng,
hiệu quả giáo dục của nhà trường.
Những năm học 1998-2003, trường số lớp vào khoảng 18- 20 lớp hàng năm.
Những năm sau đó số lớp giảm dần do nguồn trẻ giảm, đến năm học 2012-2013 số lớp
chỉ còn 14. Kéo theo là đội ngũ giáo viên dôi dư, mặc dù đã được kiến nghị giải quyết
song mỗi năm vẫn dôi dư từ một đến hai người. Vì vậy giải quyết phân phối việc làm
và quản lý số giáo viên dôi dư là việc làm gây khó khăn thêm cho đội ngũ quản lý.
• Về tình hình học sinh:
Theo sự phân công nguồn tuyển sinh, năm học 2012-2013 nhà trường tuyển sinh
mới vào lớp 1 và số học sinh cũ từ lớp 2 đến lớp 5 là 327 học sinh, được chia ra 14 lớp.
Cụ thể như sau:
Khối lớp 1 Khối lớp 2 Khối lớp 3 Khối lớp 4 Khối lớp 5
6
Số
lớp
Số
HS
Số
lớp
Số
HS
Số
lớp
Số
HS
Số
lớp
Số
HS
Số
lớp
Số
HS
3 61 3 85 2 58 3 59 3 64
Nhìn chung các em học sinh đều ngoan, chăm học, biết vâng lời thầy cô giáo.
Tuy nhiên do phần đông các em đều thuộc gia đình làm nông nghiệp, điều kiện gia
đình khó khăn, thiếu sự quan tâm của gia đình về việc học tập. Một số học sinh còn
phải có nhiệm vụ trông nhà, trông em, lo các công việc gia đình để bố mẹ đi làm rẫy
nên các em không có thời gian, không có điều kiện để học tập,sinh hoạt theo chương
trình học 2 buổi/ ngày của nhà trường. Số các em này thường chỉ theo học một buổi
sáng, buổi chiều thường nghỉ học để phụ giúp gia đình. Những khó khăn, trở ngại đó
đã gây ảnh hưởng nhiều đến việc nâng cao chất lượng giáo dục của trường.
b. Về tình hình đội ngũ CB-GV-NV nhà trường:
* Biên chế số lượng:
Theo biên chế của ngành, năm học 2012-2013, tống số CB-GV-NV của trường
có 31 người, đều là dân tộc Kinh, được phân công chức danh và nhiệm vụ như sau:
Chức danh Số
lượng
Trong số lượng chia ra
Nữ Đảng viên
Hiệu trưởng 1 1
Phó hiệu trưởng 1 1 1
TPT Đội TNTP (Làm kiêm)
Giáo viên 23 22 7
Kế toán 1 1
Văn thư 1 1
Thư viện 1 1
Thiết bị 1 1
Bảo vệ 1
Y tế học đường 1 1
TỔNG 31 28 9
* Về độ tuổi và các điều kiện khác:
Theo bảng số liệu trên, hiện nay nhà trường có 23 giáo viên được phân công tham
gia trực tiếp giảng dạy ở các khối lớp. Tính đến năm học 2012-2013, giáo viên của
trường có độ tuổi cao nhất là 47 tuổi, thấp nhất là 24 tuổi, tuổi đời bình quân của CB-
GV trong nhà trường là 33 tuổi (không tính tuổi của nhân viên).
+ Cụ thể về độ tuổi của giáo viên: - Dưới 30: 05 ( nữ 05 )
- Từ 31 – 45 : 21 (nữ 20)
7
Với độ tuổi bình quân như vậy, xét về mặt tâm lý lứa tuổi của học sinh tiểu học
thì các em ít hứng thú học hơn so với những thầy cô giáo còn trẻ. Ngoài ra còn phải kể
đến giọng nói, hình thức và các yếu tố khác của mỗi thầy cô giáo cũng có những ảnh
hưởng không nhỏ đến việc ham thích đi học, chú ý học tập của học sinh tiểu học.
Đội ngũ giáo viên của trường phần đông đều công tác tại trường đã lâu, đều đã
lập gia đình nhưng hầu hết lại không cư trú tại địa phương nơi trường đóng. Ngoài ra,
phần đông giáo viên của trường là người miền Bắc ( vùng Nghệ An, Hà Tĩnh và một số
ở Thái Bình, Hà Nam ). Bởi vậy việc am hiểu phong tục tập quán của các em học sinh
người địa phương có những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy
(nhất là môn Tiếng Việt) của nhà trường.
Mặt khác, với cơ cấu biên chế số lượng theo quy định của Thông tư liên tịch số
35 liên Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính như vậy nên có những
công tác nhà trường không có chuyên trách mà chỉ làm kiêm nhiệm (công đoàn, khối
trưởng, khối phó, thanh tra nhân dân, bí thư chi đoàn) vì vậy hiệu quả công tác chưa
cao.
c. Về chất lượng đội ngũ (không tính bảo vệ):
Chức danh
Số
lượng
Trình độ đào tạo
Trình độ tay
nghề
Đại
học
Cao
đẳng
Trung
cấp
Giỏi
tỉnh
Giỏi
huyện
Hiệu trưởng 1 1
Phó hiệu trưởng 1 1
TPT Đội TNTP 1 1
Giáo viên 23 12 8 3 1 4
Kế toán 1 1
Văn thư 1 1
Thư viện 1 1
Thiết bị 1 1
TỔNG 30 15 8 7 1 4
Qua khảo sát, tuổi nghề của đội ngũ giáo viên tương đối cao, bình quân là 15
năm. Hầu hết đội ngũ giáo viên của trường đều yêu nghề, mến trẻ, có ý thức vươn lên
trong công tác, chịu khó học hỏi, đầu tư cho soạn giảng, thường xuyên nghiên cứu, tự
học tự rèn để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Bên cạnh đó vẫn còn một bộ
phận giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, thiếu sự đầu tư cho bài giảng trước
giờ lên lớp, chưa cố gắng học hỏi, nhiệt tình tận tụy vì học sinh. Giáo viên tổng phụ
trách Đội TNTP cũng được rút từ giáo viên tiểu học để làm mà chưa được qua lớp bồi
dưỡng công tác Đội TNTP vì vậy công tác quản lý, điều hành chung còn gặp không ít
khó khăn.
d. Về cơ sở vật chất của trường:
8
* Về phòng học và các phòng chức năng:
Hiện nay, trường có tất cả 16 phòng học, trong đó 6 phòng học bán kiên cố 10
phòng cấp 4 trong đó số phòng học đạt chuẩn là 06 phòng.
Khu nhà hiệu bộ gồm 4 phòng: 01 phòng hiệu trưởng, 01 phòng hiệu phó, 01
phòng hội đồng, 01 phòng văn thư-kế toán-thủ quỹ.
Trường đã có phòng thư viện và thiết bị đạt chuẩn.
Như vậy, xết về tiêu chuẩn phòng học để đạt chuẩn thì còn tới 10 phòng học chưa
đạt chuẩn. Ngoài ra, trường còn thiếu các phòng chức năng như phòng nghe, nhìn
* Về bàn ghế và các trang thiết bị dạy học khác:
Về số lượng bàn ghế để phục vụ cho giáo viên, học sinh và các bộ phận trong nhà
trường hoạt động là đủ về số lượng nhưng chưa đạt về chất lượng theo quy định của
ngành.Tổng số chỗ ngồi cho học sinh 640 chỗ trong đó đạt chuẩn là: 300 chỗ. Hiện,
trường đã có một phòng máy vi tính với số lượng là 16 máy phục vụ cho dạy môn tin
học. Số máy phục vụ cho công tác quản lí là 5 máy ( 2 máy xách tay). Nhà trường đã
có 1 bộ máy chiếu phục vụ cho công tác giảng dạy. Tuy nhiên để đáp ứng được nhu
cầu dạy và học trong tình hình mới thì số trang thiết bị dạy học trên vẫn còn thiếu thốn
nhiều.
* Về diện tích sân chơi bãi tập cho giáo viên, học sinh:
Với diện tích hiện có của trường thì sân chơi bãi tập của học sinh đã đủ điều kiện
để đạt chuẩn quốc gia. Diện tích trồng cây bóng mát tương đối lớn, có đủ độ che phủ
và bóng mát để học sinh vui chơi và hoạt động tập thể. Tuy nhiên hiện nay trường chưa
có công trình vệ sinh đúng quy định chuẩn. Hệ thống nước sạch phục vụ cho giáo viên
và học sinh đã có nhưng chưa đúng quy cách .
Trường đã có tường rào bao quanh để đảm bảo an ninh trật tự, tạo điều kiện cho
công tác giảng dạy, học tập chung của nhà trường.
e. Các tổ chức đoàn thể:
* Chi bộ Đảng:
Trường đã có chi bộ riêng với 9 đảng viên chính thức. Số quần chúng ưu tú là
03.Tổ chức chi bộ thực sự là hạt nhân lãnh đạo toàn diện các hoạt động của nhà trường,
đặc biệt là công tác dạy- học. Nhiều năm liền chi bộ vẫn giữ vững danh hiệu “Trong
sạch vững mạnh”. Tuy nhiên, việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác dạy và học trong nhà
trường chưa thực sự sâu sát trong việc bố trí, phân công đúng người, đúng việc để khai
thác hết tiềm năng trí tuệ của mỗi cá nhân, từ đó xây dựng các ê- kíp làm việc ăn ý phát
huy sức mạnh tập thể.
• Công đoàn cơ sở nhà trường:
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chấp hành công đoàn ngành giáo dục, tổ chức
công đoàn nhà trường luôn phát huy tốt vai trò tham mưu, giám sát, vận động, xây
9
dựng và làm tốt công tác chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của công đoàn
viên . Duy trì nề nếp sinh hoạt, động viên CB-GV-NV tham gia các hoạt động phong
trào thể dục thể thao, văn nghệ ; phát động các phong trào thi đua “dạy tốt – học tốt”,
thi giáo viên dạy giỏi, thi an toàn giao thông, tìm hiểu Luật Lao động, Luật Bảo hiểm
xã hội ; giới thiệu đoàn viên ưu tú cho chi bộ Đảng,…Mặc dù chưa đạt giải cao trong
một số Hội thi, Hội thao nhưng cũng đã động viên tinh thần cho các công đoàn viên.
* Hội cha mẹ học sinh, Hội khuyến học:
Hội cha mẹ học sinh không chỉ có nhiệm vụ cùng nhà trường giáo dục học sinh
mà còn giúp nhà trường xây dựng cơ sở vật chất, động viên thầy cô giáo để nâng cao
chất lượng giảng dạy, thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục và thể hiện truyền thống
“Tôn sư trọng đạo” của dân tộc ta đã có từ bao đời nay.
Nhận thức được vị trí và tầm quan trọng đó, nhà trường đã làm tốt công tác tham
mưu với chính quyền địa phương tổ chức đại hội Phụ huynh học sinh bầu chọn các cá
nhân có điều kiện và uy tín nhất vào Ban chấp hành hội của từng lớp và của nhà
trường. Những năm qua, Hội PHHS đã có vai trò lớn trong việc huy động thu các
khoản kinh phí tự nguyện để cải thiện môi trường sư phạm nhà trường như: Làm sân,
làm lối đi trong sân, tu sửa nâng cấp phòng học, xây dựng công trình vệ sinh, xây dựng
nhà bảo vệ… ngoài ra còn đóng góp khen thưởng học sinh nghèo vượt khó, thăm hỏi
động viên các thầy cô giáo trong các dịp lễ, Tết… ; tạo điều kiện cho nhà trường, đội
ngũ thầy cô giáo hoàn thành nhiệm vụ.
Bên cạnh những việc đã làm được ở trên, vì công việc của Ban chấp hành hội
nhiều, đòi hỏi phải có thời gian nhưng không có thù lao cho công tác Hội, bởi thế
người tham gia làm công tác Hội cha mẹ học sinh hoàn toàn vì con em, vì lòng nhiệt
tình với sự nghiệp giáo dục. Các phụ huynh nhận thức được vì thương con nên tham
gia giúp đỡ nhà trường vì thế mọi hoạt động của họ đều thụ động, theo gợi ý của nhà
trường mà không tự xây dựng chương trình kế hoạch thực hiện một cách bài bản, chủ
động của tổ chức Hội. Mặt khác, do điều kiện hoàn cảnh gia đình, do nhận thức của các
hội viên có chừng mực nhất định nên họ chưa thực hiện tốt vai trò và làm công tác xã
hội hoá giáo dục.
Những thực trạng trên của công tác Hội cha mẹ học sinh nên nhà trường còn gặp
nhiều khó khăn trong việc phối hợp các điều kiện hỗ trợ để nâng cao chất lượng giảng
dạy.
3. Những thành tựu đã đạt được
a. Về phát triền số lượng học sinh
Hàng năm, trường đã huy động tối đa học sinh trong độ tuổi đến trường, tỉ lệ học
sinh nghỉ bỏ học giữa chừng hầu như không còn: năm học 2006-2007 có 01 em; năm
học 2008-2009 có 01 em.
*Chất lượng học sinh 8 năm qua:
10
Năm học
Hạnh kiểm tốt Học lực khá giỏi
Hoàn thành chương
trình tiểu học
(tốt nghiệp lớp 5)
Ghi
chú
Số lượng
Tỉ lệ
(%)
Số lượng
Tỉ lệ
(%)
Số lượng
Tỉ lệ
(%)
2004-2005 495/545 90,8 210/545 38,5 124/124 100
2005-2006 463/490 94,5 177/490 36,12 125/125 100
2006-2007 428/460 93,04 139/460 30,2 100/102 98,03
2007-2008 425/438 97,03 157/438 35,84 87/87 100
2008-2009 395/406 97,29 160/406 39,4 74/74 100
2009-2010 379/390 97,17 206/390 52,82 81/81 100
2010-2011 346/356 97,19 198/356 55,6 86/86 100
2011-2012 349/358 97,5 211/358 58,9 85/85 100
Ngoài những kết quả chất lượng học tập của học sinh có được nâng lên năm sau
cao hơn năm trước. Các hoạt động ngoài giờ lên lớp để giáo dục đạo đức học sinh: Tổ
chức viết thư UPU, quyên góp tặng quà cho đơn vị bộ đội nhân ngày 22/12, ủng hộ bạn
nghèo, ủng hộ vùng bão lụt, thiên tai, xây dựng các công trình măng non để tạo cảnh
quan nhà trường … tất cả các hoạt động đó đều có kết quả cụ thể góp phần lớn vào
việc giáo dục đạo đức cho học sinh cùng với các môn học khác.
b. Về chất lượng đội ngũ CB-GV-NV (không tính bảo vệ)
Năm học
Chia theo trình độ chuẩn Chia theo tay nghề
Trên chuẩn Chuẩn Chưa chuẩn GV giỏi tỉnh
GV giỏi
huyện
2004-2005 05/28 18/28 05/28 01 02
2005-2006 05/29 19/29 05/29 01 03
2006-2007 06/27 16/27 05/27 01 04
2007-2008 13/22 09/22 / 01 04
2008-2009 8/25 17/25 / 01 04
2009-2010 21/25 4/25 / 01 04
2010-2011 19/22 03/22 / 01 04
2011-2012 20/22 02/22 / 01 04
Hiện nay,số cán bộ, giáo viên của trường đạt chuẩn và trên chuẩn là 100%.
Trường có 01 giáo viên đã được nhận huy chương vì sự nghiệp giáo dục, có 01 giáo
viên đạt giáo viên giỏi cấp tỉnh và 04 giáo viên giỏi cấp huyện. Số giáo viên chưa đạt
trên chuẩn đều đang theo học đại học để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Nhìn chung kinh nghiệm giảng dạy của đội ngũ giáo viên đã nâng lên rõ rệt theo thời
11
gian do tinh thần ham học hỏi của mỗi cá nhân,đặc biệt là từ khi thay sách giáo khoa
với phương pháp giảng dạy mới.
c. Về cơ sở vật chất của trường:
Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo ngành, chính quyền và các đoàn thể địa
phương và phụ huynh học sinh, cách đây 5 năm nhà trường cơ sở vật chất còn tạm bợ:
phòng học xuống cấp, nhà hiệu bộ chưa có, sân chơi còn là sân đất… Đến nay, trường
đã có 10 phòng học đúng quy cách, 06 phòng học kiên cố, khu nhà hiệu bộ đã cơ bản
đạt yêu cầu, sân chơi đã được bê tông hóa,đã có phòng thư viện và phòng thiết bị đạt
chuẩn. Khuôn viên của nhà trường đang được quy hoạch trồng cây xanh bóng mát và
cây cảnh phù hợp tạo cảnh quan môi trường sư phạm xanh, sạch,đẹp. Năm học 2012-
2013 tiếp tục huy động Hội cha mẹ học sinh tự nguyện đóng góp xây dựng công trình
vệ sinh nhằm sớm đưa nhà trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn I vào cuối năm 2012.
d. Về chi bộ Đảng:
Chi bộ nhà trường được thành lập từ tháng 5 năm 1998 khi đó mới chỉ có 02 đảng
viên là cán bộ giáo viên của trường(01 đảng viên tăng cường là người của địa phương
cử đến). Đến nay, chi bộ Đảng nhà trường với tổng số đảng viên là 09.Chi bộ luôn phát
huy vai trò sức chiến đấu của Đảng. Hằng năm, từ khi thành lập đến nay chi bộ vẫn
luôn giữ vững danh hiệu chi bộ đạt “Trong sạch vững mạnh”.
d. Các tổ chức đoàn thể xã hội khác:
Mặc dù nhiệm vụ chính là thực hiện công tác giảng dạy theo quy định nhưng các
hoạt động đoàn thể: Công đoàn, Hội khuyến học, Hội chữ tập đỏ vẫn được sự tham gia
nhiệt tình của đội ngũ. Các hoạt động đoàn thể đã góp phần làm cho chất lượng công
tác ngày càng được nâng cao với nội dung sinh hoạt phong phú và thiết thực. Các công
tác như: kết nghĩa thôn buôn, tổ chức quyên góp, tặng quà, ủng hộ đồng bào bị bão lụt,
xây dựng quỹ vì người nghèo, quỹ xây nhà “Mái ấm công đoàn”, quỹ hỗ trợ giúp đỡ
nhau làm kinh tế gia đình, tổ chức thăm hỏi động viên các trường hợp của đội ngũ; tổ
chức cho các hội viên tham gia các hội thi,hội thao do ngành và các đoàn thể các cấp tổ
chức… Các hoạt động đó dược duy trì thành nề nếp sinh hoạt đều đặn và ngày càng
nâng cao về chất lượng hoạt động. Những năm qua, nhà trường đã từng đạt giải cao
trong các hội thi: Thi tìm hiểu Luật Bảo hiểm xã hội (giải Nhất cấp huyện), thi tuyên
truyền viên về Hội chữ thập đỏ (giải Nhì cấp huyện),và nhiều cuộc thi khác đạt giải
khuyến khích cấp huyện, cấp cụm: bóng chuyền nữ, văn nghệ quần chúng…
Ngoài ra, tổ chức hội cha mẹ học sinh, Hội khuyến học cũng đống góp một phần
lớn vào thành tích của nhà trường trong công tác xã hội hóa giáo dục, trong công tác
vận động đóng góp tự nguyện để xây dựng cơ sở vật chất nhà trường ngày một khang
trang hơn: làm sân chơi, bãi tập, công trình vệ sinh; khen thưởng, quyên góp ủng hộ
giúp đỡ học sinh nghèo vượt khó, thăm hỏi động viên thầy cô giáo… vì thế đã tạo điều
kiện để đội ngũ cán bộ, giáo viên hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy, dần nâng cao chất
lượng đội ngũ.
4. Tồn tại và nguyên nhân:
12
a. Những tồn tại:
* Về công tác phát triển số lượng, chất lượng học sinh:
Về số lượng học sinh mặc dù đã huy động được số lượng học sinh đúng độ tuổi
ra lớp với tỷ lệ cao (99,47% chỉ còn một số đối tượng khuyết tật nặng không thể học và
một vài trường hợp nghỉ bỏ học do gia đình quá khó khăn) nhưng số học sinh trong địa
bàn của trường phụ trách lại không học tại trường mà chọn trường có điều kiện cơ sở
vật chất tốt hơn để theo học. Hàng năm, có khoảng 30 đến 35 học sinh theo học trái
tuyến, điều này cũng ảnh hưởng đến số lượng học sinh của nhà trường, trong khi giáo
viên dôi dư đang ngày một nhiều hơn.
Tỉ lệ học sinh yếu, lưu ban vẫn còn, bình quân khoảng 3 đến 4% hằng năm. Học
sinh đúng 6 tuổi vào lớp 1 chưa đạt 100%. Công tác bồi dưỡng học sinh khá, giỏi và
phụ đạo học sinh yếu chưa đạt hiệu quả và chỉ tiêu đề ra. Việc tổ chức học 2 buổi/ngày
chưa xây dựng được thời khóa biểu phù hợp để tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh
dạy-học phát huy được hiệu quả, nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập. Các hoạt
động ngoài giờ lên lớp chưa tổ chức được để đem lại hiệu quả thiết thực, là hoạt động
bổ trợ giúp học sinh phát triển toàn diện. Ngoài ra, trường cũng chưa thực hiện được
đồng phục cho học sinh khi đến trường.
* Về tình hình đội ngũ cán bộ - giáo viên nhà trường:
Công tác quản lý, chỉ đạo còn yếu và thiếu kinh nghiệm. Chất lượng giảng dạy
chưa cao; thời gian đầu tư cho việc soạn giảng còn hạn chế, nhất là việc làm và sử
dụng đồ dùng dạy học; số lượng giáo viên dạy giỏi các cấp còn ít. Việc sử dụng vi tính
để phục vụ cho công tác soạn giảng của giáo viên chưa đạt yêu cầu, nhiều giáo viên
chưa biết sử dụng giáo án điện tử.
* Về cơ sở vật chất của trường:
Trường chưa có các phòng chức năng, hệ thống công trình vệ sinh chưa đảm bảo
tiêu chuẩn, một số phòng học đã xuống cấp chưa có king phí để tu sửa, nâng cấp; hệ
thống nước sinh hoạt chưa đảm bảo vệ sinh và chưa đúng quy cách; bàn ghế học sinh
chưa đảm bảo đúng quy cách 100%. Các trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập vẫn
còn thiếu thốn chưa đáp ứng nhu cầu để giảng dạy theo phương pháp mới; công tác các
thiết bị dạy học chưa đảm bảo.
* Hoạt động của các tổ chức đoàn thể:
Nội dung hoạt động chưa phong phú, sát với thực tế và hấp dẫn các thành viên,
đôi khi còn chồng chéo. Một bộ phận giáo viên chưa an tâm công tác; việc theo dõi
diễn biến tư tưởng của đội ngũ còn hạn chế; tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình
chưa cao chưa đem lại hiệu quả. Hội cha mẹ học sinh hoạt động chưa đều, công tác xã
hội hóa giáo dục của nhà trường chưa đạt hiệu quả cao.
b. Nguyên nhân
13
- Năng lực quản lý, chỉ đạo, điều hành của cán bộ quản lý còn yếu. Chưa xây
dựng được kế hoạch dài hạn, trung hạn một cách khoa học và khả thi; chưa kiên quyết,
nhạy bén, sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành công việc và thực hiện công việc theo kế
hoạch. Việc bố trí sắp xếp, sử dụng nhân lực, vật lực chưa phát huy hết tiềm lực sẵn có
hoặc chưa phù hợp để đảm bảo phát huy tối đa nội lực tạo nên sức mạnh tập thể.
- Điều kiện, hoàn cảnh của nhân dân địa phương đa số vẫn còn nhiều khó khăn.
Trình độ dân trí của nhân dân còn thấp hoặc không đều nên nhận thức về việc xã hội
hóa giáo dục của họ còn rất hạn chế, đặc biệt là đối với bậc tiểu học.
- Trình độ lý luận, tin học và nhận thức về giáo dục nói chung của đội ngũ vẫn
còn hạn chế: chưa thấy rõ tầm quan trọng, chưa thật sự đầu tư có hiệu quả vào giảng
dạy; điều kiện cơ sở vật chất chưa đáp ứng nhu cầu của thời đại: các thiết bị giảng dạy
phục vụ dạy – học còn thiếu về số lượng và chưa đảm bảo về chất lượng.
- Điều kiện của đội ngũ cán bộ giáo viên vẫn còn nhiều khó khăn. Về trình độ tay
nghề của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, một số tay nghề còn hạn chế; việc tiếp cận
phương pháp dạy học mới của giáo viên chưa nhanh nhạy, chưa hiệu quả.
- Một bộ phận học sinh còn chưa chủ động, sáng tạo trong học tập theo phương
pháp học tập mới, còn tỏ ra nhút nhát thụ động ít chịu khó tìm tòi, độc lập suy nghĩ,
sáng tạo học hỏi. Tất cả điều đó đều làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng giảng dạy của
nhà trường.
II.Phương hướng, mục tiêu và những giải pháp
1. Phương hướng, mục tiêu
Chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên của trường 5 năm qua đã có những
chuyển biến đi lên đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa đạt được mức chất lượng tối thiểu theo
quyết định số , theo quy định của ngành giáo dục đề ra. Để tiếp tục nâng cao chất
lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên trường Tiểu học

trong giai đoạn hiện
nay nhằm đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn I vào cuối năm 2012, phương hướng mục tiêu
chính của nhà trường như sau:
* Về chuyên môn nghiệp vụ quản lý:
Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng phải có trình độ trên chuẩn (trình độ cử nhân
khoa học về sư phạm tiểu học). Đồng thời phải qua lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo
dục và hoàn thành chương trình Trung cấp Lý luận chính trị. Phải am hiểu và có trình
độ hiểu biết nhất định về tâm lý, nghệ thuật của người lãnh đạo quản lý. Phải thường
xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, có tâm huyết với ngành nghề để luôn là người có
phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống,phong cách người lãnh đạo chuẩn mực.Có như
vậy mới luôn được cán bộ, giáo viên, nhân dân, chính quyền địa phương tín nhiệm về
chính trị, đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ.
* Về thực hiện các nhiệm vụ quản lý
Xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn để nhằm mục tiêu phát triển bền vững nhà
trường. Đồng thời từng năm học, cần xây dựng kế hoạch cụ thể từng thời kỳ hướng đến
mục tiêu trung hạn và dài hạn sao cho mang tính khả thi cao. Quan tâm đầu tư chỉ đạo
14
thực hiện kế hoạch đã xây dựng nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. Đầu tư vào các hoạt
động chuyên môn: thao giảng, dự giờ, sử dụng tốt đồ dùng dạy học, áp dụng khoa học
công nghệ, tin học vào soạn giảng, đúc rút tổng kết viết sáng kiến kinh nghiệm…;
thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn sát thực tế để đồng nghiệp trao đổi kinh
nghiệm, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ từ đó nâng dần chất lượng giảng dạy của nhà
trường.
Tham mưu nâng cấp về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập
nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy.
Làm tốt công tác lưu trữ hồ sơ, đảm bảo tốt việc theo dõi số lượng, chất lượng
học sinh từng năm học và nhiều năm học. Quản lý tốt cơ sở, trang thiết bị của nhà
trường vì đó là phương tiện không thể thiếu để thực hiện nâng cao chất lượng giảng
dạy của đội ngũ.
Công tác quản lý phải thực hiện nguyên tắc tập trung-dân chủ trong lãnh đạo, chỉ
đạo; thực hiện công khai tài chính đảm bảo luôn minh bạch, trong sáng.
* Về đội ngũ giáo viên
Hiện đội ngũ đã có 100% đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn. Tính về bằng cấp thì
đã đảm bảo.Nhưng trong thực tế muốn nâng cao chất lượng giảng dạy, mỗi thầy cô
giáo cần nghiêm chỉnh soi mình vào chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học (Quyết định
số 14/2007/BGD&ĐT ngày 04 tháng 5 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào
tạo) làm thước đo để phấn đấu đạt chuẩn.
Toàn bộ đội ngũ giáo viên của trường cần tích cực và nhanh chóng học vi tinh để
có kỹ năng sử dụng vi tính trong công tác soạn, giảng.
Mỗi CB-GV phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, có lối sống trung
thực, lành mạnh, có tinh thần đoàn kết, hợp tác, có quan hệ tốt với gia đình học sinh và
cộng đồng; cương quyết không để vi phạm tư cách đạo đức, lối sống gây ảnh hưởng
đến đạo đức người thầy làm giảm sút lòng tin của nhân dân.
Tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng nhằm nâng cao tay nghề, bồi dưỡng về lý
luận chính trị Mác-Lênin, tích cực “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”.
Mỗi giáo viên phải nghiêm túc trong giảng dạy và thực hiện đúng chương trình
và kế hoạch dạy học, tăng cường đầu tư cải tiến phương pháp giảng dạy phù hợp với
đối tượng học sinh. Có tinh thần hợp tác giữa các đồng nghiệp để cùng nhau tiến bộ.
Mỗi giáo viên đều phải đối xử công bằng đối với học sinh, đánh giá khánh quan
kết quả học tập, tu dưỡng của học sinh.
Giáo viên phải xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh khá giỏi và kế hoạch phụ
đạo học sinh yếu nhằm không ngừng nâng cao chất lượng học sinh.
* Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Tiếp tục đầu tư thêm máy vi tính phục vụ cho công tác soạn giảng, cho phòng
máy vi tính để dạy môn tự chọn cho học sinh. Tham mưu với lãnh đạo địa phương,lãnh
15
đạo ngành xây dựng thêm các phòng chức năng: phòng nghe nhìn, phòng thư viện,…
nhằm phấn đấu đủ tiêu chuẩn đạt trường chuẩn Quốc gia giai đoạn I.
Đầu tư mua sắm thêm trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy: đảm bảo ánh
sáng, quạt điện, rèm cửa sổ che nắng, trang bị tủ đựng thiết bị, đồ dùng của học sinh
các lớp.
Tiếp tục đầu tư cho thư viện cơ bản đủ thiết bị dạy học dùng chung của bậc học,
tăng cường thêm số lượng các đầu sách giáo khoa, sách giáo viên và sách tham khảo
khác để phục vụ giáo viên và học sinh. Đảm bảo tất cả học sinh đều có đủ sách giáo
khoa và đồ dùng tối thiểu để học tập. Phấn đấu đến năm 2012-2013 trường đủ điều
kiện về cơ sở vật chất đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn I.
* Về công tác xã hội hóa giáo dục:
Làm tốt công tác phối hợp với chính quyền địa phương để thực hiện công tác
giáo dục đồng thời tham mưu với hội đồng giáo dục xã tích cực huy động sức đóng góp
tự nguyện của phụ huynh để tu sửa, làm mới một số công trình nhằm làm khang trang
dần cảnh quan môi trường sư phạm nhà trường, đồng thời tăng cường công tác bảo vệ
cơ sở vật chất trang thiết bị của nhà trường giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp.
* Về chất lượng giáo dục:
Đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác giảng dạy lớp đảm bảo phù hợp với từng đối
tượng học sinh, kiên quyết không để một học sinh nào đứng ngoài lề học tập. Phấn đấu
100% học sinh đều “được học và học được”. Đảm bảo học sinh đạt được yêu cầu cơ
bản của từng môn học. Thực hiện kiểm tra, đánh giá học sinh đúng thực chất, kiên
quyết chống bệnh thành tích và vi phạm trong thi cử.
Chỉ đạo thực hiện các hoạt động ngoài giờ lên lớp sao cho phong phú, hấp dẫn,
thiết thực nhằm thu hút được các em học sinh ham thích đến trường.
Tổ chức điều tra để phổ cập đúng độ tuổi, huy động triệt để học sinh trong độ tuổi
tiểu học đến trường và học hết lớp, hết cấp, chống bỏ học giữa chừng.
Hàng năm, phấn đấu đạt tỷ lệ lên lớp 97% trở lên, trong đó tỷ lệ học sinh khá giỏi
từ 50 đến 55% ; hạnh kiểm tốt (thực hiện đầy đủ) 97% trở lên.
2. Những giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên của
trường Tiểu học

:
Để đạt được phương hướng mục tiêu đề ra, trên cơ sở thực trạng hiện nay của nhà
trường, cần tập trung vào các giải pháp sau:
- Một là: Thực hiện nghiêm túc và hiệu quả chỉ thị số 06 – CT/TW của Bộ
Chính trị về cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” và chỉ thị số 33/2006/CT – TTg của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu
cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục, tiếp tục thực hiện cuộc vận
động “ Nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục” do Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành:
16
Tiếp tục tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết của các cấp ủy Đảng đến từng CB-
GV-NV, các bậc phụ huynh. Qua đó hiểu rõ quan điểm, đường lối phát triển giáo dục
đào tạo của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Từ đó khắc phục khó khăn,
yên tâm công tác, nâng cao tinh thần trách nhiệm và ý thức tự giác để thực hiện tốt
nhiệm vụ mỗi năm học đề ra.
Mỗi CB-GV-NV phải nghiêm túc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh, nâng cao hơn nữa đạo đức cách mạng “hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục
vụ nhân dân” ; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí xa hoa, kiên quyết chống tham ô,
tham nhũng, tiêu cực; chấp hành nghiêm chỉnh Pháp luật của Nhà nước; không ngừng
học tập bồi dưỡng để nâng cao trình độ về mọi mặt; kiên quyết chống các tệ nạn xã hội.
Giáo dục học sinh thực hiện tốt “5 điều Bác Hồ dạy Thiếu niên nhi đồng” ; giáo
dục học sinh thường xuyên tu dưỡng rèn luyện đạo đức chấp hành tốt nội quy của nhà
trường và các quy định của pháp luật.
Xây dựng kế hoạch phù hợp với điều kiện của nhà trường, tổ chức ký cam kết
thực hiện đối với tất cả các bộ phận nhằm tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Hai
không” với bốn nội dung “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích
trong giáo dục, nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và việc ngồi nhầm lớp” ;
thực hiện cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đạt kết
quả tốt nhất.
Tổ chức cho toàn thể CB-GV-NV nghiên cứu và thực hiện tốt công tác thi đua
khen thưởng theo Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ và
các văn bản hướng dẫn công tác thi đua của toàn ngành năm học 2012-2013. Tăng
cường hoạt động của Hội khuyến học trong nhà trường để kịp thời động viên khen
thưởng học sinh.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chuyên đề, toàn diện trong nhà trường,
xây dựng “chuẩn” để đánh giá xếp loại thi đua phù hợp với tình hình thực tế của nhà
trường.
- Hai là:Tiếp tục thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục, khắc phục tình
trạng ngồi sai lớp. Chỉ đạo thực hiện tốt các loại thiết bị hiện có và tự làm để nâng
cao chất lượng dạy học, đầu tư đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá xếp loại học
sinh theo Thông tư 32/2009/TT-BGDĐT ngày 27/10/2009 . Tăng cường hơn nữa
giáo dục toàn diện học sinh, tập trung giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục Pháp
luật:
Tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường giáo dục toàn diện học sinh
thong qua các môn học; chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống; nhanh chóng đổi mới
công tác kiểm tra thi cử đảm bảo vừa nghiêm túc vừa phân loại đánh giá thực chất chất
lượng học sinh.
Tổ chức cam kết bàn giao số lượng, chất lượng học sinh giữa giáo viên chủ nhiệm
lớp cũ và giáo viên chủ nhiệm lớp mới để mỗi giáo viên có trách nhiệm cao hơn về sản
phẩm giáo dục của mình. Kiên quyết không để học sinh ngồi sai lớp; duy trì tốt kỷ
cương, nề nếp trong nhà trường.
17
Có kế hoạch thực hiện việc giáo dục trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; tạo điều kiện
để giúp học sinh khuyết tật, học sinh khó khăn, học sinh là người dân tộc thiểu số
“được học và học được”.
Chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức các kỳ thi, hội thi cho giáo viên và học sinh:
thi kể chuyện, thi chữ viết đẹp, tuyên truyền măng non,… Thi giáo viên dạy giỏi, giáo
viên đọc diễn cảm, thi làm đồ dùng trực quan…Xây dựng ngân hàng đề thi để chủ động
trong các đợt kiểm tra định kỳ các môn học.
Triển khai viết sáng kiến kinh nghiệm, tổ chức sinh hoạt chuyên đề trao đổi về
chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức thao giảng, dự giờ sao cho đạt hiệu quả thiết thực có
đánh giá các tiết dạy theo quy định của ngành.
Giữ vững chất lượng Phổ cập giáo dục Tiểu học, chống tái mù chữ. Tiếp tục điều
tra phổ cập đúng độ tuổi, cập nhật thường xuyên số liệu học sinh trong độ tuổi PCGD –
XMC để mở lớp.
Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, lên lịch thời khóa biểu để tổ
chức khoa học các hoạt động này; giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, bảo vệ của
công; tích cực chống các tệ nạn xã hội; giáo dục học sinh nghiêm chỉnh chấp hành luật
giao thông…
- Ba là: Tăng cường vai trò lãnh đạo của chi bộ Đảng, sự quản lý của Ban
giám hiệu và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên:
Tiếp tục triển khai Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quyết
định số 09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, nâng cao chất lượng
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; Chỉ thị 06- CT/TV của Thường vụ Tỉnh
ủy về xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục. Cán
bộ quản lý phải đạt trình độ chuyên môn trên chuẩn và phải hoàn thành chương trình
bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà trường.
Tổ chức, phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng cán bộ, giáo viên, nhân viên
trong nhà trường sao cho phù hợp chuyên môn, trình độ, sở trường của mỗi cá nhân.
Lập kế hoạch dạy học đúng phân phối chương trình, phù hợp với đối tượng học sinh;
lập thời khóa biểu phù hợp với điều kiện cụ thể của trường đảm bảo thời gian lao động
đúng quy định cho từng giáo viên và đảm bảo đúng yêu cầu đối với đặc thù các môn
học.
Tiếp tục triển khai và hướng dẫn thực hiện việc đánh giá xếp loại giáo viên theo
Quyết định số 14/2007/BGD&ĐT ngày 04 tháng 5 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ giáo
dục và Đào tạo. Tiếp tục động viên cán bộ giáo viên không ngừng học tập nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ, học thực hành vi tính để không ngừng nâng cao chất
lượng giảng dạy.
Tham mưu với chi bộ Đảng, phối hợp cùng Ban chấp hành Công đoàn chỉ đạo
các tổ chuyên môn, tổ công đoàn làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra kịp thời phát hiện
sai sót từ đó chỉ ra cách thức sửa chữa sớm nhất tránh tổn thất lớn hơn; giải quyết các
kiến nghị, thắc mắc trong đội ngũ, tránh để xảy ra khiếu nại, tố cáo vượt cấp; xây dựng
khối đoàn kết nội bộ vững chắc trong nhà trường.
18
- Bốn là: Tăng cường công tác hành chính, quản trị, tài chính, cơ sở vật chất
trường học theo yêu cầu chuẩn Quốc gia giai đoạn I:
Đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ , tin học ứng dụng vào công tác
quản lý nhân sự, học sinh. Sử dụng, phát huy hiệu quả của phần mềm quản lý SREM,
PEMIS, PMIS trong việc quản lý nhân sự, học sinh. Lập Email, xử lý thông tin qua
mạng Internet để tiết kiệm thời gian, kinh phí trong việc đi lại để chuyển tải thông tin.
Tăng cường đầu tư cho thư viện, bổ sung thiết bị dạy học, xây dựng tủ sách pháp
luật; vận động đội ngũ CB-GV-NV và học sinh đóng góp đầu sách, phân loại sách,
thiết bị, làm thư mục và sắp xếp hệ thống sách theo quyết định 01/2003/QĐ-BGD&ĐT
của Bộ Giáo dục và Đào tạo về các tiêu chuẩn của thư viện để phục vụ giáo viên và
học sinh.
Làm tốt công tác quản lý hồ sơ, công văn và các văn bản hướng dẫn thực hiện
nhiệm vụ năm học.
Phân công quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất của nhà trường; tham
mưu với các cấp lãnh đạo để xây dựng công trình vệ sinh, công trình nước sạch phục
vụ cho các hoạt động giáo dục trong nhà trường; đầu tư mua sắm thêm một số trang
thiết bị: máy tính, máy chiếu để phục vụ giảng dạy.
Lập dự toán thu chi phù hợp với điều kiện của trường; nghiêm túc thực hiện đúng
nguyên tắc thu chi tài chính theo quy định. Mở đầy đủ các loại hồ sơ, sổ sách theo quy
định của luật tài chính hiện hành. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách đối
với CB-GV-NV theo quy định.
- Năm là: Xây dựng cảnh quan môi trường sư phạm
Thực hiện cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”:
xây dựng trường lớp “xanh-sạch-đẹp”đủ nhà vệ sinh cho giáo viên và học sinh.
Thường xuyên giáo dục học sinh giữ gìn cảnh quan môi trường sư phạm nhà trường;
tích cực trồng cây xanh tạo cảnh quan phù hợp; lao động vệ sinh gìn giữ môi trường
xung quanh; thực hiện trang trí các phòng học, phòng ban nhẹ nhàng, hài hòa,có tính
giáo dục cao, đúng quy định văn hóa nơi công sở.
Bước đầu vận động tuyên truyền tạo điều kiện để đội ngũ CB-GV-NV và học
sinh thực hiện trang phục một số buổi trong tuần theo đúng quy định theo quy định về
văn hóa nơi công sở.
Duy trì nề nếp lao động vệ sinh, chăm sóc cây trồng thường xuyên đạt hiệu quả.
- Sáu là: Bố trí sắp xếp đội ngũ giáo viên phù hợp
Giáo viên tiểu học có vị trí vai trò quan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả
giáo dục của nhà trường. Bởi vậy việc bố trí, sắp xếp giáo viên phù hợp sao cho phát
huy được tối đa khả năng, sở trường của từng giáo viên là điều rất quan trọng. Lựa
chọn các giáo viên có tay nghề vững, có uy tín cao, có kinh nghiệm bổ nhiệm làm tổ
khối trưởng, khối phó để lãnh đạo tập thể khối đạt chất lượng, hiệu quả. Điều động
giáo viên giỏi, có kỹ năng thực hành vi tính tốt, có óc tổng hợp, phân tích các hoạt
19
động trong nhà trường làm kiêm công tác thư ký Hội đồng sư phạm trường… ;bố trí
sắp xếp khoa học, hợp lý trong vốn nhân sự của nhà trường vào các công việc kiêm
nhiệm: thủ quỹ, thiết bị, y tế học đường… Ngoài ra, cần phân công định hướng quỹ
thời gian thực hiện công việc cho từng bộ phận từng thành viên để họ có căn cứ theo
đó làm việc đạt hiệu quả.
- Bảy là: Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục
Xã hội hóa công tác giáo dục là “Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên
mọi tầng lớp nhân dân tham gia đóng góp xây dựng nền giáo dục Quốc dân dưới sự
quản lý của Nhà nước”
Xã hội hóa công tác giáo dục thể hiện tư tưởng chiến lược phát triển lâu dài và có
hiệu quả cao. Nhờ có công tác xã hội hóa giáo dục mà những năm qua, nhà trương đã
làm được nhiều vấn đề góp phần lớn vào việc nâng cao chất lượng giáo dục chung của
nhà trường. Để tiếp tục phát huy mặt mạnh của công tác này, cần tuyên truyền phổ biến
nhiều hơn nữa đến các tầng lớp nhân dân địa phương để huy động triệt để sự nhiệt tình
đóng góp của học cho sự nghiệp giáo dục của địa phương, để mỗi người dân thực sự
hiểu được vai trò của bản thân đối với sự nghiệp giáo dục nói chung.
Tăng cường vai trò của Hội cha mẹ học sinh, Hội khuyến học trong việc vận
động phụ huynh đóng góp xây dựng trường sở, giữ gìn an ninh trật tự trong khuôn viên
trường. Tham mưu với các cấp chính quyền địa phương duy trì tốt Hội đồng giáo dục
xã, động viên khen thưởng những phụ huynh có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo
dục của nhà trường.
Nhà trường cần có kế hoạch làm việc cụ thể và quan tâm nhiều hơn đến việc định
hướng hoạt động của Hội cha mẹ học sinh, Hội khuyến học để họ hoạt động có kế
hoạch phù hợp, thiết thực và đạt hiệu quả hơn.
C - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN:
Đất nước ta đang trên đà phát triển. Sự nghiệp đổi mới đất nước mà Đảng ta đang
khởi xướng và lãnh đạo thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh”. Để đạt được mục tiêu lớn đó đòi hỏi phải có con người thực hiện.
Nhân tố con người được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội, xây
dựng và phát triển đất nước. Như vậy có nghĩa là sự phát triển nguồn lực con người
quyết định sự phát triển xã hội. Đảng ta đã xác định đúng đắn đường lối phát triển đất
nước phải “ Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự sự phát
triển nhanh và bền vững”.
Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo là Quốc sách hàng đầu; là chìa
khóa mở cửa vào tương lai, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản để đảm bảo
choviệc thực hiện những mục tiêu kinh tế-xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước. Coi
trọng và đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển đất
20
nước. Phát triển giáo dục nhằm nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài, đào tạo ra những người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề
nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo, có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ
nghĩa xã hội; sống lành mạnh; đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện
nay và trong tương lai. Muốn có được những con người như vậy, trước hết phải nói đến
vai trò của đội ngũ giáo viên nói chung trong đó có đội ngũ giáo viên tiểu học nói
riêng. Họ là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục của mình.
Để giúp họ có điều kiện hoàn thành tốt trọng trách này, trước hết Đảng và Nhà
nước phải có những chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực nhằm động viên họ cả về
vật chất lẫn tinh thần để họ toàn tâm, toàn lực vì sự nghiệp giáo dục.Thực hiện những
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục cần có kế hoạch rà soát,
thanh lọc và giải quyết các chế độ chính sách phù hợp để đội ngũ giáo viên thật sự là
những người tiên phong, những tấm gương sáng, xứng đáng với sự kính trọng của toàn
xã hội, những người được cả xã hội gọi là “Thầy”.
Đối với nhà trường mà trước hết là tập thể lãnh đạo nhà trường cần phải có kế
hoạch cụ thể , phù hợp để sắp xếp tạo mọi điều kiện cho đội ngũ thầy cô giáo được
tham gia bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nâng cao chất lượng giảng dạy.
“Nâng cao chất lượng giảng dạy” hiện nay đang là đòi hỏi bức thiết đối với
trường tiểu học

nói riêng và của toàn ngành nói chung. Mỗi cá nhân trong tập
thể sư phạm nhà trường cần tập trung hơn nữa đầu tư cho công tác giảng dạy hướng
đến mục tiêu mà toàn thể đội ngũ đặt ra trong những năm tiếp theo 2013 – 2015.
2. KIẾN NGHỊ:
Mặc dù trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
chính sách đầu tư cho Giáo dục và Đào tạo cả nước, đặc biệt là chế độ tiền lương và
phụ cấp ngành nghề, khu vực. Nhưng hiện nay điều kiện của đội ngũ thầy cô giáo nói
chung và thầy cô giáo tiểu học vẫn còn chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là ở các vùng
có điều kiện kinh tế khó khăn. Bởi vậy chất lượng giảng dạy tuy có được nâng lên
nhưng cũng chưa ngang tầm thời đại. Với khuôn khổ hạn hẹp của bài tiểu luận, người
viết cũng mạnh dạn có những kiến nghị sau đây với các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước,
Chính quyền địa phương và ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của
đội ngũ giáo viên nhà trường:
- Đảng và Nhà nước cần đầu tư ngân sách nhiều hơn nữa để ngành giáo dục có
điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Bên cạnh đó cũng cần phải có
những biện pháp cụ thể để kiểm tra việc thực hiện ngân sách được giao đối với ngành
giáo dục để việc sử dụng ngân sách mang lại hiệu quả cao nhất.
- Ngành giáo dục cần xây dựng những tiêu chuẩn để tuyển chọn đội ngũ nhà giáo,
nhất là đối với bậc tiểu học. Để đội ngũ nhà giáo thực sự là những con người vừa
“hồng” vừa “chuyên”, những người đẹp cả hình thức lẫn tâm hồn để xứng đáng là bậc
“Thầy” mà xã hội đã tôn trọng trao cho.
- Bộ giáo dục và Đào tạo cần chỉ đạo thực hiện các tiêu chí đánh giá xếp loại giáo
viên đã ban hành: Quyết định số 14/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 04/5/2007, đồng thời
21
đối với cán bộ quản lý tiểu học cần hoàn thiện và đưa vào áp dụng các tiêu chuẩn đối
với người cán bộ quản lý để cán bộ, giáo viên cơ sở phấn đấu thực hiện.
- Chính quyền địa phương các cấp cần quan tâm hơn nữa đến giáo dục, tuyên
truyền rộng rãi đến nhân dân để họ nhận thức đúng vị trí, vai trò của giáo dục trong
giai đoạn hiện nay. Đồng thời lãnh đạo chỉ đạo làm tốt hơn nữa công tác xã hội hóa
giáo dục ở địa phương mình để giúp các nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao.
- Các tổ chức đoàn thể xã hội, mỗi phụ huynh học sinh cần quan tâm chung tay,
chung sức cùng nhà trường phối kết hợp nhịp nhàng trong việc động viên, giáo dục con
em mình ra sức học tập sáng tạo vì tương lai của chính bản thân và của cả cộng đồng.
Đăk Lăk, tháng 11 năm 2012
NGƯỜI VIẾT
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG:
22

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×