Tải bản đầy đủ

tóm tắt luân án tiến sĩ: Nghiên cứu mô hình đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện thông tin bất cân xứng đối với tăng trưởng kinh tế









































BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
*****



TRẦN THỊ ÁNH




NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA
TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN
TRONG ĐIỀU KIỆN THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ HỌC
MÃ SỐ: 62310101




TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ








HÀ NỘI - 2014



































Công trình hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nghiêm Sĩ Thương
2. TS. Nguyễn Đại Thắng


Phản biện 1: ………………………………………………………………….
Phản biện 2: ………………………………………………………………….
Phản biện 3: ………………………………………………………………….



Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Trường họp tại
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Vào hồi… giờ, ngày… tháng… năm 2014









Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Tạ Quang Bửu - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
- Thư viện Quốc gia


































DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

1. Trần Thị Ánh (2013) Tác động của việc tài trợ cho dự án nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ (R&D projects) trong điều kiện thông tin bất
cân xứng tới tăng trưởng kinh tế. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường tại
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

2. Trần Thị Ánh (2013) Bàn luận về việc tài trợ cho hoạt động nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ. Hội thảo quốc tế được tổ chức tại Trường
Đại học Bách khoa Hà nội, tháng 10 năm 2013.

3. Trần Thị Ánh (2013) Hoạt động R&D: Kinh nghiệm thế giới và một số
khuyến nghị đối với Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Quản lý, số tháng 6-2013.

4. Nghiêm Sĩ Thương, Trần Thị Ánh (2010) Tác động của xác suất được tài
trợ tín dụng cho các dự án nghiên cứu - phát triển (R&D) đối với tăng
trưởng kinh tế trong điều kiện thông tin bất cân xứng. Tạp chí Nghiên cứu
tài chính kế toán, số tháng 6 - 1010.

5. Trần Thị Ánh (2010) Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán
Việt nam: những tồn tại và một số giải pháp khuyến nghị. Tạp chí Ngân
hàng, số tháng 1 - 2010.




































MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tăng trưởng kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc
sống và thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của người dân. Những nghiên cứu gần đây cho
thấy bốn yếu tố chủ yếu tác động tới tăng trưởng kinh tế gồm: tài nguyên thiên nhiên, vốn
(bao gồm cả cơ sở hạ tầng), con người (bao gồm cả giáo dục và đào tạo) và việc đầu tư vào
hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (hoạt động nghiên cứu và phát triển -
hoạt động R&D). Trong bốn yếu tố này, theo Romer – một trong những nhà kinh tế hàng đầu
nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế: “Tiến bộ kỹ thuật là nhân tố quan trọng của tăng trưởng
kinh tế, trong đó hoạt động R&D lại là nhân tố hàng đầu của sự cải tiến về mặt kỹ
thuật”[77].
Hoạt động R&D không thể thành công nếu không có sự tài trợ về vốn. Thị trường tài trợ
cho hoạt động R&D cũng giống như bất kỳ thị trường nào, tức cũng có bên cung và bên cầu.
Quan hệ giữa bên cung và bên cầu xảy ra hai trường hợp là thị trường cạnh tranh hoàn hảo
và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Thị trường tài trợ cho hoạt động R&D ở hầu hết
các quốc gia trên thế giới hiện nay là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Một trong các lý
do dẫn đến việc cạnh tranh không hoàn hảo là sự bất cân xứng về thông tin giữa người mua
và người bán. Theo F.Mishkin [41], “Sự không công bằng về mặt thông tin mà mỗi bên có
được được gọi là hiện tượng thông tin bất cân xứng”.
Vấn đề thông tin bất cân xứng, mà hệ quả của nó là sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo
đức, khiến việc tài trợ cho hoạt động R&D được không đúng người đúng mục đích, từ đó ảnh
hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Để phản ánh hệ quả này, các mô hình của Jones [57], Ivo De
Loo và Luc Soete [54], Madsen [65] đã đề cập đến nghịch lý về mối quan hệ giữa việc tài trợ
cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế: “Ở một số quốc gia, lượng tiền đầu tư cho hoạt
động R&D liên tục tăng trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế lại có xu hướng giảm dần trong
nhiều năm liên tiếp”. Nghịch lý này đã xảy ra ở Mỹ giai đoạn 1989-1991, ở một số quốc gia
như Mỹ, Nhật Bản, Anh … giai đoạn 2000-2003 và gần đây là giai đoạn 2007-2010 [39].
Các nghiên cứu khác cho đến nay cũng đưa ra nhiều luận giải cho nghịch lý này như bài
viết Jones [57], Ivo De Loo và Luc Soete [54], Madsen [65]. Jones cho rằng những nhân tố
đột biến bất thường đã tác động ngược chiều và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế; theo Ivo
De Loo và Luc Soete, hoạt động R&D về sau đã tập trung vào sự khác biệt hóa sản phẩm
nhiều hơn là sự đổi mới về mặt kỹ thuật công nghệ, điều này góp phần tăng lợi ích của người
tiêu dùng nhưng không tác động mạnh đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, những giải
thích này vẫn chưa nhận được nhiều sự đồng thuận và đang còn gây nhiều tranh luận giữa các
nhà kinh tế.
Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy không phải trong mọi trường hợp việc tăng
cường tài trợ cho hoạt động R&D đều góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế. Vậy trong
trường hợp nào thì nên tiếp tục tăng cường tài trợ cho hoạt động R&D, trong trường hợp nào
thì không nên tăng cường tài trợ cho hoạt động R&D và nên sử dụng nguồn lực đó cho các
lĩnh vực ưu tiên khác?
Những phân tích trên cho thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu để luận giải cho nghịch lý về
mối quan hệ giữa việc tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh thông
tin bất cân xứng ở thị trường tài chính. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu mô hình
1

đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện
thông tin bất cân xứng đối với tăng trưởng kinh tế” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến
sỹ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu khoa học: (1) Xây dựng mô hình đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động
R&D đối với tăng trưởng kinh tế trong điều kiện thông tin bất cân xứng. (2) Đưa ra luận giải
đối với nghịch lý về mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế và
xem xét trường hợp nào việc tài trợ cho hoạt động R&D còn hiệu quả đối với tăng trưởng
kinh tế và ngược lại.
Mục tiêu thực tiễn: Ứng dụng kết quả của mô hình vào Việt Nam và Mỹ nhằm đánh
giá tác động của việc tài trợ cho R&D đối với tăng trưởng kinh tế tại mỗi quốc gia.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề tăng trưởng kinh tế;
vấn đề tài trợ cho hoạt động R&D trong điều kiện thông tin bất cân xứng; mối quan hệ giữa
tài trợ cho hoạt động R&D trong điều kiện thông tin bất cân xứng và tăng trưởng kinh tế.
Phạm vi nghiên cứu:
• Đề tài đề cập đồng thời một số vấn đề về kinh tế học, thị trường tài chính, quản trị rủi
ro và xác suất thống kê.
• Phần xây dựng mô hình nghiên cứu trường hợp nguồn tài trợ cho hoạt động R&D được
thực hiện qua thị trường tín dụng.
• Thời gian độc quyền của bằng phát minh là vĩnh viễn.
• Việc vận dụng mô hình được xem xét riêng với giai đoạn nền kinh tế chịu ảnh hưởng
của các nhân tố gây ảnh hưởng đột biến tới tăng trưởng kinh tế.
4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài việc sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp mô hình hóa, xây dựng
bài toán tối ưu, luận án còn sử dụng phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận và nghiên cứu
thực trạng để xây dựng mô hình kinh tế. Mô hình sau khi được xây dựng được kiểm định về
mặt lý luận và nghiên cứu vận dụng kết quả vào hai nước là Việt Nam và Mỹ.
5. Ý nghĩa khoa học của đề tài
• Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về mặt lý luận và tìm hiểu các mô hình kinh
tế trong và ngoài nước có liên quan, đề tài lựa chọn, phát triển và xây dựng một mô
hình kinh tế có thể áp dụng được để đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D
trong điều kiện thông tin bất cân xứng đối với tăng trưởng kinh tế.
• Điểm mạnh của mô hình là ở chỗ xuất phát từ những điểm khác biệt trong cách tiếp
cận của mô hình với các nghiên cứu trước đây, mô hình đã chỉ ra:
- Sự tác động của tài trợ cho hoạt động R&D tới lượng sản phẩm trung gian mới



, tới tổng lượng sản phẩm trung gian của nền kinh tế 

và tới lực lượng lao
động sản xuất sản phẩm cuối cùng 

.
- Tài trợ cho hoạt động R&D có hiệu quả đối với tăng trưởng kinh tế khi tổng hợp
ảnh hưởng của các tham số này phải thỏa mãn điều kiện ràng buộc được miêu
tả ở công thức (3-45).
2

- Kết quả của đề tài góp phần đưa ra một luận giải đối với nghịch lý về mối quan
hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế còn đang được tranh
luận giữa các nhà kinh tế.
• Đề tài vận dụng mô hình nghiên cứu tại hai quốc gia là Việt Nam và Mỹ trong giai
đoạn 2005-2013, từ đó xem xét tính hiệu quả của việc tài trợ cho hoạt động R&D đối
với tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh thông tin bất cân xứng ở mỗi quốc gia.
• Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất dải xác suất được tài trợ có hiệu quả cho năm tiếp theo ở
Việt Nam và Mỹ
6. Bố cục của luận án: Ngoài mở đầu và kết luận, nội dung của luận án được kết cấu
bao gồm 5 chương được trình bày trong 156 trang. Luận án có 20 hình vẽ, 31 bảng, phần phụ
lục và 90 tài liệu tham khảo. Sau đây là nội dung chi tiết của luận án:

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh
tế đã được nghiên cứu bởi rất nhiều nhà kinh tế khác nhau. Chương này trình bày một số
nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài, từ đó rút ra những đóng góp cũng như những
tồn tại của các nghiên cứu này và đề xuất hướng nghiên cứu mới của luận án.
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
1.1.1. Mô hình tăng trưởng của Solow [81]
1.1.2. Mô hình tăng trưởng kinh tế của Romer [77][78][79]
1.1.3. Mô hình tăng trưởng kinh tế của Bencivenga và Smith [30]
1.1.4. Mô hình tăng trưởng kinh tế của Jones [56][57], Ivo De Loo và Luc Soete [54]
1.2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.2.1. Giáo sư Trần Thọ Đạt - Vai trò của năng suất tổng hợp các yếu tố (TFP) trong chất
lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam [18][19][20]
1.2.2. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương – Thay đổi mô hình tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam [21][22]
1.2.3. Nguyễn Đức Kiên – Mô hình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam ở giai đoạn thu
nhập trung bình thấp (2012-2020) [9]
1.3. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
1.3.1. Một số tồn tại từ các mô hình nghiên cứu trước
Mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế vẫn còn nhiều tồn tại
đang được tiếp tục tranh luận. Trong đó, một trong những tồn tại lớn nhất là chưa giải thích
được nghịch lý về mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế.
1.3.2. Định hướng nghiên cứu
Từ những phân tích trên, tác giả định hướng “nghiên cứu mô hình đánh giá tác động
của tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện thông tin bất cân xứng
đối với tăng trưởng kinh tế”, trên cơ sở đó xem xét những nhân tố tác động thuận chiều,
những nhân tố tác động ngược chiều và xem xét những điều kiện nên mở rộng tài trợ cho
hoạt động R&D, những điều kiện không nên mở rộng tài trợ cho hoạt động này.
Nền tảng và hướng nghiên cứu mới của luận án được mô tả ở hình 1.3.
3

16
- Xây dựng mô hình đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D trong điều kiện thông tin
bất cân xứng đối với tăng trưởng kinh tế
- Trên cơ sở đó xem xét những nhân tố tác động thuận chiều, những nhân tố tác động ngược chiều
tới tăng trưởng kinh tế;
- Xem xét những điều kiện nên tăng cường tài trợ cho hoạt động R&D, những điều kiện không
nên tăng cường tài trợ cho hoạt động này.
- Vận dụng vào điều kiện Việt Nam và Mỹ.
CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY CÓ LIÊN QUAN
- Là những nhà kinh tế
đầu tiên ngiên cứu về
thông tin bất cân xứng
- Các lý thuyết của các
ông là nền tảng co các
nghiên cứu sau này.
- Là những nhà kinh tế
đầu tiên nghiên cứu về
mô hình OGM
- Kết quả của những
nghiên cứu này được
ứng dụng nhiều trong
kinh tế học.
-
Nghiên cứu về tăng
trưởng kinh tế và đưa
KHCN trở thành biến
nội sinh.
- Chỉ ra mối quan hệ
thuận chiều giữa tài trợ
cho hoạt động R&D và
tăng trưởng kinh tế.
- Tiếp tục nghiên cứu về
tài trợ cho hoạt động
R&D và tăng trưởng
kinh tế, và KHCN là
biến nội sinh
- Chỉ ra nghịch lý về mối
quan hệ giữa việc tài trợ
cho hoạt động R&D và
tăng trưởng kinh tế.
-
GORGE AKERLOF
MICHAEL SPENCE
JOSEPHZ STIGLITZ
IRVING FISHER
PAUL SAMUELSON
PETER DIAMOND
P. ROMER; HOWITT
GROSSMAN&HELPMAN
V. BENCIVENGA & B.SMITH
TRẦN THỌ ĐẠT;
NGUYỄN ĐỨC KIÊN
C.I.JONES
IVO DE LOO
LUC SOETE
MADSEN
HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỚI VÀ MÔ HÌNH MỤC TIÊU
Nền tảng và hướng nghiên cứu mới

Hình 1.3: Nền tảng và hướng nghiên cứu mới của đề tài
4


CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TÀI TRỢ CHO
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Chương này của luận án giới thiệu tổng quan về tăng trưởng kinh tế, về tài trợ cho hoạt
động R&D, về mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D trong điều kiện thông tin bất cân
xứng và tăng trưởng kinh tế.
2.1. TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.1.1. Khái niệm và mục tiêu của tăng trưởng kinh tế
Luận án đưa ra quan điểm về tăng trưởng kinh tế như sau: Tăng trưởng kinh tế là sự gia
tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trong một thời
gian nhất định (thường là một năm tài chính).
2.1.2. Vai trò của tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế có vai trò: (1) là tiền đề
vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống và thỏa
mãn nhu cầu ngày càng tăng của người dân; (2) tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm,
giảm tỷ lệ thất nghiệp; (3) củng cố an ninh quốc phòng, củng cố chế độ chính trị, tăng uy tín
và vai trò quản lý của nhà nước đối với xã hội.
2.1.3. Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối của tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP), thu nhập bình quân đầu người
và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Biểu diễn bằng toán học,
tốc độ tăng trưởng kinh tế được biểu diễn bằng công thức sau:
   =






× 100% hay    =






× 100% (2-4)
2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Ngoại trừ các nhân tố gây ảnh hưởng đột biến, các nhà kinh tế học đã chỉ bốn nhân tố
hàng đầu của tăng trưởng kinh tế là: (1) nguồn tài nguyên; (2) tư bản; (3) nguồn nhân lực; và
(4) hoạt động R&D, trong đó hoạt động R&D được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu.
2.2. TỔNG QUAN VỀ TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT
TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ
2.2.1. Tổng quan về tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển
Theo quan điểm của Tạp chí khoa học và công nghệ [74]: Nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ là hoạt động nghiên cứu mang tính hệ thống nhằm mục đích tạo ra kho tàng
kiến thức, bao gồm kiến thức về con người, về văn hóa và xã hội…và sử dụng kho tàng kiến
thức này ứng dụng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hoạt động R&D được chia thành 3 hoạt động cơ bản là nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu
ứng dụng và nghiên cứu phát triển.
Mục tiêu tổng quát của hoạt động R&D là nghiên cứu và khám phá các tri thức mới trong
các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội.
5

Theo OECD, lĩnh vực nghiên cứu của hoạt động R&D được chia thành 2 lĩnh vực chính
là: (1) khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ, (2) khoa học xã hội và nhân văn.
Nguồn tài trợ: Theo Cục Khoa học Quốc gia Mỹ (Naional Science Foundation) [39],
nguồn tài trợ cho hoạt động R&D được chia thành 4 nhóm là Chính phủ; khối doanh nghiệp;
các viện nghiên cứu và các trường đại học; các tổ chức phi lợi nhuận và các nguồn khác.
Chủ thể thực hiện: Gồm các viện nghiên cứu, các trường đại học, hoặc khối các doanh
nghiệp:
Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định mua kết quả nghiên cứu hay trực tiếp nghiên cứu
hoạt động R&D ở các doanh nghiệp: gồm đặc tính độc quyền; tốc độ tăng trưởng kinh tế; yếu
tố rủi ro; chi phí.
2.2.2. Việc tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện
thông tin bất cân xứng
Theo Mishkin [41], sự không công bằng về thông tin mà mỗi bên có được được gọi là
thông tin bất cân xứng. Thông tin bất cân xứng tạo ra những vấn đề ảnh hưởng đến thị trường
tài chính, đó là: (1) Lựa chọn đối nghịch và (2) Rủi ro đạo đức.
Sự hiện diện của vấn đề thông tin bất cân xứng đã làm thị trường tài chính bị bóp méo và
ảnh hưởng nghiêm trọng tới bên tài trợ vốn (ví dụ chính phủ, các ngân hàng thương mại…):
cản trở việc tài trợ vốn hiệu quả đúng người đúng mục đích và ảnh hưởng tới tốc độ tăng
trưởng kinh tế của quốc gia.
2.2.3. Mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong
điều kiện thông tin bất cân xứng và tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế cho tới nay đã được
nghiên cứu bởi rất nhiều nhà kinh tế và cho thấy hai quan điểm khác nhau. Thứ nhất, quan
điểm về mối quan hệ thuận chiều giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế. Một
số mô hình nghiên cứu điểm hình về quan điểm này như mô hình của Romer[77][78],
Grossman & Helpman[45], Bencivenga & Smith [30], Howitt [48]. Thứ hai, một số nhà kinh
tế đưa ra nghịch lý về mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế
như mô hình của Ivo De Loo & Luc Soete [54], Jones [55][56], Madsen [65]. Những nhà
kinh tế theo quan điểm này về cơ bản không phủ nhận tầm quan trọng của hoạt động R&D
đối với tăng trưởng kinh tế, song lại đưa ra các bằng chứng thực nghiệm cho thấy không phải
cứ tăng cường tài trợ cho hoạt động R&D đều góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hiện
nay, mối quan hệ này vẫn đang được tiếp tục tranh luận giữa các nhà kinh

CHƯƠNG 3
XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÀI TRỢ CHO
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Trong chương này, trên cơ sở các nghiên cứu trước đây có liên quan, luận án đã đề xuất
một mô hình đánh giá đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D trong điều kiện
thông tin bất cân xứng đối với tăng trưởng kinh tế. Phương pháp tiếp cận chính của mô hình
là xem xét tác động của việc tài trợ cho hoạt động R&D đến tổng thu nhập quốc dân, 

, với
nguyên tắc là việc tài trợ có hiệu quả khi 

> 

. Quá trình xây dựng mô hình bắt đầu từ
việc giới thiệu tổng quan về mô hình và các tham số của mô hình đến việc xây dựng các điều
6

kiện cụ thể của mô hình, từ đó mô tả trạng thái cân bằng của thị trường, đánh giá tác động
của tài trợ cho hoạt động R&D tới tăng trưởng kinh tế và kiểm định kết quả của mô hình về
mặt lý luận.
3.1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH
Mô hình nghiên cứu ở đây là mô hình với sự mở rộng của sản phẩm trung gian theo đó
sự phát triển của khoa học công nghệ nói chung, hoạt động R&D nói riêng đã tạo ra sự mở
rộng của số lượng các sản phẩm trung gian (intermediate goods). Nguồn vốn để tài trợ cho
hoạt động R&D (dự án R&D) ở trong mô hình được thực hiện thông qua thị trường tín dụng.
Ngoài ra, mô hình xem xét sự hiện diện của vấn đề thông tin bất cân xứng (informational
frictions). Các quan hệ trong mô hình được mô tả chi tiết ở hình 3.1.
3.2. XÂY DỰNG NHỮNG ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CHO MÔ HÌNH
3.2.1. Mô tả môi trường kinh tế của mô hình
* Về thời gian: Thời gian được nghiên cứu trong mô hình là đại luợng không xác định
(  ) và được chia thành các thời kỳ riêng rẽ kế tiếp lẫn nhau ( = 0,1,2, … , ).
* Về các chủ thể tham gia trong mô hình: Hình 3.1 dưới đây mô tả ngắn gọn về các chủ
thể tham gia trong mô hình.
* Về các loại hàng hóa của mô hình: Mô hình nghiên cứu gồm hai loại hàng hóa: hàng
hóa cuối cùng và hàng hóa trung gian (phần sau của mô hình sẽ trình bày chi tiết hơn về việc
sản xuất đối với hai loại hàng hóa này).
* Về dự án R&D trong mô hình: Giả định dự án R&D cần một đơn vị lao động và F đơn
vị hàng hóa cuối dùng để tạo ra một phát minh sáng chế mới ở thời kỳ t, trong đó một đơn vị
lao động được cung cấp bởi chính người đi vay; F đơn vị hàng hóa cuối cùng được người đi
vay vay từ phía người cho vay. Giả định rằng những người đi vay luôn mong muốn vay được
tiền để thực hiện dự án R&D hơn là đem bán sức lao động của mình cho các doanh nghiệp
khác. Nếu việc vay tiền thành công họ sẽ thực hiện dự án R&D và nếu dự án R&D thành
công họ sẽ được sở hữu một thẻ xanh hay một bằng phát minh sáng chế (patent) về một ý
tưởng mới ở thời kỳ t. Do đó, họ được quyền lập nên doanh nghiệp để sản xuất một loại hàng
hóa trung gian mới, ví dụ hàng hóa trung gian j ở thời kỳ t+1.
3.2.2. Việc sản xuất hàng hóa cuối cùng và hàng hóa trung gian
* Sản xuất hàng hóa cuối cùng. Theo Romer (1990) [77] và Barro và Sala – i – Martin
(2004) [28], mô hình xem xét hàm sản xuất đối với sản phẩm cuối cùng cho một doanh
nghiệp đại diện ở thời kỳ t như sau:


=

=
Nt
j
jttt
KALY
1
1
αα
(3-2)
* Sản xuất hàng hóa trung gian: Nếu dự án thành công, người nghiên cứu sẽ nhận
được một thẻ xanh – bằng phát minh sáng chế về việc sản xuất một loại hàng hóa trung gian
mới trong kỳ tiếp theo. Giả định trong mô hình này, bằng phát minh sáng chế đó tồn tại vĩnh
viễn (infinite patent life) và mỗi đơn vị sản phẩm trung gian thứ j đòi hỏi một đơn vị hàng
hóa cuối cùng ở thời kỳ t để sản xuất ở thời kỳ t+1.
7


























Hình 3.1: Các tham số trong mô hình [Nguồn: Tác giả]
λ
Thị trường tín dụng và vấn đề
thông tin bất cân xứng

Mô hình mở rộng sản phẩm trung gian
(Expanding Variety of Producer Products)
Mô hình các thế hệ kế tiếp nhau (OGM)
Overlapping Generation Model

Thế hệ già
Người đi vay
(


)
Người cho vay
(


)
Không được tài trợ
(  

)



Được tài trợ (


)
Tăng trưởng kinh tế
ttt
NLAY
α
α
α
α
−−
=
1
2
1
1


Thế hệ trẻ

Sản phẩm
cuối cùng


Sản phẩm trung gian
Để SX phải thực
hiện dự án R&D

Chủ thể nghiên cứu
dự án R&D



Thành công
(


)
Không thành công
(
  

)

(

, 

)



, 
,





, 
,

,






, 


(  

)




, 

(
  

)









, 

, 

, , 




8

3.3. THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG VÀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG GIỮA NGƯỜI ĐI
VAY VÀ NGƯỜI CHO VAY
3.3.1. Thị trường tín dụng: Thị trường tín dụng được miêu tả tổng quan ở hình 3.6.
Mô hình nghiên cứu thị trường tín dụng với sự hiện diện của vấn đề thông tin bất cân
xứng tức là thông tin về mức độ rủi ro là thông tin riêng của mỗi người đi vay.
Hợp đồng tín dụng được mô tả chi tiết như sau: Một hợp đồng tín dụng bao gồm hai đại
lượng và được viết dưới dạng
)
,
(
it
it
R
π
. Đại lượng thứ nhất,
it
R
, là mức lãi suất thực tế mà
người đi vay nhóm i phải trả cho người cho vay về việc sử dụng khoản vay F đơn vị hàng
hóa cuối cùng. Đại lượng thứ hai,
it
π
, là xác suất mà người đi vay nhóm i được tài trợ tín
dụng. Vì có hai nhóm người đi vay, nhóm có mức độ rủi ro cao và nhóm có mức độ rủi ro
thấp, do vậy, người cho vay được xem như cung cấp hai loại hợp đồng tín dụng: hợp đồng
),
(
HtHt
R
π
cho nhóm người đi vay có mức độ rủi ro cao ở thời kỳ t và hợp đồng
),(
LtLt
R
π
cho
nhóm người đi vay có mức độ rủi ro thấp ở thời kỳ t. Hơn nữa, hợp đồng tín dụng được thông
báo của mỗi người cho vay có tính chất độc lập với những người cho vay còn lại.
Hàm lợi ích kỳ vọng của người đi vay: Người đi vay nhóm i sau khi tiếp cận được khoản
vay sẽ thực hiện dự án R&D. Khi đó, hàm lợi ích kỳ vọng của nhóm người đi vay i với hợp
đồng tín dụng
),(
itit
R
π
là:
(
)
( )
ti
itit
jt
i
it
wF
Rp
β
πηπ
−+−
+
1
1
(3-13)
Điều kiện tham gia thị trường của người đi vay: Những người đi vay nhóm i sẽ sẵn lòng
thực hiện dự án R&D khi lợi ích kỳ vọng từ việc thực hiện dự án này sẽ mang lại cho họ ít
nhất là lớn hơn hoặc bằng so với khoản thu nhập mang lại trong điều kiện tham gia lao động
tại các doanh nghiệp
ti
w
β
. Do vậy, điều kiện tham gia thị trường của nhóm người đi vay i là:
(
)
t
iit
jt
i
w
FR
p
βη
≥−
+1
(3-14)
Hàm lợi ích kỳ vọng của người cho vay: Hàm lợi ích kỳ vọng của những người cho vay
với hợp đồng tín dụng
),(
itit
R
π
là:
( ) ( )
tittitiit
wFwFRp
ππ
−+−+ 1
(3-15)
Điều kiện tham gia thị trường của người cho vay: Người cho vay sẽ tham gia thị trường
tín dụng khi lợi ích kỳ vọng của họ thu được từ việc tham gia thị trường phải lớn hơn hoặc
bằng số tiền lương thực tế
t
w
khi họ không tham gia thị trường. Do vậy, điều kiện tham gia
thị trường của người cho vay được thể hiện dưới công thức sau:
1≥
iti
Rp
(3-16)
9

Hình 3.6: Thi trường tín dụng (Nguồn: Tác giả)
Thị trường tín dụng
(thực hiện luân chuyển vốn tới người đi
vay để thực hiện dự án R&D)
Giả định
1 người đi vay chỉ có thể vay được F đơn vị hàng hóa cuối
cùng từ 1 người cho vay và ngược lại
Tồn tại vấn đề
thông tin bất cân
xứng
Hợp đồng tín dụng: (

, 

)
Người có rủi ro cao:
(

, 

)

Người có rủi ro thấp:
(

, 

)


Người cho vay
• Hàm lợi ích
• Điều kiện ràng
buộc
Người đi vay và
người cho vay
Điều kiện tự chọn
Người đi vay
• Hàm lợi ích
• Điều kiện ràng
buộc
Cân bằng của thị trường
tín dụng (Cân bằng Nash)
Cân bằng
chung
(Pooling
Equilibrium)
Cân bằng
riêng
(Seperating
Equilibrium
)
Dự án thành
công
Dự án không
thành công
Với xác suất


,
người đi vay tiếp
cận được vốn,
thực hiện dự án
R&D
Với xác suất (
  

)
,
người đi vay không
tiếp cận được vốn,
không thực hiện dự
án R&D
Tham gia vào thị
trường sức lao động



Được độc quyền sản xuất 1
hàng hóa trung gian mới
10

2.3.2. Hợp đồng tín dụng ở điều kiện cân bằng
Điều kiện tự lựa chọn của người đi vay được miêu tả như sau:
( )
( )
(
)
(
)
tHLtLtjtLtHtHHtHt
jtHtH
wF
Rp
w
FR
p
βπ
η
πβ
πηπ

+
−≥
−+

++
1
1
11
(3-18)
( )
(
)
(
)
( )
t
LHt
Ht
jt
Ht
L
t
L
Lt
Lt
jtLt
L
w
FR
p
wF
R
p
βπ
ηπ
β
πη
π

+
−≥

+

+
+
1
1
1
1
(3-19)
Đơn cử hợp đồng tín dụng ở điều kiện cân bằng của thị trường: Theo Rothschild và
Stiglitz [80], khi thị trường tín dụng ở điều kiện cân bằng, ba đặc điểm sau sẽ xảy ra:
- Bất cứ sự cân bằng nào của thị trường tín dụng đều thỏa mãn điều kiện tự lựa chọn;
- Hợp đồng tín dụng ở điều kiện cân bằng thu được lợi nhuận kỳ vọng bằng không; Ở mô
hình này, khi lợi nhuận kỳ vọng của hợp đồng tín dụng bằng không, từ công thức (3-17), mô
hình thu được kết quả sau:
i
it
p
R
1
=

i = H, L (3-20)
- Hợp đồng tín dụng đối với nhóm người đi vay i trong tập hợp các hợp đồng tín dụng
thỏa mãn các điều kiện (3-18) và (3-20) là nhằm tối đa hóa lợi ích kỳ vọng của nhóm người
đi vay này, giả sử hợp đồng tín dụng nhận được đối với nhóm người đi vay j (

i) không thay
đổi.
Từ những phân tích ở trên, hợp đồng tín dụng ở điều kiện cân bằng cho cả hai nhóm
người đi vay được mô tả như sau:
- Hợp đồng tín dụng ở điều kiện cân bằng đối với nhóm người đi vay có mức độ rủi ro
cao H là:
Ht
R
=
H
p
1

Ht
π
1=

- Hợp đồng tín dụng ở điều kiện cân bằng đối với nhóm người đi vay có mức độ rủi ro
thấp L được xác định như sau:
Lt
R
=
L
p
1

(
)
( )
tH
L
H
jt
H
t
Hjt
H
Lt
N
AF
p
p
p
NAFp
α
α
α
α
α
α
α
αβ
η
ααβη
π
−−
+
−−
+
−−

−−−
=
1
2
1
1
1
1
2
1
1
1
1
1

(3-21)
3.4. SỰ CÂN BẰNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG
3.4.1. Các trạng thái cân bằng của thị trường tín dụng ở điều kiện thông tin
bất cân xứng
Ở điều kiện thông tin bất cân xứng, thị trường tín dụng có thể tồn tại một trong hai khả
năng cân bằng là cân bằng chung và cân bằng riêng. Theo Rothschild [80], nếu tồn tại một
trạng thái cân bằng ở thị trường tín dụng thì chắc chắn đó sẽ phải là trạng thái cân bằng riêng
đối với từng nhóm người đi vay (separating equilibrium).
3.4.2. Mô tả trạng thái cân bằng của thị trường tín dụng
Để mô tả được trạng thái cân bằng của thị trường tín dụng, mô hình cần xác định được
giá trị cân bằng của xác suất được tài trợ 

và tổng lượng sản phẩm trung gian của nền kinh
11

tế 

. Bằng các lập luận về mặt kinh tế và những biến đổi về mặt toán học, mô hình xác định
được mối quan hệ giữa xác suất được tài trợ 

và tổng lượng sản phẩm trung gian của nền
kinh tế 

theo các công thức sau:
( )
(
)
L
p
L
p
NN
L
Htt
Lt
λ
λ
π

−−
=

1
2
1
(3-26)

(
) ( )
















−−−−

=


1
1
1
)1(
)2(
1
1
Lt
L
H
tH
L
H
H
H
Lt
F
p
p
NBF
p
p
D
D
π
λ
λ
π
(3-35)
Trong đó:
L
Ap
D
HH
2
11
1
2
1
1
αα
α
α
α
−−

=

( )
α
α
α
ααβ
−−
−=
1
2
1
1
1 AB
HH


Như vậy mô hình đã xây dựng được hai công thức biểu diễn mỗi quan hệ giữa xác suất
được tài trợ của những người có mức độ rủi ro thấp và tổng lượng sản phẩm trung gian trong
nền kinh tế (được biểu diễn ở công thức 3-26 và 3-35). Bằng việc sử dụng hai công thức (3-
26) và (3-35), trạng thái cân bằng của thị trường tín dụng được mô tả ở hình 3.8 sau:

Hình 3.8: Trạng thái cân bằng của thị trường tín dụng

3.4.3. Tác động của xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức
độ rủi ro thấp đến tăng trưởng kinh tế
Trường hợp 1: Xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp
tăng
Trường hợp này xảy ra khi vấn đề thông tin trên thị trường tài chính nói chung, thị
trường tín dụng nói riêng được minh bạch hơn. Bằng việc thay giá trị tính toán được xác định
tại trạng thái cân bằng của nền kinh tế vào công thức (3-2) mô hình thu được kết quả sau:
N
t
, N
t+1


N
t
,
Lt
π
cố định
N
t-1
,
1
−Lt
π
cố định

( )
Lp
LpN
L
Ht
λ
λ

−−

1
2
1

( )
Lp
LpNt
L
H
λ
λ

−−
1
2






Lt
π


N
t
, N
t+1

Lt
π

N
t -1
cố định N
t
cố định

(3-35)
(3-37)
(3-26)
(3-36)



1
Lt
π
A
B
12


ttt
NLAY
α
α
α
α
−−
=
1
2
1
1
(3-44i)
Thứ nhất: Mô hình xét tác động của nhân tố lực lượng lao động sản xuất sản phẩm
cuối cùng: Công thức (3-41) cho thấy khi xác suất được tài trợ của những người có mức độ
rủi ro thấp tăng thì lực lượng lao động trong xã hội sẽ giảm. Điều này cũng có nghĩa là


< 

.
Thứ hai: Xét tác động của nhân tố tổng lượng sản phẩm trung gian trong nền kinh tế.
Các công thức (3-23) và (3-25) cho thấy, lượng sản phẩm trung gian mới trong nền kinh tế có
thể tăng hoặc giảm nhưng tổng lượng sản phẩm trung gian trong nền kinh tế luôn tăng. Điều
này có nghĩa là 

> 

.
Ngoài ra, tổng lượng sản phẩm trung gian lại phụ thuộc vào lượng sản phẩm trung gian
mới. Công thức (3-40) cho thấy lượng sản phẩm trung gian mới được tạo ra trong nền kinh tế
có quan hệ cùng chiều với xác suất được tài trợ của những người có mức độ rủi ro thấp. Do
vậy, khi xác suất được tài trợ của những người có mức độ rủi ro thấp tăng thì lượng sản phẩm
trung gian mới cũng tăng, hay 


> 


.
Kết luận này kết hợp với điểm nhận xét thứ nhất cho thấy tổng sản phẩm quốc dân ở
kỳ t+1 lớn hơn tổng sản phẩm quốc dân ở kỳ t khi 



> 



, hay:


> 

khi








> 1. (3-45)
Như vậy, khi vấn đề thông tin bất cân xứng được hạn chế dẫn đến xác suất được tài trợ
của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp tăng. Điều này sẽ tác động đến tổng sản phẩm
quốc dân trong nền kinh tế. Những phân tích ở trên đã chỉ ra rằng tổng thu nhập quốc dân kỳ
t+1 sẽ cao hơn kỳ t khi việc tăng xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi
ro thấp tác động đến lực lượng lao động trong xã hội và tổng lượng sản phẩm trung gian
trong nền kinh tế, và tổng hợp những tác động này phải thoải mãn điều kiện ràng buộc ở công
thức (3-45).
Trường hợp 2: Xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp
giảm
Trường hợp này xảy ra khi nền kinh tế chịu ảnh hưởng của bất kể tác động nào dẫn đến
việc minh bạch thông tin trên thị trường tài chính nói chung, thị trường tín dụng nói riêng bị
giảm sút.
Thứ nhất: Mô hình xét tác động của nhân tố lực lượng lao động trong xã hội: công
thức (3-41) cho thấy khi xác suất được tài trợ của những người có mức độ rủi ro thấp giảm
thì lực lượng lao động trong xã hội sẽ tăng. Điều này cũng có nghĩa là 

> 

.
Thứ hai: Xét tác động của nhân tố tổng lượng sản phẩm trung gian trong nền kinh tế.
Các
công thức (3-23) và (3-25) cho thấy, lượng sản phẩm trung gian mới trong nền kinh tế
giảm nhưng tổng lượng sản phẩm trung gian trong nền kinh tế luôn tăng. Điều này có nghĩa
là 

> 

.
Lý do lượng sản phẩm trung gian mới giảm: Công thức (3-40) cho thấy lượng sản
phẩm trung gian mới được tạo ra trong nền kinh tế có quan hệ cùng chiều với xác suất được
tài trợ của những người có mức độ rủi ro thấp. Do vậy, khi xác suất được tài trợ của những
13

người có mức độ rủi ro thấp giảm thì lượng sản phẩm trung gian mới cũng giảm, hay 


<



. Kết luận này kết hợp với điểm nhận xét thứ nhất cho thấy tổng sản phẩm quốc dân ở kỳ
t+1 lớn hơn tổng sản phẩm quốc dân ở kỳ t khi 



> 



hay điều kiện ràng buộc (3-
45) phải được thỏa mãn.
Như vậy, việc giảm xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp
một mặt sẽ tác động làm tăng lực lượng lao động trong xã hội, mặt khác lại tác động làm
giảm lượng sản phẩm trung gian mới trong nền kinh tế. Xét trong một khoảng thời gian ngắn,
mức giảm xác suất này vẫn có thể dẫn đến tăng tổng sản phẩm quốc dân vì trong ngắn hạn thì
mức tăng của lực lượng lao động sẽ tác động mạnh hơn mức giảm của tổng sản phẩm trung
gian mới. Tuy nhiên, Chính phủ các nước đều không nỗ lực nhằm vào việc tăng sản phẩm
quốc dân bằng biện pháp này vì một mặt điều này dẫn đến sự bóp méo thị trường tài chính
nói chung, thị trường tín dụng nói riêng, mặt khác sẽ dẫn đến sự không tham gia thị trường
tín dụng của những người có mức độ rủi ro thấp.
Đó chính là lý do vì sao Chính phủ các nước luôn nỗ lực tìm cách can thiệp vào thị
trường tài chính nói chung, thị trường tín dụng nói riêng để làm tăng thêm sự minh bạch cho
các thị trường này, từ đó giúp tăng cường tài trợ cho những người đi vay có mức độ rủi ro
thấp và góp phần thúc đầy tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, mô hình đã đi vào xây dựng và giải thích được một thực trạng đối với nghịch
lý về mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế: Các thị trường tài
chính ngày nay đều có sự hiện diện của vấn đề thông tin bất cân xứng. Sự hiện diện này đã
gây nên sự lựa chọn đối nghịch. Kết quả là những người có mức độ rủi ro cao lại là những
người tích cực tìm vay nhất và được tài trợ, trong khi đó một bộ phận những người có mức
độ rủi ro thấp lại bị từ chối cho vay. Do vậy, Chính phủ các nước luôn tìm cách để hạn chế sự
bất cân xứng thông tin trên thị trường tài chính, tức là tăng xác suất được tài trợ của những
người đi vay có mức độ rủi ro thấp. Tuy nhiên, việc tăng khả năng tài trợ này nếu không thỏa
mãn điều kiện (3-45) sẽ không những không góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế mà còn
dẫn đến sự lãng phí nguồn lực trong xã hội.
3.5. KIỂM ĐỊNH CÁC ĐIỀU KIỆN CỦA MÔ HÌNH
Sau khi mô hình được xây dựng, kết quả của mô hình được kiểm định lại về mặt lý luận
đối với các điều kiện tham gia thị trường của người cho vay, người đi vay và sự tồn tại trạng
thái cân bằng của thị trường tín dụng.
3.5.1. Kiểm định điều kiện tham gia thị trường của các chủ thể trong mô
hình
* Đối với người cho vay: Họ sẽ tham gia thị trường khi điều kiện ràng buộc ở
công thức
(3-16) được thỏa mãn. Mô hình đã chứng minh là ở điều kiện cân bằng hợp đồng tín dụng sẽ
thu được mức lợi nhuận bằng không và vì vậy công thức (3-16) được viết là
1=
iti
Rp
. Điều
này cho thấy điều kiện tham gia thị trường của người cho vay ở điều kiện cân bằng đã được
thỏa mãn.
* Đối với người đi vay: Người đi vay sẽ tham gia thị trường khi điều kiện ràng buộc (3-
14) và điều kiện tự lựa chọn (3-18), (3-19) được thỏa mãn. Bằng việc thay thế kết quả của mô
hình vào các điều kiện ràng buộc này và sau một số biến đổi về mặt toán học, mô hình thu
14

được các kết quả kiểm định đối với từng nhóm người đi vay có mức độ rủi ro cao và thấp như
sau:
Trường hợp 1: Đối với nhóm người đi vay có mức độ rủi ro cao: kết quả kiểm định cần
chứng minh:
1−



H
H
L
Lt
p
pp
π
(3-52)
Vì 0  

 1, và từ giả định ban đầu của mô hình là 

> 

có nghĩa là điều kiện
ràng buộc ở công thức (3-52) luôn được thỏa mãn. Như vậy, điều kiện tham gia thị trường
của nhóm những người đi vay có mức độ rủi ro cao luôn được thỏa mãn.
Trường hợp 2: Nhóm những người đi vay có mức độ rủi ro thấp
Mô hình thu được kết quả sau về xác suất của những người đi vay có mức độ rủi ro
thấp phải thỏa mãn điều kiện ràng buộc sau:
(
)
( )
tHL
LH
HL
Lt
NpBpB
Fpp


−≥ 1
π
(3-54)
Như vậy, khác với những người đi vay có mức độ rủi ro cao, những người đi vay có
mức độ rủi ro thấp vì sự hiện diện của hiện tượng thông tin bất cân xứng nên không phải lúc
nào họ cũng sẵn lòng tham gia thị trường. Họ chỉ tham gia thị trường khi điều kiện ràng buộc
(3-54) được thỏa mãn. Nếu không những người đi vay nhóm L này sẽ không tham gia thị
trường và khi đó 

= 0. Điều này cũng có nghĩa là xác suất tham gia thị trường của những
người đi vay nhóm L là giá trị đã được tính toán bởi công thức (3-37) và phải thỏa mãn điều
kiện ràng buộc ở công thức (3-54).
3.5.2. Kiểm định sự tồn tại trạng thái cân bằng của thị trường tín dụng
Để kiểm định sự tồn tại của trạng thái cân bằng ở thị trường tín dụng, mô hình cần
kiểm định điều kiện sau: với sự hiện diện của hợp đồng tín dụng đã được miêu tả ở trạng thái
cân bằng của thị trường tín dụng, khi đó liệu những người cho vay có sẵn lòng cung cấp một
hợp đồng tín dụng khác và chung cho cả hai nhóm người đi vay hay không. Giả sử






∧∧
t
t
R
π
,

hợp đồng tín dụng chung đó. Giờ phải kiểm định xem hợp đồng tín dụng này có tồn tại hay
không. Kết quả kiểm định đã chứng minh được rằng:
( )
(
)
t
L
t
t
jtL
t
t
Lt
LLt
LtjtLt
L
wF
RpwwFR
p
βπηπββ
πηπ






−+






−≥
≥−+−
∧∧
+
∧∧
+
11
11
(3-62)

Như vậy, kết quả tính toán ở công thức (3-62) cho thấy với sự hiện diện của hợp đồng
tín dụng ở điều kiện cân bằng thì những người cho vay sẽ không cung cấp hợp đồng tín dụng






∧∧
t
t
R
π
,
nữa. Nói cách khác, sẽ không tồn tại hợp đồng tín dụng






∧∧
t
t
R
π
,
để hấp dẫn được
những người đi vay nhóm L vì hợp đồng tín dụng này sẽ mang lại mức lợi nhuận kỳ vọng là
âm. Kết quả kiểm định này cho thấy sự cân bằng của thị trường tín dụng được mô tả luôn tồn
tại.
15

CHƯƠNG 4
VẬN DỤNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÀI TRỢ CHO
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Để mô hình được xây dựng đầy đủ và hoàn thiện hơn, chương này trình bày việc vận
dụng mô hình để đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D đối với tăng trưởng kinh
tế tại Việt Nam và Mỹ. Nội dung chính của chương là giới thiệu cách xác định các tham số
của mô hình, xây dựng thuật toán cho mô hình và giới thiệu kết quả vận dụng mô hình tại 2
quốc gia là Việt nam và Mỹ.
4.1. QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH CÁC THAM SỐ VÀ PHẠM VI ỨNG DỤNG MÔ
HÌNH
4.1.1. Quy trình xác định các tham số của mô hình
Để vận dụng mô hình vào việc đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D đối với
tăng trưởng kinh tế, trước tiên luận án đề cập quy trình xác định các tham số của mô hình.
Quy trình này được mô tả tóm tắt trên hình 4.1 bao gồm các bước sau:
1) Tập hợp các số liệu thứ cấp về lượng sản phẩm trung gian mới, dân số và lượng người
nghiên cứu được tài trợ để thực hiện hoạt động R&D
2) Xác định xác suất được tài trợ để thực hiện hoạt động R&D
3) Biện luận sự biến động của tham số  và xác định tham số  trung bình năm t
4) Xác định xác suất nghiên cứu hoạt động R&D thành công của cả hai nhóm người đi
vay có mức độ rủi ro cao và rủi ro thấp và xác suất nghiên cứu thành công của từng nhóm
người đi vay
5) Xem xét tác động của xác suất được tài trợ 

đến lượng sản phẩm trung gian mới
N


và lực lượng lao động sản xuất sản phẩm cuối cùng L


6) Đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D tới tăng trưởng kinh tế năm t so với
năm t-1
7) Đề xuất dải xác suất được tài trợ có hiệu quả cho năm t+1
4.1.2. Phạm vi ứng dụng mô hình
Ngoài bốn nhân tố hàng đầu ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, một số nhân tố khác có
thể tác động gây ảnh hưởng đột biến tới tăng trưởng kinh tế gồm: Khủng hoảng kinh tế;
những bất ổn về chính trị, xã hội; chiến tranh, dịch bệnh; thiên tai, thảm họa Phần kết quả
ứng dụng trong mô hình này sẽ chính xác hơn khi xem xét nền kinh tế ít chịu tác động của
các nhân tố gây ảnh hưởng đột biến trong ngắn hạn, do đó mô hình thực hiện xem xét riêng
giai đoạn chịu ảnh hưởng đột biến của cuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2008 tới các quốc gia
vận dụng mô hình.
4.2. THUẬT TOÁN VẬN DỤNG MÔ HÌNH
16

Để hỗ trợ cho việc xác định các tham số của mô hình, đề tài đã xây dựng một thuật toán
đơn giản trên Microsoft Excel. Thuật toán này thực chất là sự tóm tắt của tất cả những nội
dung đã trình bày ở trong Chương 3 và phần vận dụng mô hình ở chương này.
Thuật toán này đặc biệt hữu ích nhằm xem xét vai trò cũng như sự biến động của một số
tham số trong mô hình đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D tới tăng trưởng kinh
tế. Mặc dù còn dựa trên một số giả thiết đơn giản hóa nhưng thuật toán này đã chứng tỏ rằng
bài toán đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D tới tăng trưởng kinh tế hoàn toàn
có thể được thực hiện với sự trợ giúp của máy tính thông qua một phần mềm sau khi đã được
xây dựng hoàn thiện hơn. Đây cũng là một trong những vấn đề nghiên cứu tiếp theo của đề
tài.
Các nội dung chính của thuật toán được trình bày trong phần vận dụng mô hình ở một số
nước và trong phần phụ lục của luận án (phụ lục 1 tới phụ lục 16).
4.3. KẾT QUẢ VẬN DỤNG MÔ HÌNH TẠI MỘT SỐ NƯỚC

Một số nhận xét về kết quả vận dụng mô hình tại Việt Nam:
- Bảng 3.13 cho thấy xét trong từng năm khi hiện tượng thông tin bất cân xứng giảm, xác
suất được tài trợ 

có xu hướng tăng, làm tăng lượng sản phẩm trung gian mới 


của nền
kinh tế, đồng thời làm lực lượng lao động sản xuất sản phẩm cuối cùng 

có xu hướng giảm
dần và ngược lại. Những kết quả này phù hợp với những phân tích về mặt cơ sở lý luận trong
phần xây dựng mô hình ở chương 3. Ngoài ra, tại mức xác suất được tài trợ năm 2013 

=
0,063 thì lực lượng lao động sản xuất sản phẩm cuối cùng 

= 53.411.140  và
lượng sản phẩm trung gian mới của nền kinh tế 


= 345, tổng lượng sản phẩm trung gian
của nền kinh tế là 

= 3.845 sản phẩm. Kết quả ứng dụng mô hình tại năm 2013 so với năm
2012 là








= 1.117 > 1, điều này cho thấy việc tài trợ cho hoạt động R&D của Việt
Nam năm 2013 là hiệu quả trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế, và kết luận tương tự với
các năm còn lại trong giai đoạn 2005-2013.


- Giai đoạn 2008-2009 tại Việt Nam tốc độ tăng trưởng năm 2008 bằng 6,3% và năm
2009 bằng 5,3 %. Ngoài ra, kết quả vận dụng mô hình năm 2008 và 2009 tại Việt Nam lần
lượt là 1,190 và 1,199 và đều lớn hơn 1. Xác suất được tài trợ cho những người đi vay có
mức độ rủi ro thấp năm 2008 và 2009 lần lượt là 0,046% và 0,050%; lượng sản phẩm trung
gian mới cũng lần lượt là 334 và 397. Các kết quả này đều ở mức trung bình nếu xét trong
giai đoạn nghiên cứu là 2005-2013. Điều này cho thấy Việt Nam ít chịu tác động bởi các
nhân tố gây ảnh hưởng đột biến tới tăng trưởng kinh tế và tài trợ cho hoạt động R&D của
Việt Nam trong giai đoạn 2008-2009 vẫn hiệu quả và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Giả định các nhân tố khác không thay đổi, tức ở mức tương đối ổn định như giai đoạn
2005-2013, chiến lược tăng cường đầu tư dài hạn cho hoạt động R&D ở nước ta sẽ tiếp tục
góp phần tích cực trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế của quốc gia.
17
















Các số liệu về lượng sản phẩm trung gian mới, lực lượng lao động, lượng người nghiên cứu
hoạt động R&D được tài trợ
Xác định xác suất được tài trợ trung bình năm t
Biện luận sự biến động của tham số

và xác định tham số


trung bình năm t-1

Biện luận sự biến động của tham số

và xác định tham số


trung bình năm t
Tác động của


đến lượng sản phẩm trung gian mới




LLLĐ sản xuất SPCC


năm t-1

Tác động của


đến lượng sản phẩm trung gian mới




LLLĐ sản xuất SPCC


năm t
Xác định xác suất được tài trợ trung bình năm t-1

XS thành công người rủi ro
cao


năm t
XS thành công người rủi ro
thấp


năm t

XS thành công người rủi ro
cao


năm t-1

XS thành công người rủi ro
thấp


năm t-1

Dải xác suất tài trợ có hiệu quả cho năm t+1
Đánh giá tác động của việc tài trợ cho hoạt động R&D tới tăng trưởng kinh tế năm t so với năm t-1
Hình 4.1: Cách xác định các tham số trong mô hình [Nguồn: Tác giả]
18

Bảng 4.13: Tổng hợp kết quả vận dụng mô hình tại Việt nam giai đoạn 2005-2013
Năm
L
(người) (%) (%)
(%)
(% ) (BPM) (BPM) (người)
2005 46,696,389 0.035 1.197 2.900 0.040 365 1,237 46,678,998
2006 48,025,290 0.035 0.650 1.456 0.042 202 1,439 48,006,732 1.197
2007 49,025,851 0.045 0.850 2.243 0.047 352 1,791 49,003,305 1.271
2008 49,172,022 0.040 0.900 2.158 0.046 334 2,125 49,150,833 1.190
2009 49,660,959 0.045 0.949 2.354 0.050 397 2,522 49,637,425 1.199
2010 51,288,123 0.045 0.751 1.705 0.055 325 2,847 51,262,614 1.166
2011 52,183,179 0.050 0.653 1.535 0.059 321 3,168 52,154,799 1.132
2012 52,553,557 0.050 0.656 1.543 0.061 332 3,500 52,524,476 1.113
2013 53,441,219 0.050 0.655 1.543 0.063 345 3,845 53,411,140 1.117
λ
H
p
L
p
Lt
π

t
N
t
N
t
L
11
/
−− tttt
LNLN


Bảng 4.24: Tổng hợp kết quả vận dụng mô hình tại Mỹ giai đoạn 2005-2013
Năm
L
(người) (%) (%)
(%)
(%)
(BPM) (BPM)
(người)
2005
168,568,437 0.850 13.970 34.539 0.984 384,136 3,447,440 167,029,622
2006 168,322,529 0.850 14.493 37.026 0.981 406,859 3,854,299 166,788,320 1.116
2007 168,488,044 0.900 16.978 44.015 1.005 497,920 4,352,219 166,891,055 1.130
2008 168,415,224 0.900 16.980 44.523 0.995 498,602 4,850,821 166,826,518 1.114
2009 155,296,969 0.950 10.486 24.974 1.164 301,005 5,151,826 153,663,782 0.978
2010 165,178,843 0.900 14.983 37.522 1.047 432,911 5,584,737 163,578,605 1.154
2011 168,995,817 0.900 14.493 37.458 1.027 432,298 6,017,035 167,375,482 1.102
2012 169,163,803 0.900 14.978 37.468 1.041 441,089 6,458,124 167,529,649 1.074
2013 169,884,068 0.950 14.985 38.478 1.080 470,450 6,928,574 168,168,721 1.077
λ
H
p
L
p
Lt
π

t
N
t
N
t
L
1
1
/

− ttt
t
LN
LN

19

Một số nhận xét về kết quả vận dụng mô hình tại Mỹ:
- Bảng 3.24 cho thẫy, xét trong từng năm khi hiện tượng thông tin bất cân xứng giảm, xác
suất được tài trợ 

có xu hướng tăng, làm tăng lượng sản phẩm trung gian mới 


của nền
kinh tế, đồng thời làm lực lượng lao động sản xuất sản phẩm cuối cùng 

có xu hướng giảm
dần và ngược lại. Những kết quả này phù hợp với những phân tích về mặt cơ sở lý luận của
mô hình. Kết quả ứng dụng mô hình tại năm 2013 so với năm 2012 là là








= 1.077 >
1, điều này cho thấy việc tài trợ cho hoạt động R&D của Mỹ năm 2013 là hiệu quả trong việc
kích thích tăng trưởng kinh tế. Kết quả tương tự như vậy được cũng được thấy trong giai
đoạn 2005-2007 và 2009-2013.
- Giai đoạn 2007-2008, kết quả vận dụng mô hình tại Mỹ bằng 1,114 > 1, trong khi tốc
độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ giai đoạn này là -0.2%. Như đã phân tích ở trên, kết quả kiểm
định trong mô hình này chưa xét đến tác động của các nhân tố bất thường như khủng hoảng
kinh tế, chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai…Trong ngắn hạn khủng hoảng kinh tế chưa gây tác
động tới hoạt động R&D và quy mô người tham gia vào thị trường sức lao động hưởng mức
lương thực tế. Do vậy, trong giai đoạn này kết quả kiểm định ở Mỹ vẫn lớn hơn một, điều
này cho thấy việc đầu tư vào hoạt động R&D của cả Mỹ vẫn là nhân tố tác động thuận chiều
tới tăng trưởng kinh tế, khủng hoảng kinh tế là nhân tố đột biến tác động ngược chiều và tổng
hợp làm giảm nhẹ tốc độ tăng trưởng của Mỹ trong giai đoạn này.
- Giai đoạn 2008-2009, khủng hoảng kinh tế đã dần tác động tới việc đầu tư và nghiên
cứu của hoạt động R&D cũng như quy mô lực lượng lao động sản xuất sản phẩm cuối cùng ở
Mỹ. Tổng hợp cả hai nhân tố này đã khiến kết quả vận dụng mô hình của Mỹ trong giai đoạn
này bằng 0,978 và nhỏ hơn một. Điều này cũng đồng nghĩa với việc tài trợ cho hoạt động
R&D của Mỹ trong giai đoạn này đã chưa hiệu quả trong việc góp phần kích thích tăng
trưởng kinh tế, và thực tế cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ trong giai đoạn này
giảm và bằng âm 3,5% (-3,5%).
- Về chiến lược đầu tư dài hạn trong thời gian tới, cũng với giả định các nhân tố khác
không thay đổi, tức ở mức tương đối ổn định như giai đoạn 2005 – 2008 và 2010-2013, chiến
lược tăng cường đầu tư dài hạn cho hoạt động R&D, giảm mức độ thông tin bất cân xứng ở
thị trường tài chính vẫn được xem là một trong những bước đi quan trọng hàng đầu trong
việc kích thích tăng trưởng kinh tế của Mỹ.

CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
5.1. KẾT QUẢ
5.1.1. Kết quả về mặt lý luận
Thứ nhất: Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về tăng trưởng kinh tế
Thứ hai: Hệ thống hóa và làm rõ việc tài trợ cho hoạt động R&D trong điều kiện thông
tin bất cân xứng
Thứ ba: Nhận dạng mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh
tế trong bối cảnh thông tin bất cân xứng. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy nghịch lý về
mối quan hệ giữa việc tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế [54][56][57]. Luận
20

án đã thực hiện xây dựng một mô hình kinh tế về mối quan hệ giữa việc tài trợ cho hoạt động
R&D và tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh thông tin bất cân xứng, từ đó góp phần đưa ra
một luận giải về nghịch lý này.
Thứ tư: Xây dựng mô hình đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D trong
điều kiện thông tin bất cân xứng tới tăng trưởng kinh tế.
Mô hình đã mô tả và giải thích được một hiện thực trong nền kinh tế. Các thị trường tài
chính ngày nay luôn tồn tại vấn đề thông tin bất cân xứng. Những người đi vay luôn tìm cách
che đậy những thông tin xấu, thổi phồng hoặc cố tạo ra những thông tin tốt. Kết quả là lựa
chọn đối nghịch xảy ra. Mức độ thông tin bất cân xứng tác động đến xác suất được tài trợ của
những người có mức độ rủi ro thấp. Khi mức độ thông tin bất cân xứng có chiều hướng gia
tăng, tỷ lệ những người có mức độ rủi ro thấp bị từ chối cho vay tăng lên và ngược lại. Trên
cơ sở đó, mô hình xem xét sự ảnh hưởng của xác suất được tài trợ đối với những người có
mức độ rủi ro thấp sẽ tác động đến tăng trưởng kinh tế trong hai trường hợp sau:
Trường hợp 1: Xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp
tăng
Xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp tăng chỉ góp phần
làm tăng trưởng kinh tế khi việc tăng xác suất này góp phần tạo ra sự tăng sản phẩm trung
gian lớn hơn sự thay đổi trong lực lượng lao động, tức là phải thỏa mãn điều kiện ràng buộc
(3-45). Trong trường hợp ngược lại, việc tăng xác suất được tài trợ của những người đi vay
có mức độ rủi ro thấp tạo nên sự thay đổi trong tổng lượng sản phẩm trung gian mới không
đủ lớn so với những thay đổi trong lực lượng lao động. Nói cách khác, trong trường hợp này
khả năng thành công của các dự án R&D đối với những người có mức độ rủi ro thấp không
cao, và như vậy chắc chắn xác suất thành công của những người đi vay có mức độ rủi ro cao
còn thấp hơn nữa (

à 

). Như vậy, trong trường hợp này việc tăng cường tài trợ
cho các hoạt động R&D sẽ không những không góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà
còn gây nên sự lãng phí nguồn lực trong xã hội.
Trường hợp 2: Xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp
giảm
Mô hình đã chỉ ra việc giảm xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ
rủi ro thấp sẽ tác động làm tăng lực lượng lao động sản xuất sản phẩm cuối cùng trong xã
hội, giảm lượng sản phẩm trung gian mới trong nền kinh tế và có thể dẫn đến tăng tổng sản
phẩm quốc dân trong ngắn hạn. Tuy nhiên, Chính phủ các nước đều không nỗ lực nhằm vào
việc tăng sản phẩm quốc dân bằng biện pháp này vì điều này dẫn đến sự bóp méo thị trường
tài chính và dẫn đến sự không tham gia thị trường của những người có mức độ rủi ro thấp.
Đó chính là lý do vì sao Chính phủ các nước luôn nỗ lực tìm cách can thiệp vào thị trường tài
chính để làm tăng thêm sự minh bạch về thông tin và giúp tăng cường tài trợ cho những
người đi vay có mức độ rủi ro thấp để góp phần thúc đầy tăng trưởng kinh tế.
5.1.2. Kết quả về mặt thực tiễn
Một số nhận xét về kết quả vận dụng mô hình tại Việt Nam:
- Xét trong từng năm khi hiện tượng thông tin bất cân xứng giảm, xác suất được tài trợ


có xu hướng tăng, làm tăng lượng sản phẩm trung gian mới 


của nền kinh tế, đồng thời
21

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×