Tải bản đầy đủ

HỒI SỨC TIM-PHỔI (REANIMATION CARDIORESPIRATOIRE) - PHẦN II docx

HỒI SỨC TIM-PHỔI
(REANIMATION CARDIORESPIRATOIRE)

PHẦN II
NHỮNG THỦ THUẬT HỒI SỨC CƠ BẢN NƠI NGƯỜI LỚN
(MANŒUVRES ELEMENTAIRES DE REANIMATION CHEZ
L’ADULTE)
Trước hết cần chắc chắn về sự mất tri giác (inconscience) của bệnh
nhân bằng một kích thích mạnh. Trong trường hợp mất tri giác, phải gọi
ngay sự giúp đỡ. Tuy nhiên trong trường hợp ngưng hô hấp (nhất là ở trẻ
em), người ta khuyên bắt đầu sự hồi sức trước khi kêu cứu, bởi vì những
giây phút đầu tiên có thể là quan trọng.
A = Airway : đảm bảo sự mở các đường hô hấp.
B = Breathing : đảm bảo sự hô hấp.
C = Circulation : đảm bảo sự tuần hoàn máu.
I/ MỞ ĐƯỜNG HÔ HẤP (OUVERTURE DES VOIES
AERIENNES).
Động tác đầu tiên là đảm bảo rằng, lưỡi không phải là nguyên nhân
gây tắc cao (obstruction haute) nơi bệnh nhân bất tỉnh. Lưỡi, vì liên kết với
hàm dưới, nên hàm dưới phải được đưa ra trước để khai thông họng : sự việc
kéo đầu về phía sau có thể đã là đủ khi các cơ má không bị teo lại.

Các đường dẫn khí được khai thông bằng cách đặt một bàn tay lên
trán của nạn nhân để kéo trán về phía dưới và phía sau bằng một chuyển
động quay (nghiêng đầu, head tilt) và với bàn tay kia đặt dưới hàm dưới để
kéo về phía trên bằng một chuyển động thẳng đứng (nâng cằm, chin lift).
Một phương pháp thay thế (ít hiệu quả hơn) là đặt bàn tay thứ hai này dưới
gáy rồi nâng lên về phía trên. Đối với những người thuận tay phải, thực hiện
những thao tác này dễ hơn bằng cách đứng về phía phải bệnh nhân.
Nơi những bệnh nhân có khả năng bị chấn thương cột sống, ta có thể
tránh cử động quay của đầu này bằng cách nhờ đến thao tác “ đẩy hàm ”
(jaw thrust) : người hồi sức đặt một bàn tay mỗi bên nạn nhân đồng thời để
cùi tay trên nền đất, và nâng hàm dưới lên. Các ngón tay cái đồng thời hạ
các môi xuống để giữ cho miệng được mở ra.
Một khi các đường hô hấp đã được khai thông, sự hiện diện hay vắng
mặt của hơi thở được xác định bằng cách đặt tai trước miệng bệnh nhân. Tư
thế này cho phép đồng thời nghe sự hô hấp, cảm thấy hơi thở và quan sát
những cử động của lồng ngực. Nếu bệnh nhân không thở, phải cần đến sự
thông khí nhân tạo.
II /THÔNG KHÍ NHÂN TẠO (VENTILATION ARIFICIELLE).
Không có dụng cụ nào cần thiết để đảm bảo một sự thông khí nhân
tạo có hiệu quả. Người ta bắt đầu bằng cách lấy đi một cách nhanh chóng
mọi vật có thể là nguyên nhân gây tắc đường khí (đặc biệt là hàm răng giả).
Ngón cái và ngón trỏ của bàn tay đặt trên trán bịt các lỗ mũi lại, trong khi
hàm dưới luôn luôn được nâng lên với bàn tay kia. Sau khi đã làm đầy khí
trong lồng ngực của mình, người hồi sức đặt miệng mở rộng quanh miệng
của bệnh nhân và thổi khí vào, càng kín càng tốt, không quá nhanh (trong 2
giây), vừa nhìn những cử động của lồng ngực. Sự hiệu quả của thông khí
được xác nhận bởi cảm giác đề kháng của các lá phổi của nạn nhân cũng như
bởi cảm giác thính giác và xúc giác của khí thở ra.
Nếu như không thể thực hiện sự thông khí nhân tạo bằng phương pháp
miệng-miệng (méthode de bouche-à-bouche), thí dụ trong trường hợp cứng
khít hàm (trismus) hay chấn thương mặt, phương pháp miệng-mũi (méthode
de bouche-à-nez) là cần thiết. Tuy nhiên cần hé mở miệng bệnh nhân để làm
dễ sự thở ra của không khí.
Thủ thuật này được lập lại 1 lần.
Những thủ thuật thông khí nhân tạo này không nhất thiết phải được
thực hiện trước tiên trong trường hợp ngừng tim nguyên phát (tai biến động
mạch vành), nhất là nếu người hồi sức không phải trong ngành y. Thật vậy
người ta cho rằng máu lúc ban đầu rất có nhiều oxy. Những thủ thuật thông
khí nhân tạo này được thực hiện trước tiên nhất là trong trường hợp nghi
ngừng hô hấp nguyên phát (chết đuối, trẻ em, BPCO ).
Kinh nghiệm cho thấy rằng những thể tích được thổi vào thường quá
mức, điều này gây nên hai hậu quả bất lợi :
- sự gia tăng các áp lực trong ngực có thể làm giảm hồi lưu tĩnh mạch
(retour veineux) và do đó làm giảm lưu lượng tim của huyết áp (một hiện
tượng auto-PEEP có thể làm gia tăng hiện tượng) ;
- Sự căng quá mức của dạ dày làm dễ sự trào ngược (régurgitation) và
làm giảm các thể tích phổi (volumes pulmonaires) do sự nâng cao của cơ
hoành. Không bao giờ được cố sức tống xuất khí trong dạ dày ra bằng cách
đè lên vùng thượng vị, điều này làm dễ sự trào ngược của chất chứa trong dạ
dày. Trong trường hợp trào ngược, ta có thể yêu cầu một người phụ tá đè lên
sụn nhẫn (thủ thuật Sellick) trong khi làm thông khí nhân tạo. Nếu một cơn
mửa xảy ra, bệnh nhân phải được đặt nằm nghiêng tức thời, chất mửa được
lấy ra khỏi miệng càng nhanh càng tốt trước khi bắt đầu thông khí nhân tạo
trở lại. Vậy phải chú ý những cử động của lồng ngực để đừng làm gia tăng
quá mức áp suất cần thiết.
Hiện nay người ta cho phép người không phải trong ngành y tế tránh
áp dụng thông khí nhân tạo vì nhiều lý do :
- xoa bóp tim là quan trọng hơn, nhất là lúc đầu của CPR khi máu còn
chứa oxy.
- sự gián đoạn xoa bóp tim trên thực tế thường quá lâu.
- tốt nhất là tránh, hơn là thực hiện hô hấp nhân tạo không đúng cách.
(không có hiệu quả hay những thể tích quá mức).
- vài người bỏ chạy hơn là phải thực hiện hô hấp nhân tạo vì ghê
tởm hay nguy cơ (phần lớn quá đáng) bị truyền bệnh (Sida ).
VẬT LẠ
Sự tắc đường khí có thể là do một vật lạ hoặc được liên kết với một
chấn thương hay do một sự thắt họng (strangulation), một phù nề do nhiễm
khuẩn hay dị ứng, hoặc do hít khí hay khói.
Sự hít vào những mảnh thức ăn là thường xảy ra nhất nơi người
trưởng thành, ứng viên lý tưởng mang một răng giả, vừa nói và vừa cười
trong một bữa ăn thịnh soạn, ở tiệm ăn hay ở công ty. Trong trường hợp tắc
không hoàn toàn (obstruction incomplète), nạn nhân, không khạc được
miếng thức ăn bằng một cơn ho dữ dội, có thể có một cơn ho nhỏ không
hiệu quả, tiếng thở rít hô hấp (stridor respiratoire) và một khó thở nghiêm
trọng kèm theo xanh tía. Nếu tắc hoàn toàn (obstruction complète), nạn nhân
không ho, không nói gì cả và chính nạn nhân đưa tay lên họng để chỉ nguồn
gốc của vấn đề.
Hai thủ thuật bổ sung có thể cần thiết.
Thủ thuật thứ nhất nhằm đánh bật dị vật ra bằng cách vỗ mạnh với
lòng bàn tay nhiều lần trên cột sống giữa hai xương bả vai. Nếu nạn nhân
nằm dài hay nếu đó là một em bé, đầu phải được giữ nằm khá thấp để tận
dụng sức của trọng lực. Nếu nạn nhân đứng hay ngồi, nạn nhân phải được
giữ về phía trước bằng cánh tay kia.
Trong trường hợp thất bại, một kỹ thuật khác nhằm tạo nên một cơn
ho nhân tạo, bằng cách gây nên một sự thở ra mạnh và đột ngột. Theo thủ
thuật này, được gọi là Heimlich, các bàn tay được đặt hoặc trên phần dưới
của xương ức, hoặc tốt hơn là ở thượng vị. Cách đặt tay thứ nhất thật ra chủ
yếu dành cho những người béo phì và các phụ nữ có thai. Dẫu sao, các bàn
tay không được đặt trên mũi ức (appendice xiphoide) hay trên các xương
sườn dưới, điều này có thể gây nên gãy xương hay làm rách các cơ quan nội
tạng. Bằng cách đứng phía sau nạn nhân, người hồi sức áp trên vùng thượng
vị một nắm tay đóng lại, được bàn tay kia nắm lấy nhằm tạo một áp lực
mạnh ra phía sau và lên trên.
Người ta lập lại thủ thuật 3-4 lần. Nếu nạn nhân nằm ngửa, ta còn có
thể quỳ xuống trên nạn nhân ở mức háng và đặt hai bàn tay chồng lên nhau
trên vùng thượng vị.
Không nên từ bỏ các thủ thuật nếu chúng không tỏ ra có hiệu quả
ngay. Thật vậy, nếu tình trạng của nạn nhân bị biến đổi, các cơ có thể giãn ra
và như thế cho phép hoặc là sự xê dịch dễ dàng hơn của vật lạ, hoặc là một
sự thông khí nhân tạo có hiệu quả hơn.
Nếu nạn nhân bất tỉnh, ta có thể đưa ngón cái và ngón trỏ dọc theo má
vào trong họng để cố lấy vật lạ ra, bằng cách nâng hàm dưới và lưỡi với bàn
tay kia. Dĩ nhiên bằng kỹ thuật này phải tránh đẩy vật lạ sâu hơn về phía
trước vào trong đường dẫn khí.
Những người có đủ kinh nghiệm và được trang bị đầy đủ dụng cụ có
thể sử dụng một ống soi thanh quản và một kềm Magill để rút vật lạ dưới sự
kiểm soát của soi thanh quản trực tiếp. Trong trường hợp tối hậu, sự thông
khí thanh quản có thể được đảm bảo bằng cách chọc thủng (bằng nhiều chiếc
kim hay bằng một catheter) hoặc ngay cả mở (bằng một dao mổ hay một con
dao) màng nhẫn-giáp (membrane crico-thyroidienne). Vùng bé nhỏ hình thoi
này nằm dưới quả táo Adam, trực tiếp ngay dưới da, có lợi thế là có ít mạch
máu. Thủ thuật này có một nguy cơ giới hạn và có thể cứu nạn nhân khỏi bị
chết ngạt.
Chuỗi động tác được khuyến nghị trong trường hợp tắc đường hô
hấp bởi một vật lạ
Nạn nhân tỉnh táo
1.Xác lập sự tắc đường dẫn khí (nạn nhân có thể nói được không ?)
2. Nhanh chóng cho 4 cái vỗ mạnh vào lưng và thực hiện 4 đè ép bụng
liên tiếp (ngực nơi người béo hay phụ nữ có thai).
3. Lập lại những cú vỗ vào lưng và các đè ép bằng tay cho đến khi
tống xuất được vật lạ hay cho đến khi nạn nhân bất tỉnh.
Nạn nhân bất tỉnh
1. Thử hô hấp nhân tạo bằng miệng-miệng. 2. Cho ngay 4 cái vỗ vào
lưng và thực hiện 4 đè ép bụng kế tiếp nhau.
3. Thử dùng ngón tay lấy ra vật lạ. 4. Đặt lại tư thế đầu và thực hiện
lại hô hấp nhân tạo.
5. Lập lại (2) và (3).
6. Xét việc mở khí quản bằng chọc do màng nhẫn-giáp để đảm bảo sự
thông khí nhân tạo.
III/ XOA BÓP TIM (MASSAGE CARDIAQUE)
Sự chẩn đoán ngừng tim (arrêt cardiaque) được xác lập bởi sự không
có mạch với trạng thái chết giả (état de mort apparente). Trong khi một bàn
tay đặt trên trán giữ đầu ở vị trí mở đường khí, bàn tay kia tìm cách ấn chẩn
mạch của động mạch cảnh. Động mạch cảnh được ưa thích hơn những mạch
máu khác bởi vì nó nằm cùng vùng với miệng, có thể được ấn chẩn mà
không cần phải lấy quần áo đi và đó là một mạch trung tâm (pouls central).
Nếu như ngừng tim vừa mới xảy ra, ta có thể thử cho một cú đấm
mạnh (coup de poing) lên vùng trước tim, mặc dầu hiệu quả của biện pháp
này đôi khi bị tranh cãi (có thể làm một tim nhịp nhanh thất thành rung thất).
Xoa bóp tim được thực hiện bằng cách đè ép một nửa dưới của xương
ức. Thuật ngữ “xoa bóp tim” (massage cardiaque) là không thích đáng, vì lẽ
không phải chỉ sự đè ép tim mà cả sự gia tăng toàn diện của áp lực trong
ngực (pression intrathoracique) đã gây nên sự phóng máu trong các huyết
quản.
Những yếu tố này được căn cứ trên 3 quan sát :
- nói chung không có gradient áp lực giữa các xoang tim khác nhau ;
- nói chung không có sự biến đổi đáng kể của kích thước tâm thất trái
trong lúc hồi sức.
- một tình trạng tuần hoàn thỏa mãn có thể được đảm bảo trong trường
hợp rung thất chỉ nhờ sự gia tăng áp lực trong lồng ngực gây nên bởi động
tác ho (“cough CPR”).
Khái niệm “bơm tim” (pompe cardiaque) trong đó tim được đè ép
giữa xương ức và cột sống, như thế đã được đặt kề với khái niệm bơm ngực
(pompe thoracique), trong đó tâm thất trái chủ yếu chỉ là ống dẫn máu
(conduit de sang).
Những quan sát này dẫn đến sự thăm dò những khả năng nhằm cải
thiện các kỹ thuật hồi sức - sự gia tăng nhịp nhàng của áp lực trong lồng
ngực mà không đè ép lên vùng trước tim (“vest CPR”) ;
- sự thực hiện đồng thời đè ép vùng trước tim và thông khí nhân tạo
(simultaneous compression-ventilation CPR). Những kỹ thuật mới thí
nghiệm này còn phải được đánh giá (nguy cơ chấn thương bụng và ngực,
giảm oxy-huyết, và giảm thán huyết ) ;
- thực hiện đè bụng chèn với đè ép vùng trước tim : kỹ thuật này có
thể được khuyến nghị miễn là có đủ nhân viên được đào tạo và không có
chống chỉ định (vừa mổ mở bụng, phình động mạch chủ, thai nghén ) ;
- dùng valve d’impédance (lập lại thao tác Muller).
- sử dụng các máy cho phép đè ép/ giảm ép lồng ngực.
Dẫu sao đi nữa, thuật ngữ “xoa bóp tim ngoài” (massage cardiaque
externe) vẫn được thừa nhận. Xoa bóp tim có hiệu quả đòi hỏi bệnh nhân
được đặt nằm trên một mặt phẳng cứng. Đầu không thể được nâng lên so với
thân thể, điều này có thể làm giảm lưu lượng máu qua não. Trái lại các cẳng
chân có thể được nâng lên để làm gia tăng hồi lưu tĩnh mạch về tim. Nếu
như nạn nhân nằm trên một chiếc giường, thì phải được chuyển ngay xuống
dưới đất, trừ phi có thể chuồi một tấm ván xuống dưới ngực của nạn nhân.
Người hồi sức quỳ ở mức ngực, tốt nhất về phía trái của nạn nhân (dẫu sao
về phía đối diện với người thực hiện sự thông khí nhân tạo). Sau khi đã định
được mũi ức (appendice xiphoide) bằng ngón trỏ và ngón giữa của một bàn
tay, bàn tay kia được đặt ngay trên hai ngón tay này trên xương ức (người ta
khuyến nghị người không phải trong ngành y chỉ cần đặt bàn tay trên phần
dưới của xương ức).
Các gót của các bàn tay được đặt chồng lên nhau để thực hiện những
đè ép trong khi các ngón tay được duỗi và dạng ra và không được đặt trên
ngực. Các cánh tay duỗi thẳng và các vai được đặt một cách chính xác trên
các bàn tay nhằm đảm bảo một áp lực hoàn toàn thẳng đứng. Thủ thuật này
là ít mệt nhất đối với người hồi sức.
Sự bóp ngực thích đáng phải làm hạ xương ức xuống 4 đến 5 cm.
Những xoa bóp này phải không được hung bạo và phải đều đặn. Những bàn
tay phải luôn luôn được tiếp xúc với ngực nhằm tránh mọi sự sai tư thế cũng
như mọi cử động đột ngột làm giảm tính hiệu quả của xoa bóp và ngoài ra có
nguy cơ gây nên những thương tổn ở ngực.
Năng suất của xoa bóp tim được cải thiện bằng một đè ép kéo dài của
ngực. Thời gian đè ép (temps de compression) phải bằng với thời gian giãn
(temps de relaxation).
HỒI SỨC CƠ BẢN : QUY TẮC 30/2.
Trong CPR cơ bản, dầu một mình hay có người kèm theo, bây giờ ta
áp dụng quy tắc 30/2 : xoa bóp tim được gián đoạn mỗi 30 xoa bóp để thực
hiện hai lần thổi khí vào phổi (insufflation des poumons). Các động tác thổi
khí vào phổi này phải sâu nhưng rất nhanh, lần thổi khí thứ hai được thực
hiện trước khi nạn nhan thở ra toàn bộ khí được thổi vào trước đó. Xoa bóp
tim (massage cardiaque) phải được thực hiện với nhịp độ 80 đến 100
lần/phút.
Mạch cảnh (pouls carotidien) được ấn chẩn từng hồi để kiểm tra tính
hiệu quả của xoa bóp tim và sự tái xuất hiện của một tuần hoàn có hiệu quả.
Tuy nhiên sự tìm kiếm mạch không được khuyến nghị đối với không chuyên
môn nghề nghiệp.
Ngay khi có được hai người, một người chăm lo thông khí
(ventilation) và một người chăm lo xoa bóp tim (massage cardiaque). Nhưng
xoa bóp tim hầu như không bị gián đoạn trong lúc thông khí nhân tạo.
Người đảm bảo việc xoa bóp tim không được do dự cho người thay
thế khi có những dấu hiệu mệt mỏi đầu tiên. Anh ta phải loan báo trước để
cho phép người thay thế chuẩn bị, làm sao cho sự thay đổi được thực hiện
một cách êm ái và điều hòa.
Người ta cũng có thể cải thiện sự hiệu quả của xoa bóp tim bằng cách
thực hiện một đè ép bụng giữa hai hai lần xoa bóp tim, để làm dễ sự hồi lưu
tĩnh mạch. Hiện nay các máy được đề nghị để làm dễ thủ thuật.
Sự hồi sức không bao giờ có thể được gián đoạn trong hơn 5 giây, trừ
trong hai trường hợp :
- để cho phép vận chuyển bệnh nhân khi bệnh nhân ở một nơi không
thích đáng (ngồi trong xe hơi, một cầu thang ) ;
- để cho phép nội thông khí quản (tối đa 30 giây dành cho một lần thử
nội thông).
Reference :
LE MANUEL DE REANIMATION, SOINS INTENSIFS ET
MEDECINE D’URGENCE, 2009
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (7/7/2010)
HỒI SỨC TIM-PHỔI SỐ 6
PHẦN III
NHỮNG THỦ THUẬT HỒI SỨC CƠ BẢN NƠI TRẺ EM
(MANŒUVRES ELEMENTAIRES DE REANIMATION CHEZ
L’ENFANT)
Ở trẻ em, những vấn đề hô hấp thường xảy ra hơn nhiều so với những
tai biến tim. Phải đặc biệt chú ý đến các đường hô hấp và vào sự trao đổi
khí.
Những nguyên nhân thông thường nhất gây suy hô hấp nghiêm trọng
ở trẻ em theo thứ tự là :
- hít các vật lạ vào đường hô hấp.
- nuốt thuốc hay các chất ma túy.
- hội chứng chết đột ngột của nhũ nhi.
- nhiễm trùng những đường hô hấp trên (viêm nắp thanh quản, bạch
hầu thanh quản )
- chết đuối
- chấn thương
- hít khói.
I/ MỞ ĐƯỜNG HÔ HẤP (OUVERTURE DES VOIES
AERIENNES)
Như đối với người trưởng thành, cách tốt nhất để khai thông các
đường dẫn khí là, bằng một bàn tay kéo trán về phía dưới và phía sau và với
bàn tay kia kéo hàm lên cao. Tuy nhiên sự quá đáng của động tác có thể dẫn
đến sự hẹp lại của khí quản do tính đàn hồi và khẩu kính nhỏ của nó. Trong
trường hợp tắc đường dẫn khí, đứa trẻ có thể có một phản xạ ho không có
hiệu quả, thở rít kỳ thở vào, khó thở và xanh tía.
Khi đưa các ngón tay vào trong miệng để cố lấy ra các vật lạ, phải đặc
biệt thực hiện một cách thận trọng để tránh đẫy vật nguyên nhân gây tắc vào
sâu bên trong. Sự thị chẩn vùng sau họng (arrière-gorge) trước hết phải được
thực hiện bằng cách đưa ngón cái vào trong miệng, những ngón khác của
bàn tay siết hàm dưới sao cho có thể nhìn thấy rộng vùng sau họng.
Cũng như đối với người trưởng thành, những cú đánh vào lưng
và/hoặc những cú bóp bằng bàn tay có thể cần thiết để làm xê dịch vật. Tuy
nhiên ở đây những đè ép bằng tay được thực hiện ở xương ức thay vì trên
bụng. Nếu đó là em bé, người hồi sức đặt nó đầu thấp trên cánh tay mình,
vừa dùng bàn tay để giữ cổ và má. Vì những lý do thuận tiện, người hồi sức
có thể để cánh tay dựa trên đùi gập lại. Với bàn tay kia, đánh 4 cú liên tiếp
giữa các xương bả vai, rồi trở ngược em bé lại để thực hiện 4 đè ép trên
ngực bằng cách đặt hai ngón tay lên phần dưới của xương ức. Nếu đó là một
trẻ em, người hồi sức có thể đặt nó lên đùi gập lại của mình để thực hiện
cùng những thủ thuật.
II/ THÔNG KHÍ NHÂN TẠO
Sau đó người ta sẽ xác lập sự hiện diện hay vắng mặt của hô hấp bằng
cách áp tai vào miệng của đứa bé.
Nếu nó ngạt thở hay thở rất khó nhọc, nhu cầu hô hấp nhân tạo không
phải luôn luôn dễ xác định. Sự xanh tía môi là một tiêu chuẩn khách quan
khá đáng tin cậy. Để thực hiện thông khí nhân tạo, người hồi sức dùng môi
mình che phủ đồng thời miệng và mũi của đứa trẻ nhằm đảm bảo độ kín thỏa
mãn.
Nếu sự hô hấp tự nhiên không được tái lập sau 4 lần thổi vào nhanh,
thông khí nhân tạo phải được đảm bảo với nhịp 20/phút nơi em bé và
15/phút nơi trẻ em. Thể tích khí được thổi vào dĩ nhiên ít hơn so với người
lớn. Nơi em bé, ta chỉ cần thổi vào dung lượng được chứa trong miệng (bằng
những puffs). Thiết yếu là theo dõi tốt những cử động của lồng ngực để
tránh thổi khí vào quá mức. Thật vậy sự căng dạ dày xảy ra thường hơn so
với người lớn.
III/ XOA BÓP TIM
Mạch cảnh (pouls carotidien) không phải luôn luôn dễ ấn chẩn nơi em
bé. Mạch cánh tay (pouls huméral) có thể dễ ấn chẩn hơn bằng cách đặt
ngón trỏ và ngón giữa trên mặt trong của cánh tay, ở giữa vai và cùi chỏ.
Nơi em bé, xoa bóp tim (compression précordiale) được thực hiện ở
phần giữa của xương ức, giữa hai núm vú. Sự xoa bóp này chỉ được đảm bảo
bởi hai hay ba ngón tay làm hạ thành ngực xuống khoảng 2 cm.
Tần số của các xoa bóp là 100 đến 120/ phút (bình thường ta có thể
đếm : “ một, hai ”) nơi trẻ sơ sinh và 80 100 /phút nơi trẻ em.
Tỷ suất thông khí/xoa bóp là 30/2 khi có một người hồi sức và 15/2
khi có hai người.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×