Tải bản đầy đủ

Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long - Chi nhánh Hà Nội.DOC

Mở đầu
1/ Tính cấp thiết của luận văn:
Hiện nay, vấn đề vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hóa và đầu t phát triển
kinh tế nhằm đạt đợc mục tiêu tăng trởng cao, bền vững đợc Nhà nớc đặc biệt quan
tâm, trong đó huy động vốn từ nội lực là một nội dung quan trọng hàng đầu.
Tuy nhiên, hệ thống Ngân hàng thơng mại vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu về
vốn cho nền kinh tế giai đoạn hiện nay. Nhiều ngân hàng thơng mại còn trong tình
trạng thiếu vốn trung và dài hạn, vẫn đang tìm kiếm những nguồn vốn ổn định với
chi phí hợp lý, phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn. Do đó, yêu cầu về tăng cờng huy
động vốn với quy mô và chất lợng cao là rất cần thiết đối với các ngân hàng thơng
mại.
Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB) là ngân hàng th-
ơng mại quốc doanh đa năng, đợc thành lập muộn nhất trong hệ thống ngân hàng
thơng mại quốc doanh (năm 1997) với chức năng chủ yếu là huy động và tiếp nhận
các nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nớc bằng các hình thức thích
hợp để đầu t cho các chơng trình phát triển nhà ở, phát triển kinh tế xã hội vùng
đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng ngân hàng,
có trụ sở đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh Hà Nội đ-
ợc thành lập tháng 7/2003 và chính thức đi vào hoạt động tháng 10/2003 là một
bớc tiến quan trọng của MHB khi thâm nhập vào thị trờng tài chính tiền tệ trên địa

bàn Thủ đô Hà Nội.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt với các tổ chức tín dụng trong và ngoài n-
ớc, các tổ chức tài chính phi ngân hàng trên địa bàn Hà Nội đòi hỏi MHB Chi
nhánh Hà Nội phải tìm ra những giải pháp nhằm tăng cờng huy động vốn kinh
doanh để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đất nớc nói chung và nhu cầu sử dụng
vốn của hệ thống MHB nói riêng.
1
Vì những lý do trên, đề tài: Tăng c ờng huy động vốn tại Ngân hàng Phát
triển nhà đồng bằng sông Cửu Long - Chi nhánh Hà Nội đợc lựa chọn nghiên
cứu.
2/ Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu những cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thơng
mại.
- Phân tích thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông
Cửu Long Chi nhánh Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể tăng cờng huy
động vốn cho Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh Hà
Nội thời gian tới để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, phát triển
kinh tế đất nớc.
3/ Đối tợng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thơng mại
nói chung và của Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh
Hà Nội nói riêng.
4/ Phạm vi nghiên cứu:
Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu
Long Chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2003-2006.
Luận văn nghiên cứu hoạt động huy động vốn của chi nhánh một ngân hàng
thơng mại nên tác giả nghiên cứu hoạt động này dới góc độ huy động vốn nợ và huy
động vốn từ các nguồn khác.
5/ Phơng pháp nghiên cứu:
Phơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp giữa lý luận và các
tài liệu, số liệu trên thực tế để so sánh, phân tích, đa ra các kết luận, chỉ ra hạn chế
và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Phát
triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh Hà Nội.
2
6/ Kết cấu của luận văn:
Tên đề tài: Tăng c ờng huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển nhà đồng
bằng sông Cửu Long - Chi nhánh Hà Nội
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn gồm 03 chơng:
Ch ơng 1: Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thơng mại


Ch ơng 2: Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng
sông Cửu Long Chi nhánh Hà Nội.
Ch ơng 3: Giải pháp tăng cờng huy động vốn cho Ngân hàng Phát triển nhà
đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh Hà Nội.
3
Ch ơng 1: hoạt động huy động vốn
của Ngân hàng thơng mại
1.1 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thơng mại
1.1.1 Huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động tạo vốn quan trọng của NHTM. Bằng các biện
pháp nghiệp vụ, các NHTM thu hút, tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn
rỗi của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp vào ngân hàng để tạo lập nguồn vốn cho
Ngân hàng và quản lý nguồn vốn đó. Cho vay luôn đợc coi là hoạt động sinh lời
cao, vì vậy các NHTM phải tìm mọi cách để huy động đợc tiền. NHTM huy động
vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu trên thị trờng vốn hoặc đi
vay Ngân hàng Nhà nớc, các Ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác để giải
quyết những nhu cầu cấp bách trong thanh toán với khách hàng; NHTM còn huy
động tiền gửi, tiền tiết kiệm trên thị trờng các tổ chức kinh tế & dân c; thị trờng
Ngân hàng & các tổ chức tín dụng
Theo Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung đợc Quốc hội nớc Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/6/2004 thì nguồn vốn huy động của
NHTM là nguồn vốn do nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các tổ
chức tín dụng và vay vốn của Ngân hàng Nhà nớc.
1.1.2 Sử dụng vốn
Ngân hàng là một tổ chức tài chính đi vay để cho vay. Do vậy mối quan
tâm hàng đầu của ngân hàng sau khi đã huy động đợc một lợng vốn là làm sao sử
dụng nguồn vốn để đạt đợc hiệu quả cao nhất. Vì thế ngân hàng phải nghiên cứu và
đa ra chiến lợc sử dụng vốn của mình, bằng các hoạt động sau:
+ Dự trữ: Với mục đích đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng, NHTM
phải duy trì một lợng vốn bằng tiền mặt thực hiện nghĩa vụ dự trữ, mức dự trữ này
tuỳ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc (do Nhà nớc quy định) và tỷ lệ dự trữ vợt quá mà
4
ngân hàng giữ lại để đảm bảo khả năng chi trả cũng nh thực hiện hoạt động khác
của mình.
+ Tiền gửi ở các ngân hàng khác: Ngân hàng đợc coi nh là thủ quỹ của nền
kinh tế và có trách nhiệm chi trả kịp thời mọi nhu cầu của ngời gửi tiền bằng tiền
mặt hoặc chuyển khoản. Vì vậy, ngân hàng phải gửi tiền tại các ngân hàng hoặc các
tổ chức tín dụng khác để đảm bảo luôn đáp ứng đợc yêu cầu rút tiền gửi, yêu cầu
vay vốn của khách hàng.
+ Cho vay: Theo quy định cho vay là hình thức tín dụng mà trong đó ngân
hàng ký hợp đồng với ngời đi vay, cam kết cho ngời đó vay một khoản tiền trong
một khoảng thời gian nhất định, khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi tại thời
điểm đáo hạn của khoản cho vay. Đây là một hoạt động chính và chiếm một tỷ
trọng lớn trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM, khoản mục này thờng chiếm từ
1/2 đến 3/4 giá trị tổng tài sản của ngân hàng. Hoạt động cho vay bao gồm ba nội
dung chính, đó là: Cho vay thơng mại, cho vay tiêu dùng và tài trợ dự án.
- Cho vay thơng mại: Từ buổi sơ khai, các ngân hàng đã thực hiện chiết khấu
thơng phiếu mà thực tế là cho vay đối với những ngời bán, ngời bán chuyển
các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trớc. Sau đó, các ngân hàng
chuyển từ nghiệp vụ chiết khấu thơng phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các
khách hàng là ngời mua, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng
sản xuất kinh doanh.
- Cho vay tiêu dùng: Đó là các khoản cho vay của ngân hàng nhằm tài trợ cho
nhu cầu sinh hoạt của ngời tiêu dùng. Trong giai đoạn đầu, hầu hết các ngân
hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình vì họ cho rằng
các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ tơng đối cao. Dần dần, sự gia tăng
thu nhập của ngời tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân
hàng phải hớng tới ngời tiêu dùng nh là khách hàng tiềm năng. Vì thế, tín
dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trởng
nhanh nhất ở các nớc có nền kinh tế phát triển từ sau chiến tranh thế giới lần
thứ hai.
5
- Tài trợ dự án: Bên cạnh hình thức cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn,
các NHTM tiếp tục mở rộng thêm hình thức cho vay để tài trợ cho các dự án
xây dựng các nhà máy mới, đặc biệt là các nhà máy trong ngành công nghệ
cao hoặc tham gia tài trợ vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản
+ Đầu t: Có hai hình thức đầu t chủ yếu của ngân hàng là:
Đầu t chứng khoán: Ngân hàng mua chứng khoán với mục đích đem lại thu nhập,
nâng cao tính thanh khoản, tăng cờng mức độ đa dạng hoá hoạt động, hạn chế rủi ro
và ít nhất một phần thu nhập của ngân hàng sẽ không phải chịu thuế... Nghiệp vụ
này mang lại lợi nhuận khá lớn cho ngân hàng sau nghiệp vụ cho vay nhng cũng
hàm chứa rất nhiều rủi ro. Tuỳ luật pháp mỗi quốc gia mà việc tham gia vào thị tr-
ờng chứng khoán của các ngân hàng ở mức khác nhau, song ngân hàng phải luôn
xem xét kỹ lỡng trớc khi lựa chọn danh mục và cơ cấu chứng khoán để đầu t. Thờng
ngân hàng hay chú ý vào trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công ty là những chứng
khoán có độ rủi ro thấp.
Đầu t khác: Bên cạnh đầu t vào chứng khoán, nguồn vốn của ngân hàng còn đợc sử
dụng để đầu t vào các mục đích sinh lời khác nh: góp vốn liên doanh, hùn vốn, ký
thác
+ Các tài sản khác: Đó là vốn hiện vật nh các tòa nhà ngân hàng, các trang
thiết bị do ngân hàng sở hữu gọi là tài sản cố định (tài sản vật chất). Các tài sản cố
định này tạo ra chi phí hoạt động cố định dới dạng chi phí khấu hao, thuế tài sản
hình thành nên đòn bẩy hoạt động cho phép ngân hàng đẩy mạnh thu nhập từ hoạt
động nếu nó làm gia tăng khối lợng dịch vụ lớn, tạo nhiều thu nhập hơn từ việc sử
dụng các tài sản cố định so với chi phí cho các tài sản đó.
1.1.3 Các dịch vụ khác
- Mua bán ngoại tệ: Đây là một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên đợc thực
hiện - đó là việc ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác
và hởng phí dịch vụ. Với sự phát triển mạnh mẽ của thị trờng tài chính ngày nay, chỉ
có các ngân hàng lớn mới thực hiện dịch vụ mua bán ngoại tệ vì dịch vụ này có mức
6
độ rủi ro cao, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao và trên cơ sở công nghệ hiện đại (nh
thông qua hệ thống online toàn cầu )
- Bảo quản vật có giá: Đó là việc các ngân hàng thực hiện việc lu giữ vàng và các
vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản và thu phí bảo quản. Các giấy
chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về các tài sản đang đợc
lu giữ) có thể đợc lu hành nh tiền - đó là hình thức đầu tiên của thẻ tín dụng. Nghiệp
vụ bảo quản vật có giá cho khách hàng ngày nay thờng do phòng Bảo quản của
ngân hàng thực hiện.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Ngân hàng cung cấp các
tài khoản giao dịch cho khách hàng để bảo quản tiền gửi của khách hàng và quan
trọng hơn là thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Thanh toán qua ngân hàng
là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, tạo sự an toàn, nhanh chóng, chính
xác, tiết kiệm chi phí cho khách hàng nên đã khuyến khích và thu hút đợc các cá
nhân, tổ chức và doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng nhờ thanh toán hộ. Các thể
thức thanh toán hiện nay rất đa dạng và tiện ích nh séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C,
thanh toán bằng điện, thẻ
- Quản lý ngân quỹ: Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền cho khách hàng, đồng
thời tiến hành việc quản lý thu chi cho khách hàng, tiến hành đầu t phần thặng d
tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi
khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Ngày nay, trong khi các ngân hàng có
khuynh hớng chuyên môn hoá vào dịch vụ quản lý tiền mặt cho các tổ chức thì có
một xu hớng đang gia tăng về việc cung cấp các dịch vụ cho ngời tiêu dùng. Sở dĩ
khuynh hớng này lan rộng là do các công ty môi giới chứng khoán, các tập đoàn tài
chính khác cung cấp cho ngời tiêu dùng tài khoản môi giới với hàng loạt dịch vụ tài
chính liên quan, chẳng hạn tài khoản quản lý tiền mặt cho phép khách hàng mua và
bán chứng khoán, di chuyển vốn trong nhiều quỹ tơng hỗ, viết séc và sử dụng thẻ tín
dụng cho khoản vay tức thời.
- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: Chính phủ các nớc thờng tiếp cận với các
khoản cho vay của ngân hàng khi nhu cầu chi tiêu lớn, cấp bách trong khi thu không
đủ. Các Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng
7
buộc các ngân hàng mới thành lập phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các
chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ, các ngân hàng phải mua Trái
phiếu chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lợng tiền gửi mà ngân hàng huy
động đợc; hoặc phải cho vay với các điều kiện u đãi cho các doanh nghiệp của
Chính phủ.
- Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng rất lớn nên ngân hàng đợc tin t-
ởng để thực hiện bảo lãnh cho khách hàng trong trờng hợp mua chịu hàng hóa và
thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác
- Cho thuê thiết bị trung và dài hạn: Các ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh
doanh quyền lựa chọn thuê các thiết bị, máy móc thông qua hợp đồng thuê mua,
trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê, thờng thì khách hàng phải
trả tới 2/3 giá trị của tài sản cho thuê và đợc xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
- Cung cấp dịch vụ uỷ thác và t vấn: Các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp đã nhờ
ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ, các ngân hàng thực
hiện các dịch vụ uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu
t, t vấn về đầu t, về quản lý tài chính, thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
Ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô vốn họ quản lý. Các
ngân hàng thờng cung cấp dịch vụ ủy thác thông thờng cho cá nhân, hộ gia đình và
dịch vụ uỷ thác thơng mại cho các tổ chức, doanh nghiệp. Thông qua phòng Uỷ thác
cá nhân, khách hàng có thể tiết kiệm các khoản tiền, ngân hàng sẽ quản lý và đầu t
khoản tiền đó đến khi khách hàng cần, hoặc ngân hàng thờng đóng vai trò là ngời đ-
ợc ủy thác trong di chúc, công bố tài sản, bảo quản tài sản thừa kế Thông qua
phòng Uỷ thác thơng mại, ngân hàng thờng đóng vai trò quản lý danh mục đầu t
chứng khoán, kế hoạch tiền lơng, đại lý cho các công ty trong hoạt động phát hành
cổ phiếu, trái phiếu.
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu t chứng khoán: ngân hàng cung cấp các dịch vụ,
đem đến cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác
mà không phải nhờ đến ngời kinh doanh chứng khoán. Ngày nay, hầu hết các ngân
hàng lớn đều đã thành lập các Công ty chứng khoán hoặc Công ty môi giới chứng
khoán của riêng mình.
8
- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: Các ngân hàng bán bảo hiểm cho khách hàng,
đảm bảo việc hoàn trả trong trờng hợp khách hàng chết, tàn phế, gặp rủi ro trong
hoạt động, mất khả năng thanh toán. Ngày nay, hoạt động ngân hàng và hoạt động
bảo hiểm đã thâm nhập vào nhau, tạo ra rất nhiều dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng
của khách hàng.
- Cung cấp các dịch vụ đại lý: Các ngân hàng lớn thờng cung cấp dịch vụ ngân hàng
đại lý cho các ngân hàng không có mạng lới rộng khắp bằng các hình thức chủ yếu
nh thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong
đồng tài trợ
- Cung cấp các kế hoạch hu trí: Phòng uỷ thác của ngân hàng quản lý kế hoạch hu
trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho ngời lao động, đầu t vốn và phát lơng hu
cho những ngời đã nghỉ hu hoặc tàn phế, ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi
hu trí cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi ngời sở hữu các kế hoạch
này cần đến.
- Cung cấp dịch vụ tơng hỗ và trợ cấp: Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi
truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hớng tới việc sử dụng sản
phẩm đầu t, đặc biệt là các tài khoản của quỹ tơng hỗ và hợp đồng trợ cấp, những
loại hình cung cấp triển vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi nhng cũng kèm
theo nhiều rủi ro hơn. Hợp đồng trợ cấp bao gồm các kế hoạch tiết kiệm dài hạn
cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một
ngày nhất định trong tơng lai; ngợc lại quỹ tơng hỗ bao gồm các chơng trình đầu t
đợc quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các
chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ.
- Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu t và ngân hàng bán buôn: những dịch vụ này bao
gồm xác định mục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại công ty, mua bán chứng khoán cho
khách hàng, cung cấp công cụ marketing chiến lợc, các dịch vụ hạn chế rủi ro để
bảo vệ khách hàng. Các ngân hàng cũng dấn sâu vào thị trờng bảo đảm, hỗ trợ các
khoản nợ do Chính phủ và công ty phát hành để những khách hàng này có thể vay
vốn với chi phí thấp nhất từ thị trờng tự do hay từ các tổ chức cho vay khác.
9
Có thể nói, không phải tất cả các ngân hàng đều cung cấp toàn bộ các dịch vụ
nh đã trình bày, nhng trên thực tế các danh mục dịch vụ ngân hàng đang tăng lên
nhanh chóng. Các sản phẩm tín dụng, tài khoản tiền gửi mới, giao dịch qua mạng
internet, các loại thẻ thông minh đ ợc các ngân hàng tích cực triển khai và cung
cấp đã tạo ra một sự thuận lợi lớn hơn cho khách hàng, khách hàng có thể hoàn toàn
thỏa mãn tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính của mình chỉ thông qua một ngân
hàng, tại một địa điểm. Thực sự ngân hàng ngày nay đã trở thành bách hóa tài chính
ở kỷ nguyên hiện đại.
1.2 Huy động vốn của Ngân hàng thơng mại:
1.2.1 Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng thơng mại
1.2.1.1 Vốn chủ sở hữu:
Trong bảng cân đối tài sản của ngân hàng, nguồn vốn của ngân hàng bao
gồm các khoản nợ (các khoản phải trả cho ngời khác) và vốn chủ sở hữu. Vốn chủ
sở hữu của ngân hàng là vốn ban đầu khi bắt đầu hoạt động ngân hàng, là loại vốn
ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân
hàng, đó là toàn bộ giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập và sở hữu.
- Nguồn hình thành ban đầu của vốn chủ sở hữu của các ngân hàng là khác
nhau. Đối với các ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nớc thì vốn chủ sở hữu của ngân
hàng do ngân sách Nhà nớc cấp; đối với các ngân hàng cổ phần thì vốn chủ sở hữu
lại do các cổ đông đóng góp; đối với các ngân hàng liên doanh thì vốn chủ sở hữu là
do các bên liên doanh đóng góp; đối với các ngân hàng t nhân thì đó là vốn thuộc sở
hữu t nhân.
- Trong quá trình hoạt động của mình, ngân hàng bổ sung vốn chủ sở hữu
theo nhiều phơng thức và điều kiện cụ thể nh các nguồn từ lợi nhuận, nguồn từ phát
hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm
- Vốn chủ sở hữu của ngân hàng bao gồm các quỹ nh Quỹ dự phòng tổn thất
để bù đắp những tổn thất xảy ra và đợc trích lập hàng năm; Quỹ bảo toàn vốn để bù
10
đắp hao mòn của vốn dới tác động của lạm phát; Quỹ thặng d là phần thặng d vốn
của ngân hàng khi phát hành thêm cổ phiếu mới; Quỹ phúc lợi; Quỹ khen thởng
Vốn chủ sở hữu của một NHTM đóng vai trò sống còn trong việc duy trì các
hoạt động thờng nhật và đảm bảo cho ngân hàng khả năng phát triển lâu dài. Thứ
nhất, vốn chủ sở hữu là một tấm đệm giúp chống lại rủi ro phá sản vì vốn giúp trang
trải những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ cho đến khi các vấn đề của ngân hàng
đợc giải quyết và ngân hàng trở lại trạng thái hoạt động sinh lời. Thứ hai, vốn chủ sở
hữu là điều kiện bắt buộc để ngân hàng có đợc giấy phép tổ chức và hoạt động. Thứ
ba, vốn chủ sở hữu tạo niềm tin cho công chúng và là sự đảm bảo đối với khách
hàng về sức mạnh tài chính của ngân hàng. Ngoài ra, vốn chủ sở hữu cung cấp năng
lực tài chính cho sự tăng trởng và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, những
chơng trình và trang thiết bị mới. Cuối cùng, vốn chủ sở hữu đợc xem nh một phơng
tiện điều tiết sự tăng trởng, đảm bảo tăng trởng duy trì ổn định, lâu dài.
1.2.1.2 Vốn nợ
* Nguồn tiền gửi:
Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vợng và phát triển của ngân hàng, đây là
khoản mục duy nhất trên bảng cân đối kế toán giúp phân biệt ngân hàng với các loại
hình doanh nghiệp khác. Tiền gửi là đầu vào sống còn trong hoạt động của ngân
hàng, đây là nguồn vốn tài chính cơ bản dùng để tại trợ cho các khoản vay, đầu t tạo
lợi nhuận để đảm bảo sự phát triển vững mạnh của ngân hàng. Tiền gửi của khách
hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM. Khi bắt đầu hoạt động, ngân
hàng mở các tài khoản tiền gửi để giữ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách
đó, ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, tổ chức và dân c. Tiền gửi là
nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng.
Trong môi trờng cạnh tranh, để gia tăng đợc lợng tiền gửi có chất lợng cao, các
ngân hàng đã đa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau.
11
Các ngân hàng cung cấp nhiều loại hình tiền gửi khác nhau cho khách hàng,
mỗi công cụ huy động tiền gửi mà ngân hàng đa ra đều có những đặc điểm riêng,
phù hợp với nhu cầu của khách hàng trong việc tiết kiệm và thực hiện thanh toán:
- Tiền gửi giao dịch: Với xu hớng thanh toán không dùng tiền mặt, các ngân
hàng mở tài khoản tiền gửi giao dịch để giữ tiền và thanh toán hộ cho khách hàng
trong phạm vi số d trên tài khoản tiền gửi giao dịch theo lệnh của chủ tài khoản.
Tiền gửi giao dịch rất thuận tiện cho hoạt động thanh toán nhng lãi suất thờng là rất
thấp, ngân hàng có đợc nguồn vốn luân chuyển với chi phí thấp nhng không ổn định
vì khách hàng có thể gửi hoặc rút tiền bất kỳ lúc nào mà không cần thông báo trớc.
Trong một số trờng hợp nhất định, ngân hàng có thể cho khách hàng đợc hởng hình
thức cho vay - thấu chi trên tài khoản tiền gửi giao dịch này.
- Tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Ngân hàng áp
dụng hình thức tiền gửi có kỳ hạn trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng về thời hạn
gửi và rút tiền. Khách hàng chỉ đợc rút tiền với lãi suất đã đợc ấn định từ trớc (mức
lãi suất này cao hơn lãi suất tiền gửi giao dịch và càng cao theo độ dài của kỳ hạn)
khi khoản tiền đó đến hạn, nếu rút sớm hơn khách hàng chỉ đợc hởng lãi suất tơng
đơng nh lãi suất tiền gửi giao dịch. Loại tiền gửi này đợc khách hàng sử dụng với
mục đích hởng lãi chứ không phải để thanh toán. Với loại tiền gửi này, ngân hàng
có đợc nguồn vốn ổn định, do đó đạt đợc hiệu quả sử dụng vốn cao, tuy nhiên chi
phí để huy động cũng rất lớn.
- Tiền gửi tiết kiệm của dân c: Các tầng lớp dân c đều có các khoản thu nhập
tạm thời cha sử dụng - đó là các khoản tiền tiết kiệm, họ có thể gửi khoản tiền này
vào ngân hàng với mục đích bảo toàn và sinh lời cho khoản tiền. Ngân hàng mở sổ
tiết kiệm để nhận số tiền này của dân c theo từng kỳ hạn và số tiền mỗi lần gửi khác
nhau. Thu hút loại tiền gửi này cũng góp phần đáng kể cho việc tăng nguồn vốn của
ngân hàng, vì vậy các ngân hàng cũng tìm mọi cách mở rộng mạng lới huy động, đa
ra nhiều hình thức huy động đa dạng với lãi suất cạnh tranh hấp dẫn để thu hút
nguồn vốn này.
12
- Tiền gửi của các ngân hàng khác: NHTM này có thể gửi tiền ở các NHTM
khác với mục đích nhờ thanh toán hộ, cung cấp các tiện ích ngân hàng hoàn hảo
hơn tuy nhiên quy mô của loại tiền gửi này th ờng không lớn.
Đối với nhiều ngân hàng, một nguồn tiền gửi không kém phần quan trọng là
tiền gửi từ hoạt động tín thác. Thông qua việc cung cấp các dịch vụ tín thác (bao
gồm bảo quản và quản lý tài sản của khách hàng) ngân hàng đã tạo ra một nguồn
thu nhập không nhỏ từ các tài sản đợc các khách hàng ủy thác. Rất nhiều tài sản đợc
ủy thác là tiền gửi hởng lãi và ngân hàng phải bảo quản chúng đầy đủ trên cơ sở sự
kết hợp giữa bảo hiểm tiền gửi và việc nắm giữ các chứng khoán cam kết chất lợng
cao.
* Nguồn đi vay:
Nguồn đi vay là nguồn vốn mà ngân hàng chủ động đi vay trên thị trờng để
bổ sung vào vốn hoạt động của mình, để cho vay hoặc đầu t, để đảm bảo khả năng
thanh toán hoặc bù đắp thiếu hụt dự trữ Nguồn đi vay đ ợc hình thành từ các khoản
vay Ngân hàng TW, vay các tổ chức tín dụng khác và vay trên thị trờng vốn:
- Vay Ngân hàng TW: Ngân hàng TW cho vay đối với các NHTM dới hình
thức chủ yếu là tái chiết khấu (hoặc tái cấp vốn) để giải quyết những nhu cầu cấp
bách của NHTM nh thiết hụt dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán Ngân hàng TW
thực hiện việc tái chiết khấu các giấy tờ có giá đã đợc các NHTM chiết khấu trở
thành tài sản của Ngân hàng TW, thông thờng những giấy tờ có giá này là những th-
ơng phiếu có chất lợng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với
mục tiêu của Ngân hàng TW trong từng thời kỳ. Trong những trờng hợp cần thiết
khác, Ngân hàng TW cho vay đối với NHTM dới hình thức tái cấp vốn theo hạn
mức tín dụng nhất định.
- Vay các tổ chức tín dụng: Các NHTM và các tổ chức tín dụng vay mợn lẫn
nhau qua thị trờng liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách, bù
đắp những thiếu hụt trong cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn. Lãi suất đi vay các tổ
chức tín dụng thờng cao nên các ngân hàng chỉ vay khi thật cần thiết.
13
- Vay trên thị trờng vốn: Để đáp ứng nhu cầu về vốn trung và dài hạn, các
NHTM phát hành các giấy nợ nh kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu trên thị trờng vốn.
Thông thờng lãi suất của các công cụ nợ này cao nên những ngân hàng có uy tín
hoặc trả lãi suất cao sẽ vay đợc nhiều hơn, các ngân hàng nhỏ thờng khó vay bằng
cách này nên thờng phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc nhờ ngân hàng
khác bảo lãnh. Tuy nhiên, để các ngân hàng có thể thực hiện vay trên thị trờng vốn
đòi hỏi mỗi nớc phải có thị trờng tài chính phát triển, tạo khả năng chuyển đổi cho
các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng, các ngân hàng cũng cần nghiên cứu kỹ thị tr-
ờng để quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất, thời hạn vay thích hợp.
1.2.1.3 Các nguồn khác
Trong cơ cấu nguồn vốn của NHTM, ngoài các nguồn trên còn có nguồn uỷ
thác, nguồn trong thanh toán, các khoản nợ nh thuế cha nộp, lơng cha trả
1.2.2 Huy động vốn của Ngân hàng thơng mại
Các NHTM phải tiến hành huy động vốn từ nhiều nguồn nhàn rỗi khác nhau
trong nền kinh tế. Huy động vốn là một hoạt động tạo vốn quan trọng của NHTM.
Các NHTM sử dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết nh quảng bá, tiếp thị , đa ra
các hình thức huy động vốn hấp dẫn để thu hút, tập trung các nguồn tiền tệ của
các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp vào ngân hàng, trên cơ sở đó, ngân hàng tiến
hành sử dụng vốn nh đầu t, tài trợ, cho vay phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh
của nền kinh tế.. Cần khẳng định rằng, nguồn vốn của NHTM nếu xét theo hình
thức sở hữu sẽ đợc phân chia thành nguồn vốn của chủ ngân hàng và vốn nợ, tuy
nhiên, tỷ trọng nguồn vốn của chủ ngân hàng trong tổng nguồn vốn là không lớn. Vì
vậy, đề tài tập trung nghiên cứu phần vốn nợ.
1.2.2.1 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thơng mại
14
- NHTM huy động vốn thông qua tài khoản tiền gửi của khách hàng: Đây là
nguồn vốn rất quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của
NHTM. Ngân hàng huy động vốn bằng việc mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng,
gồm tài khoản tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi giao dịch) và tài khoản tiền gửi có kỳ
hạn.
+ Tiền gửi không kỳ hạn: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh,
khách hàng thờng mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại NHTM để thực hiện việc
thanh toán, chi trả, ngoài ra có thể nhận đợc một khoản lãi suất nhất định. Khách
hàng có thể gửi tiền, rút tiền hoặc thanh toán bằng cách phát hành séc hay lệnh
thanh toán bất cứ lúc nào. Vì vậy, tính ổn định của loại tiền gửi này rất thấp và phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác. Với loại tiền gửi này, ngân hàng chỉ phải trả lãi suất
thấp nên chi phí huy động thấp, các ngân hàng chú trọng khai thác nguồn vốn này
để thu hút đợc lợng khách hàng lớn, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ. Tuy nhiên,
trong quá trình huy động nguồn vốn này, các ngân hàng luôn phải đặc biệt chú
trọng đến việc tính toán, dự báo nhu cầu thanh toán của khách hàng để đáp ứng yêu
cầu thanh toán của khách hàng, tránh rủi ro trong thanh toán sẽ ảnh hởng rất lớn đến
uy tín của ngân hàng.
+ Tiền gửi có kỳ hạn:Thông thờng loại tiền gửi này không đợc dùng để thanh
toán, khách hàng gửi tiền có kỳ hạn nhằm mục đích bảo toàn vốn và hởng lãi suất.
Loại tiền gửi có kỳ hạn đợc xác định cụ thể thời gian đến hạn thanh toán nên lãi
suất thờng cao hơn tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì lãi suất sẽ
càng lớn. Loại tiền này về nguyên tắc không đợc rút ra trớc hạn, song trên thực tế,
để tăng khả năng cạnh tranh, các ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút trớc hạn
và đợc hởng mức lãi suất phù hợp, tuy không cao bằng lãi suất của kỳ hạn gửi nhng
vẫn cao hơn lãi suất không kỳ hạn. Với loại tiền gửi này, ngân hàng hoàn toàn có
thể chủ động sử dụng nguồn vốn để đầu t vào các lĩnh vực khác nhng chi phí huy
động vốn lớn vì lãi suất huy động cao. Tuy nhiên, đây là một nguồn vốn tín dụng
mang tính ổn định nên các ngân hàng đặc biệt chú trọng đến các biện pháp thu hút
loại tiền gửi này.
15
- NHTM huy động vốn thông qua hình thức tiền gửi tiết kiệm: Cũng tơng tự nh
hình thức huy động vốn thông qua tài khoản tiền gửi, các NHTM huy động vốn
bằng việc phát hành các loại sổ tiết kiệm bao gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Đối tợng khách hàng ở đây là các tầng lớp dân c gửi
tiết kiệm với mục đích an toàn và đợc hởng lãi suất, họ muốn dành riêng khoản tiền
của mình cho những mục tiêu hay nhu cầu tài chính nào đó trong tơng lai. Lãi suất
áp dụng cho loại hình tiền gửi tiết kiệm cao hơn so với tiền gửi giao dịch, ngân hàng
thông qua hình thức huy động này có đợc nguồn vốn ổn định, vững chắc. Về cơ bản,
tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn giống nh tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi giao dịch)
thuần túy, ngân hàng trả lãi theo số d bình quân hàng tháng nhân với lãi suất và
hàng tháng lãi đợc nhập vào gốc. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cũng giống nh tiền
gửi có kỳ hạn nhng khác ở đối tợng gửi. Khách hàng gửi tiết kiệm có kỳ hạn đợc rút
cả gốc và lãi khi đến hạn, nếu vì lý do nào đó mà cha rút thì ngân hàng sẽ chủ động
nhập cả gốc và lãi để tiếp tục quay vòng với kỳ hạn và lãi suất tơng ứng tại thời
điểm chuyển. Giống nh tiền gửi có kỳ hạn, khách hàng gửi tiết kiệm có kỳ hạn nếu
rút trớc hạn chỉ đợc hởng lãi suất không kỳ hạn tại thời điểm rút.
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn của các
NHTM. Ngân hàng nắm bắt đợc mục đích gửi tiền tiết kiệm của khách hàng là hởng
lãi suất, vì vậy, lãi suất là yếu tố quan trọng nhất mà ngời gửi tiền quan tâm. Để huy
động đợc nguồn này, các NHTM phải đặc biệt chú ý đến các yếu tố nh thu nhập của
dân c, nhu cầu và xu hớng tiết kiệm, tình hình về dân số, tình hình kinh tế xã hội
để đa ra các loại hình tiết kiệm hấp dẫn, thu hút đợc khách hàng, khẳng định thơng
hiệu ngân hàng và đảm bảo đợc nguồn vốn ổn định.
- NHTM huy động vốn thông qua hình thức phát hành các giấy tờ có giá nh kỳ
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi Các NHTM đa dạng hóa các hình thức huy
động vốn bằng việc phát hành giấy tờ có giá - giấy tờ có giá chính là chứng nhận
của các tổ chức tín dụng phát hành trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản
tiền trong một thời hạn nhất định, xác nhận điều kiện trả lãi và các cam kết khác
giữa tổ chức tín dụng và ngời mua. Tuỳ theo nhu cầu về vốn từng thời kỳ, ngân hàng
16
phát hành giấy tờ có giá với các kỳ hạn và lãi suất khác nhau, bao giờ mức lãi suất
này cũng lớn hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn.
+ Kỳ phiếu ngân hàng: Đây là giấy nhận nợ ngắn hạn do ngân hàng phát
hành nhằm huy động vốn từ các tổ chức và dân c để phục vụ cho các dự án kinh
doanh, chơng trình kinh tế của ngân hàng. Kỳ phiếu ngân hàng là một hình thức
huy động vốn rất linh hoạt do có tính lỏng cao. Mệnh giá, loại tiền sử dụng và các
phơng thức trả lãi của kỳ phiếu rất đa dạng và linh hoạt đáp ứng các nhu cầu khác
nhau của khách hàng. Ngân hàng thờng ấn định một mức lãi suất kỳ phiếu hấp dẫn
tuỳ thuộc vào nhu cầu cần thiết về vốn của ngân hàng.
+ Trái phiếu ngân hàng: Đây là giấy nhận nợ dài hạn ngân hàng phát hành
với cam kết thanh toán tiền gốc vào ngày đáo hạn và thanh toán tiền lãi vào những
thời gian xác định với một mức lãi suất xác định tơng ứng. Trái phiếu đợc phát hành
nhằm mục đích huy động vốn trung và dài hạn phục vụ cho những kế hoạch phát
triển, đầu t sản xuất kinh doanh có thời gian dài và quy mô lớn. Có nhiều loại trái
phiếu khác nhau nh Trái phiếu Coupon, Trái phiếu chiết khấu, Trái phiếu niên kim
cố định, Trái phiếu Consol...Mỗi loại trái phiếu đều chỉ rõ mệnh giá, ngày đáo hạn,
lãi suất, phơng thức trả lãi. Lãi suất trái phiếu luôn luôn hấp dẫn hơn lãi suất của bất
kỳ một công cụ nợ nào khác do thời hạn dài. Đây là nguồn huy động tạo vốn trung
dài hạn ổn định cho ngân hàng, tuy nhiên chi phí huy động nguồn vốn này lớn do lãi
suất phải trả cao và một số chi phí khác nh chi phí phát hành, quảng cáo
Phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn không chỉ giúp các ngân hàng đa
nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế vào phục vụ sản xuất kinh doanh mà còn tạo
thêm hàng hóa cho thị trờng chứng khoán. Thị trờng chứng khoán phát triển sẽ tạo
ra một kênh huy động vốn trung dài hạn cho phát triển kinh tế của đất nớc.
- NHTM huy động vốn thông qua thuê tài sản (thuê văn phòng .): Các ngân hàng
thờng đi thuê trụ sở văn phòng làm việc trong một thời hạn nhất định. Trong thời
gian đó, các tài sản thuê ngoài này đợc xem nh là vốn của ngân hàng, các khoản
tiền phải trả cho việc đi thuê tài sản đợc xem nh chi phí vốn của ngân hàng.
1.2.2.2 Chất lợng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thơng mại
17
Nguồn vốn huy động của ngân hàng gồm nhiều bộ phận nh: tiền gửi, tiền
vay mỗi nguồn này đều có đặc tính khác nhau về quy mô, cơ cấu, tính ổn định, chi
phí, tính thanh khoản. Nguồn vốn có vai trò quyết định quy mô kinh doanh, khả
năng sinh lời, các rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng. Vì vậy, để phân tích về
chất lợng hoạt động động vốn của NHTM, chúng ta cần tập trung nghiên cứu các
chỉ tiêu:
- Quy mô và cơ cấu nguồn vốn huy động.
- Cơ cấu nguồn vốn phù hợp với cơ cầu sử dụng vốn.
- Chi phí huy động vốn.
* Quy mô và cơ cấu nguồn vốn huy động: Gia tăng các khoản tiền gửi và đi vay là
chỉ tiêu phản ánh chất lợng hoạt động của ngân hàng, là điều kiện để ngân hàng mở
rộng quy mô hoạt động, nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồn vốn.
Cơ cấu nguồn ảnh hởng đến cơ cấu tài sản và quyết định chi phí của ngân hàng. Nh
chúng ta đã biết, tài sản của các ngân hàng đợc hình thành bằng cách chuyển hóa
nguồn vốn thành các loại tài sản nh ngân quỹ, chứng khoán, tín dụng và các tài sản
khác (tài sản ủy thác, hùn vốn, tài sản ngoại bảng ). Quy mô của các tài sản này
phụ thuộc vào quy mô và cơ cấu nguồn vốn, nếu ngân hàng có nguồn vốn đủ lớn và
dài hạn thì hoàn toàn có thể tham gia đầu t tài trợ cho những dự án lớn và mang lại
lợi nhuận.
Các ngân hàng phải quản lý tốt quy mô và cơ cấu nguồn vốn bằng cách thống
kê đầy đủ, kịp thời các thay đổi về các loại nguồn vốn, tốc độ quay vòng của mỗi
nguồn rồi phân tích kỹ lỡng các nhân tố gắn liền với các thay đổi đó, từ đó thấy đợc
mối liên hệ giữa số lợng, cấu trúc nguồn với các nhân tố ảnh hởng cũng nh thấy đợc
đặc tính của thị trờng nguồn của ngân hàng. Việc tiến hành phân đoạn thị trờng,
phân nhóm đối với khách hàng góp phần không nhỏ vào việc tăng tr ởng nguồn
vốn cũng nh tăng khả năng cạnh tranh cho một ngân hàng. Trên thực tế, nhiều ngân
hàng lớn có thể có tốc độ tăng trởng nguồn vốn không cao bằng các ngân hàng nhỏ.
Ngoài ra các nhân tố ảnh hởng tới quy mô nguồn vốn cũng thay đổi thờng xuyên
theo mùa vụ, xu hớng, tập quán của dân c hay đặc điểm của từng ngành sản xuất
18
kinh doanh. Các ngân hàng cần dự báo và đa ra các quyết định phù hợp để thay đổi
quy mô và kết cấu nguồn tiền.
Bên cạnh đó, việc lập kế hoạch nguồn cho từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu
sử dụng vốn là yêu cầu tối quan trọng cho một ngân hàng để đảm bảo có đợc nguồn
vốn ổn định. Tuỳ theo nhu cầu cho vay, đầu t hoặc chi trả cho các doanh nghiệp và
dân chúng, các ngân hàng phải lập kế hoạch gia tăng quy mô, thay đổi cơ cấu hoặc
tìm kiếm các nguồn huy động mới.
* Cơ cấu nguồn vốn phải phù hợp với cơ cấu sử dụng vốn về kỳ hạn, loại tiền,
mức lãi suất Cơ cấu nguồn vốn huy động không phù hợp, không đáp ứng đ ợc nhu
cầu sử dụng vốn sẽ không tối đa đợc d nợ tín dụng và đầu t, ngợc lại nếu nguồn vốn
huy động không đợc sử dụng hết thì hoạt động của ngân hàng không hiệu quả, ngân
hàng mất đi phần chi phí để trả lãi cho phần vốn không đợc sử dụng.
Các ngân hàng sử dụng mô hình cấu trúc kỳ hạn của nguồn vốn để xác định
kỳ hạn của nguồn vốn phù hợp với yêu cầu về kỳ hạn của sử dụng vốn, đồng thời
tạo nên tính ổn định cho nguồn vốn. Các nguồn huy động của ngân hàng bao giờ
cũng gắn liền với những kỳ hạn nhất định đợc ngân hàng công bố nh kỳ hạn 3
tháng, 6 tháng đ ợc gọi là kỳ hạn danh nghĩa. Các kỳ hạn danh nghĩa này thờng đ-
ợc gắn với một mức lãi suất nhất định tơng ứng là nguồn có kỳ hạn danh nghĩa càng
dài thì lãi suất càng cao. Tính ổn định của nguồn vốn đợc phản ánh qua kỳ hạn danh
nghĩa này, do đó việc xác định kỳ hạn danh nghĩa có ý nghĩa quan trọng đối với
hoạt động của ngân hàng. Kỳ hạn liên quan đến tính ổn định nên liên quan tới kỳ
hạn của sử dụng vốn, cụ thể là ngân hàng phải có khả năng duy trì tính ổn định của
nguồn tiền mới đảm bảo đợc hoạt động cho vay và đầu t dài hạn.
Trên thực tế, có những khoản tiền gửi của khách hàng đến hạn nhng vẫn đợc
tiếp tục duy trì với kỳ hạn đó nên vẫn có thể coi đó là những khoản tiền gửi trung
dài hạn. Đó là kỳ hạn thực tế của nguồn tiền thời gian mà khoản tiền tồn tại liên
tục tại một đơn vị ngân hàng.. Các nhu cầu chi tiêu đột xuất, lãi suất cạnh tranh của
các ngân hàng khác, lãi suất giữa các nguồn tiền khác nhau, tỷ giá hối đoái là
nguyên nhân ảnh hởng tới kỳ hạn thực tế, gây ra sự dịch chuyển nguồn tiền từ ngân
19
hàng này sang ngân hàng khác, từ kỳ hạn này sang kỳ hạn khác, và thay đổi cơ cấu
tiền tệ trong ngân hàng. Các nhà quản lý ngân hàng cần dựa trên số liệu thống kê để
thấy sự biến động số d của mỗi nguồn vốn, của nhóm nguồn, tìm số d thấp nhất
trong quý, trong năm, trong nhiều năm và các nhân tố ảnh hởng đến sự thay đổi, từ
đó đo đợc kỳ hạn thực gắn liền với các số d. Đây là cơ sở để ngân hàng quản lý
thanh khoản, chuyển hoán kỳ hạn của nguồn, sử dụng các nguồn có kỳ hạn ngắn để
cho vay với kỳ hạn dài hơn.
Với mô hình cấu trúc kỳ hạn, các ngân hàng sẽ tiến hành điều chỉnh cơ cấu
nguồn vốn và danh mục tài sản để nâng cao hiệu suất sử dụng vốn. Thực tế cho thấy
các ngân hàng có thể sử dụng một phần nguồn vốn có kỳ hạn ngắn để đầu t vào các
tài sản dài hơn, nhng chỉ ở một tỷ lệ nhất định do phải chịu sức ép về khả năng
thanh toán, nếu sử dụng vốn dài hạn để cho vay ngắn hạn thì lãi thu đợc không đủ
bù đắp chi phí huy động vốn nên cần tính đến việc đầu t thêm vào các tài sản sinh
lời.
* Chi phí huy động vốn:
Chi phí huy động vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi của các ngân hàng
bao gồm các khoản chi phải trả lãi (trả lãi tiền gửi, tiền vay ) và các khoản chi phi
lãi (chi phí khuyến mại, quảng cáo, chi phí quản lý phân bổ cho bộ phận huy
động ) trong đó khoản chi quyết định là lãi suất.
Những nguồn vốn có thời hạn ngắn thờng có chi phí thấp và tính ổn định
thấp, ngợc lại, những nguồn có thời hạn càng dài thì chi phí càng cao và ổn định
hơn. Để hoạch định chiến lợc kinh doanh cho mỗi giai đoạn, các ngân hàng phải
tính toán, phân tích chi phí phải trả cho mỗi nguồn huy động để từ đó có sách lợc
huy động vốn phù hợp nhằm mục tiêu mở rộng kinh doanh, tăng d nợ cho vay, mở
rộng đầu t, đồng thời đảm bảo lãi suất đợc định giá bù đắp đợc chi phí nguồn vốn và
không ảnh hởng đến khả năng thanh toán.
Việc tính toán chi phí huy động vốn của ngân hàng sao cho có hiệu quả cao
phụ thuộc vào việc ngân hàng có tìm kiếm đợc nguồn có chi phí thấp để đáp ứng
nhu cầu cho vay và đầu t trong khi vẫn thỏa mãn các yêu cầu huy động vốn và sử
20
dụng vốn phải phù hợp về quy mô, thời hạn và có tính ổn định. Ngoài ra, các ngân
hàng phải quản lý chi phí huy động vốn một cách thờng xuyên, chặt chẽ vì bất kỳ
một sự thay đổi về lãi suất đều làm thay đổi chi phí và ảnh hởng ngay tới thu nhập
của ngân hàng. Tính chi phí cho từng loại nguồn vốn huy động cụ thể cho phép các
nhà quản lý tìm ra nguồn nào là rẻ hơn, nên vận dụng lãi suất nh thế nào và thu
nhập từ lãi suất tăng thêm có bù đắp đợc chi phí cho nguồn tăng thêm hay không.
Từ đó, ngân hàng quyết định lựa chọn cơ cấu nguồn vốn của mình và có giải pháp
huy động vốn thích hợp.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hởng đến huy động vốn
Tại các NHTM, quy mô tiền gửi so với các nguồn khác thờng rất lớn, chiếm
tỷ trọng trên 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trởng hàng năm của mỗi ngân
hàng. Ngoài ra, nguồn đi vay của ngân hàng cũng chiếm một phần đáng kể đóng
góp vào sự gia tăng nguồn vốn, đặc biệt là ở các nớc phát triển. Có rất nhiều nhân tố
ảnh hởng đến huy động vốn của NHTM, các ngân hàng cần nghiên cứu về các nhân
tố ảnh hởng để có những biện pháp huy động cho phù hợp với mục tiêu tăng trởng
nguồn vốn trong từng giai đoạn.
1.2.3.1 Các nhân tố khách quan
- Môi trờng kinh tế và sự ổn định về chính trị:
Ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động của ngân hàng chịu
ảnh hởng sâu sắc của môi trờng kinh tế và chính trị. Các chỉ tiêu về kinh tế nh: tốc
độ tăng trởng kinh tế, thu nhập quốc dân, tình trạng thất nghiệp, tốc độ chu chuyển
vốn, chỉ số lạm phát ảnh h ởng trực tiếp đến huy động vốn của ngân hàng. Nếu tỷ
lệ lạm phát trong nền kinh tế cao thì nguồn vốn nhàn rỗi sẽ chuyển sang những
dạng đầu t khác ổn định, bền vững hơn nh: vàng, bất động sản Nền kinh tế phát
21
triển, có tốc độ tăng trởng cao, thu nhập của dân c ổn định sẽ làm gia tăng nguồn
tiền gửi vào các ngân hàng, vốn huy động dồi dào, đầu t đợc mở rộng; nhng nếu nền
kinh tế ở trong giai đoạn suy thoái thì khả năng khai thác đa vốn vào nền kinh tế bị
hạn chế, ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác huy động vốn.
Sự ổn định về chính trị mang đến niềm tin cho những ngời gửi tiền nói riêng
và cho toàn bộ các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung. ở
Việt Nam, môi trờng chính trị luôn ổn định, dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam - Đảng cầm quyền duy nhất, hệ thống NHTM Việt Nam đã luôn giữ đợc vai
trò đầu tầu trong chiến lợc phát triển tài chính tiền tệ quốc gia, tạo đợc niềm tin cho
khách hàng đến gửi tiền. Đây cũng là nhân tố ảnh hởng trực tiếp đến huy động vốn
của các ngân hàng vì chính trị ổn định sẽ tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, làm
tăng khả năng khai thác vốn của các NHTM.
- Chính sách, pháp luật của Nhà nớc và môi trờng kinh doanh:
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên chịu
tác động của nhiều chính sách, quy định của Chính phủ, hệ thống luật pháp, các quy
định của Ngân hàng Nhà nớc
Sự thay đổi trong chính sách của Nhà nớc và của Ngân hàng Nhà nớc về tài
chính, tiền tệ, tín dụng, lãi suất sẽ ảnh hởng trực tiếp tới khả năng thu hút vốn và
chất lợng nguồn vốn của NHTM. Theo định hớng và chủ trơng của Nhà nớc trong
từng thời kỳ mà chính sách tiền tệ quốc gia đợc mở rộng hay thắt chặt, đây là yếu tố
tác động và ảnh hởng tới hiệu quả hoạt động huy động vốn của NHTM.
Hoạt động ngân hàng chịu sự điều chỉnh của luật pháp - đó là Luật các tổ
chức tín dụng, hệ thống các văn bản quy định cụ thể về lãi suất, các hệ số an toàn,
dự trữ, hạn mức... trong từng thời kỳ. Trong sự ràng buộc về luật pháp, các yếu tố
của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi làm ảnh hởng tới quy mô, hiệu quả và chính
sách huy động vốn của ngân hàng.
Môi trờng kinh doanh tác động trực tiếp đến hoạt động ngân hàng nói chung
và công tác huy động vốn của ngân hàng nói riêng. Bản thân các ngân hàng đã phải
22
cạnh tranh gay gắt với nhau để thu hút tiền gửi của khách hàng. Thêm vào đó, sự
xuất hiện của các tổ chức, các trung gian tài chính phi ngân hàng nh các Công ty
Bảo hiểm, các Công ty tài chính với nhiều sản phẩm dịch vụ liên quan đến tiền
gửi nh huy động tiền gửi có kỳ hạn, hoặc cung cấp các tài khoản không kỳ hạn (tiết
kiệm bu điện ), đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng đã gây ra rất
nhiều khó khăn, thách thức cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
- Môi trờng văn hóa, các yếu tố thuộc về dân c:
Môi trờng văn hóa quyết định các tập quán sinh hoạt, tâm lý và thói quen sử
dụng tiền, sử dụng các dịch vụ ngân hàng của dân c. Tâm lý và thói quen sử dụng
tiền của dân c sẽ ảnh hởng tới quyết định về tiêu dùng và tiết kiệm, hoặc là dân
chúng chấp nhận gửi tiền vào ngân hàng, hoặc là chi số tiền nhàn rỗi của mình để
đầu t vào động sản, bất động sản, chứng khoán Sự hiểu biết của dân c về ngân
hàng và các hoạt động cung cấp dịch vụ của ngân hàng cũng là nhân tố ảnh hởng
đến khả năng huy động vốn của ngân hàng, dân chúng có sự hiểu biết về ngân hàng,
thấy đợc những tiện ích và lợi ích mà ngân hàng mang lại thì họ sẽ gửi tiền vào ngân
hàng nhiều hơn và ngợc lại. Do đó, tuỳ từng thời kỳ, từng địa điểm, các ngân hàng
phải nghiên cứu thị trờng, nghiên cứu các yếu tố về dân c để đa ra những chiến lợc
huy động vốn.
- Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ ngân hàng:
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, công nghệ ngân hàng
và các dịch vụ thanh toán nh hệ thống thanh toán điện tử, máy rút tiền tự động
ATM, thẻ tín dụng ngày càng nhanh chóng, an toàn, thuận tiện cho ng ời gửi tiền,
làm cho phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến. Hệ thống
thanh toán điện tử cho phép việc thanh toán bù trừ, chuyển tiền giữa các ngân
hàng, các chi nhánh ngân hàng ở những địa điểm khác nhau diễn ra nhanh chóng,
chính xác, mang lại sự tiện lợi cho hoạt động của chính ngân hàng và nhu cầu đa
dạng của khách hàng. Ngày nay, sự ra đời của máy rút tiền tự động ATM tạo thuận
23
tiền cho khách hàng rút và nộp tiền vào tài khoản dễ dàng, giảm thiểu đợc thời gian
giao dịch qua quầy. Sự kết hợp giữa ngân hàng và bu điện cho phép ra đời dịch vụ
Phone Banking dịch vụ ngân hàng qua điện thoại cho phép khách hàng có tài
khoản tại ngân hàng tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng để thanh toán các hoá
đơn dịch vụ sinh hoạt hàng ngày, giao dịch đặt lệnh chứng khoán, tra cứu thông tin
về số d tài khoản, tỷ giá, lãi suất đây là sản phẩm dịch vụ có tiện ích v ợt trội, rút
ngắn khoảng cách giữa ngân hàng và khách hàng, thu hút đợc nhiều đối tợng khách
hàng tham gia. Những phân tích trên cho thấy, sự phát triển nhanh chóng của công
nghệ ngân hàng chính là nhân tố ảnh hởng tích cực, làm tăng khả năng huy động
vốn của các ngân hàng nói chung.
1.2.3.2 Các nhân tố chủ quan
- Thơng hiệu và uy tín của ngân hàng:
Đây là tài sản vô hình quan trọng nhất của ngân hàng, nguồn lực này không
phải bất cứ ngân hàng nào cũng có đợc. Uy tín của ngân hàng đợc tạo dựng qua
nhiều năm hoạt động hiệu quả, mỗi ngân hàng sẽ có đợc hình ảnh riêng trong lòng
khách hàng, uy tín giúp ngân hàng luôn giữ đợc khách hàng truyền thống và thu hút
đợc khách hàng tiềm năng. Một ngân hàng lớn, có thơng hiệu và uy tín sẽ có lợi thế
trong huy động vốn, sự tin tởng của khách hàng giúp ngân hàng có khả năng ổn
định nguồn vốn và tiết kiệm đợc chi phí huy động. Trên thực tế, trong điều kiện lãi
suất tiền gửi tại một ngân hàng thấp hơn, song những ngời có tiền vẫn lựa chọn một
ngân hàng có uy tín hơn để gửi tiền mà không tìm đến những ngân hàng có lãi suất
lớn hơn, vì họ tin rằng ở ngân hàng này đồng vốn của họ sẽ tuyệt đối an toàn. Chẳng
hạn, tại Việt Nam hiện nay, thơng hiệu và uy tín của Ngân hàng Ngoại thơng trong
lĩnh vực thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ đã tạo cho ngân hàng Ngoại th-
ơng một vị thế độc tôn trong lĩnh vực này, khiến cho các ngân hàng khác không thể
cạnh tranh. Vì vậy, mỗi ngân hàng cần phát huy thế mạnh nhất định của mình để
gây ấn tợng và khẳng định thơng hiệu của chính ngân hàng mình. Trong thời đại
ngày nay, có thể nói nguồn nhân lực và công nghệ ngân hàng là những yếu tố quan
24
trọng nhất quyết định vị thế của ngân hàng trên thị trờng tài chính tiền tệ từ vị
thế của mình, uy tín của các ngân hàng sẽ tạo dựng nên thơng hiệu cho ngân hàng.
- Chiến lợc kinh doanh của ngân hàng:
Mỗi ngân hàng cần hiểu đợc vị trí của ngân hàng mình trong hệ thống ngân
hàng, thấy đợc những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân ngân hàng mình để xác
định chiến lợc kinh doanh. Tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động của ngân hàng và
điều kiện môi trờng kinh doanh, công tác huy động vốn có thể đợc mở rộng hoặc
thu hẹp, cơ cấu nguồn vốn có thể thay đổi về tỷ lệ các loại nguồn, chi phí huy động
vốn tăng hoặc giảm Nếu chiến l ợc kinh doanh của ngân hàng là tập trung mở rộng
hoạt động tín dụng thì việc tìm kiếm và huy động các nguồn vốn để đáp ứng nhu
cầu sử dụng vốn càng phải đợc đặc biệt chú trọng. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng
cũng là yếu tố giới hạn quy mô huy động vốn của ngân hàng, chẳng hạn theo luật
các tổ chức tín dụng của Việt Nam thì các ngân hàng chỉ đợc phép huy động tối đã
20 lần vốn chủ sở hữu. Do đó, các ngân hàng phải dựa trên quy mô vốn chủ sở hữu
của mình để đa ra chiến lợc kinh doanh, chiến lợc huy động vốn phù hợp và hiệu
quả.
- Nguồn lực, công nghệ ngân hàng:
Nguồn lực và trình độ công nghệ ngân hàng đợc thể hiện qua các yếu tố: các
loại sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung ứng, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ
hoạt động ngân hàng, trình độ nghiệp vụ cán bộ nhân viên ngân hàng
Một ngân hàng có các sản phẩm huy động vốn phong phú, linh hoạt, đáp ứng
nhu cầu đa dạng của khách hàng sẽ tạo ra sức hút đối với khách hàng, duy trì lợng
khách hàng hiện có và tăng thêm lợng khách hàng tiềm năng.
Một ngân hàng có trụ sở khang trang, mạng lới giao dịch thuận lợi cùng với
hệ thống trang thiết bị vật chất đầy đủ, hệ thống thông tin và công nghệ hiện đại sẽ
tạo ra sự tin tởng của ngời gửi tiền với ngân hàng.
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×