Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm rèn đọc cho học sinh ở lớp 5/1...

Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Trong cuộc sống hằng ngày, dù ở môi trường nào con người cũng cần phải
có hoạt động giao tiếp. Trong xã hội hiện đại, hoạt động giao tiếp lại càng quan
trọng hơn. Để giao tiếp tốt mỗi người cần phải có kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc,
viết, nghe, nói). Muốn có một lớp người trong tương lai năng động, linh hoạt trong
giao tiếp thì ngay từ bây giờ chúng ta phải bồi dưỡng cho mầm non của đất nước,
đặc biệt đối với cấp Tiểu học.
Dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản
đầu tiên đối với những người đi học. Đầu tiên các em phải học đọc, sau đó phải
đọc để học. Có đọc tốt thì mới phát triển tốt các kĩ năng viết, nghe, nói. Đọc giúp
các em chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Đọc là công
cụ để học tập các môn học khác,đồng thời tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Nó
tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập suốt cuộc đời, đó
là một khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh.
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng
như tư duy của người đọc. Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng
cho các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách
lôgic cũng như biết tư duy có hình ảnh. Như vậy, đọc có một ý nghĩa to lớn, nó bao
gồm nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.

Những điều ở trên đã khẳng định sự cần thiết của việc hình thành và phát triển
một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh. Tập đọc với tư
cách là một phân môn Tiếng Việt ở tiểu học, có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu hình
thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh.
Mặc dù hiện nay chương trình sách giáo khoa đã đổi mới, phương pháp dạy
học nói chung, dạy tập đọc nói riêng đã được cải tiến, nhưng ở các trường tiểu học
hiện nay việc dạy đọc vẫn còn nhiều hạn chế. Giáo viên nặng về truyền đạt, quen
sử dụng phương pháp truyền thống, không kích thích được hứng thú học tập của
học sinh tham gia tìm hiểu, xây dựng cách đọc bài.
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 1
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
Với ý nghĩa quan trọng của phân môn Tập đọc và thực trạng về kĩ năng đọc
ở lớp tôi hiện nay, tôi mạnh dạn chọn phân môn này để nghiên cứu và thể hiện
trong việc đổi mới phương pháp dạy - học tập đọc ở tiểu học. Đó cũng là lý do tôi
chọn đề tài “Một số kinh nghiệm rèn đọc cho học sinh ở lớp 5/1 Trường Tiểu
học Trần Bình Trọng”.
II. Mục đích của đề tài: Tìm ra phương pháp dạy đọc tốt nhất để giúp học sinh
lớp 5/1 Trường Tiểu học Trần Bình Trọng học tốt phân môn Tập đọc.

Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 2
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
B. PHẦN NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG
Năm học 2009- 2010 tôi được phân công dạy lớp 5/1. Lớp tôi chủ nhiệm có
30 học sinh - Nữ 16. Đa số học sinh vào đầu năm đã có đầy đủ sách vở, đồ dùng
học tập đặc biệt là sách Tiếng Việt. Các bậc phụ huynh phần lớn đều quan tâm đến
việc học tập của con em mình. Cơ sở vật chất đầy đủ. Giáo viên được tham gia các
chuyên đề thay sách giáo khoa và học tập các phương pháp mới trong dạy học.
Nhà trường tổ chức học hai buổi trên ngày cho 100% học sinh.
Tuy nhiên, đối với học sinh lớp tôi thì trình độ không đồng đều. Có nhiều học
sinh đọc đúng, nhanh và diễn cảm nhưng cũng không ít học sinh đọc còn ngắc ngứ,
lý nhí, chưa tốt. Một số em còn mắc lỗi phát âm, chủ yếu là lỗi phát âm do từ địa
phương.
Đây là kết quả khảo sát chất lượng đầu năm môn Tiếng Việt lớp 5/1 - lớp tôi
phụ trách năm học 2009- 2010.
TSHS Giỏi Khá Trung bình Yếu
30
SL TL SL TL SL TL SL TL
3 10 % 16 53,3% 7 23,3% 4 13,3%

Như vậy, chất lượng đọc thực tế cho thấy còn thấp(đọc không tốt dẫn đến kĩ
năng viết chính tả, làm văn thấp).
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH
Trong một giờ tập đọc tôi luôn chú ý: Rèn cho học sinh kỹ năng đọc ngày
càng thành thạo. Đây là yêu cầu có tính đặc trưng của phân môn tập đọc. Dạy tập
đọc cho học sinh chính là quá trình làm việc của thầy và trò để thực hiện hai hình
thức: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Đây chính là: “ Hai biện pháp dạy đọc”. Hai
hình thức đọc này gắn bó chặt chẽ với nhau, cộng tác cùng thực hiện để đạt một
mục đích cuối cùng của đọc: Thông hiểu nội dung văn bản.
Chất lượng đọc thành tiếng bao gồm 4 mức độ: đọc đúng, đọc lưu loát, đọc có ý
thức ( thông hiểu nội dung văn bản ) và đọc diễn cảm.
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 3
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
Chất lượng của đọc thầm chỉ gồm 3 mức độ đầu, đọc diễn cảm không được bàn
đến khi nói về đọc thầm.
1. Chuẩn bị cho việc đọc:
Giáo viên luôn chú ý đến tư thế đọc của học sinh. Khi ngồi đọc cần ngay ngắn,
khoảng cách từ mắt đến sách khoảng 30 - 35 cm, cổ và đầu thẳng. Khi cô giáo gọi
đọc phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay. Tư thế đứng đọc phải đàng
hoàng, thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay.
Giáo viên luôn cho học sinh hiểu khi đọc thành tiếng: Các em đọc không phải
chỉ cho mình cô giáo mà để cho tất cả các bạn trong lớp cùng nghe, nên cần đọc đủ
cho tất cả nghe rõ. Nhưng không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên. Đối với học
sinh đọc quá nhỏ “ lý nhí”, giáo viên kiên nhẫn luyện và động viên các em đọc to
dần.
2. Luyện đọc đúng:
a. Khái niệm:
Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có
lỗi. Đọc đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần và tiếng. Đọc đúng bao
gồm đọc đúng các âm thanh ( đúng các âm vị ), nghỉ ngắt hơi đúng chỗ (đọc đúng
ngữ điệu).
b. Biện pháp:
Đầu năm tôi đã phân loại để nắm được trình độ đọc của học sinh, từ đó có kế
hoạch luyện đọc cho từng em. Trước khi lên lớp, tôi dự tính các lỗi học sinh lớp tôi
dễ mắc, những từ, những câu khó lần trước chưa đọc tốt để luyện.
Luyện đọc đúng các âm đầu:
Đọc đúng các âm khó đối với địa phương ví dụ : quẹo vô, truyền thuyết, tháp
khoan, mải miết,ngạc nhiên, chất phác,…Phần luyện này tôi kết hợp trong lúc đọc
cá nhân.
Ví dụ: Khi dạy bài: “ Kì diệu rừng xanh”
Học sinh A đọc đoạn 3. Học sinh B nhận xét: bạn đọc sai “ leng lắt mải miếc”,
sửa lại là: “ len lách mải miết”, …Tôi cho học sinh A đọc lại cho đúng. Sau đó gọi
2 đến 3 học sinh khác nhắc lại.
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 4
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
Đọc đúng bao gồm đúng cả tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điệu câu. Việc ngắt
nghỉ hơi phải phù hợp với các dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu
chấm. Tôi dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp để xác định cách ngắt nhịp đúng các
câu:
- “ Những con vượn bạc má ôm con gọn ghẽ / chuyền nhanh như tia chớp”.
- “Những con chồn sóc với chùm lông đuôi to/ đẹp / vút qua / không kịp đưa mắt
nhìn theo”.
- Sau một hồi len lách mải miết,/ rẽ bụi rậm,/ chúng tôi nhìn thấy một bãi cây
khộp.
Đối với những bài thơ ngắt nghỉ cần đúng với nhịp thơ.
Ví dụ: Bài “ Ê- mi-li, con…”,
Đây là thể thơ tự do khi đọc cần chú ý ngắt nhịp đúng, phù hợp với ý nghĩa
của câu thơ, đoạn thơ. Cần đọc vắt các dòng thơ sau:
Nhân danh ai
Bay mang những B.52


Những na pan, hơi độc
Đến Việt Nam
………
Đêm nay mẹ đến tìm con
Con sẽ ôm lấy mẹ mà hôn
Cho cha nhé
Với bài thơ lục bát “ Hành trình của bầy ong ”, nhịp thơ phổ biến 3 / 5 ;3/3 và 4/ 4:
“ Bầy ong rong ruổi trăm miền
Rù rì đôi cánh / nối liền mùa hoa
Nối rừng hoang / với biển xa
Đất nơi đâu / cũng tìm ra ngọt ngào
……………………………
Chắt trong vị ngọt / mùi hương
Lặng thầm thay / những con đường ong bay
Trải qua mưa nắng vơi đầy
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 5
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
Men trời đất / đủ làm say đất trời
Với thể thơ 5 chữ, nhịp 3/ 2, 2 /3 trong bài “ Trước cổng trời”:
Nhìn ra xa / ngút ngát
Bao sắc màu / cỏ hoa
Con thác / réo ngân nga
Đàn dê / soi đáy suối
…………………….
Những người Dáy,/ người Dao
Đi tìm măng,/ hái nấm
Vạt áo chàm / thấp thoáng
Nhuộm xanh / cả nắng chiều
Đối với một bài thơ, đoạn văn, câu văn học sinh đọc cá nhân thành tiếng chưa
ngắt nghỉ hơi đúng, tôi cho một học sinh khác đứng tại chỗ hoặc lên bảng đánh dấu
lại chỗ ngắt, nghỉ hơi và cho vài HS đọc lại.
Ví dụ dạy bài: “Kì diệu rừng xanh ”.
Tôi cho học sinh nêu: chỗ ngắt và những từ ngữ cần nhấn giọng còn giáo viên
dùng kí hiệu gạch chéo chỗ ngắt nghỉ, gạch chân chỗ cần nhấn giọng ( Vì học sinh
đọc cá nhân chưa biết cách ngắt nghỉ).
“ Những chiếc chân vàng / giẫm trên thảm lá vàng /và sắc nắng cũng rực vàng
trên lưng nó./”
3. Luyện đọc lưu loát:
a. Khái niệm:
Đọc lưu loát là nói đến mức độ đọc về mặt tốc độ, đọc không ê a, ngắc ngứ.
Tốc độ đọc nhanh chỉ thực hiện được khi đã đọc đúng. Khi đọc phải chú ý xác định
tốc độ để cho người nghe hiểu kịp được.
Nhưng đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng. Tốc độ chấp nhận được của
đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc độ của lời nói. ( Tốc độ đọc thành
tiếng lớp 5 tối thiểu khoảng 120phút ). Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ nhanh hơn
nhiều.
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 6
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
b. Biện pháp:
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ bằng cách đọc mẫu để học
sinh đọc thầm theo. Ngoài ra, giáo viên còn dùng biện pháp đọc tiếp nối trên lớp ,
đọc nhẩm có sự kiểm tra của giáo viên, của bạn để điều chỉnh tốc độ.
Ví dụ: Khi học sinh đọc cá nhân toàn bài hoặc đọc một khổ thơ, một đoạn văn
giáo viên đều nhắc cả lớp đọc thầm theo. Thầy(cô) cần sử dụng những trò chơi
cuối giờ gây hứng thú cho học sinh như: Thi đọc tiếp sức, đọc thơ truyền điện, thả
thơ, Kết thúc trò chơi bao giờ giáo viên cũng cho học sinh bình chọn và tuyên
dương nhóm đọc nhanh nhất, giỏi nhất và gợi ý rút kinh nghiệm cho lần chơi sau.
Muốn học sinh đọc nhanh, đúng tốc độ cần có sự chuẩn bị bài ở nhà tốt, học
sinh phải được đọc trước nhiều. Muốn vậy cần phải khơi dậy sự thi đua giữa các
em. Em nào đọc chậm cô(thầy) phải giúp các em luyện thêm ở các giờ tự học, tăng
cường.
4. Luyện đọc có ý thức ( Đọc hiểu)
a. Khái niệm:
Để giúp học sinh đọc cảm nhận văn bản, hiểu văn bản thì trong việc dạy môn
tập đọc phải chú ý rèn luyện khả năng đọc hiểu cho học sinh. Đó là vấn đề cần
thiết, quan trọng đối với học sinh lớp 5. Có hiểu nội dung bài văn, bài thơ thì mới
có cách đọc đúng, đọc hay và diễn cảm được.Việc luyện đọc hiểu thường được
thực hiện trong bước đọc thầm.
Sự thực thì đọc thầm có ưu thế hơn hẳn đọc thành tiếng ở chỗ nhanh hơn đọc
thành tiếng từ 1,5 đến 2 lần. Nó có ưu thế hơn hẳn để tiếp nhận, thông hiểu nội
dung văn bản vì người ta không phải chú ý đến việc phát âm mà chỉ tập trung để
hiểu nội dung điều mình đọc. Hiệu quả của đọc thầm được đo bằng khả năng thông
hiểu nội dung văn bản đọc.
Do đó, dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức, đọc hiểu. Kết quả đọc thầm
phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài tức là toàn bộ những gì
đọc được.
b. Biện pháp:
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 7
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
Kết hợp chặt chẽ giữa việc tìm hiểu bài với việc luyện đọc. GV hướng dẫn học
sinh rèn đọc đến đâu tìm hiểu bài ngay đến đó. Không tách rời hai khâu tìm hiểu
bài và rèn đọc.GV nêu yêu cầu trước khi HS đọc bài hay đọc đoạn văn để HS đọc
và có định hướng hiểu văn bản.
Ví dụ: Dạy bài văn “ Sự sụp đổ của chế độ a- pác- thai”.
Đọc thầm lần 1: Sau khi giới thiệu bài xong, 1 học sinh khá đọc toàn bài,
đồng thời cả lớp đọc thầm theo bạn để nắm được nội dung của bài.
Đọc thầm lần 2: Trước khi tìm hiểu nội dung đoạn 1,2, cho 1 học sinh đọc
đoạn 1,2. Cả lớp đọc thầm theo. Giáo viên hỏi: Dưới chế độ A- pác- thai, người
dân da đen bị đối xử như thế nào?
Đọc thầm lần 3:Trước khi tìm hiểu nội dung đoạn 3,cho cả lớp đọc thầm đoạn
3. Giáo viên giao nhiệm vụ: - Người dân Nam Phi đã làm gì để xoá bỏ chế độ phân
biệt chủng tộc?
Đọc thầm lần 4: Gọi 1 học sinh đọc toàn bài . Đồng thời cả lớp đọc thầm. Giáo
viên giao nhiệm vụ: Theo em, vì sao cuộc đấu tranh chống chế độ a- pác- thai được
đông đảo mọi người dân trên thế giới ủng hộ?
Như vậy là giáo viên đã cho học sinh đọc thầm trước khi phân tích nội dung
bài, đồng thời với đọc cá nhân thành tiếng để học sinh nắm được nội dung văn bản
và từ đó có cách đọc đúng. Như vậy đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa đọc thành tiếng
và đọc thầm.
Để giúp học sinh đọc hiểu tốt, GV cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi để học sinh
nêu nội dung, nghệ thuật, cách đọc bài. GV chú ý các câu hỏi để học sinh tìm hiểu
nghĩa của từ, đặt câu để làm rõ nghĩa từ; tìm các từ đồng, trái nghĩa
Nếu không chỉ ra giá trị của từ “ ngây ngất” trong “ Chẳng có thứ quả nào
hương thơm lại ngây ngất kì lạ đến như thế ” ( Mùa thảo quả ) mà chỉ khai thác
thảo quả có vị như thế nào, có mùi hương ra sao? (ngọt lựng, thơm nồng ) thì
chưa thể cảm nhận hết được mùi hương đặc biệt của thảo quả .
Yêu cầu học sinh nắm ý chính của đoạn, của bài, lập được dàn ý, hiểu được
giá trị nghệ thuật của bài văn, bài thơ. Tất cả việc phân tích trên nhằm cho học sinh
hiểu nội dung, nghệ thuật bài để có cách đọc đúng, đọc diễn cảm.
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 8
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
5. Luyện đọc diễn cảm.
a. Khái niệm:
Đọc diễn cảm là một yêu cầu đặt ra khi đọc những câu văn bản văn chương
hoặc có các yếu tố của ngôn ngữ nghệ thuật. Đó là việc đọc thể hiện ở kỹ năng làm
chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cường độ giọng để biểu đạt đúng ý nghĩ và
tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong bài đọc, đồng thời biểu hiện được sự thông
hiểu, cảm thu của người đọc đối với tác phẩm. Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc
ở trình độ cao và chỉ thực hiện được trên cơ sở đọc đúng và đọc lưu loát.
b. Biện pháp:
Nội dung của bài đọc đã qui định ngữ điệu của nó nên tôi không bao giờ áp đặt
sẵn giọng đọc bài mà để học sinh tự nêu cách đọc và đọc trên cơ sở hiểu từ, hiểu
nghĩa. GV không chỉ là người lắng nghe, sửa cách đọc của từng học sinh mà còn
phải luôn kích thích, động viên học sinh cố gắng đọc diễn cảm.
Ví dụ: Cứ cuối mỗi giờ tập đọc giáo viên nên cho học sinh tự thể hiện mình qua
việc đọc diễn cảm:
+ Em hãy đọc đoạn văn (hoặc khổ thơ) mà em thích nhất cho cô và cả lớp
cùng nghe.
+ Em hãy đọc diễn cảm cả bài văn (hoặc bài thơ).
+ Hoặc giáo viên tổ chức các hình thức thi đọc diễn cảm, đọc phân vai,
đóng kịch ( đối với các tác phẩm có nhiều lời hội thoại ).
Vì vậy, trong giờ tập đọc lớp tôi các em rất thích tham gia đọc diễn cảm.
Đọc diễn cảm chỉ có được trên cơ sở hiểu thấu đáo bài đọc. Đọc diễn cảm yêu
cầu đọc đúng giọng vui, buồn, giận dữ, trang nghiêm phù hợp với từng ý cơ
bản của bài đọc, phù hợp với kiểu câu, thể loại, đọc có cảm xúc cao, biết nhấn
giọng ở từ ngữ biểu cảm, gợi tả, phân biệt lời nhân vật, lời tác giả.
Để đọc diễn cảm, người đọc phải làm chủ được chỗ ngắt giọng ( kỹ thuật ngắt
giọng biểu cảm ), làm chủ được tốc độ đọc ( độ nhanh, chậm, chỗ ngân hay dãn
nhịp đọc ), làm chủ cường độ giọng ( đọc to hay nhỏ, nhấn giọng hay không ) và
làm chủ ngữ điệu ( độ cao của giọng đọc, lên giọng hay hạ giọng ).
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 9
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
Ở tiểu học, khi nói đến đọc diễn cảm, người ta thường nói về một số kỹ thuật
như ngắt giọng biểu cảm, sử dụng tốc độ và ngữ điệu.
Ngắt giọng biểu cảm là phương tiện tác động đến người nghe, thiên về cảm
xúc. Ngắt giọng biểu cảm là những chỗ lắng, sự im lặng có tác dụng truyền cảm,
góp phần tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao. Đó là sự ngắt giọng có ý đồ nghệ thuật.
Ví dụ với bài “ Những cánh buồm”“ Cha dắt con đi…. có 2 cách ngắt:
+ Nếu ngắt “ Cha dắt con đi / dưới ánh mai hồng ” thì cảnh ở đây thấy
bình thường, không có gì nổi bật.
+ Nếu ngắt “ Cha dắt con / đi dưới ánh mai hồng” thì hay hơn, câu thơ
giàu hình ảnh, thật nên thơ,
Tốc độ đọc ảnh hưởng đến sự diễn cảm, đặc biệt là chỗ có thay đổi tốc độ gây
sự chú ý, có giá trị biểu cảm tốt.
Ví dụ khi đọc bài “ Bầm ơi ” đọc chậm lại, nhịp dãn ra thì bài thơ sẽ đọng lại
trong lòng người đọc tình cảm tha thiết,sâu nặng giữa mẹ và con hơn là đọc với tốc
độ bình thường như những bài thơ khác trong bài.
+ Bài “ Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân” - đọc với nhịp điệu nhanh, dứt
điểm, thể hiện sự phối hợp công việc một cách nhịp nhàng, ăn ý giữa các thành
viên trong nhóm.
Ngữ điệu : là sự lên cao hay hạ thấp giọng. Mỗi kiểu câu chia theo mục đích
nói đều có ngữ điệu riêng, hạ giọng cuối câu kể , lên giọng ở câu hỏi.
Ví dụ : Đọc bài : “ Chuỗi ngọc lam”
Đọc lên giọng ở các câu hỏi: Ai sai cháu đi mua?
Cháu có bao nhiêu tiền?
Đọc giọng vui, ngây thơ, hồn nhiên thể hiện được niềm vui của cô bé Gioan:
Đẹp quá! Xin chú gói lại cho cháu! Cháu đã đập con lợn đất đấy! …
Đọc giọng nhẹ nhàng, tế nhị (lời của Pi- e)
Lời của chị cô bé giọng nhẹ nhàng, lịch sự.
Ví dụ : Đọc bài : “ Ê- mi- li, con…”
Ở từng khổ thơ, chú ý thay đổi giọng một cách linh hoạt, phù hợp với dấu câu
và lời nhân vật.
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 10
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
- Khổ 1 : Lời của chú Mo- ri- xơn đọc giọng trang nghiêm, lời của bé
Ê- mi- li đọc giọng ngây thơ.
- Khổ 2 : Đọc giọng phẫn nộ, đau thương, nhấn giọng từ “tội ác”,“chồng
chất” “giết”
…Tội ác bay chồng chất
Nhân danh ai
Bay mang những B.52
Những na pan, hơi độc
Đến Việt Nam
Giết những con người chỉ biết yêu thương
Giết những trẻ em chỉ biết đến trường
Giết những đồng xanh bốn mùa hoa lá
Và giết cả những dòng sông của thơ ca nhạc hoạ.
- Khổ 3 : Đọc giọng yêu thương, nghẹn ngào, xúc động
- Khổ 4 : Đọc chậm với giọng xúc động trước hành động dũng cảm của
chú Mo- ri- xơn…
Như vậy, ngữ điệu là sự hoà đồng của chỗ ngừng, tốc độ, chỗ nhấn giọng,
cao độ tạo nên âm hưởng của bài đọc. Đọc diễn cảm không phải là đọc sao cho
“ điệu”, thiếu tự nhiên, dựa vào ý thích chủ quan của người đọc.
Đọc diễn cảm là sự sử dụng ngữ điệu để diễn tả cảm xúc của bài đọc. Hoà
nhập được với bài văn, bài thơ, có cảm xúc sẽ tìm thấy ngữ điệu thích hợp. Chính
văn bản qui định ngữ điệu cho người đọc chứ không phải người đọc tự đặt ra ngữ
điệu.
Để đọc diễn cảm hay, tôi luôn đàm thoại cho học sinh hiểu ý đồ tác giả, thảo
luận vì sao đọc như vậy. Sử dụng hình thức đọc phân vai. Hay khi học sinh đọc cá
nhân, giáo viên đọc mẫu, tôi thường đặt câu hỏi: Vì sao đọc như thế? Chỗ nào
trong cách đọc của cô làm em thích?
Những học sinh đọc còn kém,giáo viên cần kiên trì luyện tập thêm, không bỏ
qua mà cũng không đòi hỏi ráo riết. Tôi còn tổ chức theo nhóm để các em khá, giỏi
kèm cặp các em kém.
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 11
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
6. Chú ý đọc mẫu của giáo viên và ghi bảng:
a. Đọc mẫu của giáo viên:
Giáo viên đọc mẫu tốt cũng đã dạy học sinh đọc rất nhiều. Bởi vậy, trước giờ
tập đọc, GV phải nghiên cứu nội dung, cách đọc và tập đọc nhiều lần.
Có nhiều cách đọc mẫu:
+ Đọc mẫu toàn bài: để giới thiệu, gây hứng thú cho học sinh.
+ Đọc câu , đoạn: Giúp học sinh nhận xét, giải thích, tìm ra cách đọc.
Vậy là, tuỳ theo từng bài mà giáo viên đọc cả bài hoặc một đoạn. Đọc vào
đầu tiết hay cuối tiết
Ví dụ dạy bài: “ Tác phẩm của Si- le và tên phát xít ”, GV đọc mẫu đoạn 1,
đó là đoạn khó đọc, học sinh đọc chưa tốt.
Dạy bài “ Kì diệu rừng xanh”, GV đọc mẫu cả bài để tạo hứng thú cho HS vì
đây là một bài văn tả cảnh,có nhiều từ gọi tả, gợi cảm cần nhấn giọng mà HS thì
thường chưa thể hiện được cảm xúc đó.

b. Cách trình bày bảng:
Bảng lớp cũng là một đồ dùng trực quan giúp học sinh đọc tốt. Chính vì
vậy, giáo viên luôn trình bày bảng gọn, rõ, đảm bảo tính đặc trưng của bộ môn để
học sinh nhìn vào cũng có được cách đọc.
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Sau khi đã áp dụng biện pháp trên vào việc giảng dạy phân môn tập đọc, tôi
thấy HS có tiến bộ rõ rệt. Bản thân các em cũng ý thức hơn khi đọc bài. Các em
không còn ngại ngùng, e dè khi đọc diễn cảm trước cả lớp (hay lúc có đông người
dự), hoặc không còn đọc qua loa, nhanh nhanh cho xong bài mà các em có sự
chuẩn bị kĩ càng hơn, có sự thi đua trước lớp. Các em học yếu cũng có tiến bộ hơn
trước, tuy các em chưa đọc được diễn cảm nhưng không còn mắc lỗi như trước
kia…Tuy rằng, đây chỉ mới là kết quả hết sức khiêm tốn và việc “ rèn đọc cho HS
trong giờ tập đọc” là một quá trình lâu dài song tôi vẫn thấy vui vì các biện pháp
mình thực hiện bắt đầu có hiệu quả. Nhờ đó chất lượng môn Tiếng Việt lớp tôi
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 12
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
được nâng lên. Học sinh đọc bài tốt hơn trước, bài làm đạt kết quả khá giỏi tăng,
học sinh yếu giảm dần.
Cụ thể kết quả được thể hiện ở các lần kiểm tra định kì ở học kì I, năm học
2009- 2010 như sau:
TSHS
Thời
điểm
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL SL TL SL TL SL TL
30
Đầu năm
3 10 % 16 53,3% 7 23,3% 4 13,3%
Giữa kì I 16 53,3% 10 33,3% 3 10% 1 3,3%


C. PHẦN KẾT LUẬN
Việc rèn đọc cho học sinh là rất cần thiết và không thể thiếu trong dạy - học
Tiếng Việt. Nhưng không phải chỉ đưa ra biện pháp khắc phục là có thực hiện một
cách có hiệu quả. Luyện đọc cho học sinh là một quá trình lâu dài, đòi hỏi người
giáo viên phải kiên trì, bền bỉ, không nóng vội. Bởi vì có những học sinh tiến bộ
ngay trong vài tuần nhưng cũng có những học sinh sự tiến bộ diễn ra rất chậm, có
khi vài tháng, thậm chí cả một học kì…Nếu giáo viên không biết chờ đợi mà nôn
nóng thì chắc chắn sẽ thất bại.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn quan sát, kiểm tra,…từ đó phát
hiện ra những khó khăn, vướng mắc và có biện pháp giúp đỡ các em kịp thời (phù
hợp với từng đối tượng ).
Giáo viên không ngừng học hỏi, tự tìm hiểu,nghiên cứu để nâng cao trình độ
tay nghề.Giáo viên có nắm chắc kiến thức thì mới có thể giúp học sinh sửa lỗi và
khắc phục lỗi một cách có hiệu quả.

Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 13
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
MỤC LỤC
A. Phần mở đầu.
Trang 1
B. Phần nội dung
Trang 3
I. Thực trạng
Trang 3
II. Một số biện pháp thực hiện
Trang 3
III. Kết quả đạt được.
Trang 13
C. Phần kết luận.
Trang 14
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 14
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm
Người thực hiện: Trần Thị Thu Huyền Trang 15

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×