Tải bản đầy đủ

SKKN : Một số biện pháp giúp học tốt môn địa lý 9

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ HỌC TỐT MÔN ĐỊA LÝ 9
I/ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong tất cả các trường phổ thông, môn đòa lý nói chung và đòa lý 9ù
nói riêng đóng một vai trò rất quan trọng trong mỗi trường.Nó không chỉ
giúp cho mỗi HS hình thành các khái niệm về đối tượng đòa lý, giúp các
em hiểu được thiên nhiên và cách thức sản xuất của con người ở đòa
phương mình, đất nước mình; hiểu được tình hình phát triển kinh tế- xã
hội của đất nước hiện nay. Từ đo,ù giúp các em thêm yêu thiên nhiên ,
quê hương, đất nước; có hướng phấn đấu để trở thành những con người có
ích cho đất nước ,cho xã hội .Bên cạnh đó,môn đòa lý 9 còn rèn luyện cho
các em các kỹ năng cơ bản như:phân tích ,nhận xét ,so sánh, đánh giá; kỹ
năng sử dụng bản đồ, biểu đồ, lược đồ, tranh ảnh cho việc khai thác kiến
thức.Môn học này không chỉ gắn liền và hòa nhập với thiên nhiên mà
còn cả với thực tế.
Mặc dù vậy nhưng các em học sinh vẫn coi đây là môn thứ yếu,không
quan trọng.Chính vì vậy, các em rất lơ là trong việc học đòa lý nhất là các
em học sinh lớp 9 .Nhưng thực tế ,môn đòa lý là một môn rất cần thiết cho
thế hệ trẻ ngày nay và cho tất cả mọi người. Lòch sử có câu :" Dân ta phải
biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam" thì đòa lý cũng vậy, đã
là người dân Việt Nam thì phải nắm được đòa lý Việt Nam .
Trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, môn đòa lý nói

riêng. Việc cải tiến phương pháp dạy học là một nhân tố quan trọng ,bên
cạnh việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn.Trong thực tế khi thực hiện
cải cách giáo dục trên cả ba mặt: hệ thống giáo dục ,nội dung và phương
pháp dạy học, không ít cán bộ giáo viên coi nhẹ phương pháp dạy học.
Do đó phương pháp dạy học nhìn chung còn bảo thủ tụt hậu hơn so với
trình độ phát triển khoa học chuyên ngành trong chương trình giáo dục bộ
môn . Kể từ sau khi đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới nội dung SGK
lớp 9, qua những năm thực tế đứng trên lớp giảng dạy,tôi đã áp dụng một
số phương pháp mới và thấy rằng có hiệu quả ; giúp học sinh lớp 9 có thể
học môn đòa lý tốt hơn .
II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Không ít người cho rằng đây là môn học khô khan, "khó nuốt". Về
mặt tâm lý, môn đòa lý là môn học mang tính "gạo bài " nên không hấp
dẫn đối với học sinh lười biếng.Bên cạnh đó, nhiều học sinh vẫn coi đây
1
là môn phụ nên còn xem nhẹ,ít dành thời gian cho môn học này. Vì vậy
qua những giờ thực tế trên lớp, tôi đã tìm hiểu và thấy được việc các em
không hứng thú với môn học này dẫn đến kết quả học tập chưa cao là do
một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất là do giáo viên dạy chay, không có thiết bò dạy học, thường là
giáo viên đọc ,học trò chép làm cho học sinh trở nên thụ động ,tiết học
nhàm chán
Thứ hai,giáo viên chưa vận dụng, kết hợp được các phương pháp mới
một cách hiệu quả , ví dụ như: thảo luận nhóm, khai thác kênh hình, tranh
ảnh, bản đồ ,hoặc nêu vấn đề
Thứ ba, giáo viên chưa biết cách đưa học sinh vào những tình huống có
vấn đề, biết khơi dậy và kích thích tính tò mò, lòng ham muốn tìm hiểu
các kiến thức đòa lý.
Thứ tư ,học sinh chưa dành nhiều thời gian cho môn học, còn có thái độ
xem nhẹ vì cho rằng đây là môn phụ.
Qua thực tế giảng dạy môn đòa lý trên lớp và quá trình trao đổi kinh
nghiệm với các giáo viên cùng dạy bộ môn tôi đã thấy được một số
phương pháp để giúp học sinh học tốt môn đòa lý.
Hiện có nhiều cách đònh nghóa khác nhau về phương pháp dạy học,
song các quan niệm ấy đều có một điểm chung: Phương pháp dạy học
bao gồm một hệ thống các phương pháp giảng dạy và học tập của giáo
viên và học sinh, có liên quan chặt chẽ với nhau và nhằm giúp cho học
sinh có khả năng nhận thức những kiến thức cần lónh hội, thực hành trong
học tập và cuộc sống những điều đã học , có tác dụng giáo dục tư tưởng
đạo đức. Do đó cách giảng dạy giáo điều ,nhồi sọ, biến giáo viên thành


người thuyết trình, giảng dạy và học sinh thụ độngtiếp nhận những điều
đã nghe ,đã học, bò lên án mạnh mẽ dần dần bò loại trừ. Nhà giáo dục
Đức DisterVerg, đã khẳng đònh đúng rằng:"Người giáo viên tồi truyền
đạt chân lý, người giáo viên giỏi dạy cách tìm ra chân lý". Điều này có
nghóa là người giáo viên không chỉ giới hạn công việc của mình ở việc
đọc cho học sinh chép những kiến thức có sẵn, bắt các em học thuộc lòng,
rồi kiểm tra điều ghi nhớ của các em thu nhận được ở bài giảng của giáo
viên hay trong sách giáo khoa. Điều quan trọng là giáo viên cung cấp cho
học sinh những kiến thức cơ bản ( bao gồm kiến thức khoa học, sự hiểu
biết về các quy luật, nguyên lý và phương pháp nhận thức ) làm cơ sở
2
đònh hướng cho việc tự khám phá các kiến thức mới, vận dụng vào học
tập và cuộc sống. Việc khơi dậy phát triển ý thức, ý chí năng lực , bồi
dưỡng ,rèn luyện việc độc lập học tập là con đường phát triển tối ưu của
giáo dục ở tất cả các cấp, càng lên cấp cao việc phát triển tối ưu của giáo
dục càng mạnh .
Xuất phát từ năng lực tư duy, tính tích cực của học sinh đòi hỏi một
trình độ học vấn phổ thông, toàn diện" uyên thâm" phù hợp với yêu cầu
mỗi câùp . Năng lực sáng tạo ,ý thức tích cực tự học, tự đào tạo phải được
rèn luyện thành thói quen và phải bắt đầu hình thành phát triển ngay từ
phổ thông, cần sớm chấm dứt tình trạng dạy học nhồi nhét, thụ động
trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh. Bởi vì tình trạng học tập không
có nền học vấn phổ thông cơ bản, toàn diện sẽ ảnh hưởng rất sớm đến
việc đào tạo những con người sáng tạo, năng động trong cuộc sống.
Chính vì vậy tôi thấy để học sinh đạt kết quả tốt trong học tập môn đòa lý
thì chúng ta phải gây được hứng thú cho học sinh , kích thích tính tò mò,
lòng ham hiểu biết về các đối tượng đòa lý giúp các em tích cực học tập,
tự giác học tập, phát huy hết khả năng của mình trong giờ học để lónh hội
kiến thức mới. Để đạt được điều đó thì giáo viên phải nghiên cứu tìm
hiểu những phương pháp phù hợp nhất với từng đối tượng học sinh, từng
bài như : Phương pháp quan sát bản đồ ,tranh ảnh ,kênh hình ; phương
pháp sử dụng số liệu thống kê; phương pháp giải quyết vấn đề; phương
pháp thảo luận như điều 42.2 Luật giáo dục quy đònh:"Phương pháp
giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực , tự giác , chủ động của
học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, bồi dưỡng phương pháp
tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn , tác động
đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"
Trong quá trình giảng dạy trên lớp ,để phát huy được hiệu quả các
phương pháp , tôi cũng đã gặp không ít thuận lợi và khó khăn như sau:
* Thuận lợi :
Cơ sở vật chất tốt, khá đầy đủ trang thiết bò phục vụ cho giảng dạy. Hơn
nữa ,được sự động viên ,quan tâm của BGH và công đoàn, sự giúp đỡ
nhiệt tình của giáo viên trong tổ và học sinh cũng đã có ba năm liền được
làm quen với chương trình mới nên không còn bỡ ngỡ như học sinh lớp
dưới.
* Khó khăn:
3
Ngoài những thuận lợi đã nêu trên thì trong quá trình giảng dạy, tôi
gặp phải những khó khăn như: thiếu tranh ảnh , băng hình và tài liệu
tham khảo về các phong cảnh đẹp ,các tài nguyên của đất nước , khả
năng tiếp thu bài của học sinh không đồng đều , học sinh không có điều
kiện sưu tầm tư liệu, tranh ảnh nhiều,các em chưa có thói quen cập nhật
thông tin kòp thời qua các chương trình thời sự ,báo chí, mạng Internet ,
thời gian học tập của học sinh ít, chủ yếu ở trên lớp vì còn phải giúp đỡ
gia đình như bán vé số , phụ buôn bán ,làm thuê
Để học sinh đạt kết quả tốt trong học tập môn đòa lý thì người giáo
viên phải biết kết hợp giữa nhiều phương pháp :
1/ Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan. Đồ dùng trực quan tốt sẽ
huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ được
hai hệ thống tín hiệu với nhau. Tai nghe, mắt thấy tạo điều kiện cho học sinh
dễ hiểu ,nhớ lâu, gây được mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú,
phát triển ở học sinh năng lực chú ý, quan sát hứng thu. Ngược lại nếu không
sử dụng đúng mức và bò lạm dụng thì làm cho học sinh phân tán sự chú ý và
thậm chí hạn chế năng lực tư duy trừu tượng. Đồ dùng học sinh trong dạy
học học sinh có nhiều loại . Mỗi loại lại có cách sử dụng riêng:
a) Phương pháp sử dụng bản đồ:Trong đòa lý học có câu nói nổi tiếng
của N.N.Baranxki, nhà đòa lý Nga:" Đòa lý học bắt đầu từ bản đồ và kết thúc
bằng bản đồ " . Do vậy việc dạy học sinh đọc bản đồ là nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu.
Vậy bản đồ là gì? Bản đồ đòa lý là hình vẽ thu nhỏ bề mặt Trái Đất
hoặc một bộ phận của bề mặt Trái Đất trên mặt phẳng dựa vào các phương
pháp toán học, phương pháp biểu hiện bằng ký hiệu để thể hiện các thông
tin về đòa lý. Đối với phương pháp này ,giáo viên cần xác đònh kiến thức
trong bài mà học sinh cần phải nắm qua bản đồ sao cho phù hợp để học sinh
có thể sử dụng kiến thức, kỹ năng đã học tự phát hiện ra kiến thức mới.Giáo
viên hướng dẫn cho học sinh thực hiện các bước sau: Nắm được mục đích
làm việc với bản đồ,xem bảng chú giải, tìm vò trí đòa lý của đối tượng trên
bản đồ,quan sát đối tượng trên bản đồ, xác lập mối quan hệ đòa lý đơn giản
giữa các yếu tố và các thành phần như : đòa hình ,khí hậu
VÍ DỤ MINH HỌA:Bài 17: Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ
TG
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG
Cho hs mở lại bài 6 xem lược đồ các vùng kinh tế-
4
chú ý vùng trung du và miền núi Bắc bộ
GV giới thiệu trên bản đồ treo tường vùng trung
du và miền núi Bắc bộ (lưu ý cả các đảo và quần
đảo trên vònh Bắc bộ)
GVtreo bản đồ Trung du và miền núi Bắc
bộ)HSquan sát kết hợp với lược đồ hình 17.1 SGK
GV gọi hs lên bảng xác đònh vò trí giới hạn TDvà
MNBB
GVlưu ý:điểm cực bắc: Lũng Cú (núi Rồng ,Đồng
Văn ,Hà Giang)
+Điểm cực Tây: Apachải (sín Thầu, Mường
Nhé,Điện Biên)
GVhướng dẫn hs xác đònh sau đó gv xác đònh lại
GV:Nêu ý nghóa vò trí đòa lí của vùng?
HS: Dựa vào bản đồ nêu ý nghóa:
Cho hs quan sát bản đồ trên bảng kết hợp lược đồ
SGK nhận xét gì về độ cao ,đòa hình và hướng
núi?
+ Tây Bắc:Núi cao theo hướng TB_ĐN
+Đông Bắc:Núi trung bình theo hướng hình cánh
cung,sông chảy theo hướng đòa hình
GV giải thích : vùng trung du Bắc Bộ làvùng
chuyển tiếp giữa đồng bằng và đồi núi
GVnhấn mạnh: khí hậu có mùa đông lạnh,sát chí
tuyến Bắc nên tài nguyên sinh vật đa dạng.Đông
Bắc lạnh hơn Tây Bắc
GV:Dựa vào hình 17.1 xác đònh vò trí các mỏ than
thiếc ,apatít và các dòng sông có khả năng phát
triển thủy điện?
HS lên bảng xác đònh
GV:Em có nhận xét gì về tài nguyên khoáng sản
của vùng?
I/ Vò trí đòa lí và giới hạn
lãnh thổ
- Có điều kiện giao lưu
kinh tế xã hội với
ĐBSH,Bắc Trung bộ,
đồng thời với các tỉnh
phía Nam Trung Quốc và
Thượng Lào.
II/ Điều kiện tự nhiên và
tài nguyên thiên nhiên
-Đòa hình : núi cao ,cắt xẻ
mạnh ở Tây Bắc; nuiù
thấp và trung bình ở
Đông Bắc.
-Khí hậu nhiệt đới ẩm có
mùa đông lạnh thích hợp
cho trồng cây công
nghiệp cận nhiệt và ôn
đới
-Nhiều khoáng sản
5
HS trả lời
GV:Em cho biết các công trình thủy điện nào đã
được xây dựng trên những con sông nào?
HS trả lời và lên bảng xác đònh: +Sơn La ,Hòa
Bình trên sông Đà
+Thác Bà trên sông Chảy
GV:Em có nhận xét gì về nguồn thủy năng của
vùng ?
HS trả lời
GV:Cho hs đọc nhanh bảng 17.1, hs thảo luận (3')
?Hãy nêu sự khác biệt về điều kiện tự nhiênvà
thế mạnh kinh tế giữa hai tiểu vùng ĐB và TB?
HS trình bày. GV có thể hướng dẫn học sinh trình
bày trên bản đồ
GV:Nêu những khó khăn của vùng?
HS:-Giao thông đi lại
-Khoáng sản trữ lượng nhỏ
-Chặt phá rừng làm sạt lở,lũ
GV:Để hạn chế khó khăn, phát huy thế mạnh
phát triển kinh tế cần có những biện pháp gì?
HS-Trồng và bảo vệ rừng
-Xây dựng đường hầm xuyên núi
Liên hệ : lũ lụt ở miền Trung nước ta và giáo dục
các em ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường.
-Thủy năng dồi dào
-Học bảng 17.1 SGK
trang 63
b)Bên cạnh đó , giáo viên có thể sử dụng tranh, ảnh trong SGK , tư
liệu để mở rộng kiến thức , giới thiệu cho học sinh biết các cảnh đẹp của
đất nước , từ đó học sinh có lòng tự hào, thêm yêu quê hương, đất nước.
VÍ DỤ MINH HỌA: khi dạy về vùng Trung du và miền núi Bắc bộ, giáo
viên có thể dùng tranh về Vònh Hạ Long, Sa Pa hoặc nếu có băng hình cho
học sinh xem thì các em sẽ thấy được vẻ đẹp tiềm ẩn của đấât nước, sau đó
giáo viên mở rộng:Vònh Hạ Long đã hai lần được Unessco công nhận là di
sản thiên nhiên thêù giới vào năm 1994 và năm 2000, hiện nay Vònh Hạ Long
đang được bầu chọn vào một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới. Qua đó
giáo viên giáo dục cho học sinh lòng yêu quê hương, đất nước ,lòng tự hào
6
dân tộc. Từ đó xây dựng ý thức gìn giữ , phát huy các danh lam thắng cảnh
của đất nước.
Hoặc các tranh hình trong trong SGK, ví dụ giáo viên cho học sinh
quan sát hình 18.2 SGK trang67 :Đập thủy điện Hòa Bình trên sông Đà.GV
đặt câu hỏi: Hãy nêu ý nghóa của thủy điện Hòa Bình? HS nêu : cung cấp
điện năng, điều tiết nước, nuôi trồng thủy sản, du lòch , điều hòa khí hậu đòa
phương.
Ví dụ khác : Trong bài 17 trang 64 SGK có tranh hình 17.2: Ruộng bậc
thang ở miền núi Bắc bộ. GV cho học sinh quan sát bức tranh đó và nêu vai
trò của ruộng bậc thang.HS có thể phát biểu là có vai trò làm giảm đất trống
đồi trọc, đem lại hiệu quả kinh tế cao
2/ Ngoài phương pháp trên , trong tiết dạy không thể không có phương
pháp tạo ra tình huống có vấn đề và giải quyết vấn đề.Trước hết cần nhận
thức các khái niệm "vấn đề", "Tình huống có vấn đề", " giải quyết vấn đề",
" vấn đề mới nảy sinh". Hiện nay có nhiều cách lý giải khác nhau về những
khái niệm trên. Có thể thống nhất với nhau một số điểm cơ bản. "Vấn đề "
là điều chúng ta chưa biết ( song "phải biết điều chưa biết" ) , trên con đường
nhận thức ( về lý luận cũng như sự kiện cụ thể). Vấn đề như vậy phải có
trọng tâm, tập trung vào chủ điểm đang học, không lan man, tản mạn, lấy
cái không thứ yếu, không cơ bản ,phụ thay cho cái chủ yếu cơ bản, chính vấn
đề đặt ra cần phải được giải quyết , được nhận thức.
"Tình huống có vấn đề " là thời điểm thể hiện mâu thuẫn trong nhận
thức của học sinh để nhận ra điều mình chưa biết và chưa giải quyết được.
Tình hình này buộc học sinh phải quyết tâm tìm hiểu, chứ không khoanh tay
khuất phục. Song không phải điều không biết nào cũng tạo ra tình huống có
vấn đề mà chỉ khi nào những điều học sinh nhận thấy không thể không
thiếu, không thể không tìm hiểu đểû nhận thức đúng, sâu vấn đề đặt ra nhằm
vào việc học tập.
"Giải quyết vấn đề " là tiến hành tìm hiểu làm sáng tỏ những điều
chưa biết ,đã biết. Muốn giải quyết vấn đề cần tìm hiểu trước hết vấn đề đặt
ra nhằm mục đích gì,"ý đồ" của vấn đềlà gì Tiếp đó là tìm hiểu những dữ
kiện cần thiết để giải quyết. Đây là khâu quan trọng của việc giải quyết vấn
đề. Cuối cùng là kiểm tra cách giải quyết vấn đề.
VÍ DỤ MINH HỌA:Bài 15: Thương mại và du lòch
TG
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG
7
GV giới thiệu: Buôn bán đem lại
lợi ích cho tất cả các quốc gia,góp
phần vào sự phân công lao động
quốc tế.Thậm chí ngay đối với
từng cá nhân,việc buôn bán cũng
đem lại lợi ích cho từng gia đình
như xưa kia cha ông ta đã từng
tổng kết:"phi thương bất phú".Lợi
ích từ thương mại từ lâu nhà nước
quan tâm phát triển đặc biệt nhờ
vào công cuộc đổi mới mà các
hoạt động thương mại nước ta
phát triển như thế nào
GV:Dựa vào SGK và vốn hiểu
biết của mình cho biết :Hiện nay
các hoạt động nội thương có sự
chuyển biến như thế nào?
HS:Thay đổi căn bản, thò trường
thống nhất ,lượng hàng nhiều
?Thành phần kinh tế nào giúp nội
thương phát triển mạnh nhất ?
biểu hiện?
HS:Kinh tế tư nhân ,sức mua tăng
lên
GV:Haỹ quan sát hình 15.1 nhận
xét sự phân bố theo vùng của
ngành nội thương?
HS:Rất chênh lệch: Đông Nam
Bộ cao nhất ,Tây nguyên thấp
nhất
GV:Tại sao nội thương Tây
Nguyên kém phát triển?
HS:Dân rất thưa ,kinh tế chưa
phát triển
GV:Tại sao nội thương ở ĐNB
I/ Thương mại
1. Nội thương
8
phát triển nhất?
HS:Dân đông, kinh tế phát triển
GV:Quan sát hình 15.1 cho biết
hoạt động nội thương tập trung
nhiều nhất ở những vùng nào của
nước ta?
HS: Hà Nội ( Đồng bằngsông
Hồng ) và Tp. HCM(Đông Nam
Bộ)
GV:HN và Tp. HCM có những
điều kiện thuận lợi nào để trở
thành các trung tâm thương mại
dòch vụ lớn nhất của cả nước?
HS dựa SGK trả lời
GVKL:
GVgiới thiệu: Ngành nội thương
hiện nay còn những hạn chế :
-Sự phân tán manh mún, hàng
thật ,hàng giả cùng tồn tại trên thò
trường
-Lợi ích của người kinh doanh
chân chính và của người tiêu
dùng chưa được bảo vệ đúng mức
-Cơ sở vật chất còn chậm đổi mớ
Chuyển ý:Ngày nay sản xuất mới
được quốc tế hóa,không một quốc
gia nào có thể tồn tại và phát
triển mà lại không tham gia vào
phân công lao động quốc tế và
trao đổi hàng hóa với bên
ngoài.Ta cùng tìm hiểu vấn đề
này.
GV:Em hiểu ngoại thương là gì?
HS: Trả lời dựa vào hiểu biết và
SGK
-Nội thương phát triển với hàng
hóa đa dạng phong phú
-Mạng lưới lưu thông hàng hóa
có ở khắp các đòa phương
-Hà Nội và Tp. HCM là hai
trung tâm thương mại, dòch vụ
lớn đa dạng nhất nước ta
2. Ngoại thương
-Là hoạt động kinh tế đối ngoại
quan trọng nhất nước ta.
9
GV:Cho biết vai trò quan trọng
nhất của hoạt động ngoại thương
đối với nền kinh tế mở rộng thò
trường ở nước ta
HS:+ Giải quyết đầu ra cho các
sản phẩm
+Đổi mới công nghệ , mở rộng
sản xuất
+Cải thiện đời sống
HS quan sát hình15.6:Hãy nhận
xét biểu đồ và kể tên các mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của nước
ta mà em biết?
+Gạo ,cá tra ,cá ba sa,tôm
+Dầu thô ,than đá
GVnhấn mạnh thêm: Nước ta
hiện nay có xuất khẩu lao
động,nêu lợi ích của vấn đề này
đối với phát triển kinh tế
GV:Hãy cho biết các mặt hàng
nhập khẩu chủ yếu của nước ta
hiện nay?
HS: Trả lời
GV:Em cho biết hiện nay nước ta
quan hệ buôn bán nhiều nhất với
thò trường nào?
HS:Châu Á -Thái Bình Dương
GV:Tại sao nước ta lại buôn bán
nhiều nhất với thò trường khu vực
Châu Á- Thái Bình Dương?
HS:-Vò trí đòa lí thuận lợi cho việc
vận chuyển, giao nhận hàng hóa
-Các mối quan hệ có tính truyền
thống
-Thò hiếu tiêu dùng có nhiều
-Các mặt hàng xuất khẩu là:
nông ,lâm ,thủy sản,hàng công
nghiệp nhẹ,tiểu thủ công nghiệp
khoáng sản
-Nước ta nhập khẩu máy móc
thiết bò,nguyên liệu ,nhiên liệu
và một số mặt hàng tiêu dùng
-Hiện nay nước ta quan hệ buôn
bán chủ yếu với thò trường khu
vực Châu Á -Thái Bình Dương
10
điểm tương đồng nên dễ xâm
nhập thò trường
-Tiêu chuẩn hàng hóa không cao,
phù hợp với trình độ sản xuất còn
thấp của Việt Nam
3/ Phương pháp thảo luận: có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, tính
độc lập của cá nhân kết hợp với sự giúp đỡ ,sự hợp tác với nhau để giải
quyết vấn đề đặt ra, giúp học sinh trình bày và bảo vệ ý kiến của mình
trước một số đông người.
Tổ chức thảo luận có thể tiến hành theo các bước sau:
-Giáo viên nêu vấn đề thảo luận là vấn đề quan trọng, có ý nghóa
trong chương trình dạy học. Qua thảo luận có thể giúp học sinh nắm vững
những tri thức then chốt nhất của một phần nội dung của bộ môn.
-Giáo viên trình bày kế hoạch thảo luận cũng như giao nhiệm vụ
cho cả lớp, cho từng nhóm và từng người chuẩn bò báo cáo.
-Học sinh chuẩn bò trong một thời hạn nhất đònh tùy theo nội dung
va khối lượng vấn đề thảo luận.
-Tiến hành thảo luận:Giáo viên nói ngắn gọn mục đích yêu cầu và
nội dung vấn đề thảo luận. Học sinh dựa trên các vấn đề đặt ra, tự
nguyện trình bày ý kiến đã chuẩn bò. Những học sinh khác nhận xét ,bổ
sung.
-Cuối cùng giáo viên tổng kết những ý kiến phát biểu, nêu một
cách tóm tắt súc tích những vấn đề đã thống nhất và chưa thống nhất,
nhận xét tinh thần , thái độ thảo luận của cả lớp và của những cá nhân
đặc biệt. Sau đó giáo viên có thể đánh gia,ù cho điểm.
VÍ DỤ MINH HỌA:Bài 11: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát
triển và phân bố công nghiệp.
Phần II/ Các nhân tố kinh tế -xã hội
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm:
Nhóm 1:1)Dân cư và lao động: Giáo viên gợi ý: Dân cư đông
,nguồn lao động dồi dào tạo điều kiện thuận lợi gì cho ngành công nghiệp
khai thác thế mạnh đó để phát triển?( Thuận lợi cho ngành công nghiệp
cần nhiều lao động nhiều, rẻ và thu hút vốn đầu tư nước ngoài )
Nhóm 2: 2) Cơ sở vật chất kỹ thuật trong công nghiệp và cơ sở hạ
tầng.GV hướng dẫn HS nêu về trình độ công nghệ,nơi phân bố và nhận
11
xét về cơ sở hạ tầng trong công nghiệp.Từ đó HS trả lời câu hỏi: Việc cải
thiện hệ thống đường giao thông có ý nghóa như thế nào đối với việc phát
triển công nghiệp?( Trình độ công nghệ còn thấp, chưa đồng bộ. Phân bố
tập trung ở một số vùng. Cơ sở hạ tầng được cải thiện ( nhất là vùng kinh
tế trọng điểm). Giao thông phát triển nối liền các ngành ,các vùng sản
xuất, giữa sản xuất với tiêu dùng; thúc đẩy chuyên môn hóa sản xuất và
hợp tác kinh tế công nghiệp)
Nhóm 3:Chính sách phát triển công nghiệp: HS nêu được trong giai
đoạn hiện nay chính sách phát triển công nghiệp ở nước ta có đònh hướng
như thế nào?( chính sách công nghiệp hóa và đầu tư, chính sách phát
triển kinh tế nhiều thành phần và đổi mới các chính sách khác)
Nhóm 4: Thò trường:Phần này HS trao đổi ,thảo luận với nhau để
giải quyết hai vấn đề:
? Thò trường có ý nghóa như thế nào đối với sự phát triển công
nghiệp ?( Quy luật cung cầu giúp công nghiệp điều tiết sản xuất , thúc
đẩy chuyên môn hóa sản xuất theo chiều sâu; Tạo ra môi trường cạnh
tranh , giúp các ngành sản xuất cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng ,hạ
giá thành sản phẩm)
? Sản phẩm công nghiệp nước ta hiện đang đối đầu với những thách
thức gì khi chiếm lãnh được thò trường?( Sức cạnh tranh hàng ngoại nhập,
sức ép cạnh tranh trên thò trường xuất khẩu)
Giáo viên gọi đại diện nhóm lên trình bày ( hoặc có thể do nhóm
cử đại diện ). Các nhóm khác nghe và có thể hỏi lại nhóm bạn, nhận xét
bổ sung cho nhóm bạn.
Sau cùng, giáo viên chuẩn xác kiến thức và kết luận: Sự phát triển
và phân bố công nghiệp phụ thuộc mạnh mẽ vào các nhân tố kinh tế- xã
hội.
Đối với môn đòa lý, thì đây là một trong những phương pháp có thể
sử dụng thường xuyên trong các tiết dạy và đặc biệt giáo viên cần hướng
dẫn kỹ để các em nắm được mục đích của câu hỏi và trao đổi sôi nổi với
bạn của mình, tránh tình trạng thảo luận mang tính hình thức tức là học
sinh ngồi im lăïng trong thời gian thảo luận, không có sự trao đổi qua lại
với bạn.
4/ Phương pháp học tập ở nhà:
12
Học tập ở nhà rất quan trọng và không thể thiếu được trong quá
trình lónh hội , hoàn thiện tri thức và kỹ năng, kỹ xảo. Nó có tác dụng
cuủng cố, đào sâu khái quát hóa, hệ thống hóa tri thức, kỹ năng ,kỹ xảo
và có tác dụng chuẩn bò lónh hội những tri thức mới . Thông qua học tập ở
nhà mà bồi dưỡng ,rèn luyện tinh thần trách nhiệm trong học tập, tính chủ
động tự lực, phát huy tinh thần nỗ lực chủ quan, khắc phục khó khăn
,hoàn thành nhiệm vụ đề ra trong thời gian quy đònh, tính tổ chức và tính
kế hoạch trong học tập.
Muốn đảm bảo kết quả việc tổ chức học tập ở nhà cho học sinh
phải chú ý đến những điều kiện sau:
-Phải làm cho việc học tập ở nhà cũng hứng thú như ở lớp. Muốn
vậy phải kết hợp việc học ở nhà cũng như ở lớp. Việc học tập ở nhà phải
đa dạng , không chỉ giới hạn ở những công việc có tính chất ôn tập máy
móc tài liệu trong SGK, mà phải đề ra những bài làm có tính chất vấn đề,
có tính sáng tạo; bài làm đòi hỏi phải tiến hành có tính quan sát, rút ra
kết luận trên cơ sở đối chiếu, so sánh; những bài tập gắn liền với cuộc
sống, với thực tiễn lao động.
-Phải làm cho học sinh ý thức rõ mục đích và nhiệm vụ của công
việc ở nhà. Muốn thế phải kết hợp làm bài ở nhà với công việc ở lớp.
Nếu không hoàn thành bài làm ở nhà thì việc học tập ở lớp gặp nhiều
khó khăn. Ngược lại, giờ học trên lớp nếu không dành thời gian nhất đònh
để hướng dẫn thì việc học ở nhà sẽ không được đònh hướng, thiếu hình
dung rõ ràng cần phải làm gì và làm như thế nào đểû hoàn thành tốt các
bài tập.
-Trước hết học sinh cần học bài mới trước, làm đủ bài tập trong
SGK cuối mỗi bài, sau đó học sinh chuẩn bò bài mới: Đọc trước bài mới
một lần, gạch dưới những từ khó hiểu , quan sát kênh hình ,lược đồ ,biểu
đồ nếu có trong bài và dự kiến trả lời các câu hỏi trong bài dựa theo sự
hiểu biết của bản thân và dựa vào kênh chữ có trong SGK.
VÍ DỤ MINH HỌA:
Sau khi học xong bài 23: Vùng Bắc Trung bộ. HS sẽ có ba bước
cần chuẩn bò ở nhà trước khi đến lớp:
Bước 1:- Học bài theo câu hỏi SGK:
? Điều kiện tự nhiên ở Bắc Trung bộ có những thuận lợi và khó
khăn gì đối với sự phát triển kinh tế xã hội?
13
?Phân bố dân cư ở Bắc Trung bộ có những đặc điểm gì?
Bước 2:-Sưu tầm tư liệu (bài viết ,ảnh) và viết tóm tắt giới thiệu về
vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng hoặc thành phố Huế.GV đònh
hướng cho HS sưu tầm tư liệu theo chủ đề: thiên nhiên ,con người ,hoạt
động kinh tế , văn hóa. Có thể sưu tầm từ sách báo ,tạp chí ,mạng
Internet
Bước 3:-Chuẩn bò bài mới:Phần kinh tế của Bắc Trung bộ. HS đọc
qua bài một lần, quan sát biểu đồ hình 24.1 và hình 24.2 kết hợp với lược
đồ hình 24.3, tranh hình 24.4. Sau đó dự kiến trả lời các câu hỏi trong
SGK.
Khi đã chuẩn bò cả bài cũ lẫn bài mới như vậy học sinh đã đònh
hướng được phần trả lời của mình.Lên lớp các em chỉ cần chú ý vào bài,
hăng hái phát biểu xây dựng bài từ đó phát hiện ra những phần sai , phần
đúng trong câu trả lời của mình qua phần bổ sung ,nhận xét của giáo viên
vàcác bạn khác. Như vậy vừa góp phần làm cho lớp học sôi động và các
em có thể hiểu bài ngay tại lớp.
III/ KẾT LUẬN:
Trên đây là một số phương pháp để học tốt môn đòa lý lớp 9, nhằm
nâng cao chất lượng bộ môn.Xuất phát từ tình hình thực tế ngày nay, một
số học sinh coi thường và xem nhẹ môn đòa lý. Các em cho rằng đây là
môn phụ không cần thiết. Tư tưởng đó không chỉ có ở học sinh mà còn có
cả ở một số giáo viên. Quan điểm thiếu khoa học như thế đã làm cho các
em học tập không có chất lượng. Cần phê phán những suy nghó lệch lạc
đó và giúp cho họ nhận thức đúng đắn hơn về tầm quan trọng của môn
đòa, quán triệt đường lối chính sách của Đảng , nhà nước đối với giáo dục
cho từng giáo viên.
Thông qua việc tìm hiểu một số phương pháp như trên, tôi đã tìm ra
một số nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến học kém môn
đòa.Trên cơ sở tìm ra những nguyên nhân mà đề ra những biện pháp nâng
cao chất lượng học tập môn đòa lý cho học sinh nói riêng và cho nhà
trường nói chung.
Để học tập môn đòa lý 9 đạt kết quả tốt, người giáo viên phải biết
xác đònh và nắm vững đặc trưng của bộ môn trên cơ sở nội dung , chức
năng, nhiệm vụ của bộ môn đòa lý ở trường phổ thông. Từ đó xác đònh
được kiến thức cơ bản, phương pháp giảng dạy của bộ môn đòa lý. Ngoài
14
ra còn phải liên hệ thực tế, giáo dục cho các em tình yêu thiên nhiên,
niềm tự hào về quê hương, đất nước; nắm vững được tình hình kinh tế-
xã hội của đất nước, để các em xác đònh được mục đích của việc học tập
và có phương hướng phấn đấu, góp phần xây dựng quê hương,đất nước
ngày càng giàu đẹp.
Muốn được như vậy thì trước khi lên lớp, người giáo viên phải
nghiên cứu phương pháp giảng dạy, tham khảo tư liệu , chuẩn bò tranh
ảnh ,bản đồ ,biểu đồ, số liệu thống kê còn đối với học sinh ,các em cũng
phải chuẩn bò kỹ bài ở nhà như : học bài, làm câu hỏi và bài tập trong
SGK, sưu tầm tư liệu tranh ảnh có liên quan và nhất là phải chuẩn bò bài
mới trước khi đến lớp: Đọc bài mới kết hợp quan sát lược đồ , tranh ảnh,
biểu đồ và dự kiến trả lời các câu hỏi trong SGK.
Ngoài truyền đạt kiến thức ,giáo viên còn phải chú ý giáo dục đạo
đức cho các em. Đồng chí Phạm Văn Đồng có nói:"Nghề dạy học là nghề
cao quý hơn tất cả các nghề". Hoặc " Người thầy giáo là kỹ sư tâm
hồn" Dạy học là một nghề vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ
thuật. Do đo,ù bất cứ một giáo viên nào đứng lớp cũng phải không ngừng
bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ sư phạm của mình. Người thầy giáo không
chỉ dạy cho trẻ biết chữ mà còn dạy cho con trẻ biết cách sống làm
người.Người thầy giáo luôn nêu cao đời sống gương mẫõu của mình trong
mọi mặt, từ cách làm mẫu bài học cho đến cách làm mẫu của một con
người sống văn minh.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi rút ra được trong quá trình
giảng dạy thực tế trên lớp,vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi
mong quý đồng nghiệp đóng góp ý kiến để tôi có thể dạy tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người viết:


15
16
PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
Trường: Trung học cơ sở Pô Thi

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ HỌC TỐT
MÔN ĐỊA LÝ 9

GV: TRẦN THỊ HƯỜNG

Tổ: SỬ - ĐỊA - GDCD


Năm học: 2007-2008

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×