Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của Toà kinh tế.DOC

Lời mở đầu

Tranh chấp dân sự nói chung và tranh chấp kinh tế nói riêng là điềukhó tránh
khỏi trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi đất nớc.Khi có tranh chấp kinh tế xảy
ra, có nghĩa là lợi ích kinh tế của một bên nào đó bị vi phạm. Khi lợi ích bị vi
phạm thì các bên đều muốn nhanh chóng giải quyết , vừa để bảo vệ quyền lợi kinh
tế của mình vừa để nhanh chóng duy trì ổn định, tiếp tục phát triển hoạt động sản
xuất kinh doanh. Phơng thức thông dụng nhất đểgiải quyết các tranh chấp này là
các bên tự thoả thuận thơng lợng với nhau. Tuy nhiên có những tranh chấp kinh tế
mà các bên không tự hoà giải đợc, khi đó họ phải nhờ đến sự can thiệp của Nhà n-
ớc hay một cơ quan tổ chức nào đó. ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế là các Trung tâm Trọng tài vàToà án các
cấp ( cụ thể là các Toà án nhân dân cấp huyện và các Toà kinh tế ở các Toà án
nhân dân tỉnh , Toà án nhân dân tối cao ).
Việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án là một vấn đề khá mới mẻ nớc ta
bởi Toà kinh tế mới đợc thành lập theo Luật sửađổi bổ sung một số điều của Luật
tổ chức Toà án nhân dân ngày 28.12.1993. Bên cạnh những kết quả đạt đợc hoạt
động của Toà kinh tế đâng gặp phải những khó khăn và tồn tại đáng kể.Thực tiễn
hoạt động của Toà kinh tế trong những năm qua đã và đang đặt ra câu hỏi : liệu
những chế định về Toà kinh tế đã thực sự phù hợp với yêu cầu đặt ra của các nhà
doanh nghiệp, của nền kinh tế thị trờng, của công cuộc cải cách t pháp hay cha ?

Đây không chỉ là vấn đề mà các nhà làm luật và các cơ quan có thẩm quyền đang
chú ý nghiên cứu, mà cũng là vấn đề mà em rất quan tâm. Đó cũng chínhlà lý do
khiến em lựa chọn đề tài này.Mục đích của bài viết không phải là tổng kết hoạt
động của Toà án cũng không phải là đa ra các giải phơng pháp để hoàn thiện chế
định về Toà kinh tế bởi đây là việc làm của các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền.
Bài viết chỉ mong muốn đa ra một cách nhìn tổng quát về Toà kinh tế từ cơ cấu tổ
chức, thẩm quyền, hoạt động xét xử đến những tồn tại và khó khăn đang vớng mắc,
đồng thời nêu lên một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện cơ cấu tổ chức và
hoạt động của Toà kinh tế.
Nội dung của đề án gồm 3 chơng :
Chơng i : Lịch sử hình thành và phát triển của Toà kinh tế.
Chơng II : Qui chế pháp lý về Toà kinh tế .
Chơng III : Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của Toà kinh tế.
Do trình độ hiểu biết còn hạn chế, bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót,
mong thầy chỉ bảo, giúp đỡ để đề tài của em đợc tốt hơn. Em xin chân thành cảm
ơn.
1
Chơng I : Lịch sử hình thành và phát
triển của toà án kinh tế
I-Quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế tr ớc khi Toà kinh tế ra đời

Cuối năm 1959 , do kết quả của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế
quốc dân , kết cấu các thành phần kinh tế của nớc ta có sự thay đổi căn bản. Thời
kỳ này hoạt động kinh doanh chủ yếu tập trung vào hai thành phần kinh tế là quốc
doanh và tập thể . Trong nền kinh tế này , Nhà nớc đóng vai trò là ngời trực tiếp tổ
chức sản xuất , phân phối các sản phẩm xã hội , còn các đơn vị kinh tế phải phối
hợp chặt chẽ nhằm đạt mục tiêu chung là thực hiện kế hoạch của nhà nớc . Biểu
hiện của sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị kinh tế là việc ký kết và thực hiện
hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nớc . Theo Điều lệ tam thời về chế
độ hợp đồng kinh tế
( kèm theo Nghị định số 4/TTG ngày 4/1/1960 của Thủ Tớng Chính Phủ ) thì ký
kết hợp đồng kinh tế đợc coi là kỷ luật bắt buộc trong quan hệ kinh tế giữa các đơn
vị kinh tế . Điều lệ qui định , cơ sở để các bên ký kết hợp đồng là chỉ tiêu kế hoạch
nhà nớc giao ; hợp đồng kinh tế chỉ đợc sửa đổi , huỷ bỏ khi nhà nớc sửa đổi hoặc
huỷ bỏ chỉ tiêu kế hoạch . Nh vậy, thực chất của hợp đồng kinh tế thời kỳ này là 1
hình thức pháp lý để các đơn vị kinh tế cụ thể hoá chỉ tiêu kế hoạch nhằm thực
hiện chỉ tiêu kế hoạch đó , còn tính chất tự nguyện , thoả thuận rất ít đợc quan
tâm . Do đó , quan hệ kinh tế chủ yếu phát sinh từ nghĩa vụ thực hiện các chỉ tiêu
kế hoạch mang tính pháp lệnh và tập trung .
Đến năm 1986, thực hiện đờng lối đổi mới quản lý kinh tế - xã hội mà Đảng ta
đề ra trong đại hội Đảng lần thứ VI , Hội đồng nhà nớc đã thông qua Pháp lệnh về
hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 . Đây là bớc phát triển mới của pháp luật về hợp
đồng kinh tế . Theo pháp lệnh này, hợp đồng kinh tế đợc xác lập một cách tự
nguyện , bình đẳng theo sự thoả thuận của các bên ký kết . Cùng với sự chuyển đổi
nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trờng , các quan hệ kinh tế
ngày càng phát triển và mở rộng
Trong quá trình giao dịch để sản xuất kinh doanh cũng nh trong quan hệ kinh
doanh, giữa các chủ thể có thể xảy ra các bất đồng , các tranh chấp nhất là trong
việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế . Dù ở nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
hay nền kinh tế thị trờng thì tranh chấp kinh tế là điều khó tránh khỏi . Thông th-
ờng thì các bên chủ thể tự thơng lợng giải quyết nhng có những tranh chấp không
thể tự hoà giải đợc và họ phải nhờ đến sự can thiệp của cơ quan có chức năng.
Từ năm 1993 trở về trớc , cơ quan có chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế
là cơ quan Trọng tài kinh tế Nhà nớc . Trọng tài kinh tế Nhà nớc ra đời để giải
quyết những tranh chấp kinh tế mà chủ yếu là tranh chấp về hợp đồng kinh tế
,chính vì vậy chế định về Trọng tài kinh tế đợc ra đời , và phát triển cùng với sự
2
phát triển của chế độ hợp đồng kinh tế . Nghiên cứu qua từng giai đoạn sẽ giúp ta
hiểu rõ hơn về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế Nhà nớc.
1. Giai đoạn từ 1960 đến 1984
Năm 1960 , chính phủ ban hành Nghị định số 04.TTg ngày 4/1/1960 ban hành
kèm theo điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh tế . Tiếp ngay sau đó , tổ chức Trọng
tài kinh tế đợc thành lập theo Nghị định số 02.TTg ngày 14/1/1960 . Nghị định này
qui định các vấn đề chủ yếu nh cơ cấu tổ chức , phân cấp , chức năng của Trọng tài
kinh tế . Theo Nghị định này , Trọng tài kinh tế với t cách là một cơ quan trong bộ
máy hành chính Nhà nớc , đợc tổ chức ở cấp Trung ơng , khu , thành phố , tỉnh và
bộ có chức năng chủ yếu là xét xử các tranh chấp kinh tế.
Năm 1975 , trên cơ sở những quan điểm , đờng lối mà Đảng đã đề ra trong Hội
nghị lần thứ 20.BCHTW Đảng (1972), Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54.CP
ngày 10/3/1975 về chế độ hợp đồng kinh tế và Nghị định số 75.CP ngày
14/4/1975về điều lệ tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế . Theo Nghị định
75.CP , Trọng tài kinh tế có thêm chức năng là quản lý công tác hợp đồng kinh tế .
Hoạt động của Trọng tài kinh tế nhằm đảm bảo tính kỷ luật của Nhà nớc về hợp
đồng kinh tế đồng thời giải quyết , xử lý những vi phạm hợp đồng kinh tế
Năm 1984 , Hội đồng bổ trởng đã ban hành Nghị định số 62.HĐBT ngày
17/4/1984 qui định về chức năng , nhiệm vụ , quyền hạn và tổ chức của Trọng tài
kinh tế . Lần đầu tiên ở nớc ta hình thành Trọng tài kinh tế cấp huyện
Thực tiễn cho thấy , trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nớc
trực tiếp tham gia tổ chức sản xuất , phân phối sản phẩm xã hội thì việc thành lập
Trọng tài kinh tế với t cách là 1 cơ quan Nhà nớc là 1 điều hợp lý . Nó sẽ giúp Nhà
nớc tăng cờng sự quản lý , giám sát của mình trong nền kinh tế . Đồng thời , thực
tiễn cũng cho thấy , chức năng và hoạt động của Trọng tài kinh tế Nhà nớc là phù
hợp và đáp ứng đợc yêu cầu đòi hởi của xã hội
2. Giai đoạn từ 1986 đến 1993
Năm 1986 , Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra chủ trơng đổi mới nhằm chuyển
đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung của nớc ta sang nền kinh tế nhiều hàng hoá
thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự tham gia quản lý của nhà nớc
Quá trình cải cách kinh tế đã nảy sinh hàng loạt vấn đề mới nh : sự ra đời của
các thành phần kinh tế mới , chế độ về hợp đồng kinh tế , về trọng tài kinh tế ...vv.
Những vấn đề này lại dẫn đến những tranh chấp mới . Các tranh chấp kinh tế lúc
này không chỉ đơn thuần là những tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà còn là tranh
chấp về nhiều vấn đề khác trong hoật động kinh doanh . Thực tế đó đòi hỏi phải
đổi mới qui định về hợp đồng kinh tế cũng nh phải mở rộng chức năng , thẩm
quyền của Trọng tài kinh tế .
Để đáp ứng những đòi hỏi này , ngày 25/9/1989 Hội đồng Nhà nớc đã ban hành
Pháp lệnh mới về Hợp đồng kinh tế và đến ngày 10/1/1990 thì ban hành Pháp lệnh
về Trọng tài kinh tế .
3
Theo Pháp lệnh này , Trọng tài kinh tế đợc tổ chức thành 3 cấp : Trung ơng ,
tỉnh , huyện chịu sự quản lý dọc cũng nh ngang , nằm trong bộ máy hành pháp của
nhà nớc . Ngoài ra còn có nhiều qui định đổi mới về cơ cấu , thẩm quyền , chức
năng . Sau khi Luật công ty và Luật doanh nghiệp t nhân 1990 ra đời , Trọng tài
kinh tế có thêm chức năng : đăng ký kinh doanh cho các công ty và các doanh
nghiệp t nhân. Nhận thấy những đòi hỏi của cơ chế mới Nhà nớc đã có những điều
chỉnh về pháp luật trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh tế và bớc đầu đã đáp
ứng đợc yêu cầu của thực tiễn. Nhng chúng ta biết rằng cải cải t pháp luôn đi sau
cải cách kinh tế, vì thế khi nền kinh tế càng phát triển thì yêu cầu cải cách t pháp
lại đặt ra.
II- Những nh ợc điểm về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế trong nền
kinh tế thị tr ờng

Mặc dù nhà nớc ta đã có sửa đổi , bổ sung những chế định về Trọng tài kinh tế
Nhà nớc nhng Trọng tài kinh tế vẫn bộc lộ nhiều nhợc điểm trong nền kinh tế thị
trờng
Thứ nhất : Nền kinh tế thị trờng đặt ra những yêu cầu mới trong các quan hệ
kinh tế , đặc biệt nó đòi hỏi phải trả lại giá trị đích thực của hợp đồng kinh tế .
Nghĩa là , hợp đồng kinh tế phải thực sự mang tính hợp đồng . Cơ chế kinh tế
mới cũng đòi hỏi phải đảm bảo tính tự do , dân chủ trong hoạt động kinh tế . Các
chủ thể kinh doanh đợc quyền tự do thoả thuận , tự do ký kết hợp đồng , đợc tự chủ
trong hoạt động tổ chức kinh doanh mà không phải phụ thuộc vào mệnh lệnh của
các cơ quan hành chính nh trớc đây
Chính vì thế , chức năng quản lý Nhà nớc về hợp đồng kinh tế , chức năng giải
quyết các tranh chấp kinh tế nhằm giúp các bên ký kết và thực hiện hợp đồng kinh
tế theo chỉ tiêu pháp lệnh của Trọng tài kinh tế Nhà nớc đã trở nên lạc hậu , không
còn phù hợp
Thứ hai : Các chủ thể kinh doanh khi tham gia quan hệ hợp đồng hoàn toàn trên
cơ sở tự nguyện , bình đẳng , các bên cùng có lợi vậy mà nếu xảy ra tranh chấp thì
Trọng tài kinh tế Nhà nớc - với t cách là một cơ quan trong bộ máy Nhà nớc - lại
luôn lấy lợi ích của Nhà nớc , lợi ích của cơ quan quản lý làm tiêu chuẩn để xem
xét . Điều này thực sự không thoả mãn đợc nhu cầu về lợi ích của chủ thể kinh
doanh
Thứ ba : Trọng tài kinh tế Nhà nớc , thuộc về hệ thống cơ quan quản lý Nhà n-
ớc , trực thuộc Chính Phủ chứ không phải là một cơ quan trong bộ máy t pháp , bởi
vậy các quyết định của Trọng tài kinh tế không đảm bảo tính cỡng chế Nhà nớc
nên nó không tạo đợc niềm tin đối với các nhà kinh doanh ( đặc biệt là các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh )
Thứ t : Thủ tục tố tụng Trọng tài kinh tế phần nào mang tính áp đặt , hành
chính , thiếu bình đẳng giữa những ngời tham gia tố tụng , vì vậy nó cũng không
còn phù hợp với cơ chế kinh tế mới
4
Với những nhợc điểm , hạn chế nh vậy , Trọng tài kinh tế Nhà nớc không còn
đáp ứng đợc yêu cầu của tình hình và vì vậy không thể tồn tại trong nền kinh tế thị
trờng đợc nữa .
III- Nhu cầu của nền kinh tế thị tr ờng và sự ra đời của Toà án kinh tế
1. Nhu cầu của nền kinh tế thị tr ờng
Nh ta đã biết , Đai hội Đảng VI có ý nghĩ vô cùng to lớn bởi nó đã vạch ra một
hớng đi đúng đắn cho nền kinh tế nớc ta . Hiện nay , nền kinh tế nớc ta là nền kinh
tế nhiều thành phần , sản xuất hàng hoá , vận động theo cơ chế thị trờng , có sự
quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
Với một nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi , cái mới và cái cũ đan xen
nhau thì những vấn đề mới nảy sinh là điều tất yếu
Đầu tiên : Là sự xuất hiện của các thành phần kinh tế mới . Sự ra đời của hàng
loạt các công ty , doanh nghiệp cùng với sự thay đổi về quan hệ kinh tế đã làm phát
sinh các tranh chấp kinh tế mới . Lúc này , các tranh chấp trong kinh doanh không
chỉ bó hẹp trong phạm vi các tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà còn phát sinh các
tranh chấp nh :
- Tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty và giữa thành viên công ty
với nhau liên quan đến việc thành lập , hoạt động , giải thể của công ty.
- Tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu
- Tranh chấp liên quan đến phá sản doanh nghiệp .
Đây là những tranh chấp gắn với nền kinh tế thị trờng mà các toà án nhân dân nớc
ta cha giải quyết , đồng thời nó cũng không thuộc thẩm quyền giải quyết của
Trọng tài kinh tế Nhà nớc . Nh vậy cần phải có một cơ quan nào đó giải quyết các
tranh chấp này . Những tranh chấp trong kinh doanh về bản chất cũng giống nh
tranh chấp về tài sản trong dân sự , tuy nhiên vì nó liên quan đến lĩnh vực kinh
doanh nên nó mang những đặc thù riêng cần phải có một cơ quan tài phán độc lập
giải quyết
Thứ hai : Trong thời gian trớc ,việc khai sinhcho các công ty , doanh nghiệp t
nhân là do Trọng tài kinh tế đảm nhiệm nhng việc khai tử cho các doanh nghiệp
này thì cha có một cơ quan nào đứng ra giải quyết . Trong nền kinh tế thị trờng , có
rất nhiều vấn đề liên quan đến việc phá sản một doanh nghiệp nhất là việc đảm bảo
quyền lợi cho các chủ nợ . Chính vì vậy đòi hỏi phải có một cơ quan đảm nhiệm
việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp và giải quyết các hậu quả của nó.
Thứ ba : Hình thức giải quyết bằng Trọng tài kinh tế Nhà nớc trớc đây đạt hiệu
quả thấp chủ yếu là do tính cỡng chế của các quyết định của Trọng tài kinh tế
không đợc đảm bảo . Trong nền kinh tế thị trờng , các chủ thể kinh doanh đòi hỏi
phải có một phơng thức giải quyết mới đạt hiệu quả cao và thực sự đảm bảo việc
khôi phục lại lợi ích kinh tế của họ
Chính vì những yêu cầu của nền kinh tế thị trờng cùng với yêu cầu của cuộc cải
cách t pháp nên Toà án kinh tế đã ra đời . Chỉ có toà án kinh tế mới đáp ứng đợc
5
những nhu cầu về giải quyết các tranh chấp kinh tế ngày càng đa dạng và phong
phú của cơ chế kinh tế mới .

2. Sự ra đời của Toà kinh tế
Từ khi xác định đợc nhu cầu cần phải ra đời một phơng thức giải quyết tranh
chấp kinh tế mới - đó là Toà kinh tế - thì đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau
về vấn đề này .
Theo quan điểm của Bộ T Pháp thì : Toà kinh tế cần đợc tổ chức thành các toà
chuyên trách thuộc Toà án nhân dân ( Trong đề án tổ chức Toà kinh tế Việt Nam
của Bộ T Pháp 9/1991 ) . Quan điểm này dựa trên cơ sở lý luận : quan hệ kinh
doanh và quan hệ dân sự chủ yếu là quan hệ tài sản mang tính chất hàng tiền , các
bên tham gia quan hệ này không phân biệt thành phần kinh tế đều theo nguyên tắc
tự nguyện , bình đẳng . Vì vậy không cần thành lập Toà kinh tế thành hệ thống
riêng biệt tách khỏi hệ thống Toà án nhân dân
Còn Trọng tài kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh lại đa ra quan điểm : Tổ chức Toà
kinh tế độc lập , tồn tại song song với Toà án nhân dân . Trọng tài kinh tế Thành
Phố Hồ Chí Minh lập luận rằng : quan hệ kinh doanh là một quan hệ rất đa dạng ,
phức tạp và mang những tính chất , đặc điểm riêng khác với các loại quan hệ khác .
Vì vậy cần phải có một cơ quan tài phán riêng , thủ tục giải quyết riêng để giải
quyết những tranh chấp trong lĩnh vực này . Cũng chính từ những tính chất đặc thù
của quan hệ kinh doanh nên các thẩm phán của Toà kinh tế cũng cần có trình độ
hiểu biết và nghiệp vụ kinh tế nhất định trong lĩnh vực kinh doanh . Trọng tài kinh
tế Thành Phố Hồ Chí Minh còn đề nghị chuyển đổi hệ thống Trọng tài kinh tế Nhà
nớc thành hệ thống Toà kinh tế đợc phân cấp từ Toà kinh tế tối cao , Toà kinh tế
cấp tỉnh và Toà kinh tế cấp huyện .
Bên cạnh đó có những quan điểm khác cho rằng : Tổ chức Toà kinh tế trong hệ
thống Toà án nhân dân nhng không phải dới dạng toà chuyên trách nh Toà dân sự ,
Toà hình sự , ... mà dới dạng một hệ thống Toà án có vị trí độc lập tơng đối với Toà
án nhân dân giống nh Toà án quân sự .
Nói chung , dù có tổ chức Toà kinh tế dới hình thức nào thì cũng cần phải đạt đ-
ợc những yêu cầu cơ bản sau:
- Việc tổ chức Toà kinh tế phải xuất phát từ tính chất đặc trng và yêu cầu giải
quyết tranh chấp kinh tế .
- Việc tổ chức Toà kinh tế phải tính đến thực tế phát triển của nền kinh tế .
- Việc tổ chức Toà kinh tế xuất phát từ chức năng , thẩm quyền giải quyết vụ án
kinh tế .
- Việc tổ chức Toà kinh tế quán triệt quan điểm nó là cơ quan tài phán .
Trên tinh thần đó , Quốc Hội khoá IX , kỳ họp thứ t (tháng 12/ 1993 ) đã thông
qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân trong đó
quyết định thành lập Toà kinh tế chuyên trách nằm trong Toà án nhân dân cấp tỉnh
trở lên . Toà kinh tế chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/7/1994 và cũng kể từ
6
ngày 1/7/1994 các cơ quan Trọng tài kinh tế thành lập theo Pháp lệnh Trọng tài
kinh tế ngày 10/ 1/1990 sẽ chấm dứt hoạt động. Đến năm 1995, Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 28.10.1995 càng khẳng
định chủ trơng đúng đắn của việc thành lập Toà kinh tế.
Sự ra đời của Toà kinh tế là một bớc ngoặt lớn trong lịch sử các hình thức giải
quyết tranh chấp kinh tể nớc ta . Về lý luận , Toà kinh tế có thể đáp ứng mọi nhu
cầu của nền kinh tế thị trờng về việc giải quyết các tranh chấp kinh tế và tuyên bố
phá sản doanh nghiệp . Nhng thực tế nó hoạt động có đạt hiệu quả hay không .Để
biết đợc điều này chúng ta hãy cùng nghiên cứu qui chế pháp lý về Toà kinh tế và
những kết quả đạt đợc trong những năm qua.
7
Chơng II : Quy chế pháp lý về Toà kinh tế
Sau khi Trọng tài kinh tế Nhà nớc chấm dứt hoạt động, các tranh chấp kinh tế ở
nớc ta đợc giải quyết theo hai con đờng: Trọng tài và Toà án. Trọng tài kinh tế lúc
này (đợc thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 5.9.1994 của Chính phủ) khác
hẳn so với Trọng tài kinh tế Nhà nớc trớc kia. Với t cách là một tổ chức xã hội
nghề nghiệp, Trọng tài kinh tế đợc tổ chức dới hình thức Trung tâm Trọng tài kinh
tế đặt ở các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ơng, có thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp kinh tế theo thủ tục tố tụng trọng tài. Tuy nhiên trong phạm vi đề án
này chúng ta không tìm hiểu cụ thể về Trọng tài kinh tế mà sẽ nghiên cứu sâu về
Toà kinh tế - Một phơng thức quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế.
Khác với Trọng tài kinh tế (là một tổ chức xã hội nghề nghiệp), Toà kinh tế là toà
chuyên trách nằm trong hệ thống cơ quan tài phán - hệ thống Toà án nhân dân.
Hiện nay, những quy chế pháp lý chung về Toà kinh tế đợc qui định trong Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân đợc Quốc Hội
thông qua ngày 28.10.1995. và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày
16.3.1994.
I- Cơ cấu tổ chức Toà kinh tế

Toà kinh tế không phải là hệ thống Toà án riêng biệt mà là Toà án chuyên trách
nằm trong các Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân tối cao . Nh vậy , cả
nớc ta có 62 Toà kinh tế ( một Toà kinh tế tại Toà án nhân dân tối cao và 61 Toà
kinh tế Toà án nhân dân tỉnh , thành phố trực thuộc trung ơng ) . Còn các Toà án
nhân dân huyện , quận , thị xã thuộc tỉnh thì không có Toà kinh tế . Cơ cấu tổ chức
Toà kinh tế cụ thể nh sau :
1. Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao
Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất nớc Cộng Hoà Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam . Cơ cấu tổ chức theo khoản 2 Điều 17 Luật sửa đổi Luật tổ chức
toà án nhân dân ngày 28. 10.1995 gồm :
- Hội đồng thẩp phán Toà án nhân dân tối cao .
- Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao .
- Toà án quân sự Trung ơng , Toà hình sự , Toà dân sự , Toà kinh tế , Toà lao
động , Toà hành chính và các Toà phúc thẩm .
- Bộ máy giúp việc .
Là một toà chuyên trách , Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao có Chánh toà , các
Phó Chánh toà , Thẩm phán , Th ký toà . Chánh toà , các phó chánh toà do Chánh
án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm , miễn nhiệm hoặc cách chức .
2. Toà kinh tế Toà án nhân dân cấp tỉnh
8
Theo điều 27 khoản 1 Luật sửa đổi Luật tổ chức Toà án nhân dân 28.10.1995 cơ
cấu tổ chức của Toà án nhân dân tỉnh , thành phố trực thuộc Trung ơng gồm :
- Uỷ ban thẩm phán
- Toà hình sự , Toà dân sự , Toà kinh tế , Toà lao động , Toà hành chính
- Bộ máy giúp việc
Cũng nh các toà án chuyên trách khác của Toà án nhân dân cấp tỉnh , Toà kinh tế
có Chánh toà , Phó Chánh toà , các Thẩm phán và Th ký Toà . Chánh toà , Phó
Chánh toà do Chánh án Toà án nhân dân tỉnh , thành phố trực thuộc trung ơng bổ
nhiệm , miễn nhiệm , cách chức .
Tất cả thẩm phán của Toà án nhân dân các cấp cũng nh của các Toà kinh tế đều
do Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán lựa chọn , xem xét và trình chủ tịch nớc bổ
nhiệm hay cách chức . Nhiệm kỳ của Thẩm phán là 5 năm kể từ ngày đợc bổ
nhiệm . Chế định về thẩm phán đợc qui định trong Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội
thẩm Toà án nhân dân ngày 14.5.1993.
II- Thẩm quyền của Toà kinh tế

Nh ta đã biết , Toà kinh tế ra đời là để giải quyết các tranh chấp kinh tế bị khởi
kiện ra Toà ( gọi là vụ án kinh tế ) và những vấn đề mới của nền kinh tế thị trờng .
Cụ thể là , theo Luật sửa đổi , bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân
dân và Luật phá sản doanh nghiệp ngày 30.12.1993 thẩm quyền của Toà kinh tế
bao gồm :
- Xét sử các vụ án kinh tế
- Giải quyết việc phá sản doanh nghiệp .
Trong đó thẩm quyền xét xử các vụ án kinh tế là thẩm quyền chính . Để nghiên
cứu vấn đề này , trớc tiên chúng ta cần phải hiểu thế nào là vụ án kinh tế.
1. Khái niệm vụ án kinh tế
Trên thực tế , cha một văn bản nào đa ra khái niệm chính thức về vụ án kinh tế ,
nhng có thể hiểu khái quát nh sau : vụ án kinh tế là những tranh chấp kinh tế do
một trong các bên khởi kiện ra Toà án kinh tế để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình
Vậy tranh chấp kinh tế đợc hiểu nh thế nào ?
Trong thời kỳ bao cấp , tranh chấp kinh tế thị trờng chỉ đợc thừa nhận thuần tuý
là tranh chấp về việc vi phạm hợp đồng kinh tế
Nhng ngày nay , trong nền kinh tế thị trờng , tranh chấp kinh tế rất đa dạng . Tuy
nhiên những tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án bao gồm
những tranh chấp sau : ( Theo điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh
tế ) .
- Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân , giữa pháp nhân
với cá nhân có đăng ký kinh doanh .
- Tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty , giữa thành viên công ty
với nhau .
9
- Tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu , trái phiếu .
- Tranh chấp kinh tế khác theo qui định của Pháp luật .
Theo công văn số 422/KHXX ngày 18.7.1994 và công văn số 11/KHXX ngày
23.1.1996 hớng dẫn việc áp dụng một số qui định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án kinh tế thì các tranh chấp nói trên đợc hiểu nh sau
a/ Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân , giữa pháp
nhân với cá nhân đăng ký kinh doanh .
Khái niệm pháp nhân đợc hiểu theo qui định của Bộ luật dân sự và các văn bản
quy phạm pháp luật khác nh : Pháp lệnh hợp đồng kinh tế , Nghị định số 17-HĐBT
ngày 16.1.1990 của Hội đồng bộ trởng qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế ...
Khoản 1 điều 1 của Nghi định 17-HĐBT qui định : Pháp nhân là một tổ chức có
đủ các điều kiện sau :
- Đợc thành lập một cách hợp pháp
- Có tài sản riêng và chịu trách nhiệm một cách độc lập về các hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình
- Có quyền tự mình tham gia các quan hệ pháp luật
Thực tê pháp nhân thờng là doanh nghiệp Nhà nớc, công ty cổ phần, Công ty
TNHH, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp đoàn thể
Cũng theo điều 1 Nghị định số 17-HĐBT , khoản 2 ghi : Cá nhân có đăng ký
kinh doanh theo qui định của pháp luật là ngời đã đợc cấp giấy phép kinh doanh và
đã dợc đăng ký kinh doanh tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng qui định về đăng
ký kinh doanh Trong thực tế , đây thờng là các doanh nghiệp t nhân
b/ Các tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty , giữa các thành viên
của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập , hoạt động giải thể công ty
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty
Khái niệm công ty bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn và côg ty cổ phần .
Đây là các tranh chấp về phần vốn góp của mỗi thành viên với công ty trách nhiệm
hữu hạn , về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành đối với công ty cổ phần ,
về quyền đợc chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ vào công ty ... và các vấn đề
khác liên quan đến việc thành lập , hoạt động , giải thể công ty.
- Tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau
Đây là các tranh chấp về việc chuyển nhợng phần vốn góp vào công ty giữa các
thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn , về việc chuyển nhợng cổ phiếu , về
mệnh giá cổ phiếu , số cổ phiếu phát hành và trái phiếu của công ty cổ phần , ...và
cấc vấn đề khác .
c/ Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu
Đây là việc tranh chấp về việc mua bán cổ phiếu , trái phiếu đã phát hành và trái
phiếu , cổ phiếu mới sẽ phát hành của công ty cổ phần .
d/ Các tranh chấp kinh tế khác theo qui định của pháp luật
10
Là các tranh chấp mà trong tơng lai có thể xảy ra và văn bản pháp luật mới qui
định đó là các tranh chấp kinh tế và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
Với cách hiểu về tranh chấp kinh tế nh vậy , thẩm quyền của Toà kinh tế đợc
qui định nh sau :
2. Thẩm quyền của Toà kinh tế .
Theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16.3.1994 , thẩm
quyền của Toà án giải quyết các vụ án kinh tế có thể phân biệt thành .
- Thẩm quyền của Toà án các cấp
- Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ
- Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn
2.1: Thẩm quyền của Toà án các cấp
a/ Thẩm quyền của Toá án nhân dân huyện , quận , thị xã, thành phố thuộc tỉnh
( Toà án cấp huyện ) .
Nh trên đã đề cập ở Toà án cấp huyện không có Toà án kinh tế nhng nh vậy
không có nghĩa là Toà án cấp huyện không có thẩm quyền xét xử các vụ án kinh tế
. ở Toà án nhân dân cấp huyện , có các Thẩm phán kinh tế chuyên trách làm
nhiệm vụ giải quyết các vụ án kinh tế . Theo điều 13 khoản 1 Pháp lệnh thủ tục
giải các vụ án kinh tế ,Toà án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm những tranh chấp hợp đồng kinh tế mà giá trị tranh chấp dới 50 triệu đồng ,
trừ trờng hợp có nhân tố nớc ngoài
Nh vậy , những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp huyện
phải có đủ 3 điều kiện sau :
-Phải là tranh chấp hợp đồng kinh tế
-Giá trị tranh chấp dới 50 triệu đồng
-Không có nhân tố nớc ngoài
Tranh chấp hợp đồng kinh tế ở đây đợc hiểu theo điều 13 khoản 1 của Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế . Tức là tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa
pháp nhân với pháp nhân , giữa pháp nhân với cá nhân đăng ký kinh doanh .
Mọi tranh chấp khác nh tranh chấp về chứng khoán ,về quảng cáo , ... hoặc tranh
chấp có yếu tố nớc ngoài thì dù giá trị tranh chấp nhỏ hơn 50 triệu đồng vẫn không
thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Toà án cấp huyện .
b/ Thẩm quyền của Toà án nhân dân tỉnh , thành phố trực thuộc Trung ơng (toà
án kinh tế cấp tỉnh ) .
* Thẩm quyền của Toà kinh tế Toà án nhân dân cấp tỉnh
Theo Luật sửa đổi , bổ sung Luật tổ chức Toà án nhân dân và Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế , Toà kinh tế Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền .
- Sơ thẩm tất cả các vụ án kinh tế theo qui định tại Điều 12 của Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế , trừ các vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện
.
Tuy nhiên , trong trờng hợp cần thiết , có thể lấy lên để giải quyết vụ án kinh tế
thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện .
11
- Phúc thẩm những vụ án kinh tế mà bản án , quyết định sơ thẩm cha có hiệu lực
pháp luật của Toà án cấp dới bị kháng cáo kháng nghị theo qui định của pháp luật
tố tụng .
- Giải quyết việc phá sản doanh nghiệp theo qui định của pháp luật
Tóm lại , thẩm quyền của Toà kinh tế Toà án nhân dân cấp tỉnh đợc qui định khá
rộng , bao trùm hầu hết các vụ án kinh tế .
* Thẩm quyền của ủy ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh đối với các vụ án
kinh tế là : giám đốc thẩm , tái thẩm những vụ án , quyết định đã có hiệu lực của
pháp luật của Toà án cấp dới bị kháng nghị .
c/ Thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao
* Thẩm quyền của các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao trong việc giải
quyết các vụ án kinh tế
Các thẩm pháp kinh tế ở các Toà phúc thẩm có thẩm quyền
- Phúc thẩm các vụ án mà bản án , quyết định sơ thẩm của Toà kinh tế Toà án
nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo ,kháng nghị .
- Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của Toà án nhân dân cấp tỉnh về
tuyên bố phá sản
Quyết định của các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao là quyết định cuối
cùng .
* Thẩm quyền của Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao là :
Giám đốc thẩm , tái thẩm những vụ án mà bản án , quyết định đã có hiệu lực
pháp luật bị kháng nghị theo qui định của pháp luật tố tụng .
* Thẩm quyền của Uỷ ban thẩm phán , Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao là giám đốc thẩm tái thẩm những vụ án mà bản án , quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của các Toà án cấp dới
2.2: Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ
Điều 14 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế qui định: Toà án có thẩm
quyền xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế là Toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc c trú ,
trong trờng hợp vụ án chỉ liên quan đến bất động sản thì Toà án nơi có bất động
sản giải quyết .
2.3: Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn .
Thẩm quyền này đợc qui định tại điều 15 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
kinh tế
Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án để yêu cầu giải quyết vụ án trong các tr-
ờng hợp sau đây :
- Nếu không biết rõ trụ sở hoặc nơi c trú của bị đơn , thì nguyên đơn có thể yêu
cầu Toà án nơi có tài sản , nơi có trụ sở hoặc nơi c trú cuối cùng của bị đơn giải
quyết vụ án ;
12

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×