Tải bản đầy đủ

Giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư.DOC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
HĐND: Hội đồng nhân dân.
KT – XH: Kinh tế - xã hội.
GPMB: Giải phóng mặt bằng.
QSDĐ: Quyền sử dụng đất.
VLXD: Vật liệu xây dựng.
TTCN: Tiểu thủ công nghiệp.
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn.
UBND: Ủy ban nhân dân.
XDCB: Xây dựng cơ bản.

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đầu tư xây dựng cơ bản là một hoạt động đầu tư vô cùng quan trọng,
tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, là tiền
đề cơ bản để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản là một hoạt động quản lý kinh tế đặc thù, phức tạp và luôn
luôn biến động nhất là trong điều kiện môi trường pháp lý, các cơ chế chính
sách quản lý kinh tế còn chưa hoàn chỉnh thiếu đồng bộ và luôn thay đổi như
ở nước ta hiện nay.

Vũ Thư là một trong tám huyện thuộc tỉnh Thái Bình – là một tỉnh
nông nghiệp, có truyền thống cách mạng. Đóng góp vào sự thành công của sự
nghiệp đổi mới nền kinh tế Thái Bình nói chung và thay đổi bộ mặt của Vũ
Thư nói riêng phải kể đến vai trò của các công tụ tài chính trong việc phân bổ
và sử dụng hợp lý các nguồn lực và vai trò của các giải pháp kinh tế tài chính,
góp phần tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà
nước trên địa bàn huyện Vũ Thư.
Tuy nhiên, trong vài năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế còn chậm,
khối lượng vốn đầu tư được huy động rất hạn hẹp so với nhu cầu vốn đầu tư.
Mặt khác, tình trạng thất thoát, lãng phí trong hoạt động đầu tư XDCB còn
diễn ra khá phổ biến trên phạm vi cả nước, làm cho vốn đầu tư sử dụng đạt
hiệu quả thấp. Đây là một vấn đề ngày càng trở nên bức xúc và là điều đáng
lo ngại cần được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước nói chung và các cấp, các
ngành trên địa bàn huyện Vũ Thư nói riêng.
Để khắc phục tình trạng trên, em xin chọn đề tài: “Giải pháp nhằm
tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
trên địa bàn huyện Vũ Thư” để nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
- Khái quát hoá, hệ thống hoá các vấn đề lý luận chung nhất thuộc lĩnh
vực hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư.
- Đánh giá những thành công, những hạn chế và nguyên nhân của
những hạn chế trong hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà
nước giai đoạn 2004 – 2007 trên địa bàn huyện Vũ Thư.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể, thiết thực góp phần tăng cường quản lý
vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư trong giai đoạn
2008 – 2010.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: là hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư xây
dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nước.
Phạm vi nghiên cứu: là địa bàn huyện Vũ Thư.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài đã sử sụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và thống kê, phân tích.
5. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở bài và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương:
- Chương I: Một số vấn đề chung về vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách Nhà nước.
- Chương II: Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân
sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư giai đoạn 2004 – 2007.

- Chương III: Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý vốn
đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư
giai đoạn 2008 – 2010.
6. Lời cảm ơn.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do
trình độ và thời gian còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo. Em xin chân thành
cảm ơn sự giúp đỡ của các cô chú, các anh chị tại phòng Tài chính – Kế
hoạch huyện Vũ Thư, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của GS.TS Đàm Văn
Nhuệ trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu này.

CHƯƠNG I:MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
1.1. Khái niệm đầu tư và đặc điểm của hoạt động đầu tư.
1.1.1. Khái niệm đầu tư.
Đầu tư là hoạt động kinh tế gắn với việc sử dụng vốn dài hạn nhằm
mục đích sinh lợi.
Vốn đầu tư bao gồm các dạng sau:
- Tiền tệ các loại.
- Hiện vật hữu hình: tư liệu sản xuất, tài nguyên.
- Hàng hóa vô hình: sức lao động, công nghệ, thông tin, nhãn
hiệu, bằng phát minh, biểu tượng uy tín hàng hóa...
- Các phương tiện đặc biệt khác: cổ phiếu, hối phiếu, vàng bạc,
đá quý...
Hai đặc trưng cơ bản của đầu tư là tính sinh lợi và thời gian kéo dài.
Tính sinh lợi là đặc trưng hàng đầu của đầu tư. Không thể coi là đầu tư,
nếu việc sử dụng tiền vốn không nhằm mục đích thu lại một khoản tiền có giá
trị lớn hơn khoản tiền đã bỏ ra ban đầu.
Như vậy đầu tư khác với:
+ Việc mua sắm, cất trữ, để dành.
+ Việc mua sắm nhằm mục đích tiêu dùng, dẫu hàng ngày ta thường
nói “tôi sẽ đầu tư một chiếc tủ lạnh cá nhân” hoặc “đầu tư một chiếc ô tô cho
gia đình” nhưng đó chỉ là một cách nói bởi trong việc này tiền của không sinh
lời mf ngược lại.

+ Việc chi tiêu vì những lý do nhân đạo hoặc tình cảm.
...
Đặc trưng thứ hai của đầu tư là kéo dài thời gian, thường từ 2 năm tới
70 năm hoặc có thể lâu hơn nữa. Những hoạt động kinh tế ngắn hạn thường
trong vòng một năm không gọi là đầu tư. Đặc điểm này cho phép phân biệt
hoạt động đầu tư và hoạt động
kinh doanh. Kinh doanh thường được coi là một giai đoạn của đầu tư. Như
vậy đầu tư và kinh doanh thống nhất ở tính sinh lời nhưng khác nhau ở thời
gian thực hiện; kinh doanh là một trong những nhân tố quan trọng để nâng
cao hiệu quả đầu tư.
1.1.2. Phân loại đầu tư
Để tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách đầu tư cần
phải tiến hành phân loại các hoạt động cũng như hình thức đầu tư. Để phân
loại các hoạt động đầu tư người ta căn cứ vào một số tiêu thức :
* Phân loại theo lĩnh vực đầu tư.
Phân làm 2 loại :
- Đầu tư vào lĩnh vực sản xuất : Đó là hoạt động đầu tư trong các doanh
nghiệp, cơ sở kinh tế có hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp bao gồm đầu
tư xây dựng mới, cải tiến công nghệ, đầu tư mở rộng.
- Đầu tư vào lĩnh vực phi sản xuất: Lĩnh vực không sản xuất ra sản
phẩm hàng hoá trực tiếp: văn hoá, giáo dục, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà
nước, cơ sở hạ tầng.
* Phân loại theo thời gian thực hiện đầu tư.
Người ta chia thành 3 loại :

- Đầu tư ngắn hạn: Là đầu tư có thời gian tích luỹ dưới 1 năm
- Đầu tư trung hạn: Là đầu tư có thời gian từ 1-5 năm
- Đầu tư dài hạn: Là đầu tư có thời gian trên 5 năm
* Phân loại theo quan hệ sở hữu của Chủ đầu tư với hoạt động đầu tư
: Phân làm 2 loại : Đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp.
- Đầu tư gián tiếp: Đây là hình thức đầu tư bằng cách mua các chứng
chỉ có giá như : Cổ phiếu, trái phiếu với số lượng giới hạn. Với hình thức đầu
tư này người bỏ vốn không trực tiếp tham gia công việc quản trị kinh doanh.
- Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn đồng thời là
người trực tiếp tham gia quản lý giá trị kinh doanh (Giá trị trực tiếp hoặc có
quyền lựa chọn những giá trị trực tiếp).
Đầu tư trực tiếp được phân ra làm 2 loại: Đầu tư chuyển dịch và đầu tư phát
triển.
+ Đầu tư chuyển dịch : Về hình thức đầu tư chuyển dịch cơ bản giống
như đầu tư gián tiếp hay đầu tư tài chính tức là cũng thông qua việc mua các
cổ phiếu nhưng ở đây là mua lại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán chứ
không phải mua lần đầu và để có thể thực hiện được hình thức này Nhà đầu tư
phải mua lại hay nắm giữ một khối lượng cổ phiếu đủ lớn để có thể tham gia
được (Có chân) trong Hội đồng quản trị. Trong hình thức đầu tư này Tổng tài
sản của doanh nghiệp là không tăng mà chỉ có sự thay đổi về quyền sở hữu tài
sản trong doanh nghiệp từ tay người này sang tay người khác.
+ Đầu tư phát triển: Là hình thức đầu tư mà thông qua việc xây dựng
mới , mở rộng quy mô công suất, đổi mới ứng dụng công nghệ kỹ thuật để
thay đổi về mặt chất hoặc mặt lượng các tài sản cố định và năng lực sản xuất
nói chung. Từ đó mà tiến hành ổn định phát triển kinh doanh nhằm thu được

lợi nhuận hoặc nhằm đạt được lợi ích kinh tế xã hội. Chỉ có đầu tư phát triển
mới là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra các năng lực sản xuất mới, tạo ra nhiều
việc làm và là nguồn động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
* Phân loại theo tính chất bao gồm :
- Các hoạt động đầu tư hữu hình vào tài sản có hình thái vật chất cụ thể
( máy móc, nhà xưởng, dụng cụ, nhà cửa vv ...)
- Các hoạt động đầu tư vô hình (bằng phát minh sáng chế, Chi tiêu về
nghiên cứu phát triển, về đào tạo ...)
- Các hoạt động đầu tư về tài chính ( Tham gia góp vốn )
* Phân loại theo mục đích đầu tư bao gồm :
- Đầu tư mới: là hình thức đưa toàn bộ vốn đầu tư xây dựng một công
trình mới hoàn toàn.
- Đầu tư mở rộng: là hình thức đầu tư nhằm mở rộng công trình cũ hoặc
tăng thêm mặt hàng, tăng khả năng phục vụ cho nhiều loại đối tượng so với
nhiệm vụ ban đầu.
- Đầu tư cải tạo công trình đang hoạt động: đầu tư này gắn liền với việc
trang bị lại và tổ chức lại toàn bộ hay một bộ phận doanh nghiệp đang hoạt
động, được thực hiện theo một thiết kế duy nhất, không bao gồm việc xây
dựng mới hay mở rộng các bộ phận
sản xuất chính đang hoạt động hoặc có thể xây dựng mới hoặc mở rộng các
công trình phục vụ hay phụ trợ.
- Đầu tư hiện đại hóa công trìng đang sử dụng: gồm các đầu tư nhằm
thay đổi, cải tiến các thiết bị công nghệ và các thiết bị khác đã bị hao mòn
(hữu hình và vô hình) trên cơ sơ kỹ thuật mới và nhằm nâng cao các thông số
kỹ thuật của các thiết bị đó.

Thông thường hiện đại hóa và cải tạo tiến hành đồng thời vì vậy tính toán đầu
tư chỉ xem trọng 3 trường hợp: đầu tư mới, đầu tư mở rộng và đầu tư cải tạo,
hiện đại hóa.
1.1.3. Đặc điểm hoạt động đầu tư.
Thứ nhất: Đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản cho sự phát triển
và sinh lợi. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng và sinh lợi, trong
đó có yếu tố đầu tư. Nhưng để bắt đầu một quá trình sản xuất, tái sản xuất mở
rộng, trước hết phải có vốn đầu tư. Nhờ sự chuyển hoá vốn đầu tư thành vốn
kinh doanh kết hợp các yếu tố khác, các tổ chức kinh doanh tiến hành hoạt
động, từ đó tạo ra tăng trưởng và sinh lợi, vốn đầu tư được coi là một trong
những yếu tố cơ bản nhất. Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng
của đầu tư trong quá trình phát triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quan
trọng kích thích các nhà đầu tư nhằm mục đích sinh lời.
Thứ hai: Đầu tư đòi hỏi một khối lượng vốn lớn. Khối lượng vốn đầu tư
lớn là yếu tố khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất và kỹ thuật cần
thiết đảm bảo cho yếu tố tăng trưởng và phát triển như: Xây dựng một hệ
thống kết cấu hạ tầng (KCHT), xây dựng các cơ sở khu công nghiệp, cụm
công nghiệp, công nghiệp, chế biến... Đầu tư cho các lĩnh vực đó đòi hỏi
lượng vốn đầu tư bỏ rất lớn, vì vậy nếu không sử dụng vốn có hiệu quả sẽ gây
nhiều phương hại đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba: Quá trình đầu tư xây dựng cơ bản phải được trải qua một thời
gian lao động rất dài mới có thể đưa vào khai thác, sử dụng được, do thời gian
hoàn vốn kéo dài vì sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản mang tính đặc biệt và
tổng hợp, sản xuất không theo một dây chuyền hàng loạt, mà mỗi công trình,
mỗi dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau cụ thể như sau:

- Sản phẩm của xây dựng thường cố định, đó là công trình gắn liền với
đất.
- Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp có tính chất tổng
hợp về kinh tế, chính trị, kỹ thuật, nghệ thuật... Thời gian để hoàn thành một
quá trình xây dựng thường dài, phụ thuộc vào quy mô, tính chất của sản
phẩm.
- Quá trình thi công xây dựng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố tự nhiên:
Nắng, mưa, bão, gió... Vì vậy điều kiện sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định,
luôn luôn biến động và thường bị gián đoạn. Đặc điểm này đòi hỏi trong quá
trình tổ chức thi công xây dựng phải có kế hoạch tổ chức, phân công hợp lý
nhằm tận dụng triệt để máy móc thiết bị, vật tư lao động... hạn chế tối đa
những thay đổi không hợp lý, có biện pháp tổ chức lao động một cách khoa
học.
- Sản phẩm xây dựng được tiến hành theo đơn đặt hàng cụ thể: Để xây
dựng được một công trình phải dựa vào các hợp đồng kinh tế đã ký giữa các
bên liên quan.
- Cơ cấu quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp. Trong quá trình thi
công xây dựng thường có nhiều đơn vị tham gia xây dựng, mặt bằng thi công
chật hẹp, yêu cầu thi công đòi hỏi rất nghiêm ngặt về trình độ kỹ thuật. Quá
trình đầu tư thường bao gồm 3 giai đoạn: Xây dựng dự án, thực hiện dự án, và
khai thác dự án. Giai đoạn xây dựng dự án và giai đoạn thực hiện dự án là hai
giai đoạn tất yếu của quá trình đầu tư, thời gian kéo dài mà không tạo ra sản
phẩm. Vì vậy, một số nhà kinh tế cho rằng đầu tư là quá trình làm bất động
hoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này, cho
nên muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cần chú ý các điều kiện đầu

tư có trọng điểm nhằm đưa nhanh dự án vào khai thác, sử dụng và phát huy
hiệu quả đồng vốn đầu tư bỏ ra.
Khi xét hiệu quả đầu tư cần quan tâm xem xét toàn bộ ba giai đoạn của
quá trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch chỉ tập trung vào giai đoạn thực
hiện dự án mà không chú ý vào thời gian khai thác dự án.
Do chu kỳ sản xuất xây dựng kéo dài nên việc hoàn vốn được các nhà
đầu tư đặc biệt quan tâm, đó là phải lựa chọn trình tự bỏ vốn thích hợp để
giảm đến mức tối đa thiệt hại do ứ đọng vốn ở sản phẩm dở dang. Việc coi
trọng hiệu quả kinh tế do đầu tư mang lại là rất cần thiết nên phải có phương
án lựa chọn tối ưu, đảm bảo trình tự xây dựng cơ bản. Thời gian hoàn vốn là
một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đo lường, đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn đầu tư.
Thứ tư: Đầu tư là một lĩnh vực có rủi ro lớn. Rủi ro trong lĩnh vực đầu
tư xây dựng cơ bản chủ yếu là do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài.
Trong thời gian này các yếu tố kinh tế, chính trị và cả tự nhiên biến động sẽ
gây nên những thất thoát lãng phí, gọi chung là những tổn thất mà các nhà
đầu tư không lường được hết khi lập dự án. Các yếu tố bão lụt, động đất,
chiến tranh... có thể tàn phá các công trình được đầu tư. Sự thay đổi cơ chế
chính sách của nhà nước như: Thay đổi chính sách thuế, thay đổi mức lãi suất,
thay đổi nguồn nhiên liệu, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cũng có thể gây nên
thiệt hại cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, những nhà đầu tư dám mạnh dạn đầu
tư thì họ cũng phải lựa chọn những biện pháp nhằm tránh hoặc hạn chế được
rủi ro, khi đó họ sẽ thu được những món lời lớn, và đây là niềm hi vọng kích
thích các nhà đầu tư.
Những đặc điểm của hoạt động đầu tư trên đây sẽ là cơ sở khoa học
giúp cho việc đề xuất những biện pháp quản lý vốn đầu tư thích hợp, hữu hiệu

nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của quá trình đầu tư xây
dựng cơ bản.
1.1.4. Vị trí, vai trò của đầu tư đối với sự phát triển nền kinh tế.
- Đầu tư cơ bản là yếu tố quyết định đến trình độ kinh tế của mỗi nước:
Đầu tư tạo ra tài sản cố định, đầu tư khoa học công nghệ để có sự thay
đổi về chủng loại và chất lượng sản phẩm.
Trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước chủ yếu được đánh giá thông
qua 2 chỉ tiêu: Thu nhập bình quân đầu người và mức độ tăng trưởng kinh tế
hàng năm. Để đạt được 2 yếu tố này không còn con đường nào khác là phải
tiến hành đầu tư vào các tài sản cố định, đầu tư vào nghiên cứu khoa học, kỹ
thuật công nghệ để không ngừng nâng cao năng lực sản xuất xã hội, từ đó tạo
cơ sở cho sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh hơn. Có thể nói “ Đầu tư cho
hiện tại quyết định thành công về phát triển kinh tế trong tương lai ” Đầu tư
phát triển là động lực phát triển của nền kinh tế, hiệu qủa đầu tư quyết định
đến sự phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia.
- Đầu tư cơ bản cải biến cơ cấu nền kinh tế và góp phần tạo ra cơ cấu
kinh tế hợp lý:
* Cơ cấu kinh tế: là sự phân chia các ngành nghề, các lĩnh vực trong
nền kinh tế về mặt tỷ trọng.
Trong từng thời kỳ: căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế của đất
nước, căn cứ vào tình hình thực tế, căn cứ vào khả năng tích luỹ vốn cho đầu
tư nhà nước sẽ đặt ra chiến lược đầu tư cụ thể cho các ngành, các địa phương
các lĩnh vực cụ thể là ngành nào, lĩnh vực nào, địa phương nào sẽ được đầu tư
bao nhiêu, sẽ ưu tiên cho dự án nào, cắt giảm dự án nào. Việc làm này sẽ làm
cho số lượng, chất lượng tài sản cố định của ngành đó ưu tiên tăng lên trong

khi đó ngành khác bị cắt giảm thì xu hướng sản xuất sẽ giảm đi. Thông qua
công cụ đầu tư làm thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Như
vậy đầu tư đã trực tiếp điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên bình diện quốc gia và ở
từng địa phương.
* Cơ cấu kinh tế hợp lý: là cơ cấu được bảo đảm sự phân chia trong
các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế sao cho phát huy tốt nhất, khai thác
triệt để nhất mọi tiềm năng về tài nguyên, về vốn, về lao động cũng như các
thế mạnh của các ngành. Cơ cấu kinh tế hợp lý còn tạo ra các điều kiện thuận
lợi cho quá trình phát triển kinh tế trong giai đoạn tiếp theo.
Thông qua nhiều công cụ khác như công cụ về tài chính (thuế suất) tiền
tệ (lãi suất) và công cụ về đầu tư nhà nước trong từng thời kỳ có thể ưu tiên
dành vốn đầu tư cho những ngành quan trọng, những ngành mà nhà nước có
thế mạnh có khả năng đóng góp lớn vào nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế,
từ đó từng bước tạo ra được cơ cấu kinh tế hợp lý trong từng thời kỳ.
- Đầu tư cơ bản tạo điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Ở các nước khác nhau có tài nguyên có tiềm lực về lao động phong
phú, nhưng không tự khai thác được do thiếu vốn. Ngược lại có những
nướckhông có tài nguyên nhưng có vốn lớn, có tiềm năng về khoa học kỹ
thuật, trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, dẫn đến tìm miền đất mới để đầu
tư, nhằm tìm kiếm lợi nhuận, hai bên cùng hợp tác và cùng có lợi.
Đầu tư là nhịp cầu nối liền giữa các quốc gia trên thế giới về các lĩnh
vực tài nguyên, lao động, khoa học công nghê, hợp tác liên danh với nhau để
cùng nhau thúc đẩy nền kinh tế mỗi nước phát triển mở rộng sự hợp tác đầu
tư quốc tế. Xu hướng kết hợp hợp tác đầu tư quốc tế có tính chất toàn cầu.
Tóm lại, mỗi một quốc gia mỗi một khu vực trên thế giới có sức mạnh
riêng về tài nguyên, vốn , kỹ thuật, công nghệ, lao động vv… Sự phân bổ các

tài nguyên này thường là không đều các nước có vốn có kỹ thuật công nghệ
lại có thể thiếu lao động (hoặc chi phí lao động cao) thiếu nguồn nguyên vật
liệu, thị trường tiêu thụ bão hoà, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trong
khi đó ở một số nước khác có tình trạng ngược lại, vì vậy để khai thác được
thế mạnh mỗi bên tất yếu các nước phải phối hợp với nhau trong hoạt động
đầu tư quốc tế. Kết quả là những công trình, dự án có tham gia của một hay
nhiều bên thông qua hợp đồng đầu tư này các nước phát triển có được nguồn
nguyên vật liệu mới, có nơi sử dụng đồng vốn đầu tư có khả năng sinh lợi
cao, có được thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn, cón có thế bán được công
nghệ kỹ thuật bát đầu lỗi thời. Ngược lại các nước chậm phát triển sẽ khai
thác được tài nguyện của mình góp phần phát triển nền kinh tế tạo ra nhiều
việc làm thông qua đó còn học tập được các công nghệ kỹ thuật mới và các
kinh nghiệm quản lý tiên tiến trong các doanh nghiệp. Việt Nam là một trong
các nước chậm phát triển, đòi hỏi sự phát triển nhanh và mạnh trong thời gian
ngắn thì mới có thể đuổi kịp được các quốc gia lân cận. Tích luỹ vốn của
nước ta còn rất hạn chế vì vậy Việt Nam cần mở rộng việc gọi vốn và hợp tác
đầu tư quốc tế đây là một nguồn lực quan trọng để phát triển nền kinh tế nước
ta trong thời gian hiện tại và một số năm tới. Việt Nam có một số thế mạnh để
gọi vốn nước ngoài đó là:
- Vị trí địa lý kinh tế thuận lợi nằm ở trung tâm phát triển kinh tế thế
giới (Đông nam á, các nước Asian) có bờ biển dài thuận lợi cho việc giao
thương hàng hải, là cửa ngõ của các quốc gia nằm trong lục địa.
- Việt nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên khoáng sản tương đối
phong phú.
- Có lực lượng lao động dồi dào (chi phí thấp) rất thuận lợi cho các
ngành sử dụng nhiều lao động sống.

- Việt nam có một chế độ chính trị xã hội ổn định, an ninh tốt.
Những yếu tố trên là tiền đề kêu gọi vốn hợp tác đầu tư quốc tế. Thực
tế các năm qua lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam ngày càng nhiều,
riêng năm 2006 đã đạt trên 9 tỷ đô la đã chứng tỏ điều đó.
1.2. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
1.2.1. Khái niệm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản và nguồn vốn
đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
- Vốn đầu tư: Là số vốn được sử dụng để thực hiện mục đích đầu tư đã
dự định, là yếu tố tiền đề của mọi quá trình đầu tư.
- Vốn đầu tư có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là: Vốn được biếu hiện bằng giá trị của nguồn tài sản. Có nghĩa là
vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và tài sản vô
hình.
Hai là: Vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định. Do vậy, nếu ở đâu
không xác định được đúng chủ sở hữu vốn, thì ở đó việc sử dụng vốn sẽ lãng
phí kém hiệu quả.
Ba là: Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là hàng hoá đặc biệt.
Vốn là hàng hoá vì: cũng giống như các hàng hoá khác, nó có giá trị và giá trị
sử dụng. Có chủ sở hữu và là một giá trị đầu vào của quả trình sản xuất. Nó là
hàng hoá đặc biệt vì : Thứ nhất, nó có thể tách rời quyền sở hữu vốn và quyền
sử dụng vốn. Thứ hai, vốn là yếu tố đầu vào phải tính chi phí như các hàng
hoá khác; nhưng bản thân nó lại được cấu thành trong đầu ra của nền kinh tế.
Thứ ba, chí phí vốn phải được quan niệm như chi phí khác (vật liệu, nhân
công, máy ...) kể cả trong trường hợp vốn tự có bỏ ra.

Bốn là: Vốn có giá trị về mặt thời gian. Ở tại các thời điểm khác nhau
thì giá trị của đồng vốn cũng khác nhau. Đồng tiền càng dàn trải theo thời
gian, thì nó càng bị mất giá, độ rủi ro càng lớn. Bởi vậy khi thẩm định (hay
xác định) hiệu quả của một dự án đầu tư người ta phải đưa các khoản thu và
chi về cùng một thời điểm để đánh giá và so sánh.
Năm là: Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ
sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh.
Sáu là: Vốn phải vận động trong đầu tư kinh doanh và sinh lãi. Vốn
được biểu hiện bằng tiền, nhưng chưa hẳn tiền là vốn. Tiền chỉ là dạng tiềm
năng của vốn, để tiền trở thành vốn, thì đồng tiền đó phải vận động trong môi
trường của hoạt động đầu tư, kinh doanh và sinh lãi.
Từ những phân tích trên đây ta có thể khái niệm về vốn đầu tư như sau:
Vốn đầu tư là giá trị tài sản xã hội (bao gồm tài sản tài chính, tài sản
hữu hình, tài sản vô hình) được bỏ vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trong
tương lai.
- Nguồn vốn đầu tư:
Nước ta đang trên con đường hội nhập và phát triển. Vốn là yếu tố quan
trọng nhất đối với sự phát triển là tăng trưởng kinh tế. Là một trong những
nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Vốn đầu tư phát triển kinh tế được hình thành từ hai nguồn: Nguồn vốn
trong nước và nguồn vốn ngoài. Ngày nay, trong điều kiện quốc tế hoá đời
sống KT – XH, mở cửa và hội nhập, hầu hết các quốc gia đều kết hợp huy
động cả hai nguồn vốn trên. Đối với nước ta và các nước đang phát triển khac
có tốc độ tăng trưởng chậm, thu nhập bình quân đầu người thấp, nguồn vốn
tiết kiệm so với GDP còn hạn hẹp, thì việc kết hợp huy động vốn nước ngoài

với vốn trong nước là rất cần thiết, trong đó vốn trong nước giữu vai trò chủ
đạo. Điều đó không những khắc phục được tình trạng thiếu vốn mà còn có
điều kiện tiếp thu được công nghệ hiện đại của nước ngoài; nâng cao trình độ
quản lý và tăng thêm việc làm.
+ Nguồn vốn nước ngoài huy động cho đầu tư XDCB thông qua: vay
nợ, nhận viện trợ, hoặc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) ...
+ Nguồn vốn trong nước là toàn bộ nguồn lực của một quốc gia có thể
huy động vào đầu tư, thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước.
Nguồn vốn trong nước bao gồm: nguồn tiết kiệm, nguồn nhân lực, nguồn tài
nguyên thiên nhiên và nguồn vốn vô hình.
1.2.2. Vị trí vai trò của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với
đầu tư xây dựng cơ bản.
Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế và một phạm trù lịch sử.
Sự hình thành và phát triển của ngân sách Nhà nước gắn liền với sự xuất hiện
và phát triển của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ trong phương thức sản xuất của
các cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác sự ra đời của
Nhà nước, sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ là tiền đề cho sự phát
sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách Nhà nước.
Nói đến nguồn vốn là nói đến nguồn gốc xuất xứ để có được vốn đó.
Đứng trên giác độ một chủ dự án, để hình thành một dự án đầu tư xây dựng
có thể sử dụng các nguồn vốn sau đây:
- Nguồn vốn ngân sách Nhà nước.
- Nguồn vốn vay.
- Nguồn vốn tự bổ sung.
- Nguồn động viên trong quá trình xây dựng công trình.

Nguồn vốn của ngân sách Nhà nước là một bộ phận vốn đầu tư xây
dựng cơ bản được nhà nước tập trung vào ngân sách Nhà nước dùng để đầu tư
xây dựng công trình theo mục tiêu phát triển kinh tế của nhà nước cho đầu tư
xây dựng cơ bản. Trong mỗi thời kỳ, tùy vào điều kiện lịch sử cụ thể và
nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước mà nguồn vốn ngân sách
Nhà nước bố trí cho đầu tư xây dựng cơ bản với tỷ lệ khác nhau.
Hiện nay nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước được bố trí trực tiếp cho
các công trình văn hoá, y tế, giáo dục, quản lý nhà nước, cơ sở hạ tầng và
những công trình trọng điểm quan trọng, có ý nghĩa làm thay đổi cơ cấu kinh
tế của cả nước, của vùng lãnh thổ và địa phương.
Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước là quá trình nhà
nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tập trung được dưới hình thức: Thuế,
phí, lệ phí... để đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hoá xã hội.
Các khoản chi này có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
Với ý nghĩa đó người ta coi khoản chi này là chi cho tích luỹ.
Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi được ưu tiên hàng đầu trong
tổng chi ngân sách Nhà nước. Chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Nhà
nước là quá trình sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tập trung vào ngân
sách Nhà nước nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng,
từng bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế.
Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước được thực hiện hàng năm
nhằm mục đích để đầu tư xây dựng các công trình, kết cấu hạ tầng kinh tế,
văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, các công trình không có khả năng thu
hồi vốn.
Để quản lý có hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà
nước chúng ta cần tiến hành phân loại khoản chi này. Phân loại các khoản chi

là việc sắp xếp các khoản chi có cùng mục đích, cùng tính chất thành loại chi.
Chúng ta có thể phân loại chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước
theo các tiêu thức sau:
+ Xét theo hình thức tài sản cố định, chi đầu tư xây dựng cơ bản gồm:
- Chi xây dựng mới: Đó là các khoản chi để xây dựng mới các công
trình, dự án mà kết quả là làm tăng thêm tài sản cố định, tăng thêm năng lực
sản xuất mới của nền kinh tế quốc dân. Đây là khoản chi có tỷ trọng lớn.
- Chi cải tạo sửa chữa: Đó là khoản chi nhằm phục hồi hoặc nâng cao
năng lực của những công trình dự án đã có sẵn.
+ Xét theo cơ cấu công nghệ vốn đầu tư, chi đầu tư xây dựng cơ bản
bao gồm:
- Chi xây lắp: đó là các khoản chi để xây dựng lắp gép các kết cấu kiến
trúc và lắp đặt thiết bị vào đúng vị trí và theo đúng thiết kế đã được duyệt.
- Chi thiết bị: đó là các khoản chi cho mua sắm máy móc thiết bị bao
gồm cả chi phí vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, chi phí bảo dưỡng tại kho, bãi ở
hiện trường cũng như các chi phí liên quan về thuế và bảo hiểm thiết bị.
- Chi kiến thiết cơ bản khác: đây là khoản chi đảm bảo điều kiện cho
quá trình xây dựng, lắp đặt và đưa dự án đi vào sử dụng. Nó bao gồm các
khoản chi như: chi chuẩn bị đầu tư, chi khảo sát thiết kế, chi quản lý dự án ...
+ Xét theo giai đoạn đầu tư, chi đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm:
- Chi cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư: là những khoản chi để xác định sự
cần thiết phải đầu tư, quy mô đầu tư, điều tra khảo sát thăm dò và lực chọn
địa điểm xây dựng, lập dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư và quyết đinh
đầu tư.

- Chi phí cho giai đoạn thực hiện và kết thúc xây dựng, đưa dự án vào
khai thác sử dụng. Đây là khoản chi liên quan đến quá trình xây dựng từ khi
khởi công đến khi hoàn thành dự án đưa vào khai thác sử dụng.
1.2.3. Đặc điểm chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản.
Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước có đặc điểm sau:
Một là: Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi lớn của ngân sách Nhà
nước nhưng không mang tính ổn định.
Hai là: Chi đầu tư xây dựng cơ bản gắn liền với đặc điểm xây dựng cơ
bản và công tác xây dựng cơ bản.
1.3. Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
1.3.1. Nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
1.3.1.1. Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
* Chủ thể quản lý: là tổng thể các cơ quan quản lý sử dụng vốn đầu tư
XDCB của Nhà nước với cơ cấu tổ chức nhất định.
* Đối tượng quản lý: chính là vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước
(xét về mặt hiện vật); là các cơ quan quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng
cơ bản cấp dưới (xét về cấp quản lý).
1.3.1.2. Quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà
nước.
Theo nguyên tắc, nguồn vốn ngân sách nhà nước phải được nhà nước
quản lý chặt chẽ từ khâu giao kế hoạch cho đến khi đầu tư. Do vậy nguồn vốn
đầu tư xây dựng cơ bản cung được quản lý chặt chẽ.
* Công tác lập kế hoạch đầu tư: bộ kế hoạch đầu tư tổng hợp kế hoạch vốn
đầu tư từ ngân sách của tất cả các thành phần kinh tế trong nền kinh tế để dự

báo, hướng dẫn các ngành, lĩnh vực cần tập trung đầu tư; những cơ chế áp
dụng trong kỳ kế hoạch. Sở kế hoạch đầu tư phải xác định cụ thể danh mục
đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư của các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách
nhà nước. Nhà nước quản lý chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch đầu tư phù hợp
với quy hoạch, kế hoạch, cơ cấu ngành vùng. Với các công trình, dự án quan
trọng quốc gia trong kế hoạch hàng năm và từng thời kỳ phát triển thi do
Quốc hội quyết định: Thủ tướng Chính phủ duyệt mục tiêu,tổng mức vốn đầu
tư để bố trí kế hoạch cho các bộ, địa phương thực hiện.
* Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: nhà nước quản lý chặt chẽ thông qua báo cáo
đầu tư, dự án đầu tư và thẩm duyệt dự án đầu tư, thẩm định các báo cáo
nghiên cứu khả thi, báo cáo thiết kế kỹ thuật và quyết định đầu tư.
* Giai đoạn thực hiện đầu tư: được nhà nước quản lý chặt chẽ thông qua việc
phê duyệt quyết định đấu thầu, kết quả đấu thầu, giám sát quá trình thực hiện
đầu tư, phê duyệt quyết toán đầu tư.
* Giai đoạn kết thúc đầu tư: nhà nước quản lý thông qua việc nghiệm thu bàn
giao công trình (công trình hoàn chỉnh theo thiết kế được duyệt, vận hành
đúng yêu cầu kỹ thuật và nghiệm thu đạt yêu cầu chất lượng).
Nhà nước quản lý chặt chẽ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trên cơ sở
tính toán tổng mức thu, mức chi ngân sách xác định chi vào mục đích đầu tư
xây dựng cơ bản. Khối lượng vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước gồm: vốn
trong nướ, vốn nước ngoài, được phân bổ cho các bộ, ngành và các địa
phương theo mục tiêu cụ thể. Nguồn vốn này thuộc nguồn vốn nhà nước được
nhà nước trực tiếp chi phối theo kế hoạch vì vậy có khả năng theo dõi, nắm
bắt được từ khâu giao kế hoạch cho đến khi thực hiện qua các bộ, ngành, địa
phương, qua hệ thống ngành dọc thống kê, qua hệ thống cấp phát tài chính.

1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả quản lý vốn đầu tư xây dựng
cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
Có hàng loạt các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả quản lý vốn đầu tư từ
ngân sách Nhà nước. Các nhân tố này tác động đến cả hai thành phần của
quản lý vốn đầu tư : Lợi ích, công dụng của đối tượng do kết quả của quá
trình đầu tư tạo nên khi chưa được đưa vào sử dụng và vốn đầu tư chi ra nhằm
tạo nên kết quả ấy. Do đó, các nhân tố này tồn tại theo suốt thời gian của quá
trình đầu tư từ khi có chủ trương đầu tư, ngay trong quá trình thực hiện đầu
tư, xây dựng và đặc biệt là trong cả quá trình khai thác, sử dụng các đối tượng
đầu tư hoàn thành. Một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả
quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước, đó là:
Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ xây dựng
nền sản xuất lớn hiện đại. Vì vậy, chiến lược công nghiệp hoá ảnh hưởng đến
chiến lược và chính sách kinh tế khác. Lựa chọn chiến lược công nghiệp hoá
đúng sẽ tạo cho việc lựa chọn các chiến lược chính sách khác đúng đắn. Đó là
điều kiện cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành công của sự nghiệp công
nghiệp hoá - hiện đại hoá tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững,
tạo nhiều việc làm, bảo đảm nâng cao mức sống của dân cư và thiết lập một
xã hội, cộng đồng văn minh.
Chiến lược đầu tư và quy hoạch đầu tư đến năm 2010 được coi là một
bước đột phá lớn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước nói chung,
của Thái Bình nói riêng, cụ thể là phải phát triển ngành xây dựng đạt được
đến trình độ tiên tiến trong khu vực, đáp ứng nhu cầu xây dựng ở trong nước
và có năng lực đấu thầu công trình xây dựng ở nước ngoài, ứng dụng công
nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quy hoạch, năng lực
thiết kế xây dựng và thẩm mỹ kiến trúc. Phát triển các hoạt động tư vấn và

các doanh nghiệp xây dựng trong đó chú trọng các doanh nghiệp mạnh theo
từng lĩnh vực: thuỷ lợi, giao thông, cầu đường... Tăng cường quản lý nhà
nước về quy hoạch, kiến trúc và xây dựng, đảm bảo thực hiện các mục tiêu
mà Đại hội Đảng đã thông qua.
Để đạt được mục tiêu của đại hội Đảng đã đề ra, yêu cầu đặt ra là
nguồn vốn đầu tư thực hiện lấy từ đâu? Vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước
được lấy từ nguồn thu tập trung vào ngân sách Nhà nước. Tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế của nước ta khá ổn định. Trong những năm tới vốn đầu tư sẽ được
định hướng đầu tư vào một số lĩnh vực chủ yếu then chốt như sau:
- Tiếp tục tập trung đầu tư các công trình phục vụ sản xuất nông
nghiệp.
- Đầu tư các ngành công nghiệp, nhất là các ngành mũi nhọn như công
nghiệp chế biến...
- Đầu tư các ngành khoa học công nghệ và giáo dục - đào tạo.
- Đầu tư các ngành khác như : công cộng, cấp thoát nước...
* Về công tác lập các dự án đầu tư:
Các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước được lập hàng năm
phải đảm bảo đúng đối tượng đầu tư và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Các dự án đầu tư được lập với chất lượng cao sẽ góp phần tăng cường quản lý
vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
Chất lượng công tác lập dự án đầu tư được thể hiện ngay từ chủ trương
đầu tư : đặc điểm đầu tư, quy mô đầu tư, theo đúng quy hoạch ngành, vùng,
lãnh thổ. Làm tốt công tác thẩm định dự án trước khi ra quyết định đầu tư,
không những đem lại nguồn lợi lớn cho xã hội mà còn giúp cho công tác quy
hoạch, hoạch định chiến lược đầu tư ngày càng được nâng cao về chất lượng.

* Về quyết định đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư:
Quyết định đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư là công cụ quản lý nhà nước
đối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản, nó là một bộ phận quan trọng trong dự
toán chi ngân sách nhà nước hàng năm. Đối với các dự án sử dụng vốn ngân
sách nhà nước, kế hoạch vốn đầu tư hàng năm là điều kiện tiên quyết để được
thanh toán vốn, đồng thời là mức vốn tối đa mà chủ đầu tư được phép thanh
toán cho dự án trong niên độ năm kế hoạch. Vì vậy quyết định đầu tư chuẩn
xác và thực hiện tốt công tác xây dựng thông báo kế hoạch vốn đầu tư điều đó
đồng nghĩa với việc quyết định đầu tư và bố trí vốn đầu tư cho từng dự án
hàng năm phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ được duyệt và
đảm bảo được tiến độ theo quy định giúp cho quá trình giải ngân nhanh gọn,
tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:
- Bố trí tập trung danh mục các dự án đầu tư vào kế hoạch đầu tư hàng
năm, luôn đảm bảo sát tiến độ thi công của dự án được phê duyệt.
- Không bố trí vốn cho các dự án chưa đủ điều kiện đầu tư hay chưa đủ
điều kiện thanh toán.
- Kế hoạch luôn theo sát mục tiêu định hướng của kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương.
* Về công tác đấu thầu, chọn thầu và nghiệm thu công trình:
Trong thực tế thời gian qua đã áp dụng hai hình thức chọn thầu là chỉ
định thầu và đấu thầu xây dựng. Hình thức chỉ định thầu áp dụng rất hạn chế
vì thiếu tính cạnh tranh, nên chỉ áp dụng cho các gói thầu có giá trị nhỏ, dưới
1,0 tỷ đồng... Còn hình thức đấu thầu là hình thức tiến bộ trong lựa chọn nhà
thầu. Trong thực tế đã và đang diễn ra nhiều tiêu cực gây thất thoát lãng phí.
Vì vậy thực hiện nghiêm túc Luật đấu thầu sẽ làm giảm bớt thất thoát, lãng
phí trong xây dựng cơ bản, góp phần nâng cao công tác quản lý vốn đầu tư.

Nghiệm thu công trình phải được tiến hành từng đợt ngay sau khi làm
xong khối lượng công trình khuất, những kết cấu chịu lực những bộ phận hay
hạng mục công trình hoặc toàn bộ công trình. Việc nghiệm thu từng phần và
toàn bộ công trình xây dựng do chủ đầu tư tổ chức thực hiện với sự tham gia
của các tổ chức tư vấn, thiết kế, xây lắp, cung ứng thiết bị và cơ quan giám
định chất lượng theo phân cấp.
Các cơ quan chức năng liên quan đến công tác quản lý và nghiệm thu
chất lượng công trình xây dựng phải thực hiện nghiêm túc theo hướng dẫn
của Bộ xây dựng. Công tác nghiệm thu được coi trọng đúng mức và thực hiện
đúng quy trình sẽ góp phần nâng cao chất lượng công trình, đảm bảo cho
đồng vốn đầu tư bỏ ra mang lại hiệu quả cao trong suốt thời gian sử dụng.
* Về công tác thanh toán vốn đầu tư.
Căn cứ vào quy định của Chính Phủ, của Bộ Tài chính, các cơ quan
chức năng tiến hành hướng dẫn quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư cụ
thể, quy định về đối tượng được tạm ứng, điều kiện được tạm ứng, mức vốn
tạm ứng, quy trình kiểm soát tạm ứng vốn, thanh toán khối lượng xây lắp,
thiết bị, chi phí khác và quy trình kiểm soát thanh toán khối lượng hoàn thành.
Trong công tác thanh toán vốn đầu tư XDCB phải luôn đảm bảo thực
hiện đúng quy trình và quy định về quản lý vốn đầu tư XDCB. Công tác kiểm
soát vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước được thực hiện theo thông tư
số 27/2007/TT-BTC ngày 03/04/2007 của Bộ Tài chính về quy trình kiểm
soát thanh toán vốn đầu tư của hệ thống Kho bạc Nhà nước. Trên cơ sở hồ sơ,
chứng từ hợp pháp, hợp lệ, đúng định mức và đơn giá do Nhà nước quy định
đảm bảo điều kiện cấp phát thanh toán. Thực hiện tốt quy trình kiểm soát,
thanh toán đảm bảo đúng trình tự, đúng nội dung và quy định cụ thể trách
nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận trong việc kiểm soát thanh toán vốn đầu

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×