Tải bản đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp tìm hiểu xu thế thôn tính và sáp nhập (ma) trong lĩnh vực tài chính ở châu âu trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay bài học đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính




TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TÌM HIỂU XU THẾ THÔN TÍNH VÀ SÁP NHẬP (M&A) TRONG
LĨNH VỰC TÀI CHÍNH Ở CHÂU ÂU TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH HIỆN NAY – BÀI HỌC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM



Sinh viên thực hiện : Mai Hà Linh
Lớp : Anh 15
Khóa : K45E
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Phan Trần Trung Dũng




Hà Nội - 05/2010


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1. Khái niệm thôn tính và sáp nhập (M&A) 3
1.1. Định nghĩa M&A 3
1.2. Một số trường hợp không được coi là thôn tính và sáp nhập (M&A) . 5
2. Phân loại các trường hợp thôn tính và sáp nhập (M&A) 6
2.1. Phân loại theo mối quan hệ giữa các bên tham gia 6
2.2. Phân loại theo tính chất thân thiện và thù địch của thương vụ thôn
tính và sáp nhập (M&A) 7
3. Các bên tham gia một thương vụ thôn tính và sáp nhập (M&A) 8
3.1. Bên mua 8
3.2. Bên bán 10
4. Những yếu tố ảnh hưởng đến một thương vụ thôn tính và sáp nhập
(M&A) 11
4.1. Những yếu tố chung 11
4.2. Những yếu tố tác động đến quyết định của bên mua 12
4.3. Những yếu tố tác động đến quyết định của bên bán 18
5. Một số đặc điểm của khu vực tài chính ngân hàng 21
5.1. Các hoạt động chính trong lĩnh vực tài chính ngân hàng 21
5.2. Những động cơ thúc đẩy hoạt động thôn tính và sáp nhập trong lĩnh
vực tài chính ngân hàng 28
CHƢƠNG II: XU HƢỚNG THÔN TÍNH VÀ SÁP NHẬP (M&A)
TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH Ở CHÂU ÂU TRONG CUỘC
KHỦNG HOẢNG HIỆN NAY (2008-2009) 30
1. Khủng hoảng tài chính và ảnh hưởng của nó tới các doanh nghiệp tài
chính ngân hàng tại châu Âu 30
1.1. Nguyên nhân và diễn biến cuộc khủng hoảng 30
1.2. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới các doanh
nghiệp tài chính ngân hàng ở Châu Âu 34


1.3. Dự báo những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tới xu
hướng thôn tính và sáp nhập trên thị trường tài chính ngân hàng châu Âu37
2. Xu hướng thôn tính và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở
Châu Âu trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay 38
2.1. Nhận xét chung 38
2.2. Xu hướng thôn tính và sáp nhập của các ngân hàng 42
2.3. Xu hướng thôn tính và sáp nhập của các công ty bảo hiểm 52
2.4. Xu hướng thôn tính và sáp nhập của các công ty hoạt động trong lĩnh
vực quản trị tài sản 58
2.5. Xu hướng thôn tính và sáp nhập của các công ty hoạt động trong lĩnh
vực chứng khoán 61
3. Nhận định về hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) của các doanh
nghiệp tài chính ngân hàng ở Châu Âu trong cuộc khủng hoảng tài chính
hiện nay 66
CHƢƠNG III: BÀI HỌC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP HOẠT
ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM69
1. Tình hình hoạt động thị trường thôn tính và sáp nhập (M&A) đối với các
doanh nghiệp tài chính ngân hàng ở Việt Nam trong hai năm 2008 – 2009 69
1.1. Diễn biến các hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) ở các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam 70
1.2. Nguyên nhân của những diễn biến hoạt động thôn tính và sáp nhập
của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt
Nam trong hai năm 2008 và 2009 80
2. Bài học cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân
hàng ở Việt Nam 92
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
I. Tài liệu tiếng Việt 97
II. Tài liệu nước ngoài 98



DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ

* Danh mục bảng biểu
Bảng 2.1. 20 thương vụ thôn tính và sáp nhập có giá trị lớn nhất thị trường tài
chính châu Âu 2008-2009 (triệu Euro) 39
Bảng 2.2. 15 thương vụ thôn tính và sáp nhập nổi bật trong ngành ngân hàng
thị trường châu Âu năm 2008-2009 (không có sự tham gia của chính phủ) 45
Bảng 2.3. 10 thương vụ thôn tính và sáp nhập nổi bật trong ngành bảo hiểm
thị trường châu Âu năm 2008-2009 54

* Danh mục biểu đồ
Đồ thị 2.1. Chứng khoán toàn cầu trượt dốc tháng 12/2007 – 10/2008 34
Đồ thị 2.2. Giá trị tài sản suy giảm và giá trị vốn gia tăng của các ngân hàng
châu Âu từ quý III/2007 đến quý II/2008 (tỷ đôla) 35
Đồ thị 2.3. Tổng giá trị các thương vụ thôn tính và sáp nhập thị trường tài
chính châu Âu qua các năm 2003-2009 (tỷ Euro) 38
Đồ thị 2.4. Giá trị các thương vụ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng châu Âu
năm 2008 và 2009, chia theo khu vực (tỷ Euro) 41
Đồ thị 2.5. Tổng giá trị các thương vụ trong ngành ngân hàng thị trường châu
Âu qua các năm 2003 – 2009 (tỷ Euro) 43
Đồ thị 2.6. Tổng giá trị các thương vụ trong ngành bảo hiểm thị trường châu
Âu qua các năm 2003 – 2009 (tỷ Euro) 53
Đồ thị 2.7. Tổng giá trị các thương vụ trong ngành quản trị tài sản thị trường
châu Âu qua các năm 2003 – 2009 (tỷ Euro) 59
Đồ thị 2.8. Tổng giá trị các thương vụ trong lĩnh vực chứng khoán thị trường
châu Âu qua các năm 2003 – 2009 (tỷ Euro) 62
Đồ thị 3.1. Phân loại M&A theo tính chất thương vụ năm 2009 (%) 71
Đồ thị 3.2. Số thương vụ M&A theo ngành năm 2009(%) 72
Đồ thị 3.3. Tăng trưởng GDP Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2009 (%) 81
Đồ thị 3.4. Tỷ lệ lạm phát Việt Nam thời kỳ 2003 – 2009 (%) 83
Đồ thị 3.5. Chỉ số VNIndex thời kỳ 1/2006 – 7/2009 84

1


LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) là hoạt động không thể thiếu
trong lịch sử hình thành và quá trình phát triển của bất cứ một tập đoàn lớn
nào trên thế giới và là một hoạt động rất quan trọng trong bất cứ một thị
trường nào đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế với những doanh nghiệp
lớn mạnh.
Ngành tài chính ngân hàng với cơ cấu phức tạp, nơi mà các nhà đầu tư
có thể thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ, đồng thời cũng phải đối mặt
với khá nhiều rủi ro mỗi khi có biến động kinh tế vĩ mô, luôn là nơi hoạt động
thôn tính sáp nhập (M&A) diễn ra sôi động. Thị trường tài chính ngân hàng
châu Âu là một trong những thị trường tài chính sôi động trên thế giới. Cuộc
khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Mỹ nhưng đã có ảnh hưởng không nhỏ đến
hoạt động các công ty và tác động đến xu thế thôn tính và sáp nhập ở đây.
Ở Việt Nam, hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) mới được quan
tâm kể từ khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời và trở nên đặc biệt sôi động
trong thời gian gần đây. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính
ngân hàng ở Việt Nam tuy không chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng
hoảng tài chính như các doanh nghiệp cùng ngành ở châu Âu, nhưng cũng đã
gặp không ít khó khăn khi nền kinh tế Việt Nam phát triển chậm lại, lạm phát
cao và chính phủ đưa ra một số quy định về vốn của các tổ chức tài chính.
Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu xu hướng thôn tính và sáp
nhập của các doanh nghiệp tài chính ngân hàng trên thị trường châu Âu để từ
đó rút ra bài học cho các doanh nghiệp tài chính ngân hàng Việt Nam là một
đòi hỏi cấp thiết. Nhận thiết được đòi hỏi cấp thiết này đối với hoạt động của
các doanh nghiệp tài chính ngân hàng Việt Nam, em quyết định chọn đề tài:

2

“Tìm hiểu xu thế thôn tính và sáp nhập (M&A) trong lĩnh vực tài chính ở
Châu Âu trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay - bài học đối với các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam” làm
đề tài nghiên cứu. Trong khóa luận này, em sẽ nghiên cứu và rút ra xu hướng
chính của hoạt động thôn tính và sáp nhập thị trường tài chính châu Âu trong
hai năm 2008 và 2009 để từ đó rút ra bài học cho hoạt động thôn tính và sáp
nhập của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở
Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu của đề tài là thống kể, tổng hợp, phân
tích và so sánh.
Nội dung của khóa luận được kết cấu thành ba chương:
Chương I: Cở sở lý luận
Chương II: Xu hướng thôn tính và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ở
châu Âu trong cuộc khủng hoảng hiện nay (2008-2009)
Chương III: Bài học đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
tài chính ngân hàng ở Việt Nam
Đề tài về xu hướng thôn tính và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính là
một đề tài rộng, đòi hỏi việc nghiên cứu với nhiều công sức tìm tòi học hỏi,
kiến thức sâu sắc về lĩnh vực tài chính và quản trị, cũng như nguồn số liệu
đầy đủ và chính xác về tình hình hoạt động của các công ty. Tuy nhiên, do
hạn chế về thời gian, kiến thức và khả năng tiếp cận các số liệu về các thương
vụ, bài khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất
mong nhận được sự góp ý và sửa chữa của các thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn thạc sỹ Phan Trần Trung Dũng đã hướng
dẫn tận tình và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Sinh viên thực hiện
Mai Hà Linh.

3

CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm thôn tính và sáp nhập (M&A)
1.1. Định nghĩa M&A
Theo Cẩm nang Thôn tính và sáp nhập, mạng Thôn tính và sáp nhập
Việt Nam (www.manetwork.vn):
Thôn tính và sáp nhập (M&A) là hoạt động giành quyền kiểm soát một
doanh nghiệp, một bộ phận doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần
hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó.
Theo Andrew J. Sherman và Milledge A. Hart trong sách Thôn tính và
sáp nhập, từ A đến Z:
- Mua lại (Acquisition): Việc mua một tài sản như một nhà máy, một bộ
phận của công ty, hoặc cả công ty.
- Sáp nhập (Merger): Sự kết hợp của hai hay nhiều công ty sao cho tài
sản và vốn của công ty bán sẽ thuộc về công ty mua. Sau thương vụ mua bán
này, cho dù sẽ có những thay đổi nhất định về phía công ty mua, công ty này
vẫn giữ nguyên tên.
Trong luật Doanh Nghiệp Việt Nam 2005, có những quy định về những
hoạt động liên quan đến việc thôn tính và sáp nhập doanh nghiệp như sau:
- Hợp nhất doanh nghiệp: Hai hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi
là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là
công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi
ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các
công ty bị hợp nhất. (Điều 152,khoản 1)

4

- Sáp nhập doanh nghiệp: Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây
gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi
là công ty sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi
ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của
công ty bị sáp nhập. (Điều 153, khoản 1)
Như vậy khái niệm sáp nhập doanh nghiệp được đưa ra bởi Andrew J.
Sherman và Milledge A. Hart và khái niệm sáp nhập doanh nghiệp được đưa
ra bởi luật Doanh nghiệp 2005 là khá tương đồng. Tuy vậy, khái niệm hợp
nhất doanh nghiệp đưa ra bởi luật Doanh Nghiệp Việt Nam 2005 chưa bao
quát những trường hợp doanh nghiệp mua chỉ mua hoặc kiểm soát một phần
kinh doanh của doanh nghiệp bị mua.
Để hiểu rõ hơn khái niệm mua lại, sáp nhập và hợp nhất (M&A) theo
định nghĩa của luật Việt Nam, chúng ta sẽ xem xét những định nghĩa được
nêu trong Luật Cạnh Tranh Việt Nam 2004:
- Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển
toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh
nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
(Điều 17, khoản 1)
- Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển
toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành
một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị
hợp nhất. (Điều 17, khoản 2)
- Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một
phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc
một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại. (Điều 17, khoản 3).

5

Chúng ta có thể thấy các khái niệm liên quan đến việc thôn tính và sáp
nhập có thể có một số tương đồng nhất định về mặt ngữ nghĩa, và đôi khi việc
phân biệt giữa các khái niệm trên còn phụ thuộc vào mục tiêu truyền thông và
chiến lược kinh doanh của các bên tham gia. Ví dụ, một công ty mua lại một
công ty khác, giành quyền kiểm soát và xóa sổ công ty bị mua. Nếu doanh
nghiệp mua quyết định chấm dứt hoạt động của công ty bị mua trên giấy tờ,
thì đây sẽ được coi là một vụ sáp nhập (theo định nghĩa luật Cạnh tranh Việt
Nam 2004). Ngược lại, đây có thể được tuyên bố là một vụ mua lại (theo định
nghĩa luật Cạnh tranh Việt Nam 2004).
Như vậy, chúng ta cần chú ý là hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A)
liên quan đến vấn đề sở hữu cũng như thực hiện quyền sở hữu để tạo ra những
giá trị mới cho cổ đông. Nguyên tắc cơ bản của hoạt động thôn tính và sáp
nhập (M&A) là phải tạo ra những giá trị mới cho cổ đông mà việc duy trì tình
trạng cũ không đạt được.
Thuật ngữ thôn tính và sáp nhập (M&A) được sử dụng xuyên suốt
trong bài này sẽ bao quát tất cả các hình thức của M&A được nêu trong định
nghĩa của Andrew J. Sherman và Milledge A. Hart, hay nói cách khác tương
ứng với những định nghĩa về sáp nhập, hợp nhất và mua lại doanh nghiệp
được nêu trong luật Cạnh tranh Việt Nam 2004 vừa được nêu ở trên.
1.2. Một số trƣờng hợp không đƣợc coi là thôn tính và sáp nhập
(M&A)
Hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) không chỉ làm thay đổi tình
trạng sở hữu của doanh nghiệp đối với cổ phần hoặc tài sản mà còn làm thay
đổi hoạt động quản trị doanh nghiệp, hay nói cách khác để được coi là một
thương vụ thôn tính và sáp nhập (M&A), thì sau khi thương vụ mua bán xảy
ra, doanh nghiệp mua cần có quyền kiểm soát và quản trị đối với doanh

6

nghiệp hoặc phần tài sản được bán của doanh nghiệp bán. Chính vì vậy,
những hoạt động dưới đây không được coi là hoạt động thôn tính và sáp nhập
(M&A)
- Một doanh nghiệp mua cổ phần của một doanh nghiệp khác, tuy vậy, số
lượng cổ phần doanh nghiệp mua nắm chưa đủ để doanh nghiệp này nắm
quyền kiểm soát công ty bán hoặc công ty mua không tham gia vào việc điều
hành và quản trị công ty bán.
- Quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư vốn với tư cách cổ đông vào các doanh
nghiệp, cử đại diện phần vốn góp vào Hội đồng quản trị nhưng các thành viên
trên chỉ làm nhiệm vụ tư vấn hỗ trợ cho công việc kinh doanh của công ty.
2. Phân loại các trƣờng hợp thôn tính và sáp nhập (M&A)
2.1. Phân loại theo mối quan hệ giữa các bên tham gia
- Sáp nhập theo chiều ngang: là hình thức sáp nhập diễn ra giữa các công
ty trong cùng một ngành kinh doanh. Kết quả của thương vụ này là các bên sẽ
có cơ hội để mở rộng thị trường, kết hợp, tăng cường sức mạnh thương hiệu,
giảm chi phí cố định, tăng cường hiệu quả của hệ thống phân phối và hậu cần.
Khi các bên tham gia là những đối thủ cạnh tranh trên thị trường thì việc kết
hợp lại với nhau sẽ không những giảm bớt cho các bên một đối thủ cạnh tranh
mà còn tạo nên sức mạnh lớn hơn so với những đối thủ còn lại trên thị trường.
- Sáp nhập theo chiều dọc: là hình thức sáp nhập của các công ty khác
nhau trong cùng một dây chuyền sản xuất ra sản phẩm cuối cùng. Sáp nhập
theo chiều dọc có hai dạng:
 Backward: Liên kết giữa nhà cung cấp và công ty sản xuất.
 Forward: Liên kết giữa công ty sản xuất và nhà phân phối.
Sáp nhập theo chiều dọc sẽ đem lại cho công ty mua / tiến hành sáp
nhập lợi thế trong việc kiểm soát chất lượng nguồn hàng, đầu ra sản phẩm, cắt

7

giảm chi phí trung gian, hoặc khống chế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ
cạnh tranh.
- Sáp nhập hỗn hợp (Conglomerate): là hình thức sáp nhập giữa các công
ty kinh doanh trong các lĩnh vực hoặc khu vực khác nhau.
 Sáp nhập tổ hợp thuần túy: Xảy ra khi hai bên không có mối quan
hệ nào với nhau.
 Sáp nhập bành trướng về địa lý: Hai công ty kinh doanh ở trên hai
thị trường hoàn toàn cách biệt về mặt địa lý.
 Sáp nhập đa dạng hóa sản phẩm: Hai công ty sản xuất hai loại sản
phẩm khác nhau nhưng cùng ứng dụng một công nghệ sản xuất hoặc
tiếp thị gần giống nhau.
2.2. Phân loại theo tính chất thân thiện và thù địch của thƣơng vụ
thôn tính và sáp nhập (M&A)
- Thôn tính và sáp nhập thân thiện (friendly M&A): thương vụ được tiến
hành dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên.
- Thôn tính và sáp nhập thù định (hostile M&A): hội đồng quản trị của
công ty bị mua không được biết trước về thương vụ này, và không có ý định
thực hiện thương vụ. Cổ đông của công ty bị sáp nhập và mua lại có thể được
trả tiền để bán lại cổ phiếu của mình và mất hoàn toàn quyền kiểm soát đối
với công ty. Công ty bị bán có thể chấm dứt sự tồn tại cả về đăng ký và tổ
chức. Trường hợp này có thể xảy ra khi bên mua và bên bán là đối thủ cạnh
tranh. Bên mua thực hiện thương vụ có thể chỉ để tiêu diệt đối thủ cạnh tranh
của mình trên thị trường. Trong rất nhiều trường hợp của những thương vụ
thôn tính và sáp nhập mang tính chất thù địch, ban giám đốc của công ty mục
tiêu sẽ bị thay thế sau thương vụ.

8

3. Các bên tham gia một thƣơng vụ thôn tính và sáp nhập (M&A)
3.1. Bên mua
a. Bên mua chiến lược (strategic buyer)
Khi nhắc đến bên mua chiến lược chúng ta hiểu rằng đó là công ty thực
hiện mua lại công ty khác để phát triển công việc làm ăn hiện tại của công ty
mình. Thông thường sau khi mua lại doanh nghiệp khác hoặc một phần tài sản
của công ty khác, công ty với vai trò là người mua chiến lược sẽ củng cố, thực
hiện các biện pháp cần thiết tích hợp hoạt động của công ty bị mua với các
hoạt động hiện có của công ty. Công ty với vai trò là người mua chiến lược sẽ
đánh giá hiệu quả của thương vụ thôn tính và sáp nhập vừa được công ty thực
hiện dựa trên những lợi ích, lợi nhuận tăng lên đối với cả chính công ty và
công ty bị mua hoặc phần công ty bị mua. Công ty với vai trò bên mua chiến
lược có thể được chia làm hai loại:
- Công ty đã thực hiện những thương vụ mua lại các công ty khác nhiều
lần (repeat players): Đối với các công ty này, việc mua lại các công ty khác
được coi là một trong những chiến lược kinh doanh. Những công ty này có rất
nhiều lợi thế khi thực hiện các thương vụ thôn tính và sáp nhập. Họ có khá
nhiều kinh nghiệm trong việc đánh giá công ty mục tiêu, đàm phán, kết thúc
thương vụ và tích hợp hoạt động kinh doanh mới với hoạt động hiện tại của
công ty. Ban lãnh đạo các công ty này đưa ra quyết định một cách thống nhất
khá nhanh về những vụ mua lại sáp nhập công ty thực hiện.
- Công ty thực hiện thương vụ lần đầu tiên: Đối với một số công ty, thực
hiện thương vụ thôn tính và sáp nhập đầu tiên là tiền đề quan trọng để họ
quyết định đưa việc thôn tính và sáp nhập với công ty khác vào chiến lược
kinh doanh của mình và gia nhập nhóm công ty thứ nhất. Đối với một số công
ty khác, vụ thôn tính và sáp nhập là một công việc khá hệ trọng và sẽ chỉ xảy

9

ra một lần. Đối với các công ty đóng vai trò người mua lại lần đầu tiên,
thương vụ thôn tính và sáp nhập sẽ được thực hiện với rất nhiều sự hệ trọng,
và thông thường sẽ tiêu tốn của công ty nhiều tiền của hơn nhóm công ty đầu
tiên do họ chưa có kinh nghiệm.
b. Bên mua vì mục đích tài chính (financial buyers)
Trong khi các công ty mua chiến lược coi công ty mục tiêu như một
phần để làm tăng hiệu quả công việc kinh doanh hiện tại của mình, các công
ty mua vì mục đích tài chính coi công ty mục tiêu mà họ sẽ tiếp tục duy trì
như một công ty hoạt động riên biệt, tăng cường hiệu quả hoạt động của nó,
và sau đó bán lại các công ty này để thu lợi nhuận khổng lồ.
Về cơ bản, những công ty thực hiện việc mua lại các công ty khác vì
mục đích tài chính sẽ vấp phải hai khó khăn sau. Thứ nhất, công ty và nhà đầu
tư khi thực hiện thương vụ thôn tính và sáp nhập như vậy thường mong đợi
những khoản lợi nhuận khổng lồ. Điều này có nghĩa là khoản lợi nhuận đó
phải lớn hơn hẳn khoản đầu tư tương đương mà công ty hoặc nhà đầu tư có
thể thực hiện trên thị trường. Thứ hai, lời đề nghị mua lại của công ty có thể
sẽ bị đánh giá thấp hơn lời đề nghị mua lại từ những công ty mua chiến lược,
những công ty mà sẽ tích hợp hoạt động của công ty mục tiêu vào hoạt động
kinh doanh hiện tại của họ.
Có những loại công ty mua vì mục đích tài chính sau:
- Công ty vốn cổ phần tư nhân: Đây là những công ty thu thập một lượng
lớn vốn từ những nhà đầu tư tư nhân và tổ chức, sau đó thực hiện việc đầu tư
vào một danh mục công ty.
- Những người mua quản trị: Trong một số trường hợp, công ty vốn cổ
phần tư nhân sẽ kết hợp với một đội ngũ những nhà quản trị để thực hiện việc
mua lại công ty khác. Công ty mục tiêu trong những trường hợp này có thể là

10

một công ty đại chúng (công ty đã phát hành cổ phiếu ra công chúng) hoặc
công ty tư nhân. Trong những trường hợp này, khác với những thương vụ
thôn tính và sáp nhập được thực hiện bởi chỉ riêng công ty vốn cổ phần tư
nhân khi mà đội ngũ nhân viên quản trị sẽ thu được rất ít lợi nhuận từ thương
vụ, ở đây, đội ngũ nhân viên quản trị sẽ thu được một khoản lợi nhuận lớn.
3.2. Bên bán
a. Bên bán một phần công ty (partial sellers)
Đây là những công ty bán một phần hoạt động kinh doanh của mình
cho công ty khác. Trong một số trường hợp, đây là thương vụ đầu tiên trong
một loạt các thương vụ mà sẽ dẫn đến việc công ty bán toàn bộ công ty của
mình cho công ty khác. Trong một số trường hợp khác, bên mua sẽ chỉ có thể
sở hữu một phần hoạt động kinh doanh của công ty bán. Đối với công ty bán,
việc bán một phần doanh nghiệp có thể được sử dụng để tăng thêm vốn cho
hoạt động kinh doanh của công ty. Bên bán cũng có thể thực hiện thương vụ
trên để tăng cường thêm mối quan hệ với bên mua. Ví dụ một nhà máy có thể
tăng cường mối quan hệ với nhà phân phối bằng cách bán một lượng lớn cổ
phần của mình cho nhà phân phối.
b. Bên bán toàn bộ công ty (full sellers)
Trong những trường hợp này, công ty sẽ bán toàn bộ hoạt động kinh
doanh của mình cho một công ty khác.
c. Bên bán không tự nguyện (unwilling sellers)
Bên bán không tự nguyện xuất hiện trong những thương vụ thôn tính và
sáp nhập mang tính chất thù địch. Ở những trường hợp này, bên mua sẽ
thương lượng với các cổ đông của công ty bán, và mua lại cổ phần của họ.

11

Trong phần lớn trường hợp, bên mua sẽ làm như vậy sau khi đã thương lượng
không thành với ban giám đốc và hội đồng quản trị của công ty.
4. Những yếu tố ảnh hƣởng đến một thƣơng vụ thôn tính và sáp nhập
(M&A)
4.1. Những yếu tố chung
a. Cạnh tranh
Có rất nhiều yếu tố thúc đẩy các bên tiến tới một thương vụ thôn tính
và sáp nhập. Trong đó, có một động cơ mang tính khá chung tính đó là nhu
cầu thôn tính và sáp nhập để tồn tại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.
Dưới sức ép cạnh tranh, tất cả các công ty đều muốn lớn mạnh và phát triển.
Một trong những cách tốt nhất là hợp nhất, sáp nhập với công ty khác hoặc
thâu tóm công ty khác. Trên thực tế, cạnh tranh thúc đẩy những thương vụ
thôn tính và sáp nhập, và ngược lại các thương vụ thôn tính và sáp nhập càng
khiến cuộc cạnh tranh trên thị trường trở nên gay gắt hơn. Khi tiến hành thôn
tính và sáp nhập, không những các công ty khiến mình trở nên mạnh hơn nhờ
quy mô công ty lớn hơn, mà còn thông qua việc giảm bớt một đối thủ cạnh
tranh trên thị trường (sáp nhập ngang), hoặc gây khó cho đối thủ cạnh tranh
trong việc tìm nguồn cung ứng đầu vào hoặc tiêu thụ sản phẩm đầu ra (sáp
nhập dọc).
b. Môi trường kinh doanh thay đổi
Khi môi trường kinh doanh thay đổi, đặc biệt trong bối cảnh xảy ra một
cuộc khủng hoảng kinh tế, nhiều doanh nghiệp bị đẩy vào tình trạng thiếu
thanh khoản, vỡ nợ, sụt giảm giá trị tài sản, và buộc bị đẩy vào tình trạng bị
thâu tóm. Trong những trường hợp như vậy, dù cho bên bán không có chủ

12

động muốn bán, nhưng bên thâu tóm (bên mua) thì lại có rất nhiều động cơ để
thâu tóm để mở rộng, bành trướng sự ảnh hưởng và quyền lực trên thị trường.
Ngoài ra, môi trường kinh doanh thay đổi cũng sẽ tác động đến quá
trình định giá tài sản. Nếu môi trường kinh doanh hiện tại khó khăn, tài sản có
thể sẽ bị đánh giá thấp hơn, một phần vì bên bán có thể rất cần khoản tiền thu
được từ thương vụ, một phần nữa vì bên mua có thể kỳ vọng môi trường kinh
doanh tiếp tục xấu, do vậy, tài sản mua về sẽ có thể không tạo ra nhiều giá trị
cho bên mua.
4.2. Những yếu tố tác động đến quyết định của bên mua
a. Cân nhắc chi phí lợi ích giữa việc tự xây dựng và mua lại
Không phải trong tất cả mọi trường hợp, doanh nghiệp đều cân nhắc
giữa việc mua lại và xây dựng khi thực hiện thương vụ thôn tính và sáp nhập.
Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rằng, trong tất cả các vụ mua lại, bên mua đều
có một sự lựa chọn thay thế, đó là quyết định xây dựng bộ phận kinh doanh /
tài sản đó mới từ đầu. Trong một số trường hợp, khi cần cân nhắc giữa việc
mua lại và xây dựng, bên mua cần cân nhắc các yếu tố như chi phí, thời gian
và tính khả thi của việc xây dựng hay mua lại. Chúng ta sẽ cùng so sánh
những lợi thế và bất lợi của giữa hai việc: mua lại và xây dựng ngay từ đầu:
- Xây dựng:
 Lợi thế: Xây dựng một phần kinh doanh / tài sản mới rõ ràng đem
lại cho doanh nghiệp một số lợi thế nhất định. Nó cho phép công
phát triển phần kinh doanh / tài sản đó phù hợp với chiến lược và
tình trạng kinh doanh hiện tại của công ty nhất. Điều này rõ ràng sẽ
lợi thế hơn so với việc mua một công ty khác đã có sẵn và sau đó
phải thực hiện một số thay đổi cần thiết. Tạo dựng một phần kinh
doanh mới thông thường sẽ rẻ hơn mua lại bộ phận kinh doanh đó,

13

hay nói cách khác, nó cho phép công ty rải rác chi phí cần thiết
trong suốt thời gian tạo dựng nên bộ phận kinh doanh đó. Tạo dựng
mới cũng cho phép công ty thực hiện những thay đổi một cách dễ
dàng trong suốt quá trình xây dựng doanh nghiệp cho phù hợp với
những thay đổi của bản thân công ty. Cuối cùng, doanh nghiệp kiểm
soát được toàn bộ quá trình xây dựng một phần kinh doanh mới này.
Doanh nghiệp chỉ cần quan tâm đến việc tận dụng hiệu quả các
nguồn lực mà nó có.
 Bất lợi: Xây dựng phần kinh doanh mới ngay từ đầu cũng tạo ra một
số bất lợi so với việc mua lại. Thứ nhất, nó có thể đòi hỏi doanh
nghiệp phải có những kiến thức, kinh nghiêm, năng lực mà hiện tại
doanh nghiệp không có. Ví dụ: Xây dựng chi nhánh mới ở một vùng
địa lý mới đòi hỏi doanh nghiệp phải có những kiến thức nhất định
về văn hóa, con người của vùng đó mà doanh nghiệp hiện tại có thể
chưa có. Xây dựng một bộ phận mới cũng đòi hỏi mất rất nhiều thời
gian. Việc tạo dựng một bộ phận kinh doanh mới cũng đòi hỏi
doanh nghiệp phải tập trung nhiều nguồn lực vào việc này, ảnh
hưởng đến việc tập trung nguồn lực vào những mục tiêu chính yếu
khác của doanh nghiệp.
- Mua lại:
 Lợi thế: Việc mua lại dường như đơn giản hơn việc tạo dựng mới
một bộ phận / công ty mới. Mua lại đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu
tư ít thời gian hơn so với việc xây mới từ đầu. Mua lại một công ty
khác cũng cho phép công ty mua có được kinh nghiệm, kiến thức
sẵn có của công ty bị mua.
 Bất lợi: Việc mua lại một công ty khác tỏ ra đắt đỏ hơn việc tạo
dựng từ đầu, vì nó đòi hỏi bên mua phải ngay lập tức có sẵn một
khoản tiền lớn. Bên cạnh đó, khi mua một công ty khác, bên mua sẽ

14

đối mặt với vấn đề hòa nhập văn hóa, phương thức kinh doanh của
phần công ty đã mua với phần công ty sẵn có.
b. Thêm khách hàng và gia tăng thị phần
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất khi quyết định mua lại một
công ty khác của bên mua là khách hàng của công ty bán. Công ty mua có thể
mong muốn có thêm nhiều mối quan hệ với khách hàng hơn, hoặc gia tăng
khách hàng ở các vùng địa lý khác nhau, hoặc các thành phần khách hàng
(khách hàng doanh nghiệp và người tiêu dùng).
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, công ty mua sẽ vấp phải sự sụt
giảm số lượng khách hàng của công ty mục tiêu sau khi mua lại công ty này.
Sự sụt giảm này có thể là cả về số lượng và chất lượng khách hàng (khách
hàng trở nên ít trung thành với công ty hơn, sự sẵn sàng tiêu dùng hàng hóa /
dịch vụ của công ty và số tiền sẵn lòng bỏ ra ít hơn).
Có một vài lý do cho việc sụt giảm khách hàng này. Đầu tiên, bất cứ vụ
thôn tính và sáp nhập nào cũng sẽ tạo ra những sự thay đổi trong công ty bị
mua, từ đó từ đó tạo ra những ảnh hưởng nhất định đến khách hàng (cho dù
các công ty luôn cố gắng giảm thiểu những ảnh hưởng trên). Nếu khách hàng
cảm thấy không hài lòng với những thay đổi trên, họ có thể bắt đầu cân nhắc
việc sử dụng dịch vụ của một nhà cung cấp khác. Trong một số trường hợp,
khách hàng có thể cảm thấy quá gắn bó với thương hiệu của công ty bị mua,
họ cũng sẽ cảm thấy ít thích thú hơn khi cùng một mặt hàng / dịch vụ đó được
cung cấp bởi dưới một cái tên khác.
c. Mở rộng việc kinh doanh sang một khu vực địa lý mới
Việc mở rộng việc kinh doanh sang một khu vực địa lý mới cũng là một
trong những lý do thúc đẩy một thương vụ thôn tính và sáp nhập từ phía bên
mua. Mở rộng bằng việc xây dựng một chi nhánh mới tại khu vực địa lý mới

15

có thể vấp phải những khó khăn về hiểu biết khu vực, con người, văn hóa, vấn
đề cơ sở hạ tầng, xây dựng mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng địa
phương. Chính vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, thâu tóm hoặc mua lại một
công ty địa phương trở thành một giải pháp tốt hơn. Bằng việc mở rộng việc
kinh doanh sang khu vực địa lý mới, bên mua sẽ có được những hiểu biết về
thị trường địa phương, chuẩn mực, thói quen và nhu cầu của khách hàng tại
khu vực. Công ty mua cũng dễ dàng hơn trong việc tiếp tục duy trì những mối
quan hệ với khách hàng, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phù hợp với đặc điểm
của khu vực của công ty bị mua.
d. Đạt được bí quyết kỹ thuật và quyền kinh doanh sản phẩm
Việc mua lại sẽ cho phép bên mua có thể đạt được một số bí quyết kỹ
thuật hoặc sản phẩm một cách thuận lợi. Những vụ thôn tính và sáp nhập như
vậy sẽ cho phép bên mua không những có được bí quyết kỹ thuật hoặc loại
sản phẩm mà còn có được cả đội ngũ nhân viên đã có kinh nghiệm trong việc
tạo ra và phát triển sản phẩm hoặc kỹ thuật đó.
Thường thì bên mua sẽ phải cân nhắc khả năng tích hợp của kỹ thuật
mới hoặc sản phẩm mới này với những dòng sản phẩm hiện có của công ty,
liệu công ty có thể sử dụng hiệu quả những nguồn lực mình hiện có như đội
ngũ nhân viên bán hàng, thương hiệu của công ty để sử dụng hiệu quả nhất bí
quyết kỹ thuật và sản phẩm mới. Trong một số trường hợp, những dòng sản
phẩm mới cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có khả năng tiếp cận thị
trường mới, khách hàng mới.
Bên mua cũng có thể muốn giành được quyền sử dụng những bí quyết
kỹ thuật có thể áp dụng cho quá trình sản xuất mặt hàng của họ. Việc này
thường xảy ra trong thôn tính và sáp nhập theo chiều dọc. Ví dụ: một công ty
sản xuất điện thoại muốn mua lại công ty sản xuất camera nhỏ để sản xuất

16

điện thoại có thể quay phim; công ty sản xuất ô tô có thể mua lại công ty sản
xuất máy lắp ráp tự động được sử dụng trong dây chuyền của công ty mua.
Việc thôn tính và sáp nhập theo kiểu này cũng có thể được sử dụng để gây
khó khăn cho đối thủ cạnh tranh trong việc tìm kiếm nhà cung cấp công nghệ.
e. Thương hiệu:
Trong một số trường hợp, mục tiêu của bên mua có thể là thương hiệu
của công ty mục tiêu trong sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ, sản phẩm. Tuy
nhiên, những sản phẩm, dịch vụ hoặc phương cách làm việc của hai công ty
không thể tích hợp hiệu quả với nhau sau thương vụ, thương hiệu mà bên mua
giành được rất có thể bị ảnh hưởng và phát huy tác dụng ít hơn các bên tính
toán ban đầu.
f. Yếu tố con người
Yếu tố con người là yếu tố được bàn đến trong rất nhiều các mục tiêu
khác của bên mua (xâm nhập khu vực địa lý mới, kỹ thuật, sản phẩm, v.v…).
Khi mua lại được một cong ty có đội ngũ nhân viên hoạt động hiệu quả, bên
mua sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí tuyển dụng, đào tạo. Ở rất nhiều lĩnh
vực chuyên ngành, đôi khi mục tiêu chủ yếu của thương vụ thôn tính và sáp
nhập là đội ngũ nhân viên của công ty mục tiêu.
Tuy vậy, những thương vụ mà mục tiêu chủ yếu là yếu tố con người
của công ty mục tiêu thường chịu tỷ lệ rủi ro khá lớn, và trong nhiều trường
hợp chủ doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn để duy trì và giữ một đội ngũ
nhân viên như mong muốn. Nếu đội ngũ nhân viên không hài lòng với thương
vụ thôn tính và sáp nhập, hoặc họ không hài lòng với môi trường làm việc,
chế độ đãi ngộ, những quyền lợi được hưởng sau thương vụ, họ có thể chọn
cách ra đi, hoặc làm việc với hiệu quả thấp hơn. Từ đó, hiệu quả mà thương
vụ đem lại cho bên mua có thể thấp hơn những gì bên mua mong đợi. Trên

17

thực tế, yếu tố con người thường chỉ là một trong những yếu tố được cân nhắc
khi đưa ra quyết định của bên mua.
g. Tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô
Đây là một trong những lý do chính thúc đẩy không chỉ bên mua mà
thông thường còn là cả hai bên trong thương vụ thôn tính và sáp nhập. Thông
qua việc thôn tính và sáp nhập, công ty có thể có thị phần lớn hơn, tăng doanh
số bán hàng, từ đó giảm chi phí cố định trên một sản phẩm.
Khi tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô là mục đích chính của một
thương vụ thôn tính và sáp nhập, bên mua cần cân nhắc những chi phí phải bỏ
ra cho thương vụ trên, trong đó có số tiền phải trả ngay, chi phí để tích hợp
các sản phẩm, dây chuyền sản xuất, và các yếu tố khác thành một thể thống
nhất, cũng như thời gian để đạt được những điều trên. Lợi ích của việc tăng
cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô cần vượt qua những chi phí và thách thức
mà thương vụ thôn tính và sáp nhập đặt ra cho các bên.
h. Tăng cường vị thế trên thị trường
Những thương vụ thôn tính và sáp nhập, đặc biệt là các thương vụ thôn
tính và sáp nhập theo chiều ngang thường mang lại thị phần lớn hơn cho bên
mua, hoặc công ty sáp nhập. Điều này đồng nghĩa với việc mang lại sức mạnh
thị trường lớn hơn cho công ty, bởi bất cứ quyết định nào của công ty cũng sẽ
gây ảnh hưởng lớn hơn tới các đối thủ cạnh tranh, và ngược lại công ty ít chịu
ảnh hưởng bởi quyết định của đối thủ cạnh tranh hơn. Thêm vào đó, với một
vị thế mạnh trên thị trường, công ty sẽ có lợi thế hơn khi làm việc và thương
lượng với các đối tác của mình.

18

4.3. Những yếu tố tác động đến quyết định của bên bán
a. Thị trường hoặc ngành đứng trước xu hướng đi xuống
Bất cứ thị trường nào hoặc ngành nào cũng có những thời gian đi lên và
thời gian đi xuống. Nếu một công ty cảm thấy trong thời gian tới, thị trường
mình tham gia hoặc ngành của mình có nhiều dấu hiệu của việc đi xuống, và
trong suốt thời gian như vậy, việc làm ăn kinh doanh của công ty không đem
lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư bằng các cơ hội đầu tư khác, công ty có thể
chọn phương án bán lại công ty cho một công ty khác (bị mua lại/sáp nhập/
hợp nhất với một công ty khác) vào những thời điểm có thể đem lại lợi ích (số
tiền nhận được) lớn nhất cho cổ đông, nhà đầu tư của công ty.
b. Đội ngũ nhân viên, vốn, công nghệ của công ty không thể đáp ứng
được nhu cầu tiếp tục phát triển của công ty
Trường hợp này xảy ra với các công ty ở các thị trường ngách hoặc thị
trường khu vực. Đây là những công ty đã rất thành công ở thị trường ngách
hoặc thị trường khu vực của mình, ví dụ như một công ty chuyên sản xuất
quần áo cho trẻ em, một công ty chuyên cung cấp đồ ăn nhanh cho một khu
vực nào đó. Tuy vậy, công ty không đủ nguồn lực để phát triển, mở rộng công
việc làm ăn của mình sang lĩnh vực, khu vực địa lý lớn hơn, hoặc sang thị
trường chính. Như trong ví dụ trên, công ty sản xuất quần áo trẻ em không đủ
tiền, năng lực và kinh nghiệm để mở rộng việc sản xuất thêm cả quần áo cho
người lớn, công ty cung cấp đồ ăn nhanh không thể phát triển ra phạm vi cả
nước. Trong những trường hợp như vậy, người chủ công ty có thể đồng ý với
lời đề nghị thôn tính và sáp nhập từ một công ty lớn hơn và có tiềm lực hơn.

19

c. Công ty đối mặt với những thay đổi bất lợi
Trong một số trường hợp, công ty có thể đối mặt với một số thay đổi có
thể gây bất lợi cho việc làm ăn kinh doanh của mình, gây ra sự sụt giảm
nghiêm trọng trong doanh số. Thay đổi có thể đến từ bản thân bên trong
doanh nghiệp hoặc có thể là thay đổi của ngành hoặc thị trường.
Thay đổi có thể xuất hiện trong ngành kinh doanh của công ty. Có thể
kể đến thay đổi trong luật lệ làm công việc kinh doanh của công ty khó khăn
hơn. Ví dụ luật cấm hút thuốc lá tại nơi công cộng có thể làm ảnh hưởng đến
việc kinh doanh của các công ty kinh doanh quán bar. Hoặc sự xuất hiện của
một sản phẩm thay thế có thể làm cho công việc làm ăn của công ty gặp bất
lợi.
Trong những trường hợp như vậy, để đảm bảo cho lợi ích của cổ đông,
công ty có thể quyết định sáp nhập hoặc bị mua lại bởi một công ty khác
trước khi hoặc khi sự sụt giảm trong việc làm ăn kinh doanh của công ty xuất
hiện.
d. Những lý do liên quan đến chủ doanh nghiệp
- Chủ doanh nghiệp có thể cảm thấy khi công ty phát triển đến một
chừng mực nào đó, họ có thể không có đủ khả năng lãnh đạo nữa. Trong một
số trường hợp họ sẽ thuê giám đốc điều hành, trong một số trường hợp họ sẽ
bán lại công ty.
- Một vài doanh nhân là những người hoạt động chuyên nghiệp trong
việc thành lập doanh nghiệp. Những doanh nhân này sẽ thành lập những
doanh nghiệp ở những lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao. Khi công ty bắt đầu
phát triển, họ sẽ bán lại công ty và đầu tư, mở phát triển một công ty khác.
- Chủ doanh muốn bán doanh nghiệp do có dự định nghỉ hưu.
- Một trong những người tham gia thành lập công ty bị ốm hoặc chết.

20

e. Những lý do liên quan đến nhà đầu tư của doanh nghiệp
Quyết định của nhà đầu tư trong việc giữ lại hay bán đi cổ phần của
mình tại công ty liên quan rất chặt chẽ đến việc doanh nghiệp có thể bị mua
lại hay không.
Thông thường, khi đầu tư vào một công ty, nhà đầu tư sẽ cân nhắc giữa
tỷ lệ lợi nhuận thu được và mức độ rủi ro của khoản đầu tư, và so sánh tỷ lệ
lợi nhuận với những khoản đầu tư khác có cùng mức độ rủi ro trên thị trường.
Khi khoản đầu tư vào công ty mang lại cho nhà đầu tư tỷ lệ lợi nhuận thấp
hơn một khoản đầu tư khác có cùng mức độ rủi ro trên thị trường, nhà đầu tư
sẽ bắt đầu cân nhắc đến khả năng rút vốn khỏi công ty bán lại cổ phần của
mình tại công ty.
Quyết định của nhà đầu tư cũng phụ thuộc vào sự lựa chọn của nhà đầu
tư giữa tỷ lệ lợi nhuận cao và mức độ an toàn. Khi đầu tư vào những công ty
mới thành lập, nhà đầu tư chấp nhận mức độ rủi ro cao cùng với tỷ lệ lợi
nhuận cao hơn. Khi công ty bắt đầu phát triển, mở rộng sản xuất, mức độ rủi
ro của khoản đầu tư sẽ thấp hơn, nhưng tỷ lệ lợi nhuận thu được sẽ thấp hơn.
Như vậy, nếu nhà đầu tư là người thích rủi ro và mong muốn tỷ lệ lợi nhuận
cao hơn là một khoản thu nhập an toàn, nhà đầu tư sẽ tìm cách rút vốn ra khỏi
công ty khi công ty phát triển qua thời kỳ mang lại cho nhà đầu tư tỷ lệ lợi
nhuận cao nhất.
Trong một số trường hợp, quyết định của nhà đầu tư cũng phụ thuộc
vào tình trạng của danh mục đầu tư mà nhà đầu tư đó đang nắm giữ. Khi danh
mục đầu tư của nhà đầu tư đang hoạt động không tốt, nhà đầu tư có thể quyết
định bán cổ phần của mình ở một công ty đang hoạt động tốt nào đó để bù
đắp lại những khoản lỗ từ những khoản đầu tư không tốt từ danh mục đầu tư
của mình.

21

5. Một số đặc điểm của khu vực tài chính ngân hàng
5.1. Các hoạt động chính trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
a. Hoạt động của các ngân hàng thương mại
Hoạt động của các ngân hàng thương mại bao trùm nhiều loại hình sản
phầm và thị trường có sự khác biệt và mức độ cạnh tranh cao. Có bốn nhóm
loại sản phẩm trong hoạt động của các ngân hàng thương mại.
- Hoạt động liên quan đến tiền gửi: Tiền gửi ngân hàng có thể là tài
khoản tiền gửi có thời hạn và không có thời hạn của cá nhân và công ty, chính
phủ, và các ngân hàng khác. Cạnh tranh giữa các ngân hàng đối với nguồn
tiền gửi là rất lớn. Lãi suất ngân hàng đưa ra đối với tiền gửi phụ thuộc vào
mức độ an toàn và tin cậy và các dịch vụ của ngân hàng. Ngân hàng sử dụng
nguồn tiền gửi vào hoạt động cho vay, bao gồm các khoản cho vay có đảm
bảo và không đảm bảo cho các cá nhân, doanh nghiệp, các ngân hàng khác,
chính phủ. Ngân hàng cũng sử dụng nguồn tiền này vào các hoạt động buôn
bán và tài chính.
- Hoạt động bán lại các khoản nợ: Các khoản nợ sẽ được cơ cấu lại và
bán lại cho các ngân hàng khác. Các khoản nợ cũng có thể được đóng gói lại
(repackaged) thông qua những công cụ đặc biệt và sử dụng như chứng khoán,
bán lại cho nhà đầu tư trên thị trường vốn. Đây thực chất là hoạt động thu hút
nhiều người cho vay cho cùng một khoản nợ.
- Những hoạt động liên quan đến ngân quỹ (treasury activities): bao gồm
các hoạt động mua bán, trao đổi các khoản tiền gửi, các hợp đồng mua bán
ngoại tệ, hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn.
- Các giao dịch tài chính và quản lý dòng tiền: Bao gồm các hoạt động
chuyển tiền, thu hộ, thư tín dụng, chấp nhận thanh toán. Đây là những hoạt
động mang tính thường nhật của ngân hàng thương mại, ít liên quan đến tính

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×
x