Tải bản đầy đủ

Thực trạng và giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Chi nhánh Cầu Giấy.DOC

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
DANH MỤC VIẾT TẮT
NHNN
NHTƯ
NHTM
CBCNV
CBTD
NH ĐT&PTVN
BIDV Cầu Giấy
CVTD
: Ngân hàng nhà nước
: Ngân hàng trung ương
: Ngân hàng thương mại
: Cán bộ công nhân viên
: Cán bộ tín dụng
: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam
: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam – Chi nhánh Cầu Giấy
: Cho vay tiêu dùng
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A

2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
• Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu chuyển sang nền kinh tế thị trường
theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó hội nhập
trong lĩnh vực ngân hàng là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế
giới. Chính điều này tạo ra sự phát triển và mở rộng không ngừng của các ngân hàng
hiện nay. Đây cũng là một thách thức lớn khi các ngân hàng tham gia thị trường phải
đối đầu. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt này, buộc các ngân hàng phải tìm hướng đi
mới, đưa ra dịch vụ, sản phẩm mới thu hút khách hàng.
Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO, các Hiệp định thương mại giữa Việt
Nam và các nước được ký kết; nền kinh tế nước ta tăng trưởng liên tục với tốc độ cao;
đời sống của đại bộ phận dân cư ngày càng được cải thiện. Năng suất sản xuất tăng cao
đã tạo ra lượng hàng hóa phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người
dân. Thực hiện chính sách mở cửa, bộ mặt nền kinh tế Việt nam đã chuyển đổi mạnh,
đời sống của người dân ngày cành nâng cao, tiến đến cuộc sống thoải mái hơn về vật
chất lẫn tinh thần, ngoài những nhu cầu thiết yếu như ăn, ở, uống, đồ mặc thì nhu cầu
cuộc sống được nâng cao hơn như nhà đẹp tiện nghi, xe cộ hiện đại, du lịch, học hành
nước ngoài, … Do đó, đôi khi người dân cho phép mình chi tiêu vượt quá mức thu nhập
dẫn đến nhu cầu vay mượn để tiêu dùng tăng lên. Điều này đã tạo ra thị trường cho vay
tiêu dùng đối với các ngân hàng thương lại diễn ra cạnh tranh cao.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có truyền thống phục vụ đầu tư phát
triển, thực hiện nhiệm vụ huy động mọi nguồn vốn để đầu tư và phát triển, góp phần
thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Hiện nay hoạt động tín dụng vẫn
chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và
đây là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro xong cũng là hoạt động mang lại cho ngân hàng
lợi nhuận cao nhất. Song để thực hiện tốt vai trò của mình cũng như có thể đứng vững
trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt, các NHTM luôn phải tìm cách đa dạng hóa
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
các sản phẩm dịch vụ cung ứng, đặc biệt là việc mở rộng thêm nhiều hình thức tín dụng
nhằm tăng cường nguồn vốn cho nền kinh tế cũng như đáp ứng nhu cầu của khách
hàng. Một trong những hình thức đó phải kể đến hoạt động tín dụng tiêu dùng.
Nắm bắt được nhu cầu của người dân cũng như làm tăng tính cạnh tranh với các
ngân hàng bạn. Ngân hàng đầu tư và Phát triển đã triển khai nhiều loại hình tín dụng
tiêu dụng đối với khách hàng cá nhân. Đặc biệt là Chi nhánh Cầu Giấy trong những
năm gần đây đã không ngừng đẩy mạnh dư nợ tín dụng tiêu dùng, đã từng bước cải
thiện quy trình, quy chế cho vay phù hợp nhu cầu của người dân, những đảm bảo an


toàn tín dụng. Tuy nhiên về chính sách cũng như quy chế cho vay của Chi nhánh vẫn
còn tồn tại những vướng mắc khách quan, chủ quan làm ảnh hưởng đến khả năng tăng
trưởng tín dụng tiêu dùng của Chi nhánh.
Qua thời gian tìm hiểu và thực tập tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chi nhánh Cầu Giấy, việc nghiên cứu và đưa ra những giải pháp khắc phục những khó
khăn và đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng tiêu dung tại Chi nhánh một cách phù hợp và
khoa học là vô cùng cần thiết. Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài: “ Thực trạng và giải
pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam (BIDV) Chi nhánh Cầu Giấy” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt
nghiệp của mình.
• Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn tìm hiểu tại các NHTM trên địa bàn Hà Nội cũng
như trong quá trình thực tập tại Chi nhánh BIDV Cầu Giấy đã cho tôi thấy được tầm
quan trọng của tín dụng tiêu dùng trong tình hình hiện nay. Việc nghiên cứu đề tài
nhằm đưa ra cho chúng ta tình hình thực trạng và những giải pháp nhằm mở rộng tín
dụng tiêu dùng tại Ngân hàng Phát triển và Đầu tư Việt Nam Chi nhánh Cầu Giấy.
Thông qua việc xây dựng phương pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng thực tiễn, tận dụng
thế mạnh của mình và khai thác tiềm năng vốn có của thị trường, …. Thông qua đó tối
đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro cho Chi nhánh và đáp ứng tốt nhất những nhu cầu
của khách hàng.
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Chi nhánh Cầu Giấy.
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tín dụng tiêu
dùng nói riêng của Chi nhánh Cầu Giấy giai đoạn 2007 - 2009.
• Kết cấu của luận văn.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia thành 3
chương như sau:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNGCHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN
HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH CẦU GIẤY.
Chương 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH CẦU GIẤY.
Đề tài được tập chung nghiên cứu và cố gắng đạt được những mục đích đề ra
song do những hạn chế về mặt kiến thức và thời gian nghiên cứu nên đề tài không tránh
khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết, rất mong nhận được sự đóng ghóp của Quý Thầy
Cô để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn Thạc Sỹ Nguyễn Thị Ngọc Diệp - Giảng viên hướng
dẫn; chân thành cảm ơn các Thầy Cô trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, các cô chú,
anh chị hiện đang công tác tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh
Cầu Giấy; bạn bè và gia đình đã hướng dẫn cung cấp số liệu, trao đổi kinh nghiệm và
giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề này.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 Tổng quan về NHTM.
1.1.1 Khái niệm NHTM.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định hướng trung gian mạng tính
chất tổng hợp. Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, NHTM hình thành trên cơ sở của sự
phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa và lịch sử phát triển cảu tiền tệ. Khi sản xuất phát
triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia
tăng lên, để khắc phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các quốc gia, khu vực thì xuất hiện
các thương gia làm nghề đổi tiền. Khi trao đổi hàng hóa phát triển quay trởi lại kích
thích sản xuất hàng hóa. Cùng sự phát triển đó, các nghiệp vụ được phát triển dần như
giữ tiền hộ, chi trả hộ, … trên cơ sở đó thực hiện các hoạt động tín dụng.
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế.
Các cá nhân, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước đều có thể gửi
những món tiền mà mình đang sở hữu. Cho nên có thể nói, Ngân hàng như là người thủ
quỹ của xã hội. Bên cạnh sự an toàn khi gửi tiền vào ngân hàng thì các chủ thể còn
được nhận nguồn thu nhập từ lãi suất tiền gửi.
Ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng cho hàng triệu hộ tiêu dùng để phục vụ
các nhu cầu trong cuộc sống như đi du học, mua nhà đất, mua ô tô, … Đối với các
doanh nghiệp, ngân hàng là một tổ chức tài chính quan trọng cung cấp tín dụng cho
doanh nghiệp khi doanh nghiệp cần thêm vốn để tiến hàng sản xuất kinh doanh, mua
sắm trang thiết bị, … Bên cạnh các hoạt động cơ bản đó, ngân hàng còn đứng ra cung
cấp một loạt các dịch vụ sản phẩm để đáp ứng những nhu cầu đang phát sinh theo xu
hướng phát triển xã hội như bão lãnh, tư vấn tài chính, … Ngoài ra dưới sự chỉ đạo của
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ngân hàng trung ương, ngân hàng còn tiến hành thực hiện các chính sách tiền tệ nhằm
góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo sự ổn định của xã hội.
Tóm lại, Ngân hàng là một tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Ngân hàng có
thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc qua vai trò mà chúng thực hiện
trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đang không ngừng thay đổi. Thực tế
rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm các công ty kinh doanh chứng khoán, các công ty
môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và các công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố
gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Ngược lại, Ngân hàng đang đối phó với các đối
thủ cạnh tranh bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ.
1.1.2 Chức năng của NHTM.
• Trung gian tài chính.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển
tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh
tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và
đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn; và (2) các cá
nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các
khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm.
Sự tồn tại của hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng.
Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi.
Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính của hai nhóm. Nếu
dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một
khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng. Nếu không thì đó là quan hệ cấp
phát hoặc hùn vốn. Quan hệ tín dụng trực tiếp (quan hệ tài chính trực tiếp) đã có từ rất
lâu và tồn tại cho đến ngày nay.
Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị giới hạn do sự không phù hợp về quy mô, thời
gian, không gian… Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều kiện nảy
sinh trung gian tài chính. Do chuyên môn hóa, trung gian tài chính có thể làm giảm chi
phí giao dịch. Như vậy trung gian tài chính đã tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó
mà khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn cho người đầu tư (tăng thu nhập cho
người đầu tư) từ đó mà khuyến khích đầu tư. Trung gian tài chính đã tập hợp các người
tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp. Cơ chế
hoạt động của trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kĩ thuật
nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
• Tạo phương tiện thanh toán.
Tiền – vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán. Các
ngân hàng đã không tạo được tiền kim loại. Các ngân hàng thợ vàng tạo phương tiện
thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng. Giấy nhận nợ do ngân hàng phát
hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều
người chấp nhận. Như vậy, ban đầu các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán
thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ. Với nhiều ưu thế,
dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và
phương tiện cất trữ; nó trở thành tiền giấy.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy
nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được
hàng hóa và các dịch vụ theo yêu cầu.
• Trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc
gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá rị hàng hóa và dịch vụ.
Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho
khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu,
các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền
giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân
hàng Trung ương hoặc qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân
hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì
vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lí tìm
cách áp dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính
thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn
giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập
đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm
thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.3 Các dịch vụ của NHTM.
Ngân hàng là một doanh cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh nghiệp.
Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài chính mà xã
hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả.
1.1.3.1 Mua bán ngoại tệ.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ -
một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí
dịch vụ. trong thị trường tài chính hiện nay mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân
hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời
yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.
1.1.3.2 Nhận tiền gửi.
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó ngân hàng tìm mọi cách để
huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi (thanh
toán và tiết kiệm của khách hàng). Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ
người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành
được các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửi như phần thưởng cho
khách hàng về việc sẵn sang hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng
sử dụng tạm thời để kinh doanh. Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất, chẳng
hạn như Ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% một năm để thu hút các khoản tiết kiệm
nhằm mục đích cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung hải với lãi suất gấp đôi hay
gấp ba lần lãi suất tiết kiệm.
1.1.3.3 Cho vay.
• Cho vay thương mại.
Ngay ở thời kì đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho
vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để
lấy tiền trước). Sau đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay
trực tiếp đối với các khách hàng (là người mua). Giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ
nhằm mở rộng sản suất kinh doanh.
• Cho vay tiêu dùng.
Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cục cho vay đối với cá
nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ tương
đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã
buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những
loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
• Tài trợ dự án.
Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng càng trở lên
năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành
công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dụng này nói chung là cao song lãi lại lớn.
Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào đất.
1.1.3.4 Bảo quản vật có giá.
Các ngân hàng thực hiện viêc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách
hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng nắm giữ vàng và giao cho khách tờ biên nhận
(giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành). Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho giấy
chứng nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền – dùng để thanh toán các
khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành. Lợi ích của việc sử dụng
phương tiện thanh toán bằng giấy bạc ngân hàng. Ngày nay vật có giá được tách khỏi
tiền gửi và khách hàng phải trả phí đảm bảo.
1.1.3.5 Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không chỉ
bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Thanh toán qua
ngân hàng đã mở đầu cho thanh tóan không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không
cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết chi trả cho khách (còn được gọi là
séc), khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của thanh
toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí, …) đã
góp phẩn rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân. Khi
ngân hàng mở chi nhánh, thanh toán qua ngân hàng được mở rộng phạm vi, càng tạo
nhiều tiện ích cho các doanh nhaanh. Điều này đã khuyến khích các doanh nhân gửi tiền
vào ngân hàng nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Như vậy, một giao dịch mới, quan trọng
nhất được phát triển đó là tài khoản tiền gửi giao dịch, cho phép người gửi viết séc
thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới
này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân
hàng. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều thể thức thanh toán được
phát triển như Ủy nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng điện, thẻ, …
1.1.3.6 Quản lý ngân quỹ.
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều
cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do
có kinh nghiệp trong quản lí ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lí ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý
quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư
tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách
hàng cần tiền mặt để thanh toán.
1.1.3.7 Tài trợ các hoạt động của Chính phủ.
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành
trọng tâm chú ý của các Chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong
khi thu không đủ. Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của
ngân hàng. Trong điều kiện các ngân hàng tư nhân không muốn tài trợ cho Chính phủ vì
rủi ro cao, Chính phủ thường dùng một số đặc quyền trao đổi lấy các khoản vay của
những ngân hàng lớn. Khi ngân hàng Trung ương thành lập, Chính phủ đều tìm cách
tham dự, hoặc trực tiếp can thiệp để có các khoản tín dụng lớn. Ngày nay, Chính phủ
giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp
giấy phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép
thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách
của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ
theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được; hoặc
phải cho vay với điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của Chính phủ.
1.1.3.8 Bảo lãnh.
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân
hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho
khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát
triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá
và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác…
1.1.3.9 Cho thuê thiết bị trung và dài hạn.
Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng
sản xuất và thương mại đã cho thuê (thay vì bán) các thiết bị. Cuối hợp đồng thuê,
khách hàng có thể mua (do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua). Rất nhiều ngân hàng
tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết
thông qua hựp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê.
Hợp đồng cho thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị
của tài sản cho thuê. Do vậy, cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như
cho vay, và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
1.1.3.10 Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có nhiều chuyên gia về
quản lí tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài
sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay
hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư… Thậm chí, các ngân hàng
đóng vai trò là người được uỷ thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua
đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng còn coi
ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư,
về quản lí tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.
1.1.3.11 Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán.
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép
khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đầu là một trong những lý do chính khiến các ngân
hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội
mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh
doanh chứng khoán. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng
khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán.
1.1.3.12 Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm.
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó bảo
đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hành bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong
hoạt động, mất khả năng thanh toán.
1.1.3.13 Cung cấp các dịch vụ đại lý.
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc
văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ
ngân hàng đại lí cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ
tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
1.2 Tổng quan về hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM.
1.2.1 Khái niệm và phân loại cho vay.
2.2.1 Khái niệm cho vay.
Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng
nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế như tiết kiệm, dịch vụ
thanh toán, đặc biệt là hoạt động cho vay.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cho vay là một hoạt động truyền thống và là chức năng kinh tế hàng đầu của
Ngân hàng, giúp Ngân hàng chuyển tiết kiệm thành đầu tư.
Theo QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức
tín dụng đối với khách hàng, cho vay được hiểu như sau: “Cho vay là một hình thức cấp
tín dụng, theo đó, tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử
dụng vào mục đích và trong thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn
trả cả gốc và lãi”.
2.2.2 Phân loại cho vay.
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên
một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại cho vay thích hợp và cơ sở khoa học là tiền
đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín
dụng. Phân loại cho vay dựa vào các căn cứ sau đây:
• Theo mục đích:
- Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng
bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại dịch
vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn
lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân
bón, thuốc trừ sâu…
- Cho vay các định chế tài chính bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công
ty tài chính…
- Cho vay cá nhân là cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các
vật dụng đắt tiền, và các khoản vay để trang trải các chi phí thong thường của đời sống
thông qua phát hành thẻ tín dụng.
• Theo thời hạn cho vay.
Theo căn cứ này cho vay được chia ra làm 3 loại:
- Cho vay ngắn hạn: loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng
để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn
của cá nhân.
- Cho vay trung hạn: theo qui định hiện nay của ngân hàng nhà nước Việt Nam,
cho vay trung hạn có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm. Cho vay trung hạn chủ yếu sử
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản
xuất kinh doanh…
- Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể
lên đến 20 – 30 năm. Cho vay dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn
như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựn xí nghiệp
mới.
• Theo tài sản đảm bảo.
- Cho vay không bảo đảm là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc
sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách
hàng.
- Cho vay có bảo đảm là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp
hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba.
• Theo phương pháp hoàn trả .
Cho vay có thời hạn là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp
đồng. Cho vay có thời hạn bao gồm các loại sau:
- Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ ( hay còn gọi là phí trả góp ) là loại cho vay
thanh toán một lần theo thời hạn đã thỏa thuận.
- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là cho vay trả góp: Là loại
cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ.
- Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể, mà việc trả
nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay.
- Cho vay không có thời hạn cụ thể: đối với loại cho vay có thời hạn thì ngân
hàng có thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả bất cứ lúc nào, nhưng phải báo
trước một thời gian hợp lý, thời gian này sẽ được thỏa thuận trong hợp đồng
• Theo cách thức tài trợ .
Dựa vào căn cứ này cho vay tín dụng chia làm hai loại:
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng
thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại
các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời gian thanh toán.
2.3.2 Cho vay tiêu dùng của NHTM.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
14
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.2.2.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu
của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan
trọng giúp những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ…Bên
cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch… cũng có thể được tài
trợ bở cho vay tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng không có một định nghĩa chuẩn, nhưng nó có những đặc điểm
sau:
• Khách hàng vay: Chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu tiêu
dùng tại thời điểm hiện tại nhưng chưa có khả năng thanh toán.
• Mục đích vay: Ngân hàng cho vay tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng cá nhân chứ không phải là nhu cầu kinh doanh.
• Qui mô khoản vay: Mỗi khoản vay thường có qui mô tương đối nhỏ so với
các khoản cho vay kinh doanh. Cho vay bất động sản có thể có giá trị lớn hơn, nhưng
giá trị so sánh vẫn nhỏ hơn các món vay khác tại Ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu do
khách hàng chỉ vay tiêu dùng khi đã có một lượng vốn tương đối, chỉ vay ngân hàng để
bổ sung số tiền còn thiếu (so với vay kinh doanh, có thể chủ đầu tư vay toàn bộ số tiền
cần thiết cho dự án). Mặt khác, do cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao hơn nên Ngân
hàng cũng thường thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay, căn cứ vào khả
năng trả nợ và tài sản đảm bảo của khách hàng.
• Số lượng các khoản cho vay tiêu dùng: lại là rất lớn do đối tượng của loại
hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội với nhu cầu tiêu dùng đa dạng. Khi chất
lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay
Ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống. Do đó, nền kinh tế càng phát triển, số
lượng các khoản vay tiêu dùng sẽ càng nhiều.
• Thời hạn vay: Các khoản cho vay tiêu dùng thì thời hạn thường là ngắn và
trung hạn do món vay có giá trị nhỏ và độ rủi ro cao đối với Ngân hàng. Tuy nhiên, đối
với cho vay bất động sản lại thường có thời hạn dài do người dân phải tích lũy thu nhập
một thời gian tương đối mới có thể đủ tiền trả Ngân hàng.
• Nguồn trả nợ: Nguồn trả nợ chủ yếu của khoản vay tiêu dùng chính là thu
nhập của người đi vay, do đó Ngân hàng thường xem xét mức thu nhập thường xuyên
của khách hàng để quyết định xem có cho vay không. Đây cũng là một điểm khác biệt
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
15
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
so với cho vay kinh doanh -nguồn trả nợ chủ yếu của món vay này là lợi nhuận khi thực
hiện phương án kinh doanh đó.
• Lãi suất: Khi vay tiền, khách hàng thường kém nhạy cảm với lãi suất mà họ
quan tâm tới khoản tiền phải trả hàng tháng, thời gian được giải ngân và khả năng trả
nợ của mình. Nguyên nhân chủ yếu là người tiêu dùng thường coi vay mượn là công cụ
để đạt đươc một cuộc sống thoải mái hơn chứ không phải là một lựa chọn dùng trong
tình trạng khẩn cấp hoặc để tạo ra lợi nhuận.
• Rủi ro: Các khoản cho vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao. Sau đây là
một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.
• Thông tin tài chính của cá nhân và hộ gia đình thường khó đầy đủ và rõ
ràng như thông tin về doanh nghiệp (công khai thông qua báo cáo tài chính), dẫn đến
rủi ro đạo đức và rủi ro thông tin không cân xứng. Các cá nhân có thể tìm cách trốn
tránh không trả các khoản vay cho dù có khả năng thanh toán.
• Nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập ổn định tại thời điểm hiện tại của
người vay. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khoẻ, mất việc làm hay gặp các
biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong
thu hồi nợ. Đây là rủi ro khó lường trước, khác với món vay kinh doanh ta có thể hạn
chế được thông qua nâng cao chất lượng thẩm định dự án.
• Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kì kinh tế. Khi nền kinh tế
mở rộng, người dân lạc quan về tương lai thì họ sẽ vay ngân hàng nhiều hơn, và khi nền
kinh tế suy thoái, tình trạng thất nghiệp tăng thì họ sẽ hạn chế vay mượn ngân hàng.
• Chi phí: Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục có chi phí lớn
nhất trong danh mục cho vay của Ngân hàng. Do trong cho vay tiêu dùng số lượng món
vay nhiều, khách hàng đông và đa dạng nhưng mỗi khoản vay số lượng lại nhỏ, ngân
hàng phải huy động nhiều nhân lực cho công việc cho vay, từ khâu tiếp nhận hồ sơ,
thẩm định khách hàng, quyết định cho vay, giải ngân cũng như kiểm soát và thu nợ đối
với khách hàng sau khi cho vay. Mặt khác, Ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn để
quản lý các khoản cho vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn do đối với
khách hàng cá nhân, thông tin về tình hình tài chính thường không công khai minh bạch
như ở các công ty lớn. Tất cả những điều này kiến chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ
cho vay cao hơn so với các loại hình cho vay khác.
• Lợi nhuận: Lợi nhuận của cho vay tiêu dùng thường cao do cho vay tiêu
dùng có rủi ro cao, chi phí cao và tâm lý người vay “kém nhạy cảm với lãi suất”. Các
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
16
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
khoản vay tiêu dùng thường được định giá cao, đến mức mà bản thân lãi suất vay vốn
trên thị trường lẫn tỉ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản tín
dụng tiêu dùng mới không mang lại lợi nhuận.
• Tính chu kì: Khác với các khoản vay thương mại, nhu cầu phát sinh theo
chu kì kinh doanh lặp đi lặp lại, trong cho vay tiêu dùng, người vay thường ít vay nhiều
lần.
1.2.2.2 Vai trò của hoạt động chi vay tiêu dùng trong các NHTM.
• Đối với ngân hàng
Ngoài hai nhược điểm lớn của cho vay tiêu dùng là rủi ro và chi phí cao, cho vay
tiêu dùng có những lợi ích và vai trò quan trọng để ngân hàng thúc đẩy cho vay tiêu
dùng như:
- Giúp mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các
loại tiền gửi cho ngân hàng.
Tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân
tán rủi ro cho ngân hàng.
• Đối với người tiêu dùng.
Nhờ cho vay tiêu dùng họ hưởng các tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền và đặc
biệt quan trọng hơn nó rất cần thiết cho những trường hợp khi cá nhân có các chi tiêu có
tính cấp thiết, cấp bách như nhu cầu chi tiêu cho giáo dục và y tế.
• Đối với nhà sản xuất.
Tạo điều kiện để người tiêu dùng có thể mua hàng hoá nhiều hơn và nhanh hơn
là đã giúp nhà sản xuất bán được sản phẩm, quay vòng vốn nhanh hơn, mở rộng sản
xuất, do đó lợi nhuận cũng tăng lên. Đây cũng là nguyên do khiến càng ngày càng nhiều
nhà sản xuất mong muốn hợp tác với Ngân hàng để mở rộng cho vay tiêu dùng.
• Đối với nền kinh tế.
Nếu cho vay tiêu dùng được dùng để tài trợ cho các chi tiêu về hàng hóa và dịch
vụ trong nước thì nó có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, tạo điều kiện thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động trong xã hội.
Chính vì lợi ích như vậy NHTM một mặt cho vay để tạo nên sự hòa hợp giữa
cung và cầu tiêu dùng, mặt khác lại có thể giải quyết tốt được nhiệm vụ kích cầu tiêu
dùng của nền kinh tế.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
17
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.2.2.3 Các loại cho vay tiêu dùng của NHTM.
Việc phân loại cho vay tiêu dùng được dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau:
a. Căn cứ vào mục đích vay.
Căn cứ vào mục đích vay, cho vay tiêu dùng được chia ra làm hai loại:
• Cho vay tiêu dùng cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua
sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.
• Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải
các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí du lịch…
b. Căn cứ vào tiêu thức hoàn trả.
Căn cứ vào tiêu thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng có thể chia làm ba loại:
• Cho vay tiêu dùng trả góp: đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người
đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất
định trong thời hạn vay. Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản vay có
giá trị lớn hoặc thu nhập từng định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán
hết một lần số nợ vay.
• Cho vay phi trả góp: theo phương thức này tiền vay được khác hàng thanh
toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản cho vay tiêu dùng
phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.
• Cho vay tuần hoàn: là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho
phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa
trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thỏa thuận
trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được
ngân hàng cho phép thực hiện vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn
mức tín dụng.
c. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ.
Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ, cho vay tiêu dùng gồm:
• Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay
trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu
hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng.
• Cho vay trực tiếp: là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực
tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
18
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.3 Vai trò của cho vay tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay.
1.3.1 Tình hình Kinh tế - Xã hội của Việt Nam hiện nay.
Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam đã biến đổi mạnh, đã đạt được nhiều
thành công to lớn, mang tầm vóc quốc tế. Ngày 7/11/2006 Việt Nam được Tổ chức
thương mại quốc tế (viết tắt WTO: World Trade Organization) phê chuẩn là thành viên
thứ 150, đánh dấu bước n goặt phát triển của nền kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời
đại mới. Có thể nói trong năm năm trở lại đây Việt Nam là nước có nền kinh tế đang
phát triển với tốc độ cao trong khu vực Đông Nam Á, tốc độ tăng trưởng GDP năm
2007 đạt 8,48 %; năm 2008 đạt 6,18%; năm 2009 đạt 5,32%. Tốc độ tăng trưởng GDP
năm 2009 thấp hơn tốc độ tăng trưởng năm 2008 nhưng đã vượt mức chỉ tiêu 5% của
kế hoạch đề ra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, nhiều nền kinh tế có mức
tăng trưởng âm và kết quả đạt được như vậy là một thành công lớn. Trong năm 2009,
ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 10 tỷ USD, bằng 87%
so với năm 2008. Cơ cấu ngành kinh tế được chuyển theo hướng tích cực: giảm tương
đối nhanh tỷ trọng nhóm nghành nông, lâm nghiệp - thủy sản, tăng mạnh tỷ trọng nhóm
nghành công nghiệp - xây dựng và tăng dần nhóm nghành dịch vụ. Việc chuyển đổi cơ
cấu nghành kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng, phản ánh chất lượng tăng trưởng kinh tế,
nhằm phát huy lợi thế vừa tranh thủ thời cơ của thế giới.
Kinh tế Việt Nam sau 20 năm đổi mới đã có những bước phát triển vượt bậc cả
về kinh tế - xã hội lẫn chính trị. Chính phủ ta không ngừng mở rộng quan hệ đối ngoại,
tạo nên tình hữu nghị thân thiết giữa các quốc gia trên thế giới nhằm thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, kích thích nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, với nền kinh tế nhiều thành
phần. Trong đó, tài chính là một trong những nghành được đầu tư rất cao như nghành
Ngân hàng, chứng khoán, cho thuê tài chính, bảo hiểm, ... Kinh tế tăng trưởng giúp đời
sống người dân được nâng cao, kéo theo tình hình trật tự - an toàn xã hội tăng, các tệ
nạn xã hội giảm, người dân có công ăn việc làm ổn định, thu nhập bình quân đầu người
tăng cao, ...
1.3.2 Vai trò của cho vay tiêu dùng trong tình hình hiện nay.
Đẩy mạnh CVTD là xu hướng tất yếu, nhất là trong điều kiện khách quan của
nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập, khi mà mức sống người dân được nâng cao,
đồng thời đó cũng là chiến lược, mục tiêu và là thị trường đầy tiềm năng của các ngân
hàng thương mại Việt Nam.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
19
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Có thể nói thị trường tiêu dùng ở nước ta ngày càng phong phú và đa dạng.
Ngoài những nhu cầu thiết yếu (như ăn mặc, ăn ở, đi lại, ...) còn những nhu cầu cao hơn
(như vui chơi, giải trí, du lịch, du học, ...). Mức sống của người dân được nâng cao, yêu
cầu của cuộc sống cao hơn (như nhu cầu được tôn trọng, vị trí trong xã hội, ...). Mặt
khác, Việt Nam được đánh giá là nước có nền chính trị ổn định vào bậc nhất Châu Á,
nền kinh tế với tốc độ phát triển khá cao thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài, như
vậy, tiềm năng về lĩnh vực CVTD là rất rộng lớn, đang mở ra cho hoạt động của các
NHTM.
Với trình độ công nghệ tiến bộ ngày nay, dịch vụ thanh toán qua thẻ đã trở thành
công cụ phổ biến, người dân đã có thói quen chi trả tiền qua tài khoản, nhất là qua các
năm gần đây thị trường thẻ ATM ở Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ. Đây là một môi
trường đầy tiềm năng cho việc phát triển mạnh mạng lưới dịch vụ tín dụng qua thẻ của
ngân hàng (như cho vay thấu chi, thẻ tín dụng, ...).
Trong nền kinh tế thị trưởng mở, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày càng cao,
nhất là ngân hàng bán lẻ, dịch vụ thường đơn giản, dễ thực hiện, trong đó chú trọng
pháp triển các dịch vụ tín dụng tiêu dùng như: cho vay thế chấp nhà, cho vay tín chấp,
cho vay thấu chi qua thẻ tín dụng, cầm cố sổ tiết kiệm, ... Cần có một chính sách khách
hàng nhất quán để có thể quản lý tập chung và phân đoạn khách hàng theo từng mạng
lưới chi nhánh, nhằm khai thác hết nguồn lực rất lớn trong dân cư.
Việt Nam ra nhập WTO đã mở ra cánh cửa hội nhập lớn cho nền kinh tế - chính
trị của đất nước, đời sống nhân dân được nâng cao, nhu cầu cuộc sống ngày càng chất
lượng và hiện đại. Đặc biệt là dịch vụ ngân hàng đã trở thành công cụ hữu dụng cho
cuộc sống người dân trong thanh toán, cất giữ tiền tiết kiệm (hạn chế không sử dụng
tiền mặt, tiết kiệm chi phí, ...), ngân hàng còn hỗ trợ vốn cho người dân trong kinh
doanh, chi tiêu, học hành, y tế, ...
Do đó, các NHTM Việt Nam đã và đang phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đặc
biệt là các sản phẩm TDTD, đây là xu thế tất yếu phù hợp với xu hướng chung của các
ngân hàng của các ngân hàng trong khu vực và thế giới. Phục vụ đối tượng khách hàng
cá nhân, hộ kinh doanh nhỏ, đảm bảo cho ngân hàng quản lý rủi ro hữu hiệu, cung ứng
dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng, định hướng kinh doanh, thị trường sản phẩm
mục tiêu, giúp ngân hàng đạt hiệu quả kinh doanh tối ưu. Có thể nói tại Việt Nam, kinh
tế tăng trưởng liên tục, môi trường pháp lý hoàn thiện dần dần, nhu cầu xã hội ngày
càng tăng, thị trường sản phẩm TDTD còn rất nhiều tiềm năng phát triển.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
20
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN - CHI NHÁNH CẦU GIẤY.
2.1 Khái quát về chi nhánh.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển.
Lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu
Giấy một phần gắn liền với sự ra đời của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Do đó
trước hết chúng ta khái quát quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam như sau:
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) được thành lập theo Quyết định
số 177/TTG ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ và được thành lập theo Quyết định
số 287/QĐ-NH5 ngày 21/09/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Trong quá trình
hoạt động và trưởng thành, Ngân hàng được mang cái tên gọi khác nhau phù hợp với từng
thời kỳ xây dựng và phát triển của đất nước.
- Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam từ ngày 26/04/1957 (Theo quyết định
177/TTG ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ).
- Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam từ ngày 24/06/1981 (Theo Quyết
định số 259-CP của Hội đồng Chính phủ).
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ ngày 14/11/1990 (Theo Quyết
định số 401-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng).
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong bốn Ngân hàng Thương mại
nhà nước lớn nhất ở Việt Nam được hình thành sớm nhất và lâu đời nhất, là doanh nghiệp
nhà nước hạng đặc biệt, được hoạt động theo mô hình Tổng Công ty Nhà nước. Tính đến
31/12/2009 tổng tài sản của BIDV đạt 282,209 tỷ đồng. Hiện nay, mô hình tổ chức của
BIDV gồm 5 khối lớn: Khối Ngân hàng Thương mại Quốc doanh ( bao gồm sở giao dịch
và các chi nhánh trên toàn quốc); Khối công ty; Khối các đơn vị sự nghiệp; Khối liên
doanh; Khối đầu tư. Tổng số cán bộ công nhân viên của toàn bộ hệ thống đạt trên 10.000
người vừa có kinh nghiệp vừa có am hiểu công nghệ ngân hàng hiện đại. Quá trình phát
triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thể hiện qua các thời kỳ phát triển
sau đây:
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
21
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thời kỳ từ 1957 – 1990:
Ngày 26/04/1957 Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam – tiền thân của Ngân hàng
ĐT&PT VN – được thành lập với quy mô ban đầu gồm 8 chi nhánh và 200 cán bộ. Nhiệm
vụ chủ yếu của Ngân hàng Kiến thiết là thực hiện cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ
nguồn ngân sách cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Ngày 24/06/1981 Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng
Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nhiệm vụ chủ
yếu của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng cơ bản tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thuộc kế
hoạch nhà nước.
Thời kỳ từ 1990 đến nay:
Ngày 14/11/1990 Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đổi tên thành Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có trụ sở đóng tại 194 Trần Quang Khải – Hà Nội và
có các chi nhánh trực thuộc tại các tỉnh và thành phố, đặc khu thuộc Trung ương. Đây là
thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, chuyển đổi từ cơ chế tập
chung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Do đó nhiệm vụ của
BIDV được thay đổi cơ bản: Tiếp tục nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ
tiêu kế hoạch Nhà nước; huy động các nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay đầu tư phát
triển; kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hang chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục
vụ đầu tư và phát triển.
Từ 1/1/1995 BIDV đã có sự chuyển đổi cơ bản: Được phép kinh doanh đa năng
tổng hợp như một Ngân hàng Thương mại, phục vụ chủ yếu cho đầu tư phát triển của đất
nước.
Từ 1996 đến nay được ghi nhận là thời kỳ “chuyển mình, đổi mới, lớn lên cùng đất
nước” chuẩn bị nền móng vững chắc và tạo đà cho sự “cất cánh” của BIDV. Ghi nhận
những đóng ghóp của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam qua các thời kỳ, Đảng và
Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã tặng BIDV nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý:
Huân chương độc lập hạng Nhất, hạng Ba; Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba;
Danh hiệu Anh hung lao động thời kỳ đổi mới. Huân chương Hồ Chí Minh, …
Ngày 31/10/1963 Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy được thành
lập và là một trong các Chi nhánh của Ngân hàng Kiến thiết Hà Nội. Đến năm 1982, Ngân
hàng Kiến thiết Việt nam đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng sau được đổi tên
thành Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Từ Liêm trực thuộc Chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và Xây dựng Hà Nội trong hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
22
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Đến ngày 14/11/1990 Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, theo đó Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Từ Liêm.
Đến ngày 16/09/2004. Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy
được thành lập theo Quyết định số 252/QĐ – HĐQT của Chủ tịch HĐQT Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam, trên cơ sở nâng cấp Chi nhánh Từ Liêm là chi nhánh
cấp II trực thuộc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội. Tên giao dịch của Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy (gọi tắt là NHĐT&PT Cầu Giấy). Chi nhánh NHĐT&PT
Cầu Giấy có trụ sở chính tại 263 Cầu Giấy, Quận Cầu Giấy, Hà Nội. NHĐT&PT Cầu
Giấy là chi nhánh cấp I hoạch toán độc lập, tự chụi trách nhiệm trong kinh doanh và
chụi sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Chi nhánh có
chức năng, nhiệm vụ thực hiện hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác của BIDV
Việt Nam theo luật các tổ chức tín dụng, theo điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo quy chế hoạt động của chính Chi nhánh.
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ các phòng ban.
Trước khi tìm hiểu về chức năng nhiệm vụ các phòng ban, chúng ta cùng tìm
hiểu cơ cấu tổ chức của BIDV – Cầu Giấy theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh.
Nguồn: Phòng tổ chức - Hành chính.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
23
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Sau đây là chức năng của các phòng ban:
2.1.2.1 Phòng Quan hệ khách hàng doanh nghiệp.
- Đề xuất kế hoạch, chính sách: Xây dựng và tham mưu cho Giám đốc chi nhánh
triển khai các kế hoạch ngân sách, các chỉ tiêu tài chính và thương mại, cân đối lãi lỗ trong
quan hệ với các khách hàng.
- Thiết lập, duy trì phát triển mối quan hệ với khách hàng. Duy trì, phục vụ đối với
khách hàng hiện tại đồng thời thiết lập mối liên hệ với các khách hàng tiềm năng trong thị
trường mục tiêu để mở rộng khách hàng.
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
Giám đốc
Phó giám đốc Phó giám đốc Phó giám đốc
Phòng
tín
dụng
Phòng
giao
Dịch
1,2
6 Quỹ
Tiết
Kiệm
Phòng
thẩm
định
QLDT
Phòng
kiểm
tra nội
bộ
Phòng
kế toán
và điện
toán
Phòng
Tổ
chức
hành
chính
Phòng
DV
Khách
hàng
CN
Phòng
DV
Khách
hàng
DN
Phòng
tiền tệ
kho
quỹ
Phòng
Tổ
chức
hành
chính
Phòng
kế
hoạch
nguồn
vốn
24
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Tiếp thị, bán các sản phẩm cho khách hàng: Trực tiếp thực hiện việc tiếp thị, quản
lý, chăm sóc, duy trì và phát triển quan hệ của Chi nhánh với các khách hàng.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Ban giám đốc.
2.1.2.2 Phòng Quan hệ khách hàng cá nhân.
- Đề xuất kế hoạch chính sách: Xây dựng và tham mưu cho Giám đốc chi nhánh
triển khai các kế hoạch ngân sách, các chỉ tiêu tài chính và thương mại trong quan hệ với
các khách hàng.
`- Thiết lập, duy trì phát triển mối quan hệ với khách hàng. Duy trì, phục vụ đối với
khách hàng hiện tại đồng thời thiết lập mối liên hệ với các khách hàng tiềm năng trong thị
trường mục tiêu để mở rộng khách hàng.
Theo dõi, quản lý việc sử dụng hạn mức của khách hàng.
- Tiếp thị, bán các sản phẩm cho khách hàng: Trực tiếp thực hiện việc tiếp thị, tiếp
nhận, hướng dẫn khách hàng, duy trì và phát triển quan hệ của Chi nhánh với các khách
hàng.
2.1.2.3 Phòng Quản lý rủi ro.
- Thực hiện rà soát, đánh giá và thẩm định rủi ro tín dụng đối với khách hàng.
- Đầu mối tham mưu, đề xuất với Giám đốc chi nhánh xây dựng những văn bản
hướng dẫn công tác quản lý rủi ro, xây dựng chương trình và các giải pháp thực hiện nhằm
nâng cao chất lượng công tác quản lý rủi ro theo quy định, quy trình của Nhà nước và BIDV về
công tác quản lý rủi ro.
2.1.2.4 Phòng Quản trị tín dụng.
- Trực tiếp thực hiện yêu cầu nghiệp vụ về quản trị tín dụng của Chi nhánh theo quy
trình, quy định của BIDV và của Chi nhánh.
- Tiếp nhận hồ sơ cấp tín dụng/bảo lãnh từ Phòng Quan hệ khách hàng và nhập dữ
liệu đầy đủ, chính xác vào hệ thống quản lý và chịu trách nhiệm lưu trữ toàn bộ hồ sơ theo
quy định.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Ban giám đốc.
2.1.2.5 PhòngThanh toán quốc tế.
Thực hiện xử lý các giao dịch tài trợ thương mại theo đúng quy trình tài trợ thương
mại và hạch toán kế toán những nghiệp vụ liên quan mà phòng thực hiện trên cơ sở hồ sơ
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
25
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đã được phê duyệt. Thực hiện nghiệp vụ phát hành bảo lãnh đối ứng theo đề nghị của ngân
hàng nước ngoài. Thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền quốc tế (nếu được giao)
2.1.2.6 Phòng Dịch vụ & Quản lý Kho quỹ.
Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ về quản lý kho tiền và quỹ nghiệp vụ (tiền mặt, hồ
sơ tài sản thế chấp, cầm cố, chứng từ có giá, vàng, bạc đá quý; các tài sản do khách hàng
gửi giữ hộ,...).
2.1.2.7 Phòng Kế hoạch Tổng hợp.
Công tác kế hoạch - nguồn vốn:
- Tham mưu, giúp việc cho Giám đốc chi nhánh điều hành nguồn vốn; chịu trách
nhiệm về việc đề xuất chính sách biện pháp, giải pháp phát triển nguồn vốn và các biện
pháp giảm chi phí vốn để góp phần nâng cao lợi nhuận; đề xuất các biện pháp nâng cao
hiệu suất sử dụng nguồn vốn theo chủ trương và chính sách của Chi nhánh/BIDV; trực tiếp
thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ với các khách hàng theo quy định và trình Giám
đốc giao hạn mức mua bán ngoại tệ cho các phòng có liên quan.
- Đầu mối, tham mưu, giúp việc Giám đốc chi nhánh tổng hợp, xây dựng kế
hoạch kinh doanh, kế hoạch phát triển của Chi nhánh hàng năm, trung và dài hạn; xây
dựng chương trình tháng, quý để thực hiện kế hoạch kinh doanh; xây dựng chính sách
marketing, chính sách phát triển khách hàng, chính sách huy động vốn và lãi suất của
chi nhánh, chính sách phát triển dịch vụ của Chi nhánh, kế hoạch phát triển mạng lưới
và các kênh phân phối sản phẩm.
2.1.2.8 Phòng điện toán.
Phối hợp với Phòng điện toán khu vực và trực tiếp quản lý mạng, quản trị hệ thống
phân quyền truy cập, kiểm soát tại Chi nhánh, tổ chức vận hành hệ thống thiết bị tin học và
các chương trình phần mềm được áp dụng ở Chi nhánh theo đúng quy định, quy trình của
BIDV.
2.1.2.9 Phòng Tài chính - Kế toán.
Tổ chức thực hiện và kiểm tra công tác hạch toán kế toán chi tiết, kế toán tổng hợp và
chế độ báo cáo kế toán, theo dõi quản lý tài sản (giá trị), vốn, quỹ của Chi nhánh theo đúng
quy định của nhà nước và Ngân hàng.
2.1.2.10 Phòng Tổ chức hành chính.
- Trực tiếp thực hiện chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm, quản lý lao động; theo dõi
thực hiện nội quy lao động, thoả ước lao động tập thể; theo dõi tổ chức thực hiện kế hoạch
Sinh viên: Lê Bảo Trung_NH48A
26

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×