Tải bản đầy đủ

LUẬN VĂN: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay doc








LUẬN VĂN:

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đội ngũ lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay











lời mở đầu
Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Công nghiệp hoá là một quá trình tất yếu tiến lên của mọi quốc gia phù hợp với xu thế
chung của lịch sử phát triển của nhân loại. Tại hội nghị Trung ương lần thứ VII khoá VII
đồng chí Đỗ Mười phát biểu có đoạn nói "Có thể coi công nghiệp hoá là phương tiện để
chuyển tải công nghệ mới vào cuộc sống, để làm được việc này điều quyết định là ở con
người. Qua đây chúng ta có thể hiểu sâu sắc rằng nâng cao cả mặt bằng dân trí và đỉnh cao
dân trí bồi dưỡng, phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết
định thắng lợi của công cuộc CNH - HĐH cũng ghi rõ" đào tạo bồi dưỡng và phát huy
mọi tiềm năng của đội ngũ trí thức để tạo nguồn lực trí tuệ và nhân tài cho đất nước. Đặc
biệt coi trọng việc xây dựng một đội ngũ công nhân lành nghề, những nhà kinh doanh có
tài, những nhà quản lý giỏi và các nhà khoa học kỹ thuật có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao Động viên sự cống hiến của đồng bào Việt Nam ở nước ngoài góp phần tích cực xây
dựng quê hương xứ sở".
Nhu cầu lao động lành nghề, lao động có chuyên môn kỹ thuật cao là nhu cầu tất
yếu phổ biến cho mọi thời đại, nhưng trong thời kỳ khoa học kỹ thuật phát triển như vũ
bão thì nhu cầu này ngày càng to lớn và bức thiêtài sản để thích ứng kịp thời với những
biến đổi mới. Do đó, xu hướng chung của thế giới hiện nay là phải học suốt đời, giáo dục
trước, việc làm sau. Vấn đề then chốt để đứng vững và thắng lợi trong cạnh tranh trước hết
là chất lượng: chất lượng sản phẩm, chất lượng công việc mà chất lượng thì không thể
tránh khỏi chủ thể tạo ra nó là con người, là trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Mọi tài
nguyên đều có hạn, chỉ có sức sáng tạo của con người là vô hạn". Đó là một triết lý. Vì lẽ
đó, khi bàn đến chiến lược phát triển kinh tế ở mọi thời đại người ta thường nói đến yếu tố
con người, đến vai trò của lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Việt Nam ta từ xưa có truyền thống coi trọng người hiền tài, ngày nay càng có nhu
cầu to lớn và bức thiết đối với người hiền tài, người lao động có kỹ thuật cao để vươn tới
ngang tầm khu vực và thế giới, đứng vững và cạnh tranh thắng lợi trong cạnh tranh của
nền kinh tế thị trường.



Vì vậy cần đánh giá đúng thực trạng tình hình cung và cầu sức lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao, trên cơ sở đó, phát huy hơn nữa mặt mạnh, bổ khuyết vào mặt
yếu để tiếp tục phát triển bền vững.
Đề tài: "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay" là một lĩnh vực bao gồm nhiều
vấn đề rộng lớn, đa dạng và phức tạp.
Bài viết này chủ yếu tập trung nghiên cứu một số vấn đề nhằm đạt được những mục
tiêu sau:


Phân tích, đánh giá về thực trạng đào tạo và sử dụng có hiệu quả đội ngũ lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và những yếu tố cơ bản tác động tới đội ngũ lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong nền kinh tế thị trường.
Khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta trong giai đoạn từ nay đến 2010.
Đề tài bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao.
Chương II: Một số nét chủ yếu về thực trạng lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao ở nước ta hiện nay.
Chương III: Một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay.



mục lục
Chương I: Cơ sở lý luận về lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao 7
1. Tầm quan trọng của lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao 7
2. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 8
2.1. Một số khái niệm có liên quan và đặc trưng của nó 8
2.2. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 11
3. Các yếu tố tác động đến cung cầu của lực lượng lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao. 14
3.1. Các yếu tố tác động đến cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
14
3.2. Các yếu tố tác động đến cầu 15
Chương II: Một số nét chủ yếu về thực trạng lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao 17
I. Cung và các nhân tố tác động tới cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao 17
1. Thực trạng về đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
17
1.1. Đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong giai đoạn
trước đổi mới (1986) 17
1.2. Trong giai đoạn sau đổi mới 18
2. Một số mặt hạn chế đối với nguồn cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao 19
2.1. Số lượng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 19
2.2. Cơ cấu lực lượng lao động có trình độ cao 19



2.3. Chất lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 21
II. Cầu và các nhân tố tác động tới cầu 22
1. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và sự phân bố ở
nước ta hiện nay. 22
1.1. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 11
1.2. Tình hình phân bố lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện
nay. 23
2. Thực trạng việc làm và sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao ở nước ta hiện nay 24
2.1. Thực trạng việc làm 24
2.2. Thực trạng sử dụng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
25
3. Sự dịch chuyển đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và tác
động của nền kinh tế thị trường đến sự dịch chuyển 26
3.1. Sự dịch chuyển đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 26
3.2. Tác động của nền kinh tế thị trường đến sự dịch chuyển của lực lượng lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 28
3.3. Ưu nhược điểm của sự dịch chuyển lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao 29
4. Nhu cầu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thời kỳ 1996 - 2000
31
4.1. Về cơ cấu ngành kinh tế 31
4.2. Về cơ cấu thành phần kinh tế 32
4.3. Về cơ cấu công nghệ 32
III. Hệ thống chính sách tác động đến cung cầu lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay 33



1. Chính sách về giáo dục - đào tạo 33
2. Chính sách về tiền lương và đãi ngộ đối với lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao. 33
3. Chính sách tuyển dụng, sử dụng và phân bổ lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao. 35
4. Những chính sách về phát triển kinh tế thị trường 36
Chương III: một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta hiện nay 37
I. Một số nhận xét cơ bản qua đánh giá thực trạng lực lượng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta 37
II. Khuyến nghị một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 38
A. Những giải pháp thuộc về GD - ĐT 39
1. Nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao 39
2. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục - đào tạo, tăng cường phát hiện bồi dưỡng và đào
tạo nhân tài 40
3.Phải gấp rút đào tạo một lực lượng chuyên gia dẫn đầu trong từng ngành, lĩnh
vực, đặc biệt là những ngành mũi nhọn 40
4. Đa dạng hoá nguồn cung ứng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
41
5. Tăng cường mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế để trao đổi khoa học với nước
ngoài nhằm nâng cao tri thức cho các nhân tài và người lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao 41
B. Những giải pháp nhằm sử dụng, tuyển dụng, phân bổ lực lượng lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 42



1. Các ngành các cấp các đơn vị sản xuất kinh doanh phải nhận thức sâu sắc hơn nữa vai
trò của lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 42
2. Đa dạng hoá cầu về lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao 42
3. Thực hiện tốt khâu tuyển dụng lao động vào khu nvực Nhà nước một cách chặt
chẽ và nghiêm túc 43
4. Tạo điều kiện và môi trường làm việc, sinh hoạt thuận lợi để lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao phát huy tối đa năng lực làm việc của mình 43
C. Các giải pháp thuộc về chính sách Nhà nước 44
1. Tiến hành rà soát lại để tiếp tục hoàn thiện chế độ tiền lương trong các doanh
nghiệp và cơ quan để có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với tài năng và lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao nói chung 44
2. Chính sách đầu tư 45
3. Các chính sách khác. 45
D. Các giải pháp khác 46
Kết luận 49
Tài liệu tham khảo 51



chương I
cơ sở lý luận về lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
1. Tầm quan trọng của lực lượng lao động có trình dodọ chuyên môn kỹ thuật
cao.
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong giai đoạn tiếp tục đổi mới phát triển một
bước công nghiệp hoá và hiện đại hoá, mở cửa và đang phương hoá, đa dạng hoá quan hệ
đối ngoại. Chúng ta đã là thành viên chính thức của ASEAN, dang cùng thế giới bước vào
thế kỷ 21 trong xu hướng ngày càng khu vực hoá, quốc tế hoá.
Thế giới đang bước vào kỷ nguyên vi tính, điện tử, thông tin, sinh học, hoá học, vật
lý siêu dẫn làm cơ sở phát triển. Chúng ta phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt khoa học
công nghệ hiện đại, trước hết là những khâu quyết định để khỏi bị tụt hậu, phải tạo ra
nguồn cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao cần thiết và đủ cho những mũi
nhọn đã được lựa chọn, những ngành công nghiệp với công nghệ cao. Phải tạo nội lực
mạnh mẽ để hoàn nhập với các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Thông qua hoà
nhập mà làm cho nội lực thêm mạnh, bảo đảm sự phát triển đi lên theo đúng quy luật. Nội
lực đó chính là con người, là nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Bởi vì
chúng ta đã biết con người là nhân tố quyết định, là động lực to lớn nhất, là chủ thể sáng
tạo mọi nguồn của cải vật chất và tinh thần của xã hội. Vì vậy, nếu phát huy cao độ nhân tố
con người thì sẽ tạo nên một đất nước luôn phồn vinh giàu có. Khi đã đánh giá vai trò của
con người chúng ta coi con người là vốn quý nhất thì người lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao lại là vốn quý nhất của những vốn quý nhất. Đó là chân lý phổ biến xưa
kia cũng vậy, ngày nay cũng vậy và sau này cũng vậy.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao không chỉ là vốn quý của bản thân
người đó mà còn là vốn quý của đơn vị sử dụng, của dân tộc, của quốc gia. Lao động có
trình độ chuyê môn kỹ thuật cao là lực lượng sản xuất, là động lực quan trọng của sự phát
triển kinh tế xã hội, xây dựng bảo vệ tổ quốc, là quân chủ lực thực hiện các quốc sách hàng
đầu, là xúc tác nâng cao tiềm lực về mặt bằng trí tuệ của các tầng lớp nhân dân.
Một tấm bia ở Văn Miếu ta đã khắc "Các bậc hiền nhân tài giỏi là yếu tố cốt tử đối
với một chỉnh thể. Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước ta tăng tiến mạnh mẽ, phồn vinh.



Khi yếu tố này yếu kém thì quyền lực đất nước bị suy giảm những người tài giỏi là một
sức mạnh quan trọng đối với một đất nước".
Nếu nhìn ra thế giới, chúng ta sẽ thấy được vai trò của người lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao lớn lao như thế nào, nó luôn là động lực hàng đầu trong quá trình
tăng trưởng và hiện đại hoá nền kinh tế. Không có đất nước nào phát triển mà không cần
đến đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Số lượng và chất lượng của đội
ngũ lao động này tỷ lệ thuận với sự phồn vinh, giàu có của mỗi đất nước. Vì vậy nó là
trung tâm của sự quan tâm chú ý, là nguồn tài nguyên quý giá nhất mà tất cả các quốc gia
cần phải khai thác.
2. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
2.1. Một số khái niệm có liên quan và đặc trưng của nó.
a. Thị trường lao động.
Thị trường theo nghĩa hẹp là nơi tiếp xúc giữa người bán và người mua, là tổng hợp
các sự thoả thuận thông qua đó người bán và người mua trao đổi hàng hoá và dịch vụ.
Theo nghĩa rộng là biểu hiện thu gọi của quá trình thông qua đó các quyết định của các gia
đình về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định của các Công ty về sản xuất cái gì, sản
xuất như thế nào, và các quyết định của các công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều
được trung hoà bằng sự điều chỉnh của giá cả.
Thị trường lao động là một tất yếu của nền kinh tế thị trường. Cái cần mua và bán ở
đây là sức lao động - một loại hàng hoá đặc biệt, nó không giống bất cứ một loại hàng hoá
thông thường nào, bởi vì bản thân nó trước hết là có giá trị sử dụng. Người lao động có thể
là người chủ sử dụng chính sức lao động của bản thân hoặc có thể bán sức lao động cho
người khác.
b. Lao động.
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra của cải vật chất
và các giá trị tinh thần để thoả mãn nhu cầu của bản thân và xã hội, là hoạt động gắn liền
với sự hình thành và phát triển của loài người. Lao động có năng suất, chất lượng, hiệu quả
là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội. Nên lao động được coi là hoạt động chủ yếu,



là quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người. Nhờ đó, từ nhiều thế kỷ nay đã hình thành bộ
môn khoa học riêng chuyên nghiên cứu về lao động gọi là khoa học lao động.
c. Sức lao động.
Sức lao động là khả năng về trí lực và thể lực của con người để tiến hành lao động
(được hiểu như là khả năng lao động).
Khả năng về thể lực bao gồm khả năng sinh công của cơ bắp và khả năng chịu đựng
các yếu tố bất lợi đến sức khoẻ do tải trọng công việc cũng như các yếu tố có hại của điều
kiện lao động, được quyết định bởi các tố chất bẩm sinh của cơ thể, quá trình rèn luyện và
môi trường điều kiện sống. Khả năng về trí lực bao gồm khả năng hoạt động của trí óc, khả
năng vận dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, khả năng sáng tạo, tác phong, kỷ luật nghề
nghiệp , khả năng ứng xử trong quan hệ lao động. Khả năng về trí lực được quyết định
bởi di truyền và các yếu tố bẩm sinh của cơ thể; quá trình học tập, rèn luyện, tích luỹ kinh
nghiệm, điều kiện sống và môi trường tự nhiên xã hội.
d. Nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc
gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng. Đây
là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội.
e. Nguồn lao động.
Nguồn lao động là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những
người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học,
đang làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc và những người thuộc
tình trạng khác (những người nghỉ việc hoặc nghỉ hưu trước tuổi theo quy định của Bộ luật
lao động).
f. Lực lượng lao động.
Lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người
thất nghiệp. Lực lượng lao động là bộ phận hoạt động của nguồn lao động.
g. Việc làm.
Việc làm là mọi hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm.



Người có việc làm là người làm việc trong mọi lĩnh vực ngành nghề, đang hoạt
động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, mang lại thu nhập nuôi sống bản thân và gia
đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội.
h. Thất nghiệp.
Thất nghiệp là tình trạng một bộ phận trong lực lượng lao động muốn làm việc
nhưng không thể tìm được việc làm với mức tiền công không thấp hơn mức lương tối thiểu
hiện hành. Thất nghiệp là do cung cầu lao động vượt quá hoặc không phù hợp về cơ cấu
với cầu về lao động, làm cho một bộ phận người lao động không tìm được việc làm.
k. Lao động có đào tạo.
Lao động có đào tạo là lao động có những thể chất cần thết được thông qua một
hoặc nhiều đào tạo về trình độ chuyên môn, tay nghề và có thể đảm nhiệm những công
việc thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình.
m. Lao động không có đào tạo hay lao động phổ thông.
Lao động không có đào tạo là lao động có khả năng lao động nhưng không được
đào tạo qua bất kỳ một trường lớp nào, họ chỉ làm được những công việc giản đơn mà
không cần tới trình độ chuyên môn, tay nghề.
n. Lao động kỹ thuật.
Lao động kỹ thuật là lao động được thừa nhận có những thể chất cần thiết, có sự
hiểu biết kỹ năng trong lao động do được đào tạo chuyên môn và tích luỹ kinh nghiệm
trong thực tế để thực hiện công việc theo nguyên tắc với công nghệ, trang thiết bị, công cụ
riêng nhằm đáp ứng các yêu cầu về số lượng, chất lượng, an toàn
o. Lao động phức tạp.
Lao động phức tạp là lao động kỹ thuật có kỹ năng và kỹ sảo đặc biệt thông qua đào
tạo hoặc tích luỹ kinh nghiệm thực tế, đảm nhận được những công việc rất phức tạp, đáp
ứng được các yêu cầu phát triển của kỹ thuật công nghệ.
p. Lao động giản đơn.
Lao động giản đơn là lao động có được đào tạo nhưng không chuyên sâu, họ chỉ
đảm nhận được những công việc giản đơn không cần kỹ năng kỹ sảo đặc biệt.



q. Hiệu quả lao động.
Hiệu quả lao động là lượng giá trị do người lao động sáng tạo ra trong một đơn vị
thời gian lao động.
2.2. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
a. Khái niệm về lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
Người ta chia lao động ra làm nhiều loại như lao động giản đơn, lao động phức tạp,
lao động trí óc, lao động chân tay Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là loại
lao động để chỉ những người lao động có trình độ cao, lao động có chuyên môn kỹ thuật, là
tầng lớp, trí thức, lao động khoa học kỹ thuật, công nhân bậc cao lành nghề
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là lao động được thừa nhận có
những thể chất cần thiết, có được trí thông minh và sự giáo dục cần thiết và đã được sự
khéo léo và những trí thức yêu cầu để thực hiện công việc theo những định chuẩn đầy đủ
về an toàn, số lượng và chất lượng.
Theo như luật giữ lao động thương binh xã hội của bộ lao động thương binh xã hội
định nghĩa.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật có kỹ năng và kỹ xảo đặc biệt thông qua đào tạo hoặc tích luỹ kinh nghiệm thực
tế, đảm nhiệm được những công việc rất phức tạp, đáp ứng được các yêu cầu phát triển của
kỹ thuật công nghệ, có khả năng truyền nghề và dạy nghề.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao bao gồm những người có trình độ
cao đẳng, đại học, trên Đại học, Trung học chuyên nghiệp và công nhân có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao.
b. Đặc điểm của lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
b1. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao được kết tinh trong mọi sản
phẩm hàng hoá (sản phẩm hàng hoá phải có hàm lượng công nghệ cao) là yếu tố quyết
trịnh trong cạnh tranh của nền kinh tế thị trường.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao bao gồm lao động thể lực và lao động
trí óc. Trong nền sản xuất xã hội, lao động thể lực và lao động trí óc được kết hợp chặt chẽ giữa



hai loại lao động và trong cùng một người lao động. Nói cách khác, mọi lao động đều có ý thức,
có mục đích lấy chất lượng làm hàng đầu, dù bằng thể lực hay trí óc là chủ yếu thì đạt trình độ
mới cao, mới mong đứng vững và thắng lợi trong cạnh tranh. Bởi vì muốn sản phẩm đứng vững
và cạnh tranh được trên thị trường quốc tế thì trong sản phẩm phải có hàm lượng trí tuệ cao.
Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao không chỉ giàu cho mình, mà còn cho mọi
người, cho xã hội. Quốc gia nào có nhiều lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì quốc
gia ấy thêm sức mạnh, xã hội nào có nhiều lao động có trình độ thì xã hội đó văn minh.
b2. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là lao động thể hiện chí thông minh,
sự sáng tạo, kỹ năng, kỹ sảo của con người trong quá trình lao động.
Sản phẩm của lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là sản phẩm quý giá
đưa lại lợi ích to lớn, có tác động mạnh đến sản xuất, công tác và phát triển kinh tế xã hội.
Rõ ràng người công nhân có trình độ cao tiếp thu được dễ dàng kỹ thuật tiên tiến, làm ra
sản phẩm có chất lượng cao, với số lượng nhiều hơn người khác có trình độ thấp, có lợi
cho bản thân, làm lợi cho doanh nghiệp, cơ quan. Người kỹ sư, người quản lý có trình độ
cao thì giảng giải, điều hành được công nhân và mọi người lao động khác đạt và vượt yêu
cầu về năng xuất, chất lượng hiệu quả. Người thầy giáo có trình độ cao thì mở rộng kiến
thức sâu sắc cho người học, đào tạo ra những thế hệ giỏi giang, làm nhân tố tích cực và
năng động trong lực lượng sản xuất xã hội. Nhà khoa học có trình độ cao mới tổng kết
được thực tiễn đa dạng một cách đúng đắn, cung cấp được thông tin và kiến giải khách
quan có cơ sở khoa học cho Nhà nước, hoặc cho đơn vị sử dụng lựa chọn giải pháp phù
hợp, mới có được những phát sinh sáng chế có giá trị cao.
b3. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là loại lao động cần được đào tạo
và tích luỹ kinh nghiệm suốt đời.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao không phải tự nhiên bản thân sinh ra
mà có, mà nó phải trải qua những thời gian đào tạo kiến thức nhất định đồng thời nó còn
phải cần có một thời gian dài thực tế với công việc để có những kinh nghiệm, những kỹ
năng, kỹ sảo, những phát hiện, khám phá
Thời gian để một cán bộ khoa học đứng vững trong lĩnh vực của mình, độc lập
trong tư duy sáng tạo và với những kiến thức cùng kinh nghiệm của mình, sẵn sàng dìu dắt



một thế hệ nối tiếp, phải cần tới ít nhất mười năm. Thực tế cũng xác nhận tốt nghiệp Đại
học phải làm việc ít nhất 5 năm liên tục mới thực phát huy được một phần tác dụng.
3. Các yếu tố tác động đến cung cầu của lực lượng lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao.
3.1. Các yếu tố tác động tới cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Khi nói đến cung trên thị trường thì nói đến cung thực tế, cung tiềm năng và các
điều kiện đứng sau cung. Cung lao động đó là số lượng lao động có thể cung cấp và sẵn
sàng cung cấp với một mức lương nhất định. Cung thực tế bao gồm những người đang đi
làm thuê và những người đang tích cực đi tìm việc để làm thuê. Cung lao động có thể được
chia thành cung về lao động của từng vùng lãnh thổ, của từng khu vực kinh tế, của từng
ngành nhất định hay có thể tính đến cung theo giới tính, tuổi tác, chuyên môn và cơ cấu
ngành nghề.
Nói đến cung lao động, thì điều rất quan trọng đặc biệt phải chú ý đó là chất lượng
của nguồn cung. Chất lượng nguồn cung này thể hiện ở trình độ đào tạo, trình độ chuyên
môn, tay nghề, thể hiện ở kinh nghiệm công tác, làm việc Nhân tố quan trọng đặc biệt tác
động lên chất lượng của cung đó là hệ thống giáo dục đào tạo. Một hệ thống giáo dục đào
tạo mà đáp ứng được về chiều rộng và chiều sâu sẽ cung cấp được một nguồn lao động có
chất lượng. Ngược lại, một hệ thống giáo dục đào tạo mà yếu kém, định hướng sai lệch
sẽ không đáp ứng được cho xã hội nguồn cung lao động đạt yêu cầu: chất lượng của nguồn
lao động là yếu tố quan trọng bậc nhất, là động lực thúc đẩy nền kinh tế, xã hội của đất
nước đi lên hiện đại phồn vinh.
Nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là nguồn lao động có trình độ
cao, nguồn lao động phải được trải qua một quá trình đào tạo hoặc tích luỹ kinh nghiệm
lâu dài trong lao động. Trong thực tế ở nước ta, nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao được chia làm hai dạng: đó là lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
trong quản lý, trong quản lý khoa học và trong sự nghiệp
Dạng thứ nhất được dựa vào các tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật của công nhân và sử
dụng bậc của công nhân làm mốc để xác định nguồn lao động có trình độ. Với những
ngành có thang lương. Thì lao động có trình độ là những người được xếp ở những bậc cao



nhất của thang lương. Những ngành nghề có bảng lương, thì lao động chất xám thường
được xếp ở bậc cao nhất của bảng lương. Nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao thuộc loại này dựa vào hai nguồn:
Nguồn cung từ đào tạo: Có thể từ các trường CĐ - ĐH hoặc THCN, CNKT.
Nguồn cung từ chính nơi sử dụng lao động: tuỳ thuộc vào nhu cầu của doanh
nghiệp.
Dạng thứ hai, căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh công chức công nhân viên chức hiện
có, đối với khu vực hành chính sự nghiệp, những người lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao trong thời đại mới đều phải có một tiêu chuẩn bắt buộc là phải có trình độ
khoa học vấn tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng trở lên. Vì vậy nguồn lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao trong khối hành chính sự nghiệp chủ yếu và trước hết đưa vào
nguồn đào tạo qua các trường ĐH và CĐ.
3.2. Các yếu tố tác động đến cầu.
Cầu lao động là khả năng thuê lao động trên thị trường: đó là số lượng lao động mà
người chủ mong muốn và có khả năng thuê. Cầu lao động cũng chia ra theo từng vùng,
từng ngành nghề, theo thời gian biến động
Bất kỳ một xã hội nào, một đất nước nào, bất kỳ một ngành nghề hay một doanh
nghiệp nào cũng mong muốn có một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao đủ về số lượng, tốt về chất lượng.
Việc tuyển chọn, bố trí và sử dụng có hiệu quả đội ngũ lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao là một yêu cầu đặt ra hàng đầu đối với mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi
doanh nghiệp. Không phải cứ đào tạo ồ ạt là sử dụng được hết.
Trong điều nkiện đất nước hiện nay, do sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa
học kỹ thuật công nghệ nên để phù hợp thì nhu cầu về lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao cũng biến đổi. Đó phải là một đội ngũ nắm bắt được những kiến thức công nghệ,
nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh phải luôn lao động sáng tạo không ngừng. Và đội ngũ
này ngày càng phải mở rộng, phát triển đông đảo.
Các nhân tố thuộc về các chính sách của Nhà nước, nhưng những chính sách về đầu
tư, phát triển công nghệ, thay đổi các cơ chế quản lý hành chính, các chính sách trả lương,



trả công đều tác động không nhỏ tới biến động nhu cầu về nguồn lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao. Điều này có thể thấy rõ trong cuộc đổi mới đất nước hiện nay, từ
khi chúng ta chuyển đổi cơ chế kinh tế nhiều thành phần, nhiều lĩnh vực kinh tế mới đã
xuất hiện và phát triển, nó đã thu hút không ít lực lượng lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao vào làm việc, làm thay đổi không nhỏ nhu cầu hiện nay về lao động trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao.




chương II
một số nét chủ yếu về thực trạng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở
nước ta hiện nay
I. Cung và các nhân tố tác động tới cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao.
Cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là số lượng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao có thể cung cấp và sẵn sàng cung cấp với mọi chất lượng nhất
định. Như vậy, cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thể hiện chính là ở
nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Mà nguồn cung ứng lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao chủ yếu là nguồn cung từ đào tạo.
1. Thực trạng về đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
1.1. Đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong giai đoạn
trước đổi mới (1986)
Trong giai đoạn này, kinh tế đất nước chậm phát triển. Lĩnh vực đào tạo đội ngũ lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao được đào tạo theo kế hoạch háp tập trung. Số
sinh viên học nghề ở các trường đào tạo nghề, cao đẳng hàng năm biến động không đáng
kể. Hàng năm chuyển khoảng 209.000 người/năm.
Đặc biệt trong khi mải lo công cuộc kháng chiến, Đảng và Nhà nước đã sáng suốt
chăm lo đến sự nghiệp kiến quốc không chỉ trước mắt mà cả cho lâu dài, nên đã chủ
chương đứng gửi ra nước ngoài để đào tạo thành người lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao.
Mặc dù kinh tế thời kỳ này có nhiều khó khăn, nhưng Chính phủ đã có chính sách
đầu tư vốn cho đào tạo, các chế độ về tuyển dụng và việc làm. Sinh viên học nghề cũng
được hiểu các chế độ vật chất đảm bảo cho việc học và thực hành nghề đạt kết quả.
1.2. Trong giai đoạn sau đổi mới.
Khi nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường, lĩnh vực đào tạo đội ngũ lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao gặp nhiều khó khăn.



Kinh phí đào tạo của Nhà nước cấp cho lĩnh vực đào tạo nghề chính quy (CQ) chỉ
chiếm 4% ngân sách giáo dục. Số trường đào tạo, lực lượng giáo viên dạy nghề cũng còn
thiếu. Hiện nay trong cả nước chỉ có 5 trường chuyên đào tạo giáo viên dạy nghề cho các
trường và các trung tâm dạy nghề.
Nguồn nhân lực quan trọng bậc nhất phản ánh chất lượng và khả năng sử dụng
thành tựu khoa học kỹ thuật. Tính đến nay, cả nước có trên 9000 tiến sỹ, phó tiến sỹ, trên
900.000 có trình độ cao đẳng, ĐH, gần 4 triệu là cán bộ trung học và công nhân kỹ thuật.
Lực lượng lao động này đã và đang tích cực góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước
hiện nay. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nước ta thông minh, khiêm tốn, hiếu học và có
khả năng tiếp thu, ứng dụng công nghệ mới. Điều đó được các chuyên gia nước ngoài đánh
giá cao. Nhiều công trình kỹ thuật hiện đại, phức tạp của thế giới như các lĩnh vực điện tử,
viễn thông, dầu khí hoặc lắp đặt các công trình lớn , lực lượng lao động nước ta đã tiếp
thu và vận hành một cách có hiệu quả, đồng thời còn cải tiến nâng cao.
Thực trạng đào tạo đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong cả
hai giai đoạn đã để lại sự thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao cả về số lượng và chất lượng. Hạn chế đáng kể nguồn cung ứng lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao cho quá trình phát triển lực lượng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao. ở nước ta, tỷ lệ công nhân qua đào tạo còn rất thấp so với lao
động có trình độ THCN - CĐ & ĐH.
2. Một số mặt hạn chế đối với nguồn cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao.
Tuy đã đạt được những thành tự như trên nhưng vẫn không tránh khỏi có nhiều tồn
tại mà trong giai đoạn phát triển mới, nhất là tromg điều kiện kinh tế thị trường và kinh tế
mở phải được rà soát, bổ khuyết để tăng cường hơn nữa cả về số lượng và chất lượng đội
ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
2.1. Số lượng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Để đáp ứng nhu cầu về lao động có trình độ cao trong tổng nhu cầu phát triển nguồn
nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Chính phủ đã có các chỉ
tiêu phát triển qua các năm như sau:



So với dân số cả nước thì số lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
quả là rất thấp. Nhưng chính phủ định hướng mục tiêu phát triển đến năm 2010 là đại học
thu hút 20% số người trong độ tuổi từ 18 - 22 tuổi và tập trung nỗ lực vào vấn đề nâng cao
chất lượng.
2.2. Cơ cấu lực lượng lao động có trình độ cao.
a. Tỷ lệ tiến sỹ so với.
ĐH; CĐ so với trung học chuyên nghiệp; ĐH so với công nhân thể hiện ở giai
đoạn trên đã nói rõ điều đó còn thấp, nếu không nói là bất hợp lý (xem biểu 1).
Năm CNKT THCN/CNKT CĐ - ĐH/CNKT
93 - 94 1 1,07 3,02
94 - 95 1 1,96 1,75
95 - 96 1 1,38 2,17
96 - 97 1 1,32 3,10
97 - 98 1 1,38 4,09
Theo kinh nghiệm của các nước phát triển tỷ lệ này là 10 - 4 - 1. Như vậy, việc đào
tạo của nước ta theo hình tháp ngược so với thế giới. Điều đó chứng tỏ đào tạo của ta chưa
có chất lượng. Có thể nói những năm gần đây, xu hướng là tăng số lượng và tỷ trọng đào
tạo của lao động có trình ĐH và trên ĐH, giảm tỷ trọng của lao động THCN, xu hướng
này có những mặt tốt và mặt xấu: việc tăng trình độ ĐH và trên ĐH tức là chất lượng của
lao động chất xám đã tăng lên, tăng lên trong nghiên cứu KH, trong quản lý và trong sự
nghiệp (trong sản xuất kinh doanh gián tiếp). Giảm đội ngũ công nhân kỹ thuật tức là giảm
lao động trực tiếp lao động làm ra sản phẩm của xã hội gây ra mất cân đối: số người trực
tiếp tham gia sản phẩm ít, còn số người đứng gián tiếp lại nhiều.
Một cơ cấu hợp lý là phải có hình chóp, số người có trình độ cao thì càng ít (đỉnh
hình chóp) còn dưới hình chóp là người có trình độ thấp hơn.
b. Số lượng người tốt nghiệp đai học trở lên so sánh giữa người kinh với người dân
tộc thiểu số thì trong dân tộc thiểu số còn rất nhiều.



Tính 53 dân tộc thiểu số ở nước ta, số có trình độ Đại học chỉ có 6650 người, tiến sỹ
chỉ có 114 người. Trong người kinh, số lượng tương ứng là 608727; tỷ lệ tương ứng là
1,1% và 1,2% (số của dân tộc thiểu số so với số người kinh). Số sinh viên người dân tộc
thiểu số ở các trường Đại học niên khoá 1993 - 1994 chỉ có 207 người. (Nguồn từ Đề tài,
"Cung cầu lao động có trình độ cao và các chính sách điều tiết")
c. Về cơ cấu theo lĩnh vực đào tạo.
Về cơ cấu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật theo lĩnh vực hiện nay, một
vấn đề nổi lên là nhiều ngành văn hoá, khoa học và công nghệ thiết yếu chưa có hoặc thiếu
nhiều cán bộ sau Đại học, có nhiều ngành trong các lĩnh vực: khoa học tự nhiên, khoa học
xã hội, khoa học kỹ thuật chưa có người được đào tạo sau đại học. Trong tất cả những
ngành này đều thiếu những người có khả nưang tìm tòi, khám phá ra những phát minh,
sáng chế mới. Đại đa số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao chưa phát huy được
hết khả năng, năng lực của mình trong công việc. Số lượng cung cấp thì rất lớn nhưng chất
lượng đáp ứng được yêu cầu lại rất ít.
d. Cơ cấu theo độ tuổi.
Hiện nay độ tuổi của những người có trình độ đại học trở lên rất cao, lực lượng trẻ
có rất ít, nhất là số có trình độ sau đại học và có học hàm. Nói chung là 20% cán bộ có
trình độ đại học, 32% tiến sỹ, 63% tiến sỹ khoa học đã trên 50 tuổi. Số cán bộ giảng dạy
thâm niên trên 20 năm chiếm 29,28%, số cán bộ giảng dạy Đại học và cao đẳng, ở độ tuổi
dưới 35 chiếm 51,65%.
e. Cơ cấu theo giới.
Về cơ cấu theo giới của đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, vấn
đề nổi bật hiện nay là lao động càng ở trình độ cao thì tỷ lệ nữ giới càng chiếm tỷ lệ nhỏ.
Mặc dù chiếm một tỷ lệ trong các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế xã hội nhưng lao
động có trình độ nữ không thua kém gì so với nam giới. Lao động nữ có khả năng tiếp thu
và phát huy khả nưng của mình chẳng kém gì nam giới. Vì vậy cần có những chính sách
hỗ trợ, khuyến khích và ưu đãi với lao động nữ thật phù hợp. Góp phần thực hiện chiến
lược "dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh, công bằng".
2.3. Chất lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.



Chúng ta đã biết rằng, sinh viên là những người có vai trò quan trọng, là lực lượng
lao động năng động nhất, có trình độ học vấn nhạy cảm với thời cuộc và những biến động
xã hội, là lớp người có khả năng phân tích, xem xét cuộc sống và xã hội. Là nguồn nhân
lực có chất lượng cao cung cấp cho các cơ quan, các đơn vị kinh tế, là những người có
trình độ chuyên môn, được đào tạo có hệ thống trên nhiều lĩnh vực khoa học.
Thời gian qua, sinh viên đã từng bước phát huy được những thế mạnh của mình, để
thực hiện mình sẽ là lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nòng cốt là
người chủ tương lai của đất nước. Trong sinh viên xuất hiện nhiều phong trào học tập
ngoại ngữ, tin học, vi tính đã xuất hiện nhiều tài năng trẻ, chăm học, ham hiểu biết,
nghiên cứu. Nhiều sinh viên đã đạt được các thành tích cao trong các kỳ thi toàn quốc và
quốc tế. Nhiều sinh viên đã năng động hơn trong việc tìm kiếm việc làm sau khi ra trường.
Chúng ta thấy được sự cố gắng rất to lớn của Đảng Nhà nước và nhân dân ta trong sự
nghiệp trồng người, đã từng bước đáp ứng phần nào về yêu cầu lao động trong số này đã
phát huy được vai trò của mình, cống hiến cho sự nghiệp phát triển của đất nước trong
nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hay công tác nghiên cứu, công tác quản lý nhiều
người đã bằng chính sức lực của mình vươn lên thành những chuyên gia những nhà quản
lý những nhà kinh doanh giỏi, làm giàu cho chính mình, cho đất nước. Tuy nhiên, do nhiều
nguyên nhân khách quan, chủ quan mà đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao chưa thật sự phát huy hết vao trò của mình, chưa có được những yêu cầu về chất
lượng, về số lượng mong muốn.
Thứ nhất là do hệ thống GD - ĐT còn rất nhiều hạn chế, chưa đào tạo được đông
đảo đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thật cao có năng lực, trí tuệ cao trong lao
động.
Thứ hai do những chính sách chế độ đãi ngộ của Nhà nước đối với đội ngũ lao động
này chưa hợp lý, chưa đảm bảo được về đời sống vật chất cho họ để họ dốc hết năng lực,
tâm huyết của mình vào sáng tạo.
Thứ ba do còn ảnh hưởng nhiều củan cơ chế quản lý bao cấp trớc đây, đã ăn sâu
vào tư tưởng, suy nghĩ của nhiều người của nhiều đơn vị kinh tế.
II. Cầu và các nhân tố tác động tới cầu



1. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và sự phân bố ở
nước ta hiện nay.
1.1. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Nước ta có nguồn nhân lực rất dồi dào để bổ xung cho lực lượng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao. Điều đó được thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau:
Trình độ văn hoá của nguồn nhân lực không ngừng phát triển. Số học sinh tốt
nghiệp PTTH tăng mạnh. Năm 1995 có 83 ngàn học sinh. Năm 1998 đạt tới 1,39 triệu học
sinh, tăng 60%. Dự kiến đến năm 2010 là 2,37 triệu (10). Nguồn nhân lực trẻ chiếm 65,2%
dân số trong độ tuổi từ 16 - 35 khoảng 26 triệu người. Những năm gần đây số lượng công
nhân kỹ thuật đã qua đào tạo kỹ thuật, tay nghề ở các trường dạy nghề chính quy tăng 2,3
lần từ năm 1994 - 1998. Tuy tăng như vậy nhưng so với những năm 1985 - 1986 vẫn chưa
bằng. Sự gia tăng này sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sựn phát triển của lực lượng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong những năm tới.
Tính đến năm năm 1995, cả nước có khoảng 2,7 triệu lao động đã được đào tạo kỹ
thuật tay nghề ở các trường dạy nghề và đào tạo tại chỗ. Theo dự báo số lượng này sẽ tăng
lên 19,7 triệu người vào năm 2010. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
cao ở nước ta hiện nay chưa được quản lý chặt chẽ, còn thiếu các số liệu đầy đủ như số
lượng, chất lượng, những biến động.
1.2. Tình hình phân bố lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở nước ta
hiện nay.
a. Tình hình phân bố theo vùng.
Thực trạng của sự phân bố đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
thời gian qua và nay là tập trung quá lớn ở các thành phố lớn. Điều đó gây nên sự mất cân
đối giữa các vùng một cách sâu sắc, nhiều vùng, nhiều địa phương lại không đáp ứng được
nhu cầu. Do vậy, đã gây ra tình trạng vừa thiếu lại vừa thừa đội ngũ lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao giữa các vùng, gây lên sự lãng phí rất lớn. Đội ngũ lao động này
chủ yếu tập tung ở các thành phố như Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng, Quảng Nam Đà
Nẵng ở Hà Nội lực lượng lao động khoa học kỹ thuật chiếm 12,74% lao động của cả
nước. Riêng số lao động có trình độ đại học trở lên chiếm 18,17%. Tỷ lệ này tương ứng ở



TPHCM là 9,45% và 13,96%; Hải Phòng là 3,98% và 3,58%; Quảnh Nam - Đà Nẵng là
2,31% và 3,01%; ở Lai Châu là 0,42% và0,27%; ở Minh Hải là 0,45% và 0,45%.
b. Tình hình phân bố theo ngành.
Cùng với số người được tuyển dụng vào các cơ quan Nhà nước, việc phân bố, sử
dụng lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong thời gian qua vẫn còn
nhiều bất hợp lý giữa các ngành. Lực lượng lao động này tập trung ở khu vực phi vật chất
và hầu hết các cơ quan trung ương mà chủ yếu là khối sự nghiệp nghiên cứu và giáo dục
đào tạo. Vì vậy bên cạnh dôi dư lực lượng lao động chất xám ở các cơ quan xí nghiệp thì
những ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội vẫn còn thiếu nhất là
những ngành xã hội cơ bản hay khai thác.
c. Tình hình phân bố theo thành phần kinh tế.
Mặc dù nền kinh tế đã chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp với thành phần kinh tế
quốc doanh là chủ yếu sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã qua hơn 15 năm,
nhưng cho đến nay khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường lực lượng lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao trong các doanh nghiệp
Nhà nước. Có tới 80,43% số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở thành phần
kinh tế Nhà nước. Kế tiếp là ở thành phần kinh tế tập thể 10,71%.
2. Thực trạng về việc làm và sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao ở nước ta hiện nay.
2.1. Thực trạng việc làm.
Năm 1998 được ghi nhận là một năm đầy biến động của thị trường lao động. Nổi
bật là việc các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) tiến hành sắp xếp lại để nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh dẫn tới một bộ phận lớn lao động không có việc làm. Tiếp đó, nhiều
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp thuộc các loại hình khác phải thu
hẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động do gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm. Người
lao động bị nghỉ việc hàng loạt. Ngoài ra, tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh chóng cùng với
thiên tai liên tiếp xảy ra như lũ lụt, hạn hán đã tác động mạnh tới sản xuất nông lâm, ngư
nghiệp khiến tình trạng lao động thất nghiệp, thiếu việc làm số lượng lớn lan rộng tới các
vùng nông thôn và miền núi



Đối với lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao cũng cùng chung
tình trạng, nhưng so với cả nước thì có thấp hơn. Như phân tích ở trên, do sự phân bố giữa
các ngành nghề, các vùng còn thể hiện sự mất cân đối và bất hợp lý, chỗ thì dư thừa, chỗ
thì thiếu, nhiều chỗ đang có nhu cầu về lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
xong vẫn không đáp ứng được. Ví dụ như khu chế xuất Tân Thuận cần tuyển 150000 công
nhân bậc cao nhưng chỉ đáp ứng nổi 3000 lao động này. Tình hình việc làm của lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao được biểu hiện dưới sơ đồ sau:
Hiện tượng thất nghiệp trong giới có học ngày nay có xu hướng ngày càng mở rộng
ở khu vực thành thị. Đó là hiện tượng số học sinh tốt nghiệp các trường đại học không
muốn xa thành phố hoặc không chấp nhận việc làm có thu nhập thấp. Theo báo cáo hằng
năm có khoảng hàng ngàn học sinh tốt nghiệp ra trường, chen nhau tìm việc làm ở Hà Nội,
thành phố HCM, nhưng không tìm được việc, rơi vào tình trạng thất nghiệp. Thậm chí ở
thành phố Hồ Chí Minh hàng vài trăm bác sỹ không có việc làm. Trong khi đó các vùng
nông thôn miền núi lại thiếu nghiêm trọng lao động khoa học kỹ thuật. Số này ở thành thị
muốn có việc làm với thu nhập cao, phải học thêm ít nhất 2 - 3 bằng nữa như ngoại ngữ, sử
dụng vi tính, biết lái xe để thi tuyển vào các văn phòng đại diện của các Công ty nước
ngoài
2.2. Thực trạng sử dụng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Theo kết quả điều tra tại một số cơ sở về việc sử dụng trình độ chuyên môn nghiệp
vụ và ngành nghề của lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao còn nổi lên nhiều vấn
đề bất hợp lý. Tỷ lệ lao động được sử dụng đúng ngành nghề và trình độ đào tạo còn rất
thấp: Kết quả điều tra mẫu của đề tài KT 08.14 cho thấy tại nhà máy cơ khí Trần Hưng
Đạo trong số 102 cán bộ khoa học kỹ thuật được điều tra thì chỉ có 42 người là được sử
dụng đúng nghề và trình độ chuyên môn, chiếm 42/102. Hay tại Công ty xây dựng điện I,
trong số 307 cán bộ khoa học kỹ thuật thì chỉ có 126 người được sử dụng đúng nghề đúng
trình độ chuyên môn, chiếm 126/307. Như vậy, việc sử dụng lao động chất xám hiện nay
phần đông là không đúng nghề và đúng trình độ chuyên môn. Tình trạng này không
những phổ biến tại các doanh nghiệp hay cơ quan Nhà nước mà còn phổ biến tại khá nhiều
các doanh nghiệp tư nhân.



Số cán bộ có trình độ Đại học, trên đại học đều chỉ làm việc tại cơ quan mình và
phần lớn là tiến sỹ, phó tiến sỹ ở Hà Nội lị giữ chức vụ lãnh đạo, thời gian làm công tác
quản lý chiến tới 80 - 85% quỹ thời gian. Do đó khả năng chuyên môn được phát huy khá
ít. Trong cùng một lĩnh vực chuyê môn số tiến sỹ thực sự làm chức năng lãnh đạo tập thể,
công tác nghiên cứu khoa học của ngành mình chưa nhiều.
Tóm lại, việc sử dụng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao còn
nhiều bất hợp lý giữa công việc với trình độ chuyên môn gây ra một sự lãng phí sức lao
động. Giải pháp cho vấn đề này là một công việc rất khó khăn, phức tạp, bởi vì đội ngũ
này hiện nay đông nhưng chất lượng thực sự lại rất thấp cho nên phương hướng chính đó
là phải nâng cao hơn nữa chất lượng của đội ngũ lao động có trình độ chuyê môn kỹ thuật
cao đồng thời làm công tác điều tiết lao động giữa các vùng, các ngành, các thành phần
kinh tế
3. Sự dịch chuyển đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và tác
động của nền kinh tế thị trường đến sự dịch chuyển.
3.1. Sự dịch chuyển đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
a.Sự dịch chuỷen theo thành phần kinh tế.
Sự dịch chuyển của đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao theo
thành phần kinh tế xuất hiện vào những năm 1989 - 1990. Khi nước ta tiến hành sắp xếp
lại các doanh nghiệp Nhà nước cho phù hợp với cơ chế kinh tế nhiều thành phần. Một bộ
phận công nhân kỹ thuật bậc cao, có nhiều năm công tác tuổi đời khá cao, sức khoẻ hạn
chế đã xin ra khỏi các doanh nghiệp Nhà nước, sang làm việc tại các cơ sở sản xuất, các
doanh nghiệp tư nhân, hoặc tự tạo dựng việc làm cho bản thân và gia đình.
Một số doanh nghiệp Nhà nước lại tiến hành liên doanh với nước ngoài. Khi đó, đại
bộ phận công nhân có tay nghề bậc cao trong doanh nghiệp được chuyển sang làm việc tại
các doanh nghiệp liên doanh. Do được đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, công nghệ
sản xuất đổi mới, hệ thống dây chuyền tự động hoá cao, nhiều công nhân kỹ thuật bậc cao
không còn thích hợp, đặc biệt là yêu cầu về sức khoẻ, sự dẻo dai, tinh nhanh Khi đó số
công nhân này sẽ là sự yếu kém cho các doanh nghiệp liên doanh. Một số được các doanh
nghiệp linh hoạt tạo nguồn vốn, giải quyết cho về theo chế độ thoả thuận. Một số phải nhờ

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×