Tải bản đầy đủ

Phân tích ngành dầu khí ngắn hạn.DOC

Đề tài: Phân tích ngành dầu khí <ngắn hạn>
Tổng quan Hơn 30 năm trước, ngày 3.9.1975, Chính phủ ban hành
Nghị định số 170/CP thành lập Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam, tiền thân
của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam ngày nay. 10 năm sau ngày thành lập,
ngày 26.6.1986, Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt – Xô đã khai thác tấn dầu đầu
tiên từ mỏ Bạch Hổ, ghi nhận một mốc dấu quan trọng - Việt Nam đã có tên trong
danh sách các nước khai thác và xuất khẩu dầu thô thế giới hiện đứng thứ ba khu
vực Đông Nam Á về sản lượng khai thác và xuất khẩu dầu thô, khẳng định một
tương lai phát triển đầy hứa hẹn của cho ngành công nghiệp dầu khí đất nước.
Kể từ đó đến nay, toàn ngành Dầu khí đã khai thác được 205 triệu tấn dầu thô và
hơn 30 tỷ mét khối khí, mang lại doanh thu trên 40 tỷ USD, nộp ngân sách nhà
nước gần 25 tỷ USD, tạo dựng được nguồn vốn chủ sở hữu trên 80 nghìn tỷ
đồng.. PetroVietnam đã phát triển tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh hệ thống sản
xuất kinh doanh từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác tới chế biến, phân phối và dịch
vụ, ghi tên Việt Nam vào hàng các quốc gia sản xuất dầu khí trên thế giới.
Bước "lột xác" từ TCty Dầu khí lên TĐ Dầu khí đã thay đổi căn bản cơ chế
hoạt động và quản lý DN. Trong những năm qua, dầu khí là ngành công nghiệp
(CN) chủ lực của đất nước với thế mạnh tìm kiếm, khai thác nguồn tài nguyên
phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Hội nhập từ rất sớm và bằng nhiều hình thức: Hợp tác phân chia sản phẩm, liên
doanh điều hành chung và góp vốn liên doanh, đến nay ngành đã thu hút khoảng

9 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN), riêng lĩnh vực thăm dò, khai thác thu hút
57 HĐ với tổng vốn đầu tư trên 7 tỉ USD, từng bước làm chủ công nghệ trong khai
thác, tự điều hành khai thác các mỏ dầu khí ở cả trong và ngoài nước.
Đặc điểm Tính từ khi Nhà nước ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam (1988) cho đến nay, ngành Dầu khí đã ký 57 hợp đồng TDKT Dầu khí, thu
hút vốn đầu tư trên 7 tỷ USD, hiện nay 35 hợp đồng đang có hiệu lực. Để thực
hiện được mục tiêu đảm bảo cung cấp năng lượng và nhiên liệu cho nền kinh tế,
1
chủ động hội nhập cùng cộng đồng dầu khí quốc tế, những năm gần đây, Tập
đoàn Dầu khí đã mở rộng hoạt động thăm dò – khai thác dầu khí ra nước ngoài.
Hiện nay, Tập đoàn đang đầu tư 7 dự án ở nước ngoài, trong đó có 2 đề án tự
điều hành, đã thu được phát hiện dầu khí quan trọng ở Malaysia, Algeria. Đặc biệt
tháng 9.2006, Tập đoàn đã có tấn dầu thô đầu tiên khai thác ở nước ngoài tại mỏ
PM 304 (Malaysia).
Song song hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác, lĩnh vực công nghiệp
khí cũng đã được tích cực triển khai. Dòng khí đồng hành của mỏ Bạch Hổ được
đưa vào bờ đã mang lại hiệu quả cao đối với nền kinh tế, cung cấp nguyên liệu và
năng lượng cho nhà máy điện, đạm Phú Mỹ cùng một khối lượng lớn khí hoá lỏng
LPG, condensate cho nhu cầu nội địa. Cùng với nguồn khí đồng hành Bể Cửu
Long, nguồn khí Nam Côn Sơn được đưa vào khai thác, tiếp đó đã hoàn thiện
đưa vào hoạt động cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm ở miền Đông Nam bộ. Ở
miền Tây Nam bộ, dự án tổ hợp Khí - Điện - Đạm Cà Mau có ý nghĩa rất lớn đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng sông Cửu Long đang được khẩn
trương thực hiện. Trong tương lai, nhiều mỏ khí mới như lô B, Sư Tử Trắng… sẽ
được khai thác và mở ra một giai đoạn mới đầy hứa hẹn của nền công nghiệp khí
Việt Nam.
Trong lĩnh vực chế biến khí và hoá dầu, Nhà máy lọc dầu Dung Quất đang
được khẩn trương triển khai xây dựng với mục tiêu đưa vào vận hành thương mại
năm 2009. Dự án khu Liên hợp Lọc hoá dầu Nghi Sơn và đề án nhà máy lọc dầu
phía Nam đang được chuẩn bị tích cực để sớm đầu tư xây dựng đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng về nguyên liệu cho đất nước và bổ sung cho công nghiệp hoá
dầu những nguyên liệu và sản phẩm mới.
Cùng với sự phát triển các lĩnh vực trọng tâm của ngành công nghiệp dầu
khí, để khép kín và hoàn chỉnh đồng bộ hoạt động của ngành, các hoạt động dịch
vụ kỹ thuật phụ trợ, thương mại, tài chính, bảo hiểm… của ngành dầu khí đã
được hình thành và phát triển, doanh số hoạt động ngày càng tăng trong tổng
doanh thu của toàn ngành. Thực hiện mục tiêu xây dựng Tập đoàn Dầu khí Quốc
gia Việt Nam trở thành tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước, công tác hoàn thiện,
đổi mới cơ chế quản lý và cơ cấu tổ chức, công tác đổi mới và cổ phần hoá
doanh nghiệp đã được triển khai có hiệu quả, hoạt động SXKD của các đơn vị cổ


2
phần hoá được cải thiện rõ rệt, hoạt động SXKD của Tập đoàn đang được xác lập
theo hướng hiệu quả nhất, phát triển thêm một số lĩnh vực hoạt động mới để tận
dụng tiềm năng thế mạnh của ngành.
Theo Công ty Đầu tư phát triển dầu khí (PIDC), đơn vị chuyên ngành về đầu
tư và hợp tác để khai thác thêm nguồn dầu khí nước ngoài của Tổng Công ty Dầu
khí Việt Nam (Petro Việt Nam), sau hơn 5 năm nghiên cứu 40 dự án của các đối
tác thuộc nhiều nước trên thế giới, đến nay, PIDC đã ký được 5 hợp đồng hợp tác
đầu tư tìm kiếm và thăm dò dầu khí với Iraq, Angeri, Malaysia, Mông Cổ...
Trong đó có mỏ dầu dự báo có thể khai thác thương mại 12.000 thùng/ngày
vào cuối năm 2006. Tại một dự án đầu tư có 40% cổ phần của PIDC, công ty
cũng đã tiến hành thu nổ địa chấn 2D, khoan thẫm lượng và thăm dò một số mỏ
và đến nay đã kết thúc thử dĩa một giếng khoan với dự báo trữ lượng 150-200
triệu thùng
Bên cạnh hoạt động khai thác, công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đã xác
định được trữ lượng dầu khí ước đạt từ 3 - 4 tỷ mét khối dầu quy đổi, trữ lượng
dầu khí xác minh đạt 1,05 – 1.14 tỷ tấn dầu quy đổi (trong đó trữ lượng tiềm năng
về khí thiên nhiên khoảng 60%) có tại trên 60 cấu tạo chứa dầu khí, đã lần lượt
đưa 8 mỏ dầu khí có giá trị thương mại vào khai thác. Mục tiêu gia tăng trữ lượng
dầu khí trong nhiều năm trở lại đây liên tục được hoàn thành với mức từ 30-40
triệu tấn dầu quy đổi/ năm, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc đảm bảo
cân đối bền vững, duy trì ổn định sản lượng dầu khí khai thác phục vụ nền kinh
tế, đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước cho thời gian tới
Hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành trong năm 2006 đã tiếp tục đạt
được tốc độ tăng trưởng cao, với tổng doanh thu đạt 168,7% kế hoạch, tăng
17,5% so với năm 2005; nộp ngân sách tăng 26,7% so với năm trước, chiếm xấp
xỉ 28,5% tổng thu ngân sách Nhà nước; hoạt động hợp tác đầu tư về công nghiệp
dầu khí ở trong nước và nước ngoài tiếp tục được đẩy mạnh và thu những kết
quả tốt; công tác hoàn thiện bộ máy tổ chức, đưa hoạt động của ngành vận hành
theo cơ chế tập đoàn đang tích cực thực hiện, mở ra những yếu tố tích cực để
ngành tiếp tục phát triển bền vững, hội nhập có hiệu quả.
3
Định hướng Chặng đường xây dựng và phát triển của ngành Dầu khí
Việt Nam trên 30 năm qua hết sức vẻ vang, Đảng, Nhà nước và nhân dân đã luôn
quan tâm tạo điều kiện cho ngành Dầu khí phát triển. Từ năm 1988, Bộ Chính trị
đã có Nghị quyết 15 về phát triển ngành dầu khí. Năm 2006 vừa qua, Bộ Chính trị
đã có quyết định số 41-KL-TW ngày 19/01/2006 về phát triển ngành Dầu khí Việt
Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025; Thủ tướng Chính phủ đã có
quyết định số 386/QĐ-TTg này 09/03.2006 phê duyệt chiến lược phát triển ngành
Dầu khí Quốc gia Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025 và ngày
29/8/2006 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 198, 199/2006/QĐ-TTg về
phê duyệt đề án Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Thành lập Công ty mẹ -
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Từ đây, ngành Dầu khí Việt Nam bắt đầu
một
giai đoạn phát triển mới, với một vóc dáng mới Tiến sĩ Trần Ngọc Cảnh -
TGĐ PetroVietnam - khẳng định: "Quyết định của Thủ tướng Chính phủ chuyển
TCty Dầu khí thành TĐ Dầu khí quốc gia đã tạo thế và lực mới cho
PetroVietnam".
Ngành dầu khí Việt Nam đang mở thêm hướng đầu tư chiến lược ra nước
ngoài với mục tiêu đến năm 2010 có thể khai thác 1-2 triệu tấn quy dầu, đến năm
2015 đạt 3-4 triệu tấn và đến năm 2020 tăng lên 5-6 triệu tấn.
Theo định hướng của ngành dầu khí, trong tương lai, Việt Nam không chỉ
xuất khẩu mà còn nhập khẩu dầu thô trở lại để phục vụ cho công tác lọc dầu.
Hiện nay, thị trường tiêu thụ dầu thô Việt Nam chủ yếu là khu vực châu Á -
Thái Bình Dương như: Trung Quốc, Singapore, Australia, Indonesia, Thái Lan,
Nhật Bản... Các khách hàng mua dầu chủ yếu là các hãng và tập đoàn dầu khí
lớn trên thế giới như: Shell, BP (Anh quốc); Exxon Mobil, Chevron (Mỹ); Chinaoil,
Sinopec, Sinochem... (Trung Quốc); Sumitomo, Sojitz, Mitsubishi (Nhật Bản)...
Bên cạnh các khách hàng mua dầu truyền thống, Petechim cùng Tổng công
ty Dầu khí Việt Nam đã và đang thiết lập các mối quan hệ hợp tác kinh doanh dầu
thô với các khách hàng mới trong và ngoài khu vực.
4
Ví dụ như trước đây, công ty đã tham gia kinh doanh dầu thô với đối tác Iraq
trong chương trình “Đổi dầu lấy lương thực” của Liên hợp quốc. Đó là những
bước triển khai ban đầu, tạo đà thuận lợi cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam
trong công tác nhập khẩu dầu thô sau này từ Trung Đông, châu Phi... cho nhà
máy lọc dầu Dung Quất khi nhà máy này đi vào hoạt động
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia cũng đã đưa ra chiến lược phát triển dịch vụ
của ngành dầu khí với chỉ tiêu tổng doanh thu dịch vụ đến năm 2010 đạt 25%-
30%, đến năm 2015 đạt 30%-35% tổng doanh thu của toàn ngành dầu khí và ổn
định đến năm 2025 (năm 2006, tổng doanh thu của toàn ngành dịch vụ dầu khí
đạt 24.100 tỷ đồng, chiếm 13,5% tổng doanh thu của toàn ngành dầu kh í
Mục tiêu tổng quát.
Phát triển ngành Dầu khí Việt Nam trở thành ngành kinh tế kỹ thuật quan
trọng, đồng bộ, bao gồm: tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàn
trữ, phân phối, dịch vụ và xuất, nhập khẩu. Xây dựng Tập đoàn Dầu khí mạnh,
kinh doanh đa ngành trong nước và quốc tế.
Các mục tiêu cụ thể

Về tìm kiếm thăm dò dầu khí: Đẩy mạnh việc tìm kiếm thăm dò, gia tăng
trữ lượng có thể khai thác; ưu tiên phát triển những vùng biển nước sâu, xa bờ;
tích cực triển khai đầu tư tìm kiếm thăm dò dầu khí ra nước ngoài. Phấn đấu gia
tăng trữ lượng dầu khí đạt 35-40 triệu tấn qui dầu.
Về khai thác dầu khí: Khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm
nguồn tài nguyên dầu khí trong nước để sử dụng lâu dài; đồng thời tích cực mở
rộng hoạt động khai thác dầu khí ở nước ngoài để bổ sung phần thiếu hụt từ khai
thác trong nước. Phấn đấu khai thác 25-35 triệu tấn qui dầu/ năm, trong đó khai
thác dầu thô giữ ổn định ở mức 18-20 triệu tấn/ năm và khai thác khí 6-17 tỷ
m3/năm.
Về phát triển công nghiệp khí: Tích cực phát triển thị trường tiêu thụ khí
trong nước, sử dụng khí tiết kiệm, hiệu quả kinh tế cao thông qua sản xuất điện,
phân bón, hoá chất, phục vụ các nành công nghiệp khai thác, giao thông vân tải
và tiêu dùng gia đình. Xây dựng và vân hành an toàn, hiệu quả hệ thống đường
5
ống dẫn khí quốc gia, sẵn sàng kết nối với đường ống dẫn khí khu vực Đông Nam
Á phục vụ cho nhu cầu xuất nhập khẩu khí. Riêng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
sản xuất 10-15% tổng sản lượng điện của cả nước.
Về công nghiệp chế biến dầu khí: Tích cực thu hút vốn đầu tư của mọi
thành phần kinh tế, đặc biệt là đầu tư từ nước ngoài để phát triển nha công
nghiệp chế biến dầu khí. Kết hợp có hiệu quả giữa các công trình lọc, hoá dầu,
chế biến khí để ạo ra được các sản phẩm năng lượng cần thiết phục vụ nhu cầu
của thị trường ở trong nước và làm nguyên liệu cho các ngành công nnghiệp
khác.
Về phát triển dịch vụ dầu khí: Thu hút tối đa các thành pyhần kinh tế tham
gia phát triển dịch vụ để tăng nhanh tỷ trọng doanh thu dịch vụ trong tổng doanh
thu của cả ngành. Phấn đấu đến năm 2010, doanh thu dịch vụ kỹ thuật dầu khí
đạt 25-30%, đến năm 2015 đạt 30-35% tổng doanh thu của ngành và ổn định đến
năm 2025.
Về phát triển khoa học công nghệ: Tăng cường phát triển tiềm lực khoa học
công nghệ, đầu tư trang thiết bị hiện đại để hiện đại hoá nhanh ngành dầu khí;
xây dựng lực lượng cán bộ, công nhân dầu khí mạnh cả về chất và lượng để có
thể tự điều hành được các hoạt động dầu khí cả ởtrong nước và ở nước ngoài.
Thuận lợi lớn nhất mà ngành dầu khí đã tạo dựng được trong hoạt
động xuất khẩu dầu thô là dù giá lên cao hay xuống thấp, dầu thô Việt Nam được
khai thác từ mỏ Bạch Hổ, Rạng Đông, Ruby, Đại Hùng... và gần đây là Sư Tử
Đen, vẫn luôn hấp dẫn được khách hàng gần xa bởi chất lượng, uy tín trong giao
dịch.
Trong đó, dầu thô Bạch Hổ chiếm tới 60% tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu
của Việt Nam.
Một thuận lợi nữa là Petechim đã xây dựng cho mình một hệ thống khách
hàng truyền thống, gắn kết chặt chẽ với công ty trong mọi hoàn cảnh, nhất là
những lúc khó khăn, giá dầu sụt xuống, thị trường dầu thô thế giới gần như bị
“đóng băng”, nhưng dầu thô Việt Nam vẫn xuất khẩu đều, tránh được hiện tượng
phải đóng mỏ (trong hoàn cảnh bình thường, đây là điều tối kỵ nhất trong quá
trình khai thác và xuất khẩu dầu thô).
6
Một sự kiện rất quan trọng, mang tính bổ sung hết sức kịp thời cho việc
khai thác dầu khí của Việt Nam là trong khi lượng dầu khai thác gần 20 năm qua
từ mỏ Bạch Hổ đang giảm dần thì từ năm 2003, dầu thô từ mỏ Sư Tử Đen bắt
đầu được khai thác và đưa vào xuất khẩu với sản lượng khoảng 70.000
thùng/ngày.
Bên cạnh đó, trong vài năm tới, mỏ Sư Tử Vàng và Sư Tử Trắng sẽ đi vào
khai thác, hứa hẹn một sự tăng trưởng mới cho ngành dầu khí Việt Nam. Trong
giai đoạn 2003-2006, ngành dầu khí Việt Nam phát triển trong bối cảnh tương đối
thuận lợi, đặc biệt do giá dầu thô trên thế giới giai đoạn này luôn ở mức rất cao,
tạo động lực thúc đẩy hoạt động thăm dò, tìm kiếm, khai thác và phát triển mỏ.
Theo Tổng công ty PTSC, bốn năm qua, ngành dầu khí trong nước đã đẩy
mạnh đầu tư vào tất cả các khâu như tìm kiếm thăm dò để gia tăng trữ lượng,
khai thác chế biến, vận chuyển và phân phối các sản phẩm dầu khí.
Các liên doanh điều hành JOC (Hoàng Long-Hoàn Vũ, Trường Sơn, Lam
Sơn, Côn Sơn) và nhà thầu Unocal... đang triển khai các hoạt động tìm kiếm thăm
dò hoặc vừa thăm dò vừa khai thác như Cửu long JOC. Các nhà thầu dầu khí
khác như JVPC, Petronas, VSP, BP đều phát triển mỏ và gia tăng sản lượng khai
thác.
Trong giai đoạn 2007-2010, tình hình chính trị trong nước sẽ vẫn tiếp tục ổn định,
tạo điều kiện thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Ngành dầu khí
Việt Nam đã xây dựng chiến lược hoàn chỉnh định hướng cho các đơn vị trong
ngành họat động tạo sự thuận lợi nhất định về thị trường.
Khó khăn Theo quy luật cung cầu, khi giá cao, xuất khẩu dầu thô không
hẳn hoàn toàn thuận lợi. Cũng như nhiều mặt hàng khác, dầu thô của Việt Nam
đang vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt về giá của nhiều nước khác, nhất là khu
vực châu Phi. Khi giá dầu lên cao, các khách hàng tiêu thụ có xu hướng tìm các
nguồn dầu khác thay thế rẻ hơn, ví dụ từ châu Phi, Trung Đông...
7

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×