Tải bản đầy đủ

báo cáo đề tài: " khảo sát, đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy trong ngành công nghiệp hóa chất và dầu khí" doc


Bộ công thơng
trung tâm thông tin khkt hóa chất






báo cáo tổng kết đề tài kh&cn cấp bộ

khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển
giao công nghệ và đề xuất các giải pháp
thúc đẩy chuyển giao công nghệ
trong ngành hoá chất và dầu khí phù hợp
với điều kiện việt nam


chủ nhiệm đề tài: ts. trần kim tiến













7073
04/01/2009

Hà nội - 2008




Tổng công ty hóa chất việt nam
Trung tâm Thông tin KHKT Hóa chất
_____________________________________________________






Báo cáo đề tài cấp Bộ năm 2008

Khảo sát, đánh giá thực trạng về chuyển
giao công nghệ và đề xuất các giải pháp
thúc đẩy trong chuyển giao công nghệ
trong ngành công nghiệp hóa chất và dầu
khí
phù hợp với điều kiện việt nam





Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thơng
Cơ quan thực hiện: Trung tâm thông tin KHKT Hóa chất
Chủ nhiệm Đề tài: TS. Trần Kim Tiến





Hà Nội - 2008







1





Danh sách những ngời thực hiện chính


Chủ nhiệm Đề tài: TS. Trần Kim Tiến
Chức vụ: Giám đốc Trung tâm Thông tin KHKT Hóa chất
Những ngời cùng tham gia thực hiện:

STT Họ và tên Học vị Cơ quan công tác
1 Nguyễn Ngọc Sơn KS Trung tâm Thông tin KHKT HC
2 Đặng Hoàng Anh KS - nt-
3 Vũ Quang Trinh TS Công ty TPC Vina
4 Chử Văn Nguyên TS Ban Kỹ thuật, TCty Hoá chất Việt Nam
5 Hoàng Văn Thứ KS Công ty CMS

Thời gian thực hiện Đề tài: 12 tháng (từ 1/2008 đến 12/2008)

















2


Mục lục



Trang
I. Mở đầu 5
II. Tổng Quan
7
II.1. Cơ sở pháp lý và và giới hạn Đề tài 7
II.2. Các văn bản pháp quy của Việt Nam về vấn đề cGCN 7
II.3. Tình hình phát triển của CNHC và CNDK tại Việt Nam 8
II.3.1. Tình hình phát triển của CNHC tại Việt Nam 8
II.3.1.1. Vài nét về lịch sử 8
II.3.1.2. Hiện trạng phát triển CNHC 18
II.3.1.3. Định hớng và triển vọng phát triển CNHC 32
II.3.2. Tình hình phát triển của Công nghiệp Dầu khí tại Việt Nam 37
II.3.2.1. Vài nét về lịch sử 37
II.3.2.2. Hiện trạng và triển vọng phát triển CNDK Việt Nam 41
II.3.2.3. Định hớng phát triển CNDK Việt Nam 43
III. Nghiên cứu hiện trạng chuyển giao công nghệ trong
cNHC và CNdK việt nam
44
III.1. Phơng pháp tiếp cận các nguồn cơ sở dữ liệu 44
III.2. Quá trình phát triển công nghệ sản xuất trong cNHC
việt nam
45
III.2.1. Tình hình phát triển công nghệ sản xuất trong CNHC 45
III.2.2. Đánh giá hiện trạng công nghệ một số ngành sản xuất chính
trong CNHC
56
III.2.2.1. Nhóm công nghệ sản xuất phân bón 57
III.2.2.2. Nhóm công nghệ sản xuất thuốc BVTV 58
III.2.2.3. Nhóm công nghệ sản xuất các sản phẩm cao su 59
III.2.2.4. Nhóm công nghệ sản xuất hóa chất cơ bản 59
III.2.2.5. Nhóm công nghệ sản xuất các sản phẩm điện hóa 61
III.2.2.6. Nhóm công nghệ sản xuất các sản phẩm giặt rửa 62
III.2.2.7. Nhóm công nghệ sản xuất các sản phẩm hóa dầu 62

3
III.2.2.8. Nhóm công nghệ khai thác quặng nguyên liệu 62
III.2.2.9. Nhóm công nghệ sản xuất sơn, và vật liệu hàn 63
III.2.3. Yêu cầu công nghệ trong CNHC 64
III.3. Quá trình phát triển công nghệ sản xuất trong CNDK 65
III.3.1. Phát triển công nghệ thăm dò và khai thác dầu khí 65
III.3.2. Phát triển công nghệ lọc- hóa dầu 66
III.3.3. Đánh giá hiện trạng phát triển công nghệ một số ngành sản xuất
chính trong CNDK
68
III.3.3.1. Công nghệ thăm dò và khai thác dầu khí 68
III.3.3.2. Công nghệ chế biến dầu khí 69
III.4. đặc điểm chuyển giao công nghệ trong cNHC và
CNDK ở nớc ta
69
III.4.1. Trong CNHC 69
III.4.2. Trong CNDK 73
IV. vấn đề hỗ trợ và thúc đẩy công tác chuyển giao
công nghệ trong cNHC và CNdK phù hợp với điều kiện
việt nam
75
IV.1. Đối với CNHC 75
IV.2. Đối với CNDK 76
IV.3. Vai trò của Nhà nớc trong đẩy mạnh CGCN 76
V. Kết luận và kiến nghị 76
Tài liệu tham khảo 78
Phụ Lục

79


4



I. Mở đầu
Là một nớc đang phát triển, nhất làphải trải qua một thời gian dài chiến
tranh, nên trình độ công nghệ của các ngành sản xuất công nghiệp, trong đó có
Công nghiệp Hóa chất (CNHC) và Công nghiệp Dầu khí (CNDK) ở nớc ta nhìn
chung đều tơng đối thấp.
CNHC nớc ta ra đời đã trên 50 năm, từ một nền công nghệ sản xuất ban
đầu hết sức thô sơ, lạc hậu. Sau hòa bình lập lại, miền Bắc phát triển theo định
hớng lối xã hội chủ nghĩa (XHCN) với sự giúp đỡ của các nớc XHCN anh em
nên CNHC có điều kiện để phát triển cả về quy mô sản xuất và trình độ công
nghệ. Tuy nhiên trong thời gian chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhiều cơ sở công
nghiệp, trong đó có các cơ sở sản xuất thuộc CNHC lại bị tàn phá nặng nề.
CNDK Việt Nam là ngành đợc đặt nền móng v phát triển tơng đối muộn
hơn. từ khi Đoàn Địa chất 36 thuộc Tổng cục Địa chất đợc thành lập (năm
1961) để thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, thăm dò dầu khí tại Việt Nam. Song
ngành này cũng bị đình trên trong thời gian chiến tranh.
Chỉ sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nớc, CNHC và CNDK
Việt Nam mới có cơ hội phát triển mạnh.
Tuy nhiên sự trì trệ trong t duy bao cấp và trong cách thực hiện phát triển
sản xuất kém hiệu quả vào những năm đầu thập kỷ 80 của Thế kỷ trớc, các
ngành sản xuất công nghiệp nớc ta, trong đó có CNHC và CNDK, đã trải qua
một thời kỳ khó khăn với nhiều thách thức lớn.
Chỉ từ năm 1986 trở đi, khi cả nớc thực hiện đờng lối đổi mới và phát
triển kinh tế theo cơ chế thị trờng theo định hớng XHCN, CNHC đã có bớc
phát triển mới về quy mô và công nghệ sản xuất, từng bớc đi vào hội nhập kinh
tế quốc tế và đã thu đợc nhiều thành tựu quan trọng.
Đối với CNDK, sự thay đổi mạnh mẽ nhất là sau khi có sự đổi mới về tổ
chức và quản lý, thành lập Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) vào
năm 1990.
Đến nay, CNHC và CNDK nớc ta đã những ngành sản xuất công nghiệp
lớn, chiếm vị trí quan trọng của nền kinh tế cả nớc. Trong đó CNHC sản xuất
và cung cấp phân bón và nhiều sản phẩm khác, góp phần phục vụ sản xuất, đảm
bảo an ninh lơng thực và phục vụ đời sống nhân dân; CNDK thăm dò, khai thác

5
các sản phẩm dầu khí, đồng thời tham gia triển khai các lĩnh vực sản xuất dịch
vụ liên quan (cung ứng phân bón, sản xuất năng lợng) và có kim ngạnh xuất
khẩu lớn nhất trong số các ngành kinh tế nớc ta.
Tuy nhiên trừ một sốcông trình mới đã hoặc đang đợc đầu t hiện đại, thì
trong nhiều lĩnh vực sản xuất của hai ngành công nghiệp kể trên, hạ tầng cơ sở
về công nghệ hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn và vấn đề đầu t nâng cấp đổi
mới công nghệ/ thiết bị trong các ngành sản xuất này vẫn đang là vấn đề rất cấp
thiết.
Theo TTXVN ngày 27/5/2008, kết quả khảo sát tại 1.200 doanh nghiệp
Việt Nam của Tổ chức hợp tác kỹ thuật Cộng hoà liên bang Đức (GTZ) cho thấy
chỉ có khoảng 0,1% doanh thu hàng năm của doanh nghiệp đợc dành cho đổi
mới công nghệ, thiết bị. Việc nhập khẩu công nghệ hàng năm của các doanh
nghiệp Việt Nam cũng chỉ dới 10% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nớc và chỉ
bằng 1/4 tỷ lệ nhập khẩu công nghệ của các nớc phát triển. Nguyên nhân là do
nhận thức về hội nhập của doanh nghiệp cha đầy đủ, trình độ của đội ngũ cán
bộ quản lý và ngời lao động trong doanh nghiệp còn thấp, thiếu vốn cho đổi
mới công nghệ và nội dung về đổi mới công nghệ còn cha rõ ràng. Vì hạn chế
trong đổi mới công nghệ/thiết bị của doanh nghiệp đã dẫn đến tình trạng thiết
bị/công nghệ lạc hậu. Hậu quả là sản phẩm kém đa dạng, tiêu tốn nguyên liệu,
gây ô nhiễm môi trờng và ảnh hởng đến sức khỏe cộng đồng. Một trong những
nguyên nhân hạn chế quá trình đổi mới và phát triển công nghệ là có những bất
cập về chuyển giao công nghệ ( CGCN).
Để bớc đầu có cái nhìn tổng thể về tình hình phát triển và CGCN sản xuất
của CNHC và CNDK nớc ta, Đề tài cấp Bộ Khảo sát, đánh giá thực trạng về
chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy trong chuyển giao
công nghệ trong ngành công nghiệp hóa chất và dầu khí phù hợp với điều kiện
Việt Nam đợc đặt ra với mục tiêu nghiên cứu và đa ra một số thông tin liên
quan đến vấn đề CGCN sản xuất thuộc các ngành công nghiệp đã nêu, đồng thời
có các đề xuất liên quan nhằm thúc đẩy và phát triển CGCN.
Đề tài đợc thực hiện theo các phơng pháp sau:
- Thu thập cơ sở dữ liệu (CSDL) về tình hình phát triển sản xuất của các
doanh nghiệp thuộc CNHC và CNDK ở nớc ta.
- Thu thập CSDL về tình hình hình áp dụng công nghệ và CGCN trong sản
xuất của các doanh nghiệp thuộc CNHC và CNDK ở nớc ta.
- Thu thập CSDL về các văn bản pháp quy liên quan đến CGCN.
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp để thúc đẩy công tác CGCN.

6
II. Tổng Quan
II.1. Cơ sở pháp lý và và giới hạn Đề tài
Đề tài Khảo sát, đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất
các giải pháp thúc đẩy trong chuyển giao công nghệ trong ngành công nghiệp
hóa chất và dầu khí phù hợp với điều kiện Việt Namđợc triển khai thực hiện
trên cơ sở:
- Quyết định số 1999/QĐ-BCT, ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Bộ trởng
Bộ Công Thơng về việc giao kế hoạch khoa học và công nghệ năm 2008;
- Hợp đồng Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số 195.08-
RD/HĐ-KHCN ngày 03 tháng 3 năm 2008 giữa Bộ Công Thơng (bên giao) và
Trung tâm Thông tin KHKT Hoá chất (bên nhận).
Trong khuôn khổ Đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn việc trình bày các vấn
đề liên quan đến CGCN sản xuất một số sản phẩm chính, chủ lực thuộc ngành
CNHC và CNDK mà không đề cập đến các vấn đề liên quan đến các biện pháp
kinh doanh, mở rộng thị trờng, mở rộng thị phần hoặc các lĩnh vực kinh tế,
chính trị liên qua đến 2 ngành công nghiệp đã nêu.
II.2. Các văn bản pháp quy của Việt Nam về vấn đề cGCN
Từ năm 1998 trở lại đây, Nhà nớc và các bộ, ngành liên quan đã ban hành
một số văn bản chính thức liên quan đến các vấn đề về CGCN sau đây (xem toàn
văn tại phần Phụ lục):
1/ NGHị ĐịNH Của CHíNH PHủ Quy định chi tiết về chuyển giao
công nghệ (Số: 45/1998/NĐ-CP) do Chính phủ ban hành ngày 01 tháng 7 năm
1998
2/ THôNG T LiêN TịCH Hớng dẫn chế độ thu, quản lý và sử dụng
phí thẩm định, lệ phí đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ (Số:
139/1998/TTLT/BTC-BKHCN) do do Bộ
Tài chính, Bộ Khoa học Công nghệ và
Môi trờng ban hành ngày 23 tháng 10 năm 1998
3/ THôNG T Hớng dẫn thực hiện Nghị định số 45/1998/NĐ-CP
ngày 1/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ (Số:
1254/1999/TT-BKHCNMT) do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng ban
hành ngày 12 tháng 7 năm 1999
4/ QuyếT ĐịNH Của Bộ TRởNG Bộ KHCNMT Về việc ban hành
quy chế thẩm định hợp đồng chuyển giao công nghệ (Số: 1693/1999/QĐ-

7
BKHCNMT) do Bộ Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng ban hành ngày 1
tháng 10 năm 1999
5/ NGHị ĐịNH Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý nhà nớc về chuyển giao công nghệ (Số: 16/2000/NĐ-CP) do Chính
phủ ban hành ngày 10 tháng 5 năm 2000
6/ LuậT Chuyển giao công nghệ (Số: 80/2006/QH11) do Quốc hội Nớc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006
II.3. Tình hình phát triển của CNHC và CNDK tại Việt Nam
II.3.1. Tình hình phát triển của CNHC tại Việt Nam
II.3.1.1. Vài nét về lịch sử
Sự ra đời và phát triển của CNHC trớc năm 1960
CNHC nớc ta đã đợc hình thành từ trong cuộc trờng kỳ kháng chiến
chống Pháp với nhiều thành tích trong sản xuất các loại hóa chất, vật liệu phục
chiến đấu và sản xuất.
Trong thời kỳ này, CNHC hoạt động dới dạng các công binh xởng, các xí
nghiệp sản xuất nhỏ tại các địa phơng hoặc tại an toàn khu (ATK) Việt Bắc và
phục vụ nhu cầu kháng chiến với 3 mục tiêu quan trọng (quốc phòng, nông
nghiệp và dân sinh). Sản phẩm sản xuất bao gồm thuốc nổ, ngòi nổ và các hóa
chất liên quan (axit sunfuric, than cốc, phốt phát nghiền, v.v ) cùng một số mặt
hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ bộ đội và nhân dân nh xà phòng, diêm, thuốc
đánh răng, quặng phốt phát nghiền, giấy, mực in, v.v
Ngay sau ngày hòa bình lập lại (năm 1954), CNHC chỉ bao gồm một số ít
ỏi các cơ sở rất lạc hậu, trong đó có 6 xí nghiệp quốc doanh sản xuất xi măng và
phốt phát nghiền quy mô nhỏ, một số cơ sở t nhân sản xuất xà phòng, thuốc
đánh răng, sơn dầu. Trớc nhu cầu cấp thiết về phân bón cho nông nghiệp, Nhà
nớc đã quyết định lấy CNHC làm động lực để khôi phục và phát triển nông
nghiệp. Trong thời kỳ này, Mỏ apatit Lào Cai đã đợc khôi phục sản xuất và
ngay từ năm 1955.
Trong giai đoạn cải tạo và phát triển công nghiệp (1958 -1960), CNHC tiếp
tục đợc hớng vào phục vụ phát triển nông nghiệp. Năm 1959, Nhà máy Supe
phốt phát Lâm Thao - con chim đầu đàn của ngành hoá chất thời kỳ đó- đã đợc
khởi công xây dựng. Tháng 4/1962, Nhà máy này đã chính thức đi vào hoạt động
và có sản phẩm supe phốt phát đơn xuất xởng.

8
Phơng hớng phát triển của CNHC (bao gồm cả sản xuất vật liệu xây
dựng) trong thời kỳ này là:
- Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp.
- Phát triển mạnh vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu xây dựng.
- Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm (ắc qui, hơi kỹ nghệ, gạch chịu lửa,
v.v ) phục vụ các ngành kinh tế khác.
- Sản xuất một số sản phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu dân sinh.
Trong giai đoạn này, CNHC là một trong những ngành công nghiệp có tốc
độ tăng trởng cao nhất.
Về phân bón, từ sản lợng 6 nghìn tấn quặng phốt phát năm 1955 thì năm
1960 đã đạt 541,4 nghìn tấn (trong đó apatit là 490 nghìn tấn và phốt phát nghiền
là 49,7 nghìn tấn).
Về xi măng, từ 8,4 nghìn tấn năm 1955, sản lợng năm 1960 đã đạt 407,9
nghìn tấn.
Đặc biệt cuối thời kỳ này, CNHC đã bắt đầu đa ra thị trờng hai mặt hàng
tiêu dùng mới, đó là săm lốp xe đạp, đồ dùng bằng nhựa và thuốc trừ sâu.
Đặc điển của CNHC thời kỳ này là bên cạnh vai trò chủ đạo của các cơ sở
quốc doanh trung ơng đợc khôi phục hoặc thành lập mới, thì CNHC tại các địa
phơng cũng có một vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu sản xuất
các nhu yếu phẩm phục vụ nhân dân (xà phòng, thuốc đánh răng, sơn) và tham
gia phục vụ nông nghiệp. Hàng chục tấn thuốc trừ sâu đầu tiên là do công nghiệp
địa phơng sản xuất ngay từ năm 1960.
Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu cũng đợc hình thành. Trong ngành có
một cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ là Viện Hoá học Công nghiệp đã
đợc thành lập năm 1955.
Từ năm 1960, một số cơ sở nghiên cứu và sản xuất thuộc CNHC đợc khôi
phục hoạt động hoặc thành lập mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế 5 năm lần
thứ nhất ở miền Bắc.
Thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
(
1961 - 1965)
Trong kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), CNHC đã có bớc
phát triển mạnh. Lúc này nhiều nhà máy mới trong ngành đã bắt đầu đợc xây
dựng và đi vào sản xuất trên cơ sở công nghệ sản xuất luôn đi kèm với thiết bị do
các nớc trong phe XHCN anh em viện trợ. Trong kỳ đã hình thành 3 khu CNHC
tập trung ở các khu vực : Hà Nội, Phú Thọ (Việt Trì, Lâm Thao) và Hải Phòng và

9
đây chính là cơ sở để phát triển sản xuất tập trung các sản phẩm của ngành
CNHC sau này. Tại các khu công nghiệp trên, hàng loạt nhà máy lớn của CNHC
đã đợc đầu t xây dựng nh : Nhà máy Hoá chất Việt Trì (Phú Thọ, năm 1961),
Phân đạm Hà Bắc (Bắc Giang, năm 1960), ắc quy Tam Bạc (Hải Phòng, năm
1960 ), Pin Văn Điển ( Hà Nội, năm 1960), Phân lân nung chảy Văn Điển (Hà
Nội, năm 1963), Xà phòng Hà Nội (Hà Nội, năm 1960), Cao su Sao Vàng (Hà
Nội, năm 1960 ), v.v
Nhờ có các nhà máy phân bón mới xây dựng, kể từ năm 1962 lần đầu tiên
nớc ta đã sản xuất đợc phân lân chế biến và đạt sản lợng hàng trăm nghìn tấn
vào năm 1964. Sản lợng apatit nguyên khai cũng tăng nhanh chóng lên đến mức
cao nhất vào năm 1964 (đạt 864 nghìn tấn), trong đó có hàng nghìn tấn đợc
nghiền làm phân bón trực tiếp.
Ngành hóa chất cơ bản cũng bắt đầu hình thành với các sản phẩm nh axit
sunfuric, xút - clo và các sản phẩm dẫn xuất liên quan. Từ đây, CNHC cũng bắt
đầu sản xuất thuốc trừ sâu 666, chất dẻo PVC từ axêtylen quy mô nhỏ.
Ngành sản xuất nguồn điện hóa (pin điện, ắc quy), chất giặt rửa và một số
ngành hàng khác cũng bắt đầu phát triển, đáp ứng các sản phẩm cho quốc phòng,
các ngành kinh tế và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Ngành công nghiệp cao su bắt đầu sản xuất đợc lốp ôtô với sản lợng ban
đầu là 22,5 nghìn bộ (năm 1964), 29 nghìn bộ (năm 1965), cha kể một số lợng
lớn lốp đắp, phục vụ kịp thời cho chiến đấu và sản xuất.
Trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, sản lợng xi măng cũng tăng đáng kể.
Kết quả về đầu t xây dựng của CNHC thời kỳ này đối với một đất nớc
vừa thoát khỏi những năm dài chiến tranh là rất to lớn và CNHC đã góp phần làm
cho phát triển kinh tế chung cả nớc đạt đợc đỉnh cao muôn trợng (thơ Tố
Hữu) vào năm 1961.
Nhng kế hoạch sản xuất 5 năm chỉ đợc thực hiện không đầy 4 năm trong
hoà bình. Năm 1964 miền Bắc phải đơng đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của
không quân Mỹ. Mặc dù phần lớn các cơ sở CNHC ở miền B
ắc nớc ta đều bị
đánh phá và phải chuyển hớng cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, nhng
các thành quả thu đợc vẫn đáng kể: CNHC vẫn có tốc độ tăng trởng cao hơn
cả ngành Điện lực và Cơ khí. Trong thời kỳ này, CNHC chiếm 9,5% giá trị tổng
sản lợng toàn ngành Công nghiệp.
Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, mặc dù chịu nhiều tổn thất do chiến
tranh phá hoại của Mỹ, nhng CNHC và vật liệu xây dựng vẫn tiếp tục phát triển
với cơ cấu ngành có nhiều thay đổi. Lĩnh vực sản xuất và số ngành hàng tăng

10
nhanh. Trong kỳ, trong CNHC đã hình thành một số ngành hàng chuyên biệt nh
hóa chất vô cơ cơ bản, phân bón, và nguồn điện hoá, v.v
Thời kỳ 10 năm chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ (1965 -
1975)

Trong thời kỳ này, miền Bắc nớc ta phải trải qua hai lần bị bom Mỹ đánh
phá nặng nề. Đây cũng là thời kỳ CNHC có một bớc biến chuyển mới : Ngày
19 tháng 8 năm 1969 Nhà nớc đã quyết định thành lập Tổng cục Hóa chất trực
thuộc Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ), đồng thời đây cũng là thời kỳ mà
các cơ sở CNHC miền Bắc phải vừa chiến đấu vừa sản xuất. Mặc dù gặp rất
nhiều khó khăn do hai cuộc chiến tranh phá hoại gây ra, nhng nhìn chung
CNHC vẫn bảo đảm có tốc độ tăng trởng. Giá trị tổng sản lợng năm 1975 tăng
gấp 1,65 lần so với năm 1965.
Trong kỳ, trừ Nhà máy Que hàn điện Việt Đức tại Thờng Tín (Hà Tây
trớc đây) đợc xây dựng mới vào năm 1967, Nhà máy Sơn tổng hợp Hà Nội vào
năm 1971 và Nhà máy Phân đạm Hà Bắc (đạt công suất 100 nghìn tấn urê/năm)
đợc khôi phục hoạt động vào các năm 1973-1977, v.v , CNHC hầu nh không
có thêm cơ sở đầu t mới nào. Lúc này cán bộ công nhân viên (CBCNV) trong
ngành chủ yếu tập trung sửa chữa, hoặc di dời (sơ tán) các cơ sở sản xuất để đảm
bảo duy trì sản xuất phục vụ chiến đấu và đời sống nhân dân. Sản phẩm quan
trọng nhất trong thời kỳ này là các loại phân lân chế biến.
Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu thiết kế phục vụ CNHC cũng đợc hình
thành, trong đó có Viện Thiết kế Hoá chất đợc thành lập năm 1967.

Đánh giá lại bớc phát triển của CNHC trong 20 năm xây dựng và phát
triển (từ hòa bình lập lại đến năm 1975), có thể thấy CNHC đã có bớc phát triển
rất to lớn, đã hình thành và định hình cơ cấu các ngành sản xuất quan trọng trong
nền kinh tế quốc dân. Đó là các ngành:
- Công nghiệp sản xuất phân bón;
- Công nghiệp sản xuất thuốc trừ dịch hại và các hoá chất phục vụ nông
nghiệp;
- Công nghiệp mỏ phục vụ ngành hoá chất;
- Công nghiệp cao su;
- Công nghiệp hoá chất cơ bản;
- Công nghiệp pin - ắcquy;
- Công nghiệp xà phòng và chất giặt rửa; v.v

11
Trong kỳ, CNHC còn bao trùm cả lĩnh vực vật liệu gồm các phân ngành
nh: silicat (chủ yếu là sản xuất xi măng), vật liệu chịu lửa, các mặt hàng gốm
sứ, thuỷ tinh, v.v Đặc điểm của CNHC thời kỳ này là các cơ sở quốc doanh
(thuộc sở hữu Nhà nớc) đóng vai trò trụ cột, bảo đảm gần 70% giá trị tổng sản
lợng toàn ngành. Việc sản xuất phân lân chế biến, các hóa chất vô cơ cơ bản,
nhất là các hoá chất và sản phẩm phục vụ quốc phòng, v.v hoàn toàn do các cơ
sở quốc doanh thuộc Tổng cục Hóa chất đảm nhiệm theo kế hoạch và đáp ứng
các yêu cầu cụ thể.
Thời kỳ kế hoạch 5 năm 1976 1980
Đất nớc thống nhất và giải phóng miền Nam. Trong thời kỳ này CNHC đã
tiếp quản hàng loạt xí nghiệp thuộc CNHC ở miền Nam, trong đó chủ yếu là xí
nghiệp nhỏ. CNHC là ngành có tỷ trọng đầu t cao nhất trong các ngành công
nghiệp miền Nam khi đó và tập trung vào các sản phẩm tiêu dùng nh: sản xuất
phân bón (phốtphorit nghiền, phân trộn), sản xuất hóa chất (axit sunfuric, phèn
nhôm), sản xuất sản phẩm cao su (săm lốp xe đạp và xe máy), sản xuất nguồn
điện (pin, ắc quy), sản xuất các chất giặt rửa và mỹ phẩm (thuốc đánh răng, xà
phòng, bột giặt và mỹ phẩm), sản xuất vật liệu (sơn, que hàn, oxy ) và gia công
hàng nhựa (chất dẻo), v.v Trong đó, nhiều nhóm ngành hàng có mức phát triển
với trình độ công nghệ khá, tơng đơng sự phát triển cùng kỳ của khu vực (nhất
là nhóm gia công hàng chất dẻo), nhng lĩnh vực sản xuất phân bón lại có công
nghệ lạc hậu và phát triển chậm.
Trong thời kỳ này trong CNHC, một mặt Nhà nớc ta thực hiện cải tạo công
thơng nghiệp miền Nam, sáp nhập nhiều cơ sở sản xuất nhỏ thành các công ty
sở hữu Nhà nớc lớn hơn, mặt khác thành lập nhiều công ty mới thuộc những
phân ngành thuộc quyền quản lý của Tổng cục Hóa chất.Tại miền Bắc, nhiều
nhà máy hoá chất cũng đợc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng mới. Đặc biệt, để
thực hiện mục tiêu 1,3 triệu tấn phân hóa học theo kế hoạch 5 năm, trong kỳ
Tổng cục Hóa chất đã nhanh chóng xây dựng nhiều cơ sở nghiền apatit để dùng
trực tiếp làm phân bón. Kết quả là từ năm 1976 đến 1980, số xí nghiệp do Tổng
cục Hóa chất quản lý đã tăng từ 71 lên 111.
Cuối giai đoạn này, Liên Xô cũng viện trợ xây dựng Nhà máy Tuyển quặng
apatit tại Tằng Loỏng (Lào Cai) để thu hồi tinh quặng apatit từ quặng apatit loại
3. Ngoài ra, Nhà máy Phân lân Ninh Bình đợc đầu t xây dựng và đi vào sản
xuất (năm 1977). Tuy nhiên, do tình hình thế giới và khu vực phức tạp, bên cạnh
việc Mỹ và một số nớc phơng Tây thi hành chính sách cấm vận đối với nớc
ta, còn xảy ra chiến tranh biên giới phía Bắc.

12
Từ năm 1978, sản lợng toàn ngành CNHC giảm sút nhanh, nhiều công
trình đầu t không thực hiện đợc hoặc phải dở dang, trong đó có Nhà máy
Tuyển Apatit Tằng Loỏng. CNHC nằm trong bối cảnh chung của đất nớc, cộng
thêm sự giảm sút về nguyên liệu nhập khẩu, nên chúng ta đã gặp rất nhiều khó
khăn. Vì vậy, trong năm 1980 chỉ số phát triển của CNHC đã giảm, chỉ còn bằng
94% so với năm 1976.
Thời kỳ kế hoạch 5 năm 1981 - 1985
CNHC là một trong số những ngành công nghiệp có tốc độ tăng trởng
tơng đối cao trong kỳ kế hoạch này. Giá trị tổng sản lợng năm 1985 gấp 1,8
lần năm 1980. CNHC cũng là một trong những ngành chiếm tỷ trọng cao nhất
trong toàn ngành công nghiệp, tới 10,6% vào năm 1985.
Trong kỳ kế hoạch này, Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao tiếp tục đợc
mở rộng, đa công suất lên 300 nghìn tấn/năm, nên sản lợng phân lân chế biến
năm 1985 đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 1980. Sản lợng và số mặt hàng của
nhiều sản phẩm khác (thuốc trừ sâu, hóa chất vô cơ cơ bản, săm lốp xe đạp, pin,
bột giặt, v.v ) đều tăng mạnh. Tuy nhiên, sản lợng các sản phẩm phụ thuộc vào
nguyên liệu nhập khẩu nh lốp ô tô, v.v lại giảm.
Thời kỳ kế hoạch 5 năm 1986 1990
Bắt đầu từ kỳ kế hoạch này, cả nớc bớc vào thực hiện đổi mới nền kinh tế
theo Nghị Quyết BCH Trung ơng khóa VI (năm 1986). Nhờ có những đổi mới
trong chính sách và cơ chế của Nhà nớc và do các cơ sở hạ tầng sản xuất (phân
bón, sản phẩm cao su, hóa chất, chất giặt rửa, tuyển quặng apatit, v.v) đợc
đầu t chiều sâu hoặc đầu t mới, nên nhìn chung sản xuất của CNHC có tốc độ
tăng trởng cao, thực sự đã có bớc chuyển biến về chất. Trong 3 năm đầu, tốc
độ tăng trởng bình quân hàng năm đạt khoảng 6%, kể cả các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh thuộc các ngành hàng nh xà phòng, thuốc đánh răng, săm lốp
xe đạp cũng có mức phát triển khá. Song vì có nhiều ngành sản xuất phụ thuộc
mạnh vào nguyên liệu nhập khẩu nên CNHC trong kỳ chịu tác động mạnh của cơ
chế hai giá và các chính sách khác từ khi chuyển sang cơ chế thị trờng. Sản
lợng của một số ngành hàng trong CNHC đã bị ảnh hởng. Tuy nhiên khu vực
quốc doanh, chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc Tổng cục Hóa chất, đã nhanh
chóng vợt qua nhiều thử thách và vẫn giữ đợc vai trò chỉ đạo trong quá trình
phát triển chung của CNHC.
Thời kỳ kế hoạch 5 năm 1991 1995
Có thể nói kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 là kỳ kế hoạch đầu tiên mà sản xuất
của CNHC đợc thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa có tính định hớng, trong

13
đó quyền tự chủ sản xuất kinh doanh (SXKD) đợc giao cho các doanh nghiệp,
ngoại trừ một số sản phẩm đặc biệt trong ngành sản xuất phân bón là đợc giao
theo chỉ tiêu pháp lệnh.
Bớc vào kỳ kế hoạch này về tổ chức cũng có một số thay đổi: Bộ Công
nghiệp nặng đợc thành lập lại; Tổng cục Hóa chất chấm dứt sự tồn tại và trên cơ
sở cơ chế quản lý mới, Nhà nớc đã thành lập 2 Tổng Công ty quản lý các doanh
nghiệp thuộc Tổng cục Hóa chất trớc đây: 1/ Tổng Công ty Phân bón và Hóa
chất Cơ bản; 2/ Tổng Công ty Hóa chất Công nghiệp và Hóa chất Tiêu dùng.
Trong thời kỳ này, CNHC đã đạt tốc độ tăng trởng rất cao, bình quân hàng năm
đạt mức gần 20% (cao hơn tốc độ tăng trởng bình quân toàn ngành Công
nghiệp) trong suốt kỳ kế hoạch.
Trong nửa đầu thập kỷ 1990, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
thuộc lĩnh vực CNHC phát triển nhanh. Đã xuất hiện những công ty liên doanh
sản xuất chất tẩy rửa nh P&G Việt Nam, Unilever Haso, Unilever Viso, hoặc
các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài hoạt động trong lĩnh vực sản xuất
hóa chất, ắc quy, sơn, v.vvới các đối tác nớc ngoài là những tập đoàn xuyên
quốc gia mạnh trên thế giới. Trong những lĩnh vực này, các xí nghiệp quốc
doanh ở các địa phơng và t doanh cũng phát triển khá. Trong lĩnh vực chất
dẻo, ắc quy, cao su, hóa chất cơ bản, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật
(BVTV) , đều có các hoạt động đầu t của nớc ngoài. Trên thị trờng của
nhiều ngành hàng thuộc CNHC, ngoài các doanh nghiệp nhà nớc (DNNN) còn
có thêm các đối tác cạnh tranh mới.

Sự ra đời của Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam
Nhu cầu khách quan đã đặt ra vấn đề hình thành một tổng công ty đủ mạnh
để đảm bảo sức cạnh tranh trên thị trờng, đủ khả năng huy động vốn, đổi mới
công nghệ và nhất là đầu t vào những công trình trọng yếu có quy mô lớn và
công nghệ hiện đại.
Trên cơ sở Quyết định số 835/TTg của Thủ tớng Chính phủ, ngày 20 tháng
12 năm 1995, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam (VINACHEM) theo mô hình
tổng công ty mạnh đã đợc thành lập trên cơ sở sáp nhập Tổng Công ty Phân
bón và Hóa chất cơ bản với Tổng Công ty Hóa chất công nghiệp và Hóa chất tiêu
dùng. Trong thành phần tổ chức đầu tiên khi thành lập, VINACHEM bao gổm
44 DNNN thành viên (trong đó có 2 doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc), 6 đơn
vị sự nghiệp và 14 doanh nghiệp liên doanh.
Sau khi VINACHEM đợc thành lập, hầu hết các nhà máy lớn thuộc các
ngành sản xuất quan trọng của CNHC nớc ta đều do VINACHEM quản lý và

14
đợc sắp xếp lại. Số lợng các doanh nghiệp cũng đợc thu gọn:
Năm 1995
CNHC có 1729 xí nghiệp, sau 5 năm (năm 2000) số lợng xí nghiệp chỉ còn
1947.
Xuất phát từ tình hình thực tế trong nớc và xu hớng hội nhập với kinh tế
thế giới, trong kỳ kế hoạch 5 năm đầu tiên sau ngày thành lập (1996-2000),
VINACHEM đã đề ra các mục tiêu chiến lợc:
- Phát triển sản xuất trên cơ sở tích cực đổi mới công nghệ nhằm giảm tiêu
hao nguyên vật liệu, năng lợng, nâng cao chất lợng, hạ giá thành, bảo đảm sức
cạnh tranh trên thị trờng trong nớc và đẩy mạnh xuất khẩu.
- Tập trung vào những lĩnh vực có tính chất then chốt với nền kinh tế quốc
dân, bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc, đó là: 1/ Sản xuất các hóa
chất và sản phẩm phục vụ nông nghiệp; 2/ Sản xuất sản phẩm cao su; 3/ Sản
xuất các hóa chất cơ bản.
- Xây dựng chiến lợng dài hạn đến năm 2010 có tính đến năm 2020.
Liên tục trong những năm sau ngày thành lập, trừ một số năm có khó khăn
đặc biệt về thời tiết hoặc khủng hoảng kinh tế của khu vực, tốc độ tăng trởng
hàng năm của VINACHEM đều đạt khá (11-16%), thuộc loại cao trong toàn
ngành công nghiệp. Trong quá trình phát triển, Tổng Công ty đã thực hiện những
giải pháp có tính chiến lợc quan trọng:
Một là lấy thị trờng trong nớc làm mục tiêu phục vụ chủ yếu, đồng thời
chú trọng đẩy mạnh thị trờng xuất khẩu, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và
thế giới.
Hai là trên cơ sở nắm vững thông tin về thị trờng, đánh giá đúng chu kỳ
của sản phẩm và dự báo chính xác xu thế thị trờng, tiến hành đầu t chiều sâu,
tập trung và dứt điểm cho các dự án u tiên.
Ba là lấy việc đổi mới công nghệ làm nền tảng cho sự phát triển của doanh
nghiệp.
Bốn là sự chỉ đạo tập trung của Tổng Công ty và sự phối hợp, giúp đỡ lẫn
nhau giữa các đơn vị thành viên tạo nên sức mạnh tổng hợp để toàn Tổng Công
ty đủ sức cạnh tranh trên thị trờng.
VINACHEM đã xác định phát triển một số ngành hàng quan trọng nhất
gồm: phân bón, thuốc BVTV, sản phẩm cao su và hóa chất cơ bản. Ngoài ra, các
sản phẩm nh nguồn điện (pin, ắc quy), khai khoáng (chủ yếu là khai thác và chế
biến quặng apatit phục vụ sản xuất phân bón), chất giặt rửa, vật liệu hàn, v.v
cũng đợc chú ý phát triển.

15
Trong các lĩnh vực sản xuất chủ yếu tại các doanh nghiệp của Tổng Công
ty, có nhiều công trình trọng điểm đợc đầu t nâng cấp hoặc đầu t mới tại các
ngành hàng trong điểm, nh:
- Trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm phục vụ nông nghiệp (phân bón,
thuốc BVTV) Tổng Công ty đã: nâng cấp và mở rộng tổng năng lực sản xuất
supe phốt phát tại Lâm Thao và Long Thành từ 600 nghìn tấn lên 1,2 triệu
tấn/năm (sau năm 2000); liên tục cải tiến dây chuyền sản xuất phân lân nung
chảy (PLNC) tại Công ty Phân lân nung chảy Văn Điển-VAFCO (năm 1988,
1996), Công ty Phân lân Ninh Bình-NIFERCO (năm 2002-2003) đạt kết quả đa
công suất lò cao lên 100 nghìn tấn/ lò/năm, và áp dụng nhiều cải tiến kỹ thuật
(sử dụng than antraxit thay than cốc nhập ngoại, tận dụng nguyên liệu vụn, dới
cỡ), trên cơ sở đó đa công suất PLNC toàn Tổng Công ty lên 600 nghìn
tấn/năm; cải tạo kỹ thuật nâng công suất Nhà máy phân đạm Hà Bắc lên 150
nghìn (thực tế đạt 180 nghìn) tấn urê/năm trên cơ sở nguồn vốn hỗ trợ trên 32
triệu USD của Chính phủ Trung Quốc (năm 2000-2003), v.v
Do đầu t có trọng điểm, kết hợp vừa sản xuất vừa cải tạo và mở rộng, đồng
thời nhanh chóng đa các công trình vào khai thác để phát huy hiệu quả đầu t,
nên trong hơn 10 năm qua sản lợng phân bón do VINACHEM sản xuất và tiêu
thụ đã tăng mạnh, từ 1,08 triệu tấn vào năm 1995 lên trên 4,0 triệu tấn/năm (năm
2008). Đặc biệt sản lợng phân NPK có mức tăng trởng cao và đều đặn với
công suất hiện đạt 2,8 triệu tấn/năm, chất lợng và chủng loại đợc tăng, chi phí
sản xuất đợc cải thiện. Đến nay, riêng về phân lân chế biến và phân NPK,
VINACHEM hoàn toàn có thể cung cấp đủ cho nhu cầu trong nớc và một phần
xuất khẩu. Dự án Nhà máy sản xuất phân phức hợp DaP đầu tiên của nớc ta tại
Đình Vũ (Hải Phòng) do Tổng Công ty làm chủ đầu t cũng đang trong quá trình
hoàn thiện. Dự kiến đầu năm 2009 Nhà máy sẽ đi vào hoạt động.
Đồng thời với việc mở rộng, nâng công suất các nhà máy phân bón, Tổng
Công ty đã chỉ đạo và tổ chức mở rộng khai thác quặng apatit và hoàn thiện các
nhà máy tuyển quặng apatit tại Lào Cai, đáp ứng đủ nhu cầu quặng apatit cho
sản xuất phân bón.
Việc đầu t cải tạo các dây chuyền sản xuất thuốc BVTV cũng đợc Tổng
Công ty chú ý, chuyển từ chỗ chủ yếu sản xuất thủ công và công suất thấp sang
cơ khí hóa và tự động hóa một phần với nhiều thiết bị chuyên dùng hiện đại,
đồng thời đầu t công nghệ để sản xuất một số nguyên liệu hoạt chất nh
cacbofuran, validamyxin, v.v
- Trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm cao su, các dây chuyền sản xuất
săm lốp xe đạp, xe máy và lốp ô tô ở cả ba công ty cao su thành viên của Tổng

16
Công ty (gồm Công ty CP Cao su Sao Vàng- SRC tại Hà Nội, Công ty CP Cao su
Đà Nẵng- DRC tại Đà Nẵng và Công ty CP Công nghiệp Cao su miền Nam
CASUMINA tại thành phố Hồ Chí Minh) đều đợc đầu t thêm thiết bị, đổi mới
công nghệ, đổi mới mẫu mã và quy cách sản phẩm, nên đã sản xuất và đa ra thị
trờng nhiều loại sản phẩm mới, chất lợng cao nh lốp ô tô radial bán thép và
toàn thép, lốp ô tô siêu trọng, v.v Các sản phẩm săm lốp không những đáp ứng
yêu cầu trong nớc mà còn đợc xuất khẩu.
- Trong lĩnh vực sản xuất hóa chất cơ bản, Tổng Công ty đã đầu t nâng
cấp 2 cơ sở sản xuất xút-clo tại Việt Trì và Biên Hòa, đa công suất tổng cộng
lên 30 nghìn tấn xút/năm; áp dụng công nghệ mới và mở rộng nâng công suất
sản xuất lên trên 400 nghìn tấn axit sunfuric/năm tại 3 cơ sở sản xuất của Tổng
Công ty. Các đơn vị thành viên sản xuất hóa chất của Tổng Công ty đã đầu t
mạnh về sản xuất axit phốtphoric (công suất 30 nghìn tấn/năm), các muối gốc
phốt phát, và đặc biệt là sản xuất phốt pho vàng (8-10 nghìn tấn/năm), góp phần
quan trọng vào việc giải quyết tình trạng phải nhập khẩu toàn bộ nguyên liệu
phốt pho và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên quặng apatit Lào Cai.
- Lĩnh vực điện hóa cũng là lĩnh vực quan trọng đợc Tổng Công ty quan
tâm đầu t công nghệ hiện đại, sản lợng cao. Các sản phẩm ắc quy nhãn hiệu
PiNaCo, JP, Đồng Nai đã thay thế hàng nhập khẩu và có nhiều lô sản phẩm ắc
quy đã đợc xuất khẩu sang các nớc trong khu vực.
Trong công tác thơng hiệu, trong 10 năm qua bên cạnh việc đầu t có
trọng điểm hớng tới các ngành sản xuất công nghiệp chủ chốt, việc khẳng định
và phát triển thơng hiệu cũng đã đợc VINACHEM và các doanh nghiệp thành
viên rất chú trọng. Đến nay các doanh nghiệp của Tổng Công ty đều đã đăng ký
thơng hiệu và nhãn hiệu sản phẩm. Nhiều thơng hiệu và nhãn hiệu sản phẩm
của Tổng Công ty đã trở nên quen thuộc với khách hàng trong và ngoài nớc. Có
những sản phẩm nhiều năm liền đạt danh hiệu Hàng Việt Nam chất lợng cao
nh: Phân bón Ba lá cọ Xanh của Công ty Supe phốt phát và Hóa chất Lâm
Thao (LAFCHEMCO), Đầu Trâu của Phân bón Bình Điền (BFC), Con ó
của Phân bón miền Nam (SFC), Con Cò Bay
của Phân bón và Hóa chất Cần
Thơ (CFC); Săm lốp SRC của Cao su Sao Vàng, DRC của Cao su Đà Nẵng,
CaSuMiNa của Công nghiệp Cao su miền Nam; ắc quy JP, PiNaCo,
Đồng Nai, Pin Con ó của Pin ắc quy miền Nam; Pin Con Thỏ của Pin
Hà Nội; Xà phòng, bột giặt nhãn hiệu LiX, NeT của LiXCo và NeTCo,
v.v
Việc quảng bá thơng hiệu đợc thực hiên trên nền tảng chất lợng sản
phẩm của các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty ngày càng cao và ổn định, kết

17
hợp với các biện pháp phát triển thị phần và thị trờng. Các doanh nghiệp trong
Tổng Công ty, nhất là các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm thuộc các ngành
hàng chủ lực, đã góp phần rất lớn để giá trị sản xuất công nghiệp và doanh thu
của Tổng Công ty đạt mức tăng trởng cao. Trong những năm gần đây, tỷ trọng
các ngành hàng trọng điểm luôn chiếm trên 70 % tổng giá trị sản xuất công
nghiệp của Tổng Công ty, trong đó phân bón và các loại thuốc BVTV chiếm 40-
42%; sản phẩm cao su 20-22 % và sản phẩm hóa chất cơ bản trên 10 %.
Từ năm 2007, theo quyết định của Chính phủ, VINACHEM đã hoạt động
theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Đây là điều kiện tốt để Tổng Công ty tự
tin bớc vào hội nhập kinh tế và góp phần quan trọng đa CNHC Việt Nam tham
gia tiến trình Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nớc.
II.3.1.2. Hiện trạng phát triển CNHC
1. Quy mô và năng lực sản xuất
Trong nhiều năm qua, tỷ trọng của CNHC nớc ta luôn chiếm khoảng trên
10% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành Công nghiệp với các ngành sản
xuất đã đợc định hình là:
- Nhóm sản phẩm phân bón
+ Phân lân chế biến với tổng năng lực sản xuất hiện tại (năm 2008) là trên
1,4 triệu tấn/năm gồm:
* Supe phốt phát đơn: Hiện đợc sản xuất tại 2 cơ sở thuộc VINACHEM
với năng lực sản xuất tổng cộng khoảng 1 triệu tấn/năm: LAFCHEMCO có năng
lực sản xuất trên 750 nghìn tấn/năm và Nhà máy Supe phốt phát Long Thành
thuộc SFC có năng lực sản xuất trên 200 nghìn tấn/năm. Khi có nhu cầu tiêu thụ
có thể tăng thêm công suất.
* Phân lân nung chảy (PLNC): Hiện chủ yếu đợc sản xuất tại 2 cơ sở
thuộc VINACHEM, năng lực sản xuất có thể đến 600 nghìn tấn/năm. Song hiện
tại công suất thực hiện tổng cộng chỉ cỡ 400 nghìn tấn/năm. VAFCO có năng lực
sản xuất lớn nhất, đến 400 nghìn tấn/ năm. NIFERCO có năng lực sản xuất
khoảng 300 nghìn tấn/năm.
Ngoài ra một số xí nghiệp địa phơng cũng sản xuất PLNC (Nhà máy Phân
lân Hàm Rồng - Thanh Hóa sản xuất 20 nghìn tấn PLNC/năm). Hiện
LAFCHEMCO cũng đang có kế hoạch đầu t xây dựng một dây chuyển sản xuất
PLNC và dự kiến dây chuyền này sẽ đi vào hoạt động vào năm 2009-2010.
+ Phân đạm: Hiện tổng năng lực sản xuất cả nớc đạt 900 nghìn tấn
urê/năm. Trong đó Công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc-HANICHEMCO

18
(thuộc VINACHEM) với năng lực sản xuất 180 nghìn tấn urê/năm đi từ nguyên
liệu than cám. Nhà máy Phân đạm từ than Ninh Bình công suất 560 nghìn tấn
urê/năm (do VINACHEM đầu t) sẽ đi vào hoạt động năm 2011.
+ Phân hỗn hợp: Hiện cả nớc có hàng trăm cơ sở sản xuất phân hỗn hợp
NPK, trong đó 55% năng lực sản xuất thuộc về trên 20 doanh nghiệp lớn thuộc
các hình thức sở hữu khác nhau (DNNN, cổ phần và có vốn đầu t nớc ngoài)
với năng lực sản xuất tổng cộng đến 4,0 triệu tấn NPK/năm, trong đó riêng
VINACHEM có thể sản xuất trên 2,8-3,0 triệu tấn/năm. Ngoài ra còn có những
khối lợng lớn phân vi sinh (1,2 triệu tấn/năm), phân bón lá, phân khoáng trộn,
v.v đợc sản xuất và cung cấp ra thị trờng.
Đến nay trên thị trờng Việt Nam có trên 600 loại phân bón đợc đăng ký
SXKD. QĐ số 40/2004/QĐ-BNN, ngày 19/8/2004, Bộ NN và PTNT đã đa ra
Bản danh mục bao gồm 21 loại phân bón khoáng đơn, 577 loại phân đa yếu tố
(gồm 9 loại phân phức hợp và 568 loại phân khoáng trộn), 8 loại phân vi sinh, 4
loại phân hữu cơ vi sinh, 50 loại phân hữu cơ sinh học, 61 loại phân hữu cơ
khoáng, 387 loại phân bón lá và phân dạng lỏng, 44 loại phân có bổ sung chất
điều hoà sinh trởng và 7 loại chất hỗ trợ cải tạo đất đợc đăng ký sản xuất kinh
doanh. Hàng năm danh mục các loại phân NPK, hữu cơ vi sinh, phân bón lá và
phân dạng lỏng, v.v đợc xem xét và bổ sung.
- Nhóm sản phẩm thuốc BVTV
Sản xuất trong lĩnh vực thuốc BVTV (với năng lực sản xuất 50-100 nghìn
tấn/năm) hiện tại chủ yếu vẫn dới hình thức gia công. Có một số cơ sở liên
doanh của VINACHEM đã sản xuất đợc một số hóa chất trừ nấm bệnh (nh
cacbofuran, validamyxin và một số hoạt chất khác) với công suất nhỏ.
Đến nay cả nớc có trên hàng trăm cơ sở sản xuất, gia công thuốc BVTV.
Trong số này hầu hết là cơ sở nhỏ đã đợc cổ phần hóa, 9 cơ sở có vốn đầu t
nớc ngoài. VINACHEM có 1 công ty thành viên chuyên sản xuất thuốc BVTV
là Công ty cổ phần Thuốc Sát trùng Việt Nam (VIPESCO). VIPESCO hiện
chiếm khoảng 10% thị phần của sản phẩm thuốc BVTV cả nớc. 3 cơ sở liên
doanh có vốn đầu t nớc ngoài của VIPESCO là KOSVIDA (chuyên sản xuất
các các phụ gia hoạt động bề mặt phục vụ gia công thuốc BVTV và các hoạt chất
thuốc BVTV nh cacbofuran , BPMC, excelBasa, glyphosate, perfect ,
isoprothiolane, difenoconazole, propiconazole, v.vvới năng lực sản xuất 2.000
tấn hoạt chất / năm), và VIGUATO chuyên sản xuất hoạt chất trừ nấm
validamyxin (năng lực sản xuất 3.000 tấn/năm) và MOSFLY Việt Nam chuyên
sản xuất hơng (nhang) trừ muỗi và các chế phẩm diệt côn trùng gia dụng.

19
- Nhóm sản phẩm cao su
Hiện tại năng lực sản xuất toàn ngành cao su thuộc CNHC là: lốp xe đạp 30
triệu lốp/năm; lốp xe máy15 triệu lốp/năm; lốp ôtô - máy kéo khoảng 2-3 triệu
bộ/năm. Ngoài ra, CNHC còn có thể sản xuất một số sản phẩm cao su công
nghiệp nh : ống bơm nớc, găng tay, ủng cao su Các sản phẩm cao su chủ yếu
đợc sản xuất tại các doanh nghiệp thuộc VINACHEM nh SRC, DRC và
CASUMINA. Một số công ty liên doanh của VINACHEM cũng tham gia sản
xuất săm lốp ô tô, xe máy phục vụ các cơ sở lắp ráp ô tô, xe máy trong nớc nh:
Công ty Inoue Việt Nam (sản xuất lốp ôtô du lịch và xe tải nhẹ); Công ty
Yokohama (sản xuất lốp xe máy). Các doanh nghiệp địa phơng hiện chỉ sản
xuất đợc săm lốp xe đạp và xe máy ở quy mô nhỏ.
- Nhóm các sản phẩm hóa chất
Hầu hết các sản phẩm hóa chất vô cơ cơ bản sản xuất trong nớc do các
doanh nghiệp của VINACHEM đảm nhiệm. Riêng với các sản phẩm xút - clo,
ngoài 2 doanh nghiệp của VINACHEM (Công ty TNHH một thành viên Hóa
chất Cơ bản miền Nam-SBCC và Công ty cổ phần Hóa chất Việt Trì-VICCO)
cung cấp, còn do một số cơ sở sản xuất thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam
(Công ty Giấy Bãi Bằng, Giấy Biên Hòa ), hoặc doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài (Công ty VEDAN) cung cấp.
Trong nớc hiện nay không có cơ sở nào sản xuất các sản phẩm hóa chất
hữu cơ cơ bản ở quy mô công nghiệp trừ một số nhà máy đờng sản xuất các loại
cồn (etanol) công nghiệp và cồn thực phẩm.
Cụ thể, tình hình sản xuất các sản phẩm hoặc hoá chất trong nớc hiện nay
nh sau:
+ Axit sunfuric: Sản lợng tổng cộng cả nớc hàng năm ớc 400-430 nghìn
tấn (năm 2008) và đều do các cơ sở của VINACHEM đảm nhiệm
(LAFCHEMCO 270-300 nghìn tấn, SBCC 50 nghìn tấn và SFC 70-100 nghìn
tấn). Axit sunfuric sản xuất trong nớc chủ yếu đợc dùng để sản xuất supe phốt
phát đơn (chiếm đến 80%), phần còn lại để sản xuất phèn nhôm, pha dịch ắc
quy, v.v
+ Xút-clo: Cả nớc có công công suất ớc 100 nghìn tấn (quy 100%
NaOH)/năm và đang đợc tiếp tục đầu t mở rộng, trong đó sản lợng 2 nhà
máy của VINACHEM (VICCO và Nhà máy Hóa chất Biên Hòa thuộc SBCC)
sản xuất chiếm trên 20% sản lợng xút chung của toàn ngành. Các Công ty Giấy
Bãi Bằng, Giấy Tân Mai, Giấy Đồng Nai, tổng cộng 15%, còn lại 60% do Công
ty Bột ngọt VEDAN sản xuất. Tất cả các cơ sở sản xuất xút-clo ở Việt Nam đều

20
sản xuất ra sản phẩm xút lỏng (dung dịch 30 - 32% NaOH) phù hợp cho sử dụng
của các ngành giấy, sản xuất hóa chất, v.v
Hiện tại, VINACHEM đang tiếp tục đầu t nâng công suất các dây chuyền
xút-clo hiện có: VICCO đầu t mới một dây chuyền với công suất 10 nghìn tấn
xút/năm theo công nghệ membrane để đa công xuất tổng lên 20 nghìn tấn
xút/năm; SBCC cũng đầu t để nâng công suất hiện tại (20 nghìn tấn xút/năm)
lên 30 nghìn tấn xút/năm.
Sản xuất axit clohyđric (HCl) toàn ngành có năng lực tổng cộng không dới
200 nghìn tấn/năm (loại 37%) và phục vụ chủ yếu cho sản xuất bột ngọt và chế
biến thực phẩm. Riêng VINACHEM hiện có sản lợng ớc 80 nghìn tấn/năm.
Phần còn lại do nhiều công ty khác thực hiện (Công ty Bột ngọt VEDAN, các
công ty của ngành Giấy, v.v).
Clo lỏng hiện còn có công suất nhỏ (vài chục nghìn tấn/năm) và phụ thuộc
mạnh vào nhu cầu thị trờng xử lý nớc. Trong nhiều năm nay riêng
VINACHEM cung cấp khoảng 6 nghìn tấn/năm.
Nhìn chung đến thời điểm hiện tại, công nghiệp xút - clo của Việt Nam
cha đảm bảo tốt cân bằng clo. Trong khi hầu hết các nhà máy sản xuất đều thừa
clo (và hyđro) thì tại Công ty VEDAN lại thừa xút (phải xuất khẩu). Tuy nhiên
hiện nay tình hình cân bằng clo đang đợc cải thiện dần do các nhà sản xuất nỗ
lực tìm đầu ra cho clo đồng thời do nhu cầu clo lỏng, axit clohyđric và các muối
clorua tăng, mà tình trạng thừa clo hiện đã đỡ gay gắt hơn. Tuy nhiên vấn đề cân
bằng clo hiện vẫn cha đợc giải quyết dứt điểm nên có những thời gian thị
trờng cần xút nhng các nhà sản xuất không thể tăng đợc công suất sản xuất
do không tiêu thụ đợc clo.
+ Phốt pho vàng, axit phốtphoric và các muối phốt phát:
ở nớc ta photpho vàng đợc sản xuất theo phơng pháp nhiệt tại Lào Cai.
Hiện tại, VINACHEM có 2 dây chuyền sản xuất phốt pho vàng hoạt động. Một
dây chuyền công suất 2 nghìn tấn /năm đợc xây dựng từ năm 1999 nhng đến
năm 2004 mới hoạt động chính thức. Dây chuyền thứ 2 có công suất 6 nghìn tấn
P
4
/năm, hoạt động từ năm 2005. Ngoài ra hiện cũng đang có một số dự án xây
dựng dây chuyền sản xuất phốt pho vàng với tổng công suất ớc 16 nghìn tấn
P
4
/năm.
Hiện tại, tổng năng lực sản xuất axit phốtphoric cả nớc là 25 nghìn tấn
H
3
PO
4
/năm, nhng sản lợng dao động nhiều tùy thuộc vào nhu cầu, nhất là nhu
cầu sản xuất natri tripolyphốtphát. Hiện tại toàn bộ lợng axit phốtphoric sản

21
xuất trong nớc đều là axit phốtphoric nhiệt (dùng phốt pho vàng làm nguyên
liệu).
Tổng năng lực sản xuất natri tripolyphốtphát và các muối phốt phát khác
của cả ngành CNHC khoảng 20-30 nghìn tấn và đi từ axit phốtphoric nhiệt. Song
sản lợng này phụ thuộc mạnh vào giá natri tripolyphốtphát và giá nguyên liệu
trên thị trờng (nhất là phốt pho vàng và axit phôtphoric nhập khẩu). Nếu giá
nhập khẩu natri tripolyphốtphát có lợi hơn thì sản lợng sản xuất trong nớc
giảm đi. Nhu cầu chính của natri tripolyphốtphát và các muối phốt phát khác ở
nớc ta hiện là của ngành sản xuất các chất giặt rửa. Trong tơng lai khi zeolite
đợc sử dụng nhiều trong sản xuất các chất giặt rửa (phù hợp với các yêu cầu về
môi trờng) thì có thể nhu cầu natri tripolyphốtphát và các muối phốt phát khác
có thể sẽ giảm đi.
Hiện tại ở Việt Nam không có cơ sở nào sản xuất axit phốtphoric theo công
nghệ trích ly ở quy mô công nghiệp. Dự kiến, khi nhà máy DAP Hải Phòng
(thuộc VINACHEM) hoạt động sẽ có sản phẩm loại này.
+ Đất đèn: Hiện tại các cơ sở sản xuất đất đèn (CaC
2
) ở nớc ta đều có quy
mô nhỏ, hoạt động theo công nghệ lò hỗn hợp dùng than cốc và điện với trình độ
thiết bị thấp, năng suất thấp, chi phí giá thành cao và nhất là gây ô nhiễm môi
trờng. Đáng kể nhất là dây chuyền sản xuất đất đèn tại Nhà máy Đất đèn và
Hóa chất Tràng Kênh (thuộc Công ty TNHH một thành viên Hơi kỹ nghệ- Que
hàn - SOVIGAZ) có sản lợng hàng năm khoảng 10 nghìn tấn CaC
2
/năm.
+ Natri silicat (thủy tinh lỏng): Năng lực sản xuất natri silicat
(Na
2
SiO
3
xH
2
O) cả nớc tổng cộng là khoảng 100 nghìn tấn/năm, chủ yếu dùng
cho công nghiệp sản xuất chất giặt rửa, tuyển quặng, sản xuất que hàn điện, v.v
Công nghệ phổ biến đợc dùng để sản xuất sản phẩm này là công nghệ nung
phối liệu chứa sôđa (nhập khẩu) và cát thạch anh (nguyên liệu trong nớc) trong
lò bằng. Một số cơ sở còn sản xuất natri silicat từ nguyên liệu cát thạch anh và
xút lỏng sử dụng lò quay có áp suất cao (trên dới 10 at). Riêng VINACHEM
hiện có 7 cơ sở sản xuất natri silicat với sản lợng hàng năm tổng cộng khoảng
50 nghìn tấn.
+Alumin và phèn nhôm: Công suất sản xuất alumin của các cơ sở trong
ngành Hóa chất hiện nay vào cỡ 100 nghìn tấn/năm và phèn nhôm (chủ yếu là
phèn đơn) cỡ 50 nghìn tấn/năm. Sản phẩm phen nhôm đợc dùng để xử lý nớc
cấp. Các cơ sở sản xuất chính các loại sản phẩm này là SBCC và LAFCHEMCO
(đều thuộc VINACHEM).

22
+ Bột nhẹ (CaCO
3
): Do nguồn nguyên liệu (đá vôi) rất dồi dào nên cả nớc
hiện nay có nhiều cơ sở sản xuất bột nhẹ với năng lực sản xuất tơng đối lớn,
không dới 100 nghìn tấn/năm. Nhìn chung, công nghệ sản xuất bột nhẹ của các
cơ sở trong nớc đều ở trình độ thấp nên sản phẩm bột nhẹ hầu hết đều thấp (hạt
thô, độ phủ thấp, độ kiềm cao, v.v ) và chỉ đáp ứng một số ứng dụng thông
thờng (chất độn cho chất dẻo, giấy, cao su, sơn thông dụng, v.v ). Cha có cơ
sở nào sản xuất đợc bột nhẹ cao cấp đáp ứng các yêu cầu dùng cho công nghiệp
dợc phẩm, mỹ phẩm, sơn cao cấp.
Hiện tại, SOVIGAZ (thuộc VINACHEM) có một cơ sở sản xuất bột nhẹ tại
Tràng Kênh, Hải Phòng. Cơ sở này nhập thiết bị từ Đài Loan và có thể sản xuất
các loại bột nhẹ chất lợng cao, tuy nhiên vẫn cha đạt yêu cầu làm nguyên liệu
sản xuất các sản phẩm cao cấp đòi hỏi chất lợng đặc biệt (dợc phẩm, mỹ
phẩm). Do hạn chế về nhu cầu, nên cơ sở này hàng năm chỉ sản xuất 5-10 nghìn
tấn bột nhẹ thông dụng. Ngoài ra, tại các địa phơng có nhiều đá vôi (Ninh Bình,
Thanh Hóa ) cũng có các cơ sở (chủ yếu là tổ hợp và cơ sở t nhân) sản xuất
bột nhẹ thông dụng chất lợng thấp, giá rẻ.
+ Các loại hóa chất tinh khiết và dợc dụng: Chủ yếu đợc Công ty Cổ phần
Bột giặt và Hóa chất Đức Giang - DGC (cơ sở liên kết của VINACHEM) sản
xuất theo từng lô nhỏ theo nhu cầu thị trờng nội địa. Các hóa chất tinh khiết
hiện đợc sản xuất trong nớc là các loại axit (axit clohydric, sunfuric,
phốtphoric, nitric, axetic), dung dịch amoniac, đờng gluco, cồn tuyệt đối, một
số loại dung môi hữu cơ và một số loại muối vô cơ thông thờng.
- Nhóm các sản phẩm giặt rửa
Toàn ngành CNHC có năng lực sản xuất khoảng 800 nghìn tấn/năm, trong
đó VINACHEM chiếm 50% năng lực sản xuất. Tuy nhiên do giới hạn về thị
trờng mà hiện nay toàn ngành mới sản xuất và tiêu thụ khoảng 500-600
nghìn/năm (theo Niên giám thống kê, năm 2006 cả nớc có sản lợng 600 nghìn
tấn chất giặt rửa và xà phòng). Các sản phẩm chủ yếu là bột giặt (chiếm khoảng
35% khối lợng sản phẩm), kem giặt (chiếm 25% khối lợng sản phẩm), còn lại
là các loại n
ớc giặt, xà phòng bánh và các loại dầu gội, mỹ phẩm.
Hiện tại, các đơn vị sản xuất của VINACHEM có sản lợng chất giặt rửa
tổng cộng khoảng 300 nghìn tấn/năm. Các đơn vị có sản lợng lớn nhất là Công
ty Cổ phần Bột giặt LIX (LIXCO), Công ty Cổ phần Bột giặt NET (NETCO);
Công ty Công nghiệp Hóa chất và Vi sinh (BICICO). Các công ty liên doanh của
VINACHEM nh LEVER Việt Nam, P&G Việt Nam là những đơn vị sản xuất
lớn nhất các chất giặt rửa cung cấp cho thị trờng trong nớc. Tuy nhiên một

23
phần lớn sản lợng các chất giặt rửa của các đơn vị này lại thuê các doanh
nghiệp trong nớc gia công.
Các doanh nghiệp trong ngành đã đầu t công nghệ, thiết bị tiên tiến và
đảm bảo tốt các quy định về môi trờng, đảm bảo cho các sản phẩm giặt rửa sản
xuất trong nớc có chất lợng tơng đơng với các sản phẩm cùng loại trên thế
giới.
- Nhóm sản phẩm pin, ắc quy
Sản lợng các loại sản phẩm ắc quy sản xuất trong nớc tại các cơ sở thuộc
VINACHEM (chiếm 80% năng lực sản xuất) và tại các doanh nghiệp đầu t
nớc ngoài (chiếm 20% năng lực sản xuất) đủ thoả mãn nhu cầu về ắc quy thông
dụng. Năm 2008 sản lợng ắc quy toàn ngành ớc đạt 2 triệu kWh (riêng
VINACHEM 1,3 triệu kWh).
Các loại pin điện sản xuất trong nớc chủ yếu tại các cơ sở thuộc
VINACHEM (chiếm 95% năng lực sản xuất) và tại các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh (chiếm 5% năng lực sản xuất). Trong những năm gần đây, nhu cầu pin
thông dụng có xu hớng tiến tới bão hòa ở mức 350-400 triệu viên/năm. Năm
2008 VINACHEM có sản lợng pin thông dụng các loại 250 triệu viên.
Ngành sản xuất nguồn điện hóa trong thời gian qua đã đầu t đồng bộ máy
móc thiết bị tiên tiến, tự động và bán tự động ở hầu hết các khâu sản xuất, chất
lợng sản phẩm pin và ắc quy thông dụng đã đạt tiêu chuẩn châu Âu và Nhật
Bản. Một số đơn vị nh Công ty cổ phần Pin Hà Nội - HABACO, cổ phần Pin-
ắc quy miền Nam-PINACO (đều thuộc VINACHEM) đã nghiên cứu đầu t sản
xuất pin kẽm- kiềm, nhng sản phẩm cha thể hiện đợc u thế về chất lợng và
thị trờng. HABACO đã phải ngừng sản xuất loại sản phẩm này sau một thời
gian sản xuất thử.
Riêng các loại pin cao cấp dùng trong điện thoại di động và các thiết bị điện
tử nh pin Liti-ion, Niken-cadimi (Ni-Cad), Niken-metal hyđrua (NiMH), Liti-
polyme (Li-Po) do thị trờng trong nớc còn hạn chế nên cha có cơ sở nào đầu
t sản xuất.
- Nhóm các sản phẩm hóa dầu
+ Các loại polyme: Tại Việt Nam hiện tại có 2 cơ sở sản xuất bột nhựa PVC
là TPC Vina (Công ty liên doanh giữa Công ty cổ phần Nhựa và Hoá chất Thái
Lan -TPC, VINACHEM và Công ty Nhựa Việt Nam-Vinaplast) và một Công ty
liên doanh giữa Petronas Malaysia và tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Công suất bột PVC
tổng cộng của 2 cơ sở này là 120 nghìn tấn/năm và đang đợc đầu t mở rộng
lên 230 tấn/năm. Công nghệ sản xuất PVC là công nghệ trùng ngng huyền phù.

24

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×